Thông tin sách

Lời Chứng Của Watchman Nee

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Lời chứng của Watchman Nee
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Lời giới thiệu

Untitled Document

LỜI MỞ ĐẦU

Anh Watchman Nee chia sẻ ba lời chứng này với các đồng công vào tháng 10 năm 1936 tại buổi nhóm ở Kulangsu, một hòn đảo ở ven bờ biển đông nam thuộc tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Theo tôi biết, đây là lần đầu tiên trong đời anh kể chi tiết về những công việc riêng tư của mình. Hiếm khi anh công bố kinh nghiệm thuộc linh của mình, có lẽ “kẻo có ai nghĩ tôi vượt quá sự họ thấy ở nơi tôi hoặc nghe tôi nói” (2 Cô. 12:6). Lời chứng Phao-lô chia sẻ trong 2 Cô-rin-tô chương 12 mãi mười bốn năm sau mới được ông công khai tiết lộ. Trước đây tôi từng nghĩ đến việc xuất bản ba lời chứng này, nhưng vì thông cảm với quan điểm của anh nên tôi đã hoãn lại cho đến nay — sau ba mươi bảy năm trôi qua. Khi anh qua đời tại Trung Hoa lục địa vào ngày 30 tháng 5 năm 1972, tôi quyết định công bố các lời chứng này. Tôi tin ấy là thời điểm đúng đắn. Tôi hi vọng độc giả sẽ không chú ý đến chính con người, mà chú ý đến công tác của Chúa trong anh và việc anh sẵn lòng để Chúa thực hiện công tác của Ngài. Nhờ đó, vinh quang của Chúa sẽ được bày tỏ qua anh. Như Phao-lô từng nói: “Hầu cho danh Chúa chúng ta là Giê-su được vinh hiển trong anh em, và anh em trong Ngài cũng vậy, theo như ân điển của Đức Chúa Trời chúng ta và của Chúa Giê-su Christ” (2 Tê. 1:12).

Lời chứng thứ nhất: Sự cứu rỗi và sự kêu gọi.

Lời chứng thứ hai: (1) Học tập bài học thập tự giá, (2) Sự dẫn dắt trong công tác, (3) Đức Chúa Trời là Đấng chữa lành tôi, và (4) Đức Chúa Trời giao thác cho công tác bao gồm bốn khía cạnh.

Lời chứng thứ ba: (1) Làm thế nào sống một đời sống bởi đức tin, (2) Thái độ đối với tiền bạc, và (3) Ngưỡng trông Đức Chúa Trời đáp ứng nhu cầu cho công tác xuất bản.

Ba lời chứng này chắc chắn chưa bao gồm toàn bộ đời sống và công tác thuộc linh của anh trước năm 1936. Khi đọc tạp chí Chứng Cớ Hiện Tại, Cơ Đốc nhân và các thư ngỏ được anh xuất bản trước năm 1936, chúng ta có thể nhận thấy còn nhiều lời chứng và công tác được thực hiện đáng được anh đề cập. Trong buổi nhóm ấy, anh không thể chia sẻ nhiều hơn vì thời giờ có hạn.

Watchman Nee và tôi vốn là bạn đồng lớp trong vài năm tại trường Trinity, một trường được Anh Quốc Giáo thành lập tại thành phố Foochow. Chúng tôi là bạn thân của nhau, và thường học hành cùng vui chơi với nhau. Vào những năm học trung học, hai chúng tôi là Cơ Đốc nhân trên danh nghĩa. Hai chúng tôi hiểu biết ít nhiều về Kinh Thánh, và giữ theo các hình thức bề ngoài của Cơ Đốc nhân như làm báp-têm, dự tiệc thánh, đi nhà thờ, học Kinh Thánh và cầu nguyện. Tuy nhiên, chúng tôi chưa bao giờ tiếp nhận vào lòng mình Đấng Christ là Đấng chịu đóng đinh vì những tội lỗi của chúng tôi và đã sống lại vào ngày thứ ba, và chúng tôi không biết Ngài là Đấng Cứu Rỗi của cá nhân mình. Cả hai chúng tôi đều yêu thế gian và những sự hư không của thế gian.

Watchman Nee theo đuổi thành tích học tập về môn văn chương Trung Hoa. Anh thường viết bài đăng báo. Tiền kiếm được anh dùng mua vé số. Anh cũng thích xem phim. Tôi thì thích thể thao, mong ước được nổi tiếng và được người ta tán thưởng.

Khi học đại học năm thứ nhất, đời sống anh đột nhiên thay đổi. Anh trở nên một Cơ Đốc nhân sốt sắng và ngưng theo đuổi thế gian. Anh thường làm chứng với các bạn đồng lớp của mình, khuyên bảo họ phải tin nơi Chúa Giê-su. Nhiều người bạn cùng trường tin nhận Chúa và tự ý đến cầu nguyện nơi nhà nguyện của trường, thậm chí vào những ngày trong tuần. Anh thường nghiên cứu Kinh Thánh trong lớp; tuy nhiên, việc làm ấy dường như không ảnh hưởng gì đến điểm của anh. Môn thi nào anh cũng thường đạt được điểm cao nhất lớp. Đời sống của nhiều sinh viên được thay đổi nhờ tiếp nhận Chúa, và người quản lý ký túc xá thừa nhận rằng một số sinh viên tinh nghịch trước đây vi phạm nội qui nhà trường đã tiếp nhận Chúa và kinh nghiệm một sự thay đổi lớn trong đời sống của họ. Do đó, ông nhận thấy sinh viên ít vi phạm nội qui nhà trường hơn.

Watchman Nee mời tôi đến dự vài buổi nhóm truyền giảng phúc âm, nhưng tôi từ chối. Lòng tôi đã quyết tâm trở nên nổi tiếng trong thế giới thể thao. Thế nhưng, một ngày kia anh đến phòng tôi và giảng phúc âm riêng cho tôi, thúc giục tôi tiếp nhận Chúa Giê-su làm Cứu Chúa của mình. Mặc dầu tôi cố tranh luận với anh về một số nan đề của tôn giáo, nhưng anh không tranh luận; thay vào đó, anh hỏi tôi vài câu như sau: “Anh có phạm tội không? Anh có biết tội của mình đã được tha hay chưa? Anh có biết mình đã được cứu hay chưa?” Khi ấy, tôi không hiểu tại sao tôi cảm thấy buồn rầu ở trong lòng mình. Về sau tôi nhận biết đó là công tác thuyết phục của Thánh Linh. Anh rao giảng phúc âm cho tôi, giải thích rằng Đức Chúa Trời yêu thương tôi và đã ban Con độc sinh của Ngài cho tôi, và nếu thực sự tin nơi Ngài thì tôi sẽ không bị diệt vong nhưng sẽ có được sự sống đời đời. Khi anh hỏi tôi có tin Đấng Christ hay không, tôi đáp là tôi tin. Chúng tôi cùng quì gối cầu nguyện, và anh cầu nguyện trước. Sau đó, tôi cầu nguyện, xin Chúa tha thứ những tội lỗi của tôi và cảm tạ Ngài vì đã yêu thương tôi và cứu tôi. Khi đứng lên, lòng tôi tràn ngập niềm vui và sự bình an. Tôi đã kinh nghiệm một sự thay đổi lớn trong đời sống của mình và sinh ra bông trái ăn năn. Tên của tôi có trong danh sách các tên được anh cầu nguyện, và Chúa đã đáp ứng lời cầu nguyện của anh. Ngợi khen Chúa!

Năm 1924 tôi chuyển đến Trường Đại Học Nam Kinh và chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện đại. Đức tin của tôi đã bị lung lay. Bấy giờ Watchman Nee ở nhà của một anh em tại Nam Kinh để hồi phục sức khỏe sau một chứng bệnh. Tôi thường đến thăm anh để tương giao, và anh đã giúp tôi thoát khỏi ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện đại. Sau khi sức khỏe của anh được khả quan hơn, tôi sắp đặt để anh giảng phúc âm tại Trường Đại Học Nam Kinh. Lời rao giảng của anh đem đến kết quả là hai người bạn cùng lớp của tôi được cứu.

Năm 1928, khi sắp ra trường, tôi nghĩ đến việc phục vụ Chúa trọn thời giờ. Tôi không muốn làm một nhà truyền đạo lãnh lương, nhưng tôi không biết cách sống bởi đức tin, do đó tôi đến với Watchman Nee để tương giao. Khi ấy, anh cô độc và rất cần những đồng công có cùng chí hướng. Khi tôi nêu lên vấn đề này, anh không khinh suất khích lệ tôi phục vụ Chúa. Nhu cầu có các đồng công và mối quan hệ riêng tư giữa chúng tôi không ảnh hưởng đến anh. Anh đơn sơ bảo tôi đừng đợi nước sông Giô-đanh mở ra, nhưng hãy bước vào dòng nước bởi đức tin — khi ấy con đường sẽ mở ra trước mặt tôi. Anh biết tôi không có loại đức tin như vậy. Tôi chờ đợi hoàn cảnh bên ngoài thay đổi rồi mới bắt đầu phục vụ Chúa. (Tại Trung Quốc vào năm mươi năm trước, khó tìm được ai phục vụ Chúa bởi đức tin như Watchman Nee). Do đó, tôi gát qua ý tưởng phục vụ Chúa trọn thời giờ mà dạy đại học suốt tám năm.

Vào mùa xuân năm 1934, Watchman Nee tổ chức hội đồng về những người đắc thắng lần thứ ba tại Thượng Hải. Vào buổi sáng, anh chia sẻ về tính trung tâm và phổ quát của Đấng Christ. Vào buổi chiều, anh chia sẻ về những người đắc thắng của Đức Chúa Trời. Qua những bài anh giảng trong kỳ hội đồng ấy, Chúa ban cho tôi một khải thị dẫn đến một biến chuyển lớn trong đời sống thuộc linh của tôi. Kết quả là tôi đứng lên trong kỳ hội đồng ấy và lần đầu tiên dâng trọn đời mình cho Chúa. Bấy giờ, tôi vẫn đang dạy học.

Năm 1935, tại Chefoo anh Nee kinh nghiệm cách mới mẻ sự tuôn đổ của Thánh Linh. Sau đó, anh tổ chức một hội đồng tại Chuanchow thuộc tỉnh Phúc Kiến, và mời tôi tham dự. Tại đó nhiều người được giúp đỡ kinh nghiệm sự tuôn đổ của Thánh Linh, nhờ đó họ có quyền năng và sự dạn dĩ để làm chứng cho Chúa. Anh cũng giảng dạy về bí quyết của đời sống đắc thắng; ấy là để Đấng Christ sống thay cho chúng ta, theo lời chứng của Phao-lô trong Ga-la-ti 2:20. Kỳ hội đồng ấy đem đến một cuộc phục hưng lớn.

Vào tháng 10 năm 1936, Watchman Nee tổ chức một hội đồng dành cho các đồng công tại Kulangsu, Phúc Kiến. Anh đánh điện mời tôi tham dự. Khi ấy, tôi đã rõ về sự kêu gọi của Chúa, và chuẩn bị nghỉ dạy để sống bởi đức tin mà phục vụ Chúa. Trong khi tìm kiếm Chúa để được Ngài dẫn dắt, tôi nhận được thư mời của anh Nee. Ngay lập tức tôi nhận thấy Đức Chúa Trời muốn tôi tham dự kỳ hội đồng ấy. Tôi cảm tạ Chúa vì tại kỳ hội đồng ấy tôi có được cơ hội hiếm hoi là nghe anh Nee làm chứng, và về sau tôi chia lời chứng ấy thành ba bài đăng trên báo. Vào cuối kỳ hội đồng, anh Nee và các đồng công khác chỉ định tôi khởi xướng công tác tại Quảng Đông, và sau này công tác tại Hồng Kông. Năm 1937 Watchman Nee khởi xướng công tác của Chúa tại K’un-ming thuộc tỉnh Yunnan. Sau khi thiết lập Hội thánh tại đó, anh mời tôi đến công tác tại địa phương ấy. Tôi nhận lấy gánh nặng và đưa gia đình tôi đến đó. Tôi công tác tại đó suốt ba năm rồi trở lại Hồng Kông vào năm 1940.

Sau Thế Chiến thứ hai, mỗi khi Watchman Nee đến thăm Quảng Đông hay Hồng Kông, tôi đều tìm cơ hội tương giao với anh. Tôi thường dự định hỏi anh một số câu hỏi, nhưng sau khi tương giao với anh một lúc, những câu hỏi ấy không còn cần thiết nữa. Khi tương giao với anh, tôi luôn luôn nhận được nguồn cung ứng sự sống dồi dào.

Năm 1948 tôi lại có cơ hội tham dự một kỳ hội đồng tại Hội thánh ở Thượng Hải. Anh Nee chia sẻ về vấn đề giao nộp chính chúng ta cùng với tất cả những gì chúng ta sở hữu cho Chúa. Những lời anh chia sẻ có tác động lớn và đầy dẫy quyền năng của Thánh Linh, và các buổi nhóm ấy đầy dẫy sự hiện diện của Chúa. Nhiều người được phục hưng và giao nộp chính mình cùng tài sản của mình, để được xây dựng với nhau trong việc phục vụ Chúa. Trong buổi nhóm cuối của kỳ hội đồng, vì tôi phải đi Foochow, nên trước mặt đông đủ các anh chị em, anh Nee nói với tôi những lời tạm biệt sau đây:

Chỉ có một Đấng Christ, nhưng do các công tác viên có những quan điểm và sự nhấn mạnh khác nhau, nên dường như Đấng Christ bị chia ra thành nhiều Christ. Nếu một công tác viên không thể bày tỏ cho người khác một Đấng Christ mà Đức Chúa Trời muốn bày tỏ, thì công tác của người ấy thất bại. Ngày nay nhiều người có mối quan hệ rất mật thiết với Chúa, trong khi những người khác chỉ lấn ép Ngài (Mác 5:24). Có lẽ một số người đã rờ đến lưng Ngài, nắm lấy tay Ngài, hay kéo rách áo Ngài; nhưng họ không có mối quan hệ gì với Ngài trong sự sống. Giữa vòng đám người xúm lại quanh Giê-su, người đàn bà bị xuất huyết không phải là người duy nhất bị bệnh, nhưng bà là người duy nhất được chữa lành trong sự sống (Mat. 9:20-22).

Ngày nay một số người thực sự biết Đấng Christ của Bết-sai-đa (Mác 8:22-26) hoặc Đấng Christ của Giê-ra-sê (Mác 5:1-20) hoặc Đấng Christ của Em-ma-út (Lu. 24:13-35). Trong kinh nghiệm của mình, họ thực sự đã thấy những phép lạ và dấu kỳ. Thậm chí chính họ cũng có thể làm phép lạ. Tuy nhiên, nếu không có khải thị thật ở bên trong, thì những công tác ấy sẽ không có giá trị gì. Một số người có thể có khả năng nói với người khác bằng quyền năng làm cảm động của Đấng Christ của Em-ma-út. Họ có thể có khả năng luận giải Kinh Thánh và làm cho lòng người khác thực sự hăng hái; nhưng đó chẳng có giá trị gì. Công tác thật là truyền Đấng Christ của khải thị cho người khác. Những lời tôi nói đây không những dành cho anh Weigh, mà cũng dành cho tất cả các đồng công và toàn thể anh chị em. Nếu anh em và tôi không thể truyền Đấng Christ của khải thị cho người khác, thì công tác của chúng ta thất bại.

Ở đây chúng ta thấy có hai lập trường khác biệt về căn bản mà một công tác viên của Chúa có thể chọn: Một lập trường là nhấn mạnh đến công tác, việc luận giải Kinh Thánh, phép lạ, dấu kỳ và sự đáp ứng lời cầu nguyện v.v... Lập trường kia là trình cho người ta một Đấng Christ của khải thị.

Trong cùng năm ấy, năm 1948, từ đầu tháng Sáu đến cuối tháng Chín, Watchman Nee tổ chức một kỳ huấn luyện trên núi Kuling thuộc tỉnh Phúc Kiến vì mục đích huấn luyện các đồng công ở khắp Trung Quốc. Tôi đã tham dự kỳ huấn luyện ấy. Mỗi ngày chúng tôi dành khoảng bảy tiếng đồng hồ nghe anh Nee chia sẻ và tiếp nhận chức vụ cung ứng của anh. Tôi được giúp đỡ rất nhiều về sự hiểu biết thuộc linh của mình và về nguyên tắc công tác cho Chúa. Những gì anh chia sẻ trong các buổi huấn luyện có thể được tóm tắt như sau:

(1) Làm thế nào để vận dụng linh.

(2) Làm thế nào để cung ứng Lời [Chúa].

(3) Làm thế nào để đọc Kinh Thánh.

(4) Làm thế nào để rao giảng phúc âm.

(5) Làm thế nào để hướng dẫn các tín đồ mới.

(6) Làm thế nào để quản lý công việc Hội thánh.

Ngoài ra còn có buổi nhóm để làm chứng tại đó người tham dự chia sẻ những lời chứng ngắn gọn. Sau đó, anh Nee đưa ra lời chẩn đoán thuộc linh cho lời chứng của mỗi người, nêu lên nỗi khó khăn thuộc linh của mỗi người, và cách khắc phục những nỗi khó khăn ấy. Với một cảm nhận sắc bén, anh chẩn đoán chính xác đến nỗi những gì anh nêu lên hoàn toàn đáp ứng nhu cầu của mỗi người. Khi các đồng công xuống núi trở về địa phương của mình, Chúa ban phước cho các Hội thánh cách dồi dào, đem đến một cuộc phục hưng lớn khiến cho các Hội thánh được xây dựng và tiến triển trong công tác; kết quả là phúc âm được rao giảng bằng quyền năng, giúp cho nhiều người được cứu.

Đầu năm 1950, Watchman Nee đến Hồng Kông. Ít lâu sau Wit ness Lee cũng đến. Trước đây, hiếm khi nào hai anh em này đồng thời thăm viếng cùng một Hội thánh. Chức vụ của họ đem đến một cuộc phục hưng lớn trong Hội thánh tại Hồng Kông. Trước đó, trong các buổi nhóm có khoảng ba trăm người tham dự. Nhờ có cuộc phục hưng, số người tham dự tăng lên thành hai ba ngàn người. Ơn phước đặc biệt tuôn đổ trên Hội thánh tại Hồng Kông.

Không lâu sao đó anh Nee nghĩ đến việc trở lại Thượng Hải. Tình hình chính trị tại đó vô cùng căng thẳng, các anh em cố gắng thuyết phục anh đừng trở lại Trung Hoa lục địa, nhưng anh nhất quyết phải trở về vì anh quan tâm đến các Hội thánh và các đồng công ở tại đó. Anh giống như sứ đồ Phao-lô; khi sắp đến Giê-ru-sa-lem, Phao-lô biết tù đày và gian khổ đang chờ đợi mình tại đó, và sẵn sàng thậm chí chịu chết vì danh của Chúa Giê-su. Vì yêu thương Chúa, Hội thánh và các anh chị em, anh có cùng một tâm trạng như Phao-lô. Trong một hai năm đầu sau khi trở lại Thượng Hải, anh lợi dụng mọi cơ hội để tận tụy công tác bằng cả tấm lòng và tâm hồn của mình. Khi ấy có hơn sáu trăm Hội thánh địa phương ở khắp nước với hơn chín chục ngàn thánh đồ mà hầu hết đều ít nhiều được anh giúp đỡ. Năm 1952, vì trung thành đối với Chúa và vì cớ lẽ thật, anh Nee bất ngờ bị bắt bỏ tù, và bị kết án hai mươi năm tù. Trong hai mươi năm ấy không thể nào có được tin tức trực tiếp về anh. Theo tôi biết thì chính quyền đã dùng anh để phiên dịch các sách khoa học từ tiếng Anh sang tiếng Hoa. Vợ anh thường đến thăm anh hai ba tuần một lần và đem cho anh một số vật dụng hằng này; chị qua đời vào tháng 11 năm 1971. Tim của anh Nee chỉ nhỏ bằng phân nửa tim của người thường, và anh bị bệnh tim suốt nhiều năm, khiến anh bị đau buốt mỗi khi chứng bệnh lên cơn. Tuy nhiên, Chúa đã gìn giữ mạng sống của anh cho đến ngày 30 tháng 5 năm 1972, khi anh được Chúa đem vào lòng Ngài để yên nghỉ. Như vậy, anh Nee được nghỉ ngơi khỏi sự lao khổ của anh, và công việc của anh cùng theo anh (Khải. 14:13). Mặc dầu thân thể vật lý của anh bị giam cầm trong tù, nhưng các sứ điệp mà Chúa đã truyền đạt cho anh tự do lan rộng trên khắp thế giới. Nhờ chức vụ cung ứng lời của anh, nhiều thánh đồ có được sự sáng suốt thuộc linh qua sự khải thị, các Hội thánh được xây dựng, và nhiều lẽ thật cho đến nay ẩn giấu trong Kinh Thánh đã được khám phá. Các sách của anh Nee như Nếp Sống Cơ Đốc Bình Thường và Nếp Sống Bình Thường của Hội thánh Cơ Đốc được nhiều người tại Châu Mỹ và Châu Âu ưa chuộng, làm cho nhiều người được soi sáng và có biến đổi lớn trong đời sống thuộc linh của mình, nhờ đó trở về chỗ đứng hiệp nhất trong các Hội thánh địa phương và mang chứng cớ tốt. Những sứ điệp được Đức Chúa Trời truyền đạt và công tác được Ngài thực hiện qua anh trong nửa thế kỷ qua thì nhiều vô kể và vô cùng dồi dào. Ba lời chứng này chỉ là một phần nhỏ những việc xảy ra trước năm 1936. Những việc xảy ra giữa năm 1928 và năm 1952 được tôi kể lại rất vắn tắt. Qua những sách anh viết chúng ta có thể chú ý thấy người anh em của chúng ta hiểu biết về Đức Chúa Trời rõ ràng biết bao và tận tụy dường nào; với lòng trung thành và vâng phục, anh sẵn sàng thậm chí chấp nhận cái chết. Anh thực sự là một chiếc bình rất hữu dụng cho Đức Chúa Trời, và “đã phục vụ thế hệ của mình theo ý chỉ của Đức Chúa Trời, rồi ngủ” (Công. 13:36, RcV). Anh thực sự cũng đã “để lại cho anh em một gương mẫu, hầu cho anh em noi dấu chân người” (1 Phi. 2:21). Nguyện Chúa ban phước cho ba lời chứng này để mỗi độc giả “nhớ đến những người đã dắt dẫn anh em, đã truyền đạo Đức Chúa Trời cho anh em; hãy nghĩ xem sự kết cuộc cách ăn ở của họ, mà học đòi đức tin của họ” (Hê. 13:7). Nguyện vinh quang mãi mãi qui về Đức Chúa Trời và Chúa Giê-su của chúng ta! A-men.

Kwang-hsi Weigh

Người biên soạn