Thông tin sách

Lời Chứng Của Watchman Nee

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Lời chứng của Watchman Nee
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 1

Untitled Document

CHƯƠNG MỘT

LỜI CHỨNG THỨ NHẤT — SỰ CỨU RỖI VÀ SỰ KÊU GỌI ĐƯỢC CHIA SẺ NGÀY 18 THÁNG 10 NĂM 1936

Kinh Thánh: Công. 26:29; Ga. 1:15

BỐI CẢNH GIA ĐÌNH

Ra đời trong một gia đình tín đồ, tôi là đứa con thứ ba sau hai người chị. Vì tôi có một người dì đã sinh sáu người con gái liên tục, nên cô của tôi không hài lòng khi thấy mẹ tôi sinh hai con gái. Theo phong tục Trung Hoa, nam được ưa chuộng hơn nữ. Khi mẹ tôi sinh hai con gái, người ta nói có lẽ bà giống dì tôi, sinh nửa tá con gái rồi mới sinh con trai. Dầu khi ấy mẹ tôi chưa được cứu cách rõ ràng, bà đã biết cầu nguyện. Vì thế bà nói với Chúa: “Nếu con có con trai, con sẽ dâng nó cho Ngài”. Chúa nghe lời cầu nguyện của mẹ tôi và tôi đã ra đời. Cha tôi bảo tôi rằng: “Trước khi con ra đời, mẹ con đã hứa dâng con cho Chúa”.

ĐƯỢC CỨU VÀ ĐƯỢC KÊU GỌI CÙNG MỘT LÚC

Tôi được cứu vào năm 1920 khi được mười bảy tuổi. Trước khi được cứu, tôi kinh nghiệm một cuộc xung đột nội tâm về việc có nên tiếp nhận Chúa Giê-su làm Cứu Chúa của mình hay không và có nên trở thành đầy tớ của Chúa hay không. Đối với hầu hết mọi người, nan đề khi được cứu là làm thế nào để thoát khỏi tội. Nhưng đối với tôi, được cứu khỏi tội và sự nghiệp của cuộc đời mình liên kết với nhau. Nếu tôi phải tiếp nhận Chúa Giê-su làm Đấng Cứu Rỗi tôi, thì đồng thời tôi sẽ chấp nhận Ngài làm Chúa của mình. Ngài sẽ giải cứu tôi không những khỏi tội, mà còn khỏi thế gian. Vào thời điểm ấy, tôi sợ được cứu, vì tôi biết một khi được cứu, tôi phải phục vụ Chúa. Vì vậy, sự cứu rỗi của tôi nhất thiết phải là sự cứu rỗi bao gồm hai phương diện. Tôi không thể bỏ qua sự kêu gọi của Chúa và chỉ vui hưởng sự cứu rỗi. Tôi phải lựa chọn hoặc tin Chúa và được cứu rỗi cả hai phương diện hoặc mất cả hai. Đối với tôi, tiếp nhận Chúa có nghĩa là cả hai sự kiện ấy xảy ra cùng một lúc.

QUYẾT ĐỊNH DỨT KHOÁT

Vào đêm 29 tháng 4 năm 1920, tôi ở một mình trong phòng. Tâm trí tôi không được bình an. Dầu ngồi hay nằm, tôi không thể yên nghỉ, vì bên trong tôi dằng co trước vấn đề có nên tin Chúa hay không. Khuynh hướng đầu tiên của tôi là không tin Chúa Giê-su và không làm Cơ Đốc nhân. Tuy nhiên, điều đó làm cho tôi bất ổn trong lòng. Có một cuộc tranh chiến thật sự xảy ra trong tôi. Sau đó tôi quì gối cầu nguyện. Ban đầu tôi không có lời nào để cầu nguyện. Nhưng cuối cùng nhiều tội lỗi đến trước mắt tôi, tôi nhận biết mình là một tội nhân. Trước đó, tôi chưa bao giờ có kinh nghiệm này trong đời sống mình. Tôi thấy chính mình là tội nhân và cũng thấy Cứu Chúa của tôi. Tôi thấy sự ô uế của tội và cũng thấy hiệu quả huyết báu của Chúa tẩy sạch tôi và làm cho tôi trắng như tuyết. Tôi thấy bàn tay Chúa bị đóng đinh vào thập tự giá, và đồng thời tôi thấy Ngài giang tay ra đón rước tôi mà nói rằng: “Ta ở đây chờ đợi để tiếp nhận con”. Lòng tràn ngập tình yêu ấy, tôi không thể từ chối được, và quyết định tiếp nhận Ngài làm Cứu Chúa mình. Trước đây, tôi đã cười những người tin Chúa, nhưng đêm đó, tôi không thể cười. Trái lại, tôi khóc và xưng các tội lỗi mình, tìm kiếm sự tha thứ của Chúa. Sau khi xưng tội, gánh nặng tội lỗi được cất đi, tôi cảm thấy nhẹ nhõm, đầy dẫy sự vui mừng và bình an trong lòng. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi thấy mình là một tội nhân. Tôi cầu nguyện lần đầu tiên, và lần đầu tiên tôi kinh nghiệm sự vui mừng và bình an. Trước đó có thể tôi từng có một ít vui mừng và bình an nào đó, nhưng kinh nghiệm này của tôi sau khi được cứu thì rất thật. Một mình trong phòng đêm đó, tôi đã thấy ánh sáng và mất hết ý thức về môi trường chung quanh. Tôi nói với Chúa: “Chúa ơi, Ngài thật đầy ân điển đối với con”.

TỪ BỎ TƯƠNG LAI

Trong số những người ngồi nghe tại đây, ít nhất có ba người bạn học cùng trường với tôi. Trong số đó có anh Weigh Kwang-hsi, là người có thể làm chứng rằng tôi vốn là một học sinh có tác phong rất tệ, đồng thời cũng là một học sinh tuyệt vời ở trường như thế nào. Về phương diện xấu, tôi thường vi phạm luật lệ của trường. Về phương diện tốt, tôi luôn luôn đứng đầu trong các kỳ thi, vì Đức Chúa Trời ban cho tôi trí thông minh. Các bài luận của tôi thường được dán trên bản tin cho mọi người đọc. Lúc ấy tôi là một thiếu niên có nhiều giấc mơ lớn và nhiều kế hoạch cho tương lai. Tôi tự cho rằng những điều mình phán đoán là chín chắn. Tôi có thể khiêm nhường nói rằng nếu chăm chỉ làm việc trong thế gian, tôi rất có thể đã thành công lớn. Các bạn cùng trường với tôi cũng có thể làm chứng về điều ấy. Nhưng sau khi được cứu, nhiều điều mới mẻ đã xảy đến với tôi. Mọi chương trình trước đây trở nên trống rỗng và vô nghĩa. Sự nghiệp tương lai của tôi bị phế bỏ hoàn toàn. Đối với một vài người, bước này có thể dễ dàng, nhưng đối với tôi, với nhiều lý tưởng, ước mơ và kế hoạch, thì đây là một điều cực kỳ khó khăn. Từ đêm được cứu, tôi bắt đầu sống một đời sống mới, vì sự sống của Đức Chúa Trời đời đời đã vào trong tôi.

Sự cứu rỗi và sự kêu gọi phục vụ Chúa của tôi xảy ra cùng một lúc. Từ đêm ấy, tôi không bao giờ nghi ngờ về sự kêu gọi của mình. Trong giờ ấy, tôi quyết định cho sự nghiệp tương lai của mình một lần đủ cả. Một mặt, tôi nhận biết rằng Chúa đã cứu tôi vì tôi, đồng thời, Ngài làm như vậy vì chính Ngài. Ngài muốn tôi nhận được sự sống đời đời của Ngài, Ngài cũng muốn tôi phục vụ Ngài và làm người đồng công với Ngài. Lúc còn là một cậu bé, tôi không hiểu bản chất của sự rao giảng [đạo Chúa]. Khi lớn hơn, tôi cho đó là nghề nghiệp ít giá trị và thấp kém nhất. Vào thời ấy, hầu hết những người giảng đạo đều do các giáo sĩ Âu Châu hay Mỹ Châu trả lương. Họ là những người dưới quyền, lệ thuộc các giáo sĩ và mỗi tháng chỉ kiếm được tám hay chín mỹ kim. Tôi không có ý định trở nên một người giảng đạo, hay thậm chí một Cơ Đốc nhân. Tôi không bao giờ có thể tưởng tượng được mình lại chọn nghề nghiệp của một người giảng đạo, một nghề tôi khinh dể, cho là tầm thường và thấp kém nhất.

HỌC TẬP PHỤC VỤ CHÚA

Sau khi được cứu, tôi tiếp tục đi học, dầu tôi không quan tâm đến sách vở bao nhiêu. Những bạn bè khác đọc tiểu thuyết trong lớp, nhưng tôi chăm chỉ nghiên cứu Kinh Thánh. [Chú thích của người biên tập: Anh Nee tuy nghiên cứu Kinh Thánh trong lớp, nhưng vẫn đứng đầu vào các kỳ thi cuối khóa]. Về sau, vì ao ước theo đuổi những điều thuộc linh hơn nữa, tôi rời trường và vào Viện Kinh Thánh của chị Dora Yu tại Thượng Hải. Tuy nhiên, chưa được bao lâu, chị lịch sự đuổi tôi và tôi lại trở về nhà. Lý do chị đưa ra khi làm như vậy là vì tôi không tiện ở đó nữa. Tôi nhận biết xác thịt tôi chưa được xử lý. Tôi vẫn thích ăn ngon, mặc đẹp, và muốn ngủ đến 8 giờ sáng. Chị Dora Yu cảm thấy tôi là vật liệu tốt có thể ích lợi cho Chúa và tôi cũng có nhiều triển vọng tốt, nhưng khi khám phá ra tính biếng nhác của tôi, chị trả tôi về nhà.

Lúc ấy, tôi hoàn toàn thất vọng và cảm thấy tương lai mình sụp đổ. Thậm chí tôi còn thắc mắc không biết mình thật sự được cứu chưa. Nhưng chắc chắn tôi đã được cứu! Thậm chí tôi còn suy xét rằng mình khá tốt và đã được biến đổi về nhiều phương diện, nhưng không nhận biết tôi còn nhiều điều phải học tập và phải được xử lý nhiều. Tin chắc Chúa đã cứu và kêu gọi mình, tôi không thể thất vọng. Tôi thừa nhận mình chưa tốt đủ, nhưng cảm thấy rằng theo thời gian, tôi sẽ cải thiện hơn.

Vì thời điểm chưa chín mùi để tiếp tục theo đuổi những điều thuộc linh, nên tôi quyết định trở lại trường. Khi bạn bè gặp tôi, họ nhận thấy tôi đã thay đổi, nhưng tôi chưa hoàn toàn thay đổi, vì thỉnh thoảng tôi còn nổi nóng và làm một số điều sai quấy. Có những lúc tôi rất giống một người đã được cứu, nhưng vào những lúc khác, dường như tôi rất giống một người chưa được cứu. Vì vậy, chứng cớ của tôi trong trường không mấy mạnh mẽ, và khi tôi làm chứng với anh Weigh, thì anh không lưu ý. [Chú thích của người biên tập: Sự cầu nguyện và hướng dẫn của anh Nee cuối cùng đã đem anh Weigh đến với Chúa].

Sau khi được cứu, tự khắc tôi yêu thương tội nhân và hi vọng họ được cứu. Nhắm mục đích ấy, tôi bắt đầu rao giảng phúc âm và làm chứng giữa vòng các bạn cùng trường. Tuy nhiên, sau gần một năm làm việc, không ai được cứu cả. Tôi nghĩ rằng mình càng nói nhiều, trình bày nhiều lý lẽ, thì sẽ càng hiệu quả trong việc cứu người. Nhưng dầu tôi đã nói nhiều về Chúa, lời nói của tôi thiếu quyền năng cảm động người nghe.

Cầu Nguyện Cho Sự Cứu Rỗi Của Người Khác

Trong khoảng thời gian ấy, tôi gặp một giáo sĩ Tây phương, là chị Groves (đồng công của chị Margaret Bar­ber); chị hỏi tôi sau một năm được cứu đã đem được bao nhiêu người đến với Chúa. Tôi cúi đầu, hi vọng chị không hỏi thêm, và xấu hổ hạ giọng thừa nhận rằng dầu tôi đã giảng phúc âm cho các bạn cùng trường, họ không muốn nghe, và khi nghe, họ không tin. Tôi biểu lộ thái độ là vì họ không muốn nghe phúc âm, họ sẽ phải gánh chịu hậu quả. Chị ấy nói thẳng với tôi: “Anh không thể đem người ta đến với Chúa vì có một điều gì đó giữa Đức Chúa Trời và anh. Đó có thể là một vài tội lỗi giấu kín chưa giải quyết cách trọn vẹn, hay là anh mắc nợ người khác một điều gì đó”. Tôi thừa nhận rằng có những điều như vậy, và chị hỏi tôi có muốn giải quyết những điều đó ngay không. Tôi trả lời rằng tôi muốn.

Chị cũng hỏi tôi ra đi làm chứng như thế nào. Tôi đáp tôi lôi kéo những ai mình tình cờ gặp gỡ và bắt đầu nói, dầu họ có nghe hay không. Chị nói: “Như vậy không đúng. Anh phải nói với Đức Chúa Trời trước khi nói với người ta. Anh nên cầu nguyện với Đức Chúa Trời, liệt kê một danh sách gồm tên của các bạn cùng trường, và hỏi Đức Chúa Trời xem anh nên cầu nguyện cho ai. Hãy cầu nguyện cho họ hằng ngày, nêu đích danh. Sau đó, khi Đức Chúa Trời cho anh cơ hội, anh nên làm chứng cho họ”.

Sau cuộc nói chuyện ấy, ngay lập tức tôi bắt đầu giải quyết tội lỗi của mình bằng cách bồi thường, trả nợ, làm hòa với các bạn cùng trường, và xưng ra những sự vi phạm của mình với người khác. Tôi cũng ghi vào sổ tên của khoảng bảy mươi bạn cùng trường và bắt đầu cầu nguyện cho họ hằng ngày, nhắc đến tên từng người trước mặt Đức Chúa Trời. Đôi khi tôi cầu nguyện cho họ mỗi giờ một lần, cầu nguyện yên lặng, ngay cả trong lớp học. Khi có cơ hội, tôi làm chứng cho họ và cố gắng thuyết phục họ tin Chúa Giê-su. Các bạn cùng trường thường nói đùa: “Ông thầy giảng đến kìa. Chúng ta hãy nghe ổng giảng”. Sự thật là họ không có ý định nghe gì cả.

Một lần nữa tôi đến thăm chị Groves và nói: “Tôi đã thực hiện những gì chị đã chỉ dạy. Nhưng sao tôi vẫn không thấy hiệu quả?” Chị đáp: “Đừng thất vọng. Hãy tiếp tục cầu nguyện cho đến khi một vài người được cứu”. Nhờ ân điển của Chúa, tôi tiếp tục cầu nguyện hằng ngày. Khi cơ hội đến, tôi làm chứng và giảng phúc âm. Tạ ơn Chúa, sau vài tháng, tất cả chỉ trừ một người trong số bảy mươi người có tên ghi trong sổ của tôi đều được cứu.

Được Đầy Đẫy Thánh Linh

Dầu một số người được cứu, tôi vẫn không thỏa mãn, vì có nhiều người trong trường và trong thành phố vẫn chưa được cứu. Tôi cảm thấy mình cần được đầy dẫy Thánh Linh và nhận được quyền năng từ trên cao để có thể đem thêm người đến với Chúa. Sau đó, tôi đến gặp chị Margaret Barber. Chưa được trưởng thành trong những vấn đề thuộc linh, tôi hỏi chị rằng tôi có cần được đầy dẫy Thánh Linh để có quyền năng đem nhiều người đến sự cứu rỗi không. Chị đáp: “Có”. Tôi hỏi chị làm thế nào để được đầy dẫy Thánh Linh. Chị nói: “Anh phải dâng chính mình cho Đức Chúa Trời để Ngài có thể đầy dẫy anh bằng chính Ngài”. Tôi đáp rằng tôi đã dâng chính mình rồi. Nhưng khi suy xét, tôi biết mình vẫn như cũ. Tôi biết Đức Chúa Trời đã cứu tôi, lựa chọn tôi và kêu gọi tôi. Dầu chưa đạt đến tình trạng đắc thắng tuyệt đối, nhưng tôi đã được tự do khỏi tội lỗi, những thói xấu, và đã từ bỏ nhiều điều trước nay vương vấn mình. Tuy nhiên, tôi vẫn cảm thấy thiếu quyền năng thuộc linh để đương đầu với công tác thuộc linh. Khi ấy, chị kể cho tôi câu chuyện sau:

Anh Prigin là một người Mỹ từng đến Trung Quốc. Anh có bằng thạc sĩ và đang học để lấy bằng tiến sĩ. Cảm thấy không thỏa lòng về tình trạng thuộc linh của mình, anh tìm kiếm Chúa và cầu nguyện. Anh nói với Đức Chúa Trời: “Con có sự vô tín rất lớn, vài tội lỗi không thể đắc thắng, và con không có quyền năng để công tác”. Suốt hai tuần, anh xin Đức Chúa Trời đặc biệt đổ đầy Thánh Linh cho mình để anh có thể sống một cuộc sống đắc thắng và quyền năng. Đức Chúa Trời phán: “Con có thật sự muốn điều này không? Nếu có, đừng dự kỳ thi lấy bằng tiến sĩ trong hai tháng tới, vì Ta không cần bằng tiến sĩ”. Anh cảm thấy mình lâm vào một tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Bằng tiến sĩ dường như là một điều cầm chắc trong tay, thật buồn thảm nếu không được ngồi dự thi. Anh quì gối xuống cầu nguyện và hỏi Đức Chúa Trời vì sao Ngài không cho phép anh lấy bằng cấp này và trở nên một mục sư. Nhưng đây là điều kỳ lạ: Một khi Đức Chúa Trời đã yêu cầu điều gì, Ngài cương quyết đòi điều ấy và không bao giờ thỏa hiệp với một ai.

Hai tháng tiếp theo là hai tháng đau đớn hơn hết. Vào thứ bảy cuối cùng của hai tháng ấy, anh thật sự kinh nghiệm một cuộc tranh chiến trong lòng. Anh muốn có bằng cấp hay muốn được đầy dẫy Thánh Linh? Điều nào tốt hơn: bằng cấp tiến sĩ hay một đời sống đắc thắng? Những người khác có thể trở nên tiến sĩ và vẫn được Đức Chúa Trời sử dụng, tại sao mình thì không? Anh tranh chiến và lý luận với Đức Chúa Trời, và trở nên tuyệt vọng. Bằng tiến sĩ rất quí báu đối với anh và sự đầy dẫy Thánh Linh cũng vậy. Nhưng Đức Chúa Trời không nhượng bộ. Lựa chọn bằng tiến sĩ sẽ khiến anh không thể sống đời sống thuộc linh được. Sống cuộc đời thuộc linh đòi hỏi anh phải bỏ bằng tiến sĩ. Cuối cùng anh nói trong nước mắt: “Con xin đầu phục. Dầu con đã bỏ hai năm để học lấy bằng tiến sĩ, một mục tiêu con ấp ủ suốt ba mươi năm từ khi còn thơ ấu, con không có sự lựa chọn nào khác hơn là từ bỏ kỳ thi này để đầu phục Đức Chúa Trời”. Sau đó, anh viết cho ban giám hiệu trường đại học biết anh sẽ không dự thi vào thứ hai sắp đến, và như vậy là bỏ hi vọng lấy bằng tiến sĩ mãi mãi. Đêm ấy, anh kiệt sức đến nỗi không thể tìm được sứ điệp nào để giảng ngày hôm sau. Vì thế anh chỉ kể cho hội chúng nghe câu chuyện đầu phục Chúa của mình. Hôm ấy, hội chúng được phục hưng. Ba phần tư số người tham dự đều khóc. Chính anh cũng được sức mạnh. Anh nói: “Nếu tôi biết trước kết quả là như vầy, tôi đã đầu phục sớm hơn”. Sau đó, công tác của anh được Chúa ban phước cách lạ lùng, và anh là một người nhận biết Đức Chúa Trời sâu xa nhất.

Khi đến Anh Quốc, tôi định đi tiếp qua Mỹ để gặp anh, nhưng Chúa đã cất anh đi trước khi tôi có cơ hội ấy. Khi nghe lời chứng ấy, tôi nói với Chúa: “Con muốn cất bỏ tất cả những gì đang ngăn cách giữa Đức Chúa Trời và con để được đầy dẫy Thánh Linh”. Giữa năm 1920 và 1922, tôi đến gặp ít nhất hai trăm hay ba trăm người để xưng nhận lỗi lầm. Sau khi nghiêm khắc xem xét tỉ mỉ những sự việc trong quá khứ, tôi cảm thấy vẫn có một điều gì đó giữa Đức Chúa Trời và chính mình, nếu không, tôi đã được sống động về phương diện thuộc linh. Nhưng dầu giải quyết bằng nhiều cách, tôi vẫn không có sức mạnh.

Được Đức Chúa Trời Xử Lý

Một ngày kia, khi đang tìm chủ đề trong Kinh Thánh để giảng, tôi tình cờ mở Kinh Thánh và Thi Thiên 73:25 xuất hiện trước mắt tôi: “Trên trời tôi có ai ngoài ra Chúa? Và dưới đất này, tôi cũng chẳng ước ao người nào khác hơn Ngài”. Sau khi đọc những lời ấy, tôi tự nhủ: “Tác giả Thi Thiên này có thể nói như vậy, nhưng tôi thì không”. Khi ấy, tôi khám phá ra có một điều gì đó ở giữa tôi và Đức Chúa Trời.

Vì hôm nay không có mặt vợ tôi ở đây, tôi sẽ thuật câu chuyện này cho anh em. Tôi yêu cô ấy khoảng mười năm trước khi chúng tôi lấy nhau. Lúc ấy cô chưa được cứu, và khi tôi nói về Chúa Giê-su với cô và cố gắng thuyết phục cô tin Chúa, thì cô ấy cười nhạo tôi. Tôi phải thừa nhận rằng tôi thật sự yêu cô ấy, nhưng đồng thời tôi rất khốn khổ khi cô ấy cười nhạo Chúa mà tôi tin. Khi đó, tôi cũng tự hỏi không biết cô ấy hay Chúa chiếm chỗ cao nhất trong lòng mình. Tôi phải nói rằng một khi các thanh niên đã yêu, họ thấy rất khó từ bỏ người mình yêu. Tôi nói với Đức Chúa Trời tôi bằng lòng từ bỏ cô ấy, nhưng sâu xa trong lòng mình, tôi không muốn bỏ. Sau khi đọc lại Thi Thiên 73, tôi nói với Đức Chúa Trời: “Con không thể nói rằng dưới đất này, con không ao ước ai ngoài Ngài, vì dưới đất này con có yêu một người”. Ngay giây phút ấy, Thánh Linh chỉ rõ có một điều giữa Đức Chúa Trời và tôi.

Hôm ấy tôi giảng một bài, nhưng không biết mình nói gì. Tôi thật sự nói với Đức Chúa Trời xin Ngài kiên nhẫn và ban sức mạnh cho tôi đến khi tôi có thể từ bỏ cô ấy. Tôi xin Đức Chúa Trời hoãn việc xử lý vấn đề này. Nhưng Đức Chúa Trời không bao giờ lý luận với con người. Tôi nghĩ tới việc đến vùng biên giới ở tận xứ Tây Tạng hẻo lánh để truyền giáo và đề nghị nhiều hoạt động khác cho Đức Chúa Trời, hi vọng Ngài sẽ cảm động và không lại đặt vấn đề muốn tôi từ bỏ người mình yêu. Nhưng khi ngón tay Đức Chúa Trời đã chỉ vào một điều gì, Ngài sẽ không rút lại. Dầu gắng sức cầu nguyện đến đâu, tôi vẫn không thông suốt với Ngài. Tôi không còn nhiệt thành học hành ở trường, đồng thời cũng không có quyền năng của Thánh Linh, là điều tôi tha thiết tìm kiếm. Tôi buồn rầu vô cùng và thường cầu nguyện, mong rằng sự cầu nguyện tha thiết của tôi sẽ làm Đức Chúa Trời đổi ý. Tạ ơn Chúa, Ngài chỉ muốn tôi học từ bỏ chính mình, gạt tình yêu con người sang một bên, và yêu Ngài với một tấm lòng đơn thuần. Nếu không, tôi sẽ là một Cơ Đốc nhân vô dụng trong tay Ngài. Ngài chặt đứt sự sống thiên nhiên của tôi bằng một con dao bén để tôi học bài tôi chưa từng học trước đó.

Một lần kia, sau khi chia sẻ một bài giảng, tôi trở về phòng với một tấm lòng nặng nề. Tôi thưa với Đức Chúa Trời rằng tôi sẽ trở lại trường vào thứ hai sắp đến và xin được đầy dẫy Thánh Linh và tình yêu của Đấng Christ. Trong hai tuần tiếp theo, tôi thấy mình vẫn không thể nói những lời trong Thi Thiên 73:25 cách quả quyết được. Nhưng cảm tạ Chúa, không bao lâu sau, tôi được đầy dẫy tình yêu của Ngài, tôi bằng lòng “đặt” người tôi yêu xuống và lớn tiếng tuyên bố: “Tôi bằng lòng để nàng qua một bên! Nàng sẽ không bao giờ thuộc về tôi nữa!” Sau khi tuyên bố như vậy, cuối cùng tôi có thể nói lên lời của Thi Thiên 73:25. Hôm ấy, tôi ở từng trời thứ hai, nếu không phải là thứ ba. Thế gian dường như thu nhỏ đối với tôi, và tôi lâng lâng như thể đang đi trên mây lướt trên gió. Vào đêm tôi được cứu, gánh nặng tội lỗi lăn xa khỏi tôi, nhưng vào ngày hôm ấy, ngày 13 tháng 2 năm 1922, khi đặt người yêu sang một bên, lòng tôi trút hết những gì trước đó đã chiếm hữu mình.

Tuần lễ sau đó, nhiều người bắt đầu được cứu. Anh Weigh, là bạn cùng lớp với tôi có thể làm chứng về sự thật rằng, cho đến lúc ấy, những chiếc áo dài của tôi rất cầu kỳ. Tôi thường mặc một chiếc áo dài bằng lụa với nhiều đốm đỏ. Nhưng hôm ấy, tôi cất bỏ quần áo và giày dép đẹp của mình. Tôi vào bếp khuấy một ít hồ và với một bó bích chương phúc âm kẹp nách, tôi ra đường dán trên các vách tường và phân phát chứng đạo đơn. Vào thời ấy tại Foochow, Phúc Kiến, đó là một hành động mới mẻ.

Vào năm 1922, từ khóa học thứ hai, tôi bắt đầu công tác giảng phúc âm, và nhiều bạn bè cùng trường được cứu. Hằng ngày tôi cầu nguyện cho những người có tên trong sổ mình. Từ năm 1923, chúng tôi bắt đầu mượn hoặc thuê những nơi nhóm họp để mở rộng công tác truyền giáo. Có mấy trăm người được cứu cùng một lúc. Ngoại trừ một người, mọi người có tên trong sổ của tôi đều được cứu. Điều đó là một bằng cớ hiển nhiên cho thấy Đức Chúa Trời nghe những lời cầu nguyện ấy. Đường lối của Ngài là trước hết chúng ta phải cầu nguyện cho các tội nhân rồi họ mới được cứu. Trong vài năm đó, có nhiều trường hợp đã chứng thực sự thật này.

HỌC ĐƯỢC BÀI HỌC THUẬN PHỤC

Vào năm 1923, bảy người chúng tôi làm việc chung với nhau như các anh em đồng công. Trong chúng tôi có hai người lãnh đạo là một anh đồng công lớn hơn tôi năm tuổi và tôi. Chúng tôi có một buổi nhóm dành cho các anh em đồng công mỗi thứ sáu mà trong buổi nhóm ấy, năm người kia thường bất đắc dĩ phải nghe sự tranh luận giữa hai người lãnh đạo. Thời ấy tất cả chúng tôi đều trẻ tuổi, và mỗi người đều có lối suy nghĩ riêng. Tôi thường công kích người đồng công lớn tuổi hơn, cho rằng anh sai lầm, và ngược lại anh ấy cũng như vậy. Vì tính khí chưa được xử lý, tôi hay nổi nóng. Ngày nay, năm 1936, thỉnh thoảng tôi cười lớn tiếng, nhưng vào lúc ấy, hiếm khi nào tôi cất tiếng cười. Trong những cuộc tranh luận với nhau, tôi thừa nhận nhiều lúc tôi sai lầm, nhưng anh ấy cũng có lúc sai lầm. Tôi dễ tha thứ lỗi lầm của mình, nhưng không dễ tha thứ cho người khác. Sau khi tranh luận với nhau vào ngày thứ sáu, tôi đến gặp chị Barber vào ngày thứ bảy và buộc tội anh em đồng công kia. Tôi nói: “Tôi đã bảo anh đồng công ấy rằng anh nên làm như thế này, nhưng anh ấy không nghe. Chị nên nói chuyện với anh ấy”. Chị Barber trả lời: “Anh ấy lớn hơn anh năm tuổi; anh nên nghe anh ấy và vâng phục anh ấy”. Tôi đáp: “Dầu anh ấy có hợp lý hay không, tôi vẫn phải nghe anh ấy sao?” Chị nói: “Vâng! Kinh Thánh nói người trẻ tuổi nên vâng phục người lớn tuổi”. Tôi đáp: “Tôi không thể làm như vậy. Cơ Đốc nhân nên hành động theo lý trí”. Chị đáp: “Dầu có lý hay không, anh không cần biết. Kinh Thánh nói người trẻ tuổi nên vâng lời người lớn tuổi”. Tôi giận trong lòng vì Kinh Thánh nói một điều như vậy. Tôi muốn trút sự căm giận của mình ra, nhưng tôi không thể làm điều đó.

Mỗi khi tranh luận vào ngày thứ sáu xong, tôi đến với chị để giãi bày những nỗi buồn khổ của mình, nhưng chị lại trưng dẫn Kinh Thánh, yêu cầu tôi phải vâng phục người lớn tuổi hơn. Thỉnh thoảng tôi khóc vào tối thứ sáu sau khi tranh cãi vào buổi chiều ngày hôm ấy. Qua hôm sau, tôi đến với chị Barber để giãi bày những nỗi khổ của mình, hi vọng chị sẽ minh oan cho tôi. Nhưng tôi lại khóc khi trở về nhà vào tối thứ bảy. Tôi ao ước phải chi mình được sinh ra sớm hơn vài năm. Trong một lần tranh cãi, tôi lý luận rất hợp lẽ. Tôi cảm thấy khi nêu lên những lý luận ấy, chị sẽ thấy anh em đồng công của tôi sai lầm và chị sẽ ủng hộ tôi. Nhưng chị nói: “Người đồng công ấy đúng hay sai là chuyện khác. Đang khi anh buộc tội anh em mình trước mặt tôi, anh có giống một người đang mang thập tự giá không? Anh có giống một chiên con không?” Khi nghe chị hỏi như vậy, tôi rất xấu hổ và không bao giờ có thể quên được. Lời nói và thái độ của tôi hôm ấy bày tỏ rằng tôi thật không giống một người vác thập tự giá, cũng không giống một chiên con.

Qua những tình huống như vậy, tôi đã học tập vâng lời một anh em đồng công lớn tuổi hơn. Suốt một năm rưỡi ấy, tôi đã học những bài học quí báu nhất trong đời mình. Đầu óc tôi đầy dẫy ý kiến, nhưng Đức Chúa Trời muốn tôi bước vào thực tại thuộc linh. Trong một năm rưỡi ấy, tôi nhận biết vác thập tự giá có nghĩa là gì. Ngày nay, vào năm 1936, chúng tôi có khoảng năm mươi đồng công. Nếu không nhờ bài học vâng phục tôi đã học trong một năm rưỡi ấy, tôi e rằng mình không thể làm việc với ai cả. Đức Chúa Trời đã đặt tôi trong những hoàn cảnh ấy để tôi học ở dưới sự kiểm chế của Thánh Linh. Trong mười tám tháng ấy, tôi không có cơ hội đưa ra những đề nghị của mình, tôi chỉ có thể khóc và chịu đựng cách đau đớn. Nhưng nếu không nhờ như thế, tôi sẽ không bao giờ nhận biết con người mình khó được xử lý là dường nào. Đức Chúa Trời muốn trau chuốt tôi và cất bỏ những góc cạnh bén nhọn của tôi. Đó là một điều thật khó hoàn thành. Tôi cảm tạ và ngợi khen Đức Chúa Trời biết bao, ân điển Ngài đã cứu tôi!

Bây giờ tôi phải nói vài lời với các đồng công trẻ tuổi. Nếu không chịu được những thử thách của thập tự giá, anh em không thể trở nên một công cụ hữu ích. Đức Chúa Trời chỉ ưa thích linh của chiên con: hiền lành, khiêm nhường và hòa nhã. Tham vọng của anh em, mục đích cao cả và khả năng của anh em theo mắt Ngài đều vô dụng. Tôi đã từng đi con đường này và thường phải xưng ra những khuyết điểm của mình. Tất cả những gì liên quan đến tôi đều ở trong tay Đức Chúa Trời. Đó không phải là vấn đề đúng hay sai, vấn đề là anh em có giống người vác thập tự giá hay không. Trong Hội thánh, không có chỗ cho sự tranh biện đúng sai, tất cả những gì có giá trị là vác thập tự giá và chấp nhận sự phá vỡ. Điều này làm cho sự sống của Đức Chúa Trời tuôn đổ và hoàn thành ý muốn Ngài.