Thông tin sách

Nếp Sống Hội Thánh Cơ Đốc Bình Thường

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Nếp sống Hội thánh Cơ đốc bình thường
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 9

Untitled Document

CHƯƠNG CHÍN

TỔ CHỨC CỦA CÁC HỘI THÁNH ĐỊA PHƯƠNG

Sau khi quan sát sự khác biệt giữa công tác và các hội thánh, giữa các sứ đồ và các trưởng lão, giữa nền tảng của một hội thánh phù hợp với Kinh Thánh và các bè phái, bây giờ chúng ta có thể tiếp tục xem xét một hội thánh địa phương được tổ chức như thế nào.

Theo quan niệm hiện nay, có ba điều được xem là thiết yếu cho sự hiện hữu của một hội thánh, ngoại trừ nhóm Cơ Đốc nhân tạo nên các thành viên của hội thánh. Ba điều ấy là – “một mục sư”, một nhà thờ và “các buổi thờ phượng”. Thế giới Cơ Đốc sẽ đặt vấn đề về sự hiện hữu của một hội thánh nếu thiếu điều nào trong ba điều ấy.

Ngày nay người ta nghĩ gì về một hội thánh thiếu mục sư? Anh em có thể gọi người ấy là mục sư hoặc là gì tùy ý, nhưng chắc chắn anh em phải có một người như vậy. Theo qui định, người ấy phải được huấn luyện đặc biệt cho công việc hội thánh, và người ấy có thể là người địa phương hay một công tác viên được thuyên chuyển từ nơi khác đến. Dầu lai lịch và phẩm chất của mình như thế nào, người ấy dâng mình chuyên lo về công việc của hội thánh. Do đó, những người trong hội thánh được chia làm hai tầng lớp – tầng lớp giáo phẩm là những người lãnh công việc chăm lo những vấn đề thuộc linh, và tầng lớp giáo dân là những người hiến mình cho việc đời. Kế đến dĩ nhiên phải có các buổi thờ phượng do mục sư đảm trách, và quan trọng nhất là buổi nhóm sáng Chúa Nhật. Anh em có thể gọi đó là buổi thờ phượng, buổi nhóm hay là gì tùy anh em, nhưng ít nhất phải có một buổi nhóm như vậy vào mỗi Chúa Nhật tại đó các thành viên ngồi trên những hàng ghế chờ nghe bài giảng mà mục sư của họ đã soạn sẵn. Và tự nhiên là phải có một ngôi nhà thờ. Anh em có thể gọi đó là hội trường, nơi nhóm họp, nhà nguyện hay nhà thờ; nhưng dầu anh em gọi là gì, cần phải có một nơi như vậy. Nếu không, làm sao anh em “đi nhà thờ” vào Chúa Nhật? Nhưng những gì được xem là cần thiết cho một hội thánh ngày nay lại hoàn toàn không cần thiết vào những ngày đầu của lịch sử Hội thánh. Chúng ta hãy xem Lời Đức Chúa Trời nói gì về vấn đề này.

“MỤC SƯ”, HAY CÔNG TÁC VIÊN, TRONG VIỆC QUẢN TRỊ HỘI THÁNH

“Phao-lô và Ti-mô-thê, đầy tớ của Christ-Giê-su, đạt cho hết thảy các thánh đồ trong Christ Giê-su ở Phi-líp, cùng các giám mục và các chấp sự” (Phil. 1:1). Chúng ta không tìm thấy chỗ nào trong Kinh Thánh đề cập đến việc một “mục sư” điều khiển công việc của hội thánh; luôn luôn có một nhóm trưởng lão địa phương giữ vị trí ấy. Không chỗ nào trong Kinh Thánh trình bày cách rõ ràng và đầy đủ về nhân sự của một hội thánh cho bằng câu vừa trưng dẫn trong thư Phi-líp. Hội thánh bao gồm tất cả các thánh đồ, các giám mục và các chấp sự. Các chấp sự là những người được chỉ định lo việc bàn ăn (Công. 6:2-6), tức là những người chuyên lo về phương diện quản lý các công việc. Giám mục là trưởng lão, coi sóc toàn bộ công việc của hội thánh. (Công. 20:17, 28 và Tít 1:5, 7 nêu rõ điểm này). Ngoài các giám mục và các chấp sự còn có tất cả các thánh đồ. Ba lớp người này tạo nên toàn thể hội thánh, và nếu thêm một lớp người nào khác vào hội thánh thì hội thánh trở thành một tổ chức không phù hợp với Kinh Thánh.

Trước khi tiếp tục xem xét về các trưởng lão, chúng ta hãy nhìn sơ lược về các chấp sự. Họ không giữ một vị trí quan trọng như các trưởng lão là những người quản trị hội thánh; họ được hội thánh lựa chọn để phục vụ hội thánh. Họ là những người thừa hành thực hiện các quyết định của Thánh Linh qua các trưởng lão và hội thánh. Vì các chấp sự thật sự liên quan đến sinh hoạt nhóm họp hơn là công tác của chức vụ, nên chúng tôi nghĩ đề cập đến họ ngắn gọn như vậy là đủ.

Có hai điểm liên quan đến các trưởng lão mà chúng ta cần đặc biệt chú ý. Trước hết, họ được lựa chọn từ giữa vòng các anh em bình thường. Họ không phải là các công tác viên được Đức Chúa Trời đặc biệt kêu gọi để dâng mình chuyên lo công tác thuộc linh. Theo lệ thường họ có gia đình riêng, có công việc làm ăn và chỉ là những tín đồ bình thường có tiếng tốt. Thứ hai, các trưởng lão được lựa chọn từ giữa vòng các anh em địa phương. Họ không được thuyên chuyển từ những nơi khác đến, nhưng được biệt riêng ngay tại nơi mình đang sống, họ không được kêu gọi để lìa bỏ nghề nghiệp bình thường, nhưng chỉ dâng thì giờ rảnh rỗi cho những trách nhiệm của hội thánh. Các thành viên của hội thánh là người địa phương, và vì các trưởng lão được lựa chọn từ giữa những thành viên bình thường, họ cũng là người địa phương (Công. 14:23; Tít 1:5).

Vì tất cả những trưởng lão trong Kinh Thánh đều là các anh em địa phương, nên nếu chuyển một người từ nơi khác đến để điều khiển hội thánh, thì chúng ta lìa khỏi nền tảng Kinh Thánh. Ở đây một lần nữa chúng ta thấy sự khác biệt giữa các hội thánh và công tác. Một anh em có thể được chuyển đến từ nơi khác để chăm sóc công tác tại đó, nhưng không anh em nào được sai đi khỏi địa phương của mình để mang gánh nặng hội thánh tại một nơi khác. Các hội thánh của Đức Chúa Trời đều được các trưởng lão cai quản, và các trưởng lão đều được lựa chọn từ giữa các anh em địa phương.

Nếu một nhóm người được cứu tại một nơi nào đó, và một công tác viên lưu lại chỉ huy họ, thì gọi nhóm người ấy là hội thánh là không đúng. Nếu công việc vẫn ở trong tay của công tác viên và chưa chuyển sang tay của các anh em địa phương, thì đó vẫn là công tác của công tác viên; đó không phải hội thánh. Chúng ta hãy phân biệt rõ ràng điều này: công tác luôn luôn ở trong tay các công tác viên, và hội thánh luôn luôn ở trong tay các anh em địa phương. Khi nào công tác viên điều khiển công việc, thì đó là vấn đề công tác, chứ không phải là vấn đề hội thánh.

Trước đây chúng tôi đã nêu lên rằng trong Lời Đức Chúa Trời có các trưởng lão địa phương, nhưng không có các sứ đồ địa phương. Khi Phao-lô để Tít ở lại Cơ-rết, mục tiêu của ông không phải là để Tít quản lý công việc hội thánh tại đó, nhưng để ông chỉ định các trưởng lão tại mỗi nơi hầu họ đảm trách công việc. Công việc của công tác viên là thành lập các hội thánh và chỉ định các trưởng lão, chứ không bao giờ trực tiếp chịu trách nhiệm trong các hội thánh. Nếu tại nơi nào một sứ đồ chịu trách nhiệm công việc của hội thánh địa phương, thì sứ đồ ấy đã thay đổi bản chất của chức vụ mình hoặc bản chất của hội thánh. Không sứ đồ nào đến từ một nơi khác đủ điều kiện giữ chức vụ trưởng lão tại địa phương; chỉ người địa phương mới có thể giữ chức vụ ấy.

Chúng ta là những người được Đức Chúa Trời kêu gọi làm công tác cần tuyệt đối sáng tỏ về điểm này, chúng ta không bao giờ được kêu gọi để định cư làm mục sư tại nơi nào cả. Chúng ta có thể đến thăm các hội thánh mình đã thành lập và giúp đỡ những tín đồ chúng ta đã dẫn về với Chúa trước đây, nhưng không bao giờ chúng ta có thể trở thành “mục sư” của họ và thay họ đảm trách những công việc thuộc linh. Họ phải thỏa lòng với các trưởng lão do các sứ đồ chỉ định, học tập tôn trọng và vâng phục những người ấy. Về phần các tín đồ, hiển nhiên họ cần ân điển nhiều hơn để vâng phục những người giữa vòng họ và ngang hàng với họ, hơn là vâng phục sự điều khiển của người đến từ nơi khác và được huấn luyện đặc biệt cho công tác thuộc linh. Nhưng Đức Chúa Trời đã chỉ định như vậy, và chúng ta sấp mình trước sự khôn ngoan của Ngài.

Mối liên hệ giữa công tác và hội thánh thật sự rất đơn giản. Công tác viên rao giảng phúc âm, có những người được cứu, rồi sau một thời gian ngắn, vài người tương đối tiến bộ hơn được lựa chọn giữa vòng họ để đảm trách các công việc địa phương. Như thế, một hội thánh được thành lập! Sau đó vị sứ đồ đi theo sự dẫn dắt của Linh mà đến một nơi khác, và lịch sử được lặp lại tại đó. Như vậy nếp sống thuộc linh và sinh hoạt của hội thánh địa phương phát triển vì các tín đồ tự mang trách nhiệm; và công tác liên tục mở rộng vì các sứ đồ được tự do đi từ nơi này sang nơi khác rao giảng phúc âm và thành lập những hội thánh mới.

Điều đầu tiên người ta thường hỏi về một hội thánh là: “Ai là mục sư tại đó?” Ý của người hỏi là: “Ai là người chịu trách nhiệm cung ứng và quản trị những điều thuộc linh tại hội thánh đó?”. Hệ thống giáo phẩm trong việc điều hành hội thánh là điều vô cùng phổ biến, nhưng toàn bộ ý tưởng này xa lạ đối với Kinh Thánh. Trong Kinh Thánh chúng ta thấy trách nhiệm của hội thánh được giao phó cho các trưởng lão, chứ không phải cho các “mục sư” như vậy. Các trưởng lão chỉ coi sóc công việc hội thánh; họ không thực hiện công việc ấy thay cho các anh em. Trong một nhóm tín đồ, nếu “mục sư” năng nổ và các thành viên trong hội thánh đều thụ động, thì nhóm tín đồ ấy là hội truyền giáo, chứ không phải hội thánh. Trong một hội thánh tất cả các thành viên đều hoạt động. Sự khác biệt giữa các trưởng lão và các thành viên khác là các thành viên làm việc, trong khi các trưởng lão vừa làm việc lại vừa coi sóc những người khác làm việc. Vì vấn đề các trưởng lão đã được bàn đến ở chỗ khác, nên chúng ta sẽ không bàn thêm ở đây.

NƠI NHÓM HỌP

Một điều khác người ta kể là tối quan trọng cho sự hiện hữu của một hội thánh là nhà thờ. Nói về hội thánh người ta thường liên tưởng đến nhà thờ, và chính tòa nhà thường được gọi là “hội thánh”. Nhưng trong Lời Đức Chúa Trời, những tín đồ sống động được gọi là hội thánh, chứ không phải gạch và xi-măng (xin xem Công. 5:11; Mat. 18:17). Theo Kinh Thánh thậm chí hội thánh không cần phải có một địa điểm cố định để tương giao. Người Do Thái luôn luôn có những nơi nhóm họp đặc biệt và đi đến đâu họ cũng thấy cần phải xây dựng một nhà hội để thờ phượng Đức Chúa Trời tại đó. Các sứ đồ đầu tiên là người Do Thái, và khuynh hướng xây dựng những nơi đặc biệt để thờ phượng là điều tự nhiên đối với họ. Nếu Đạo Đấng Christ đòi hỏi phải biệt riêng những nơi chốn cho mục đích cụ thể là thờ phượng Chúa, thì các sứ đồ đầu tiên, với bối cảnh Do Thái giáo và khuynh hướng thiên nhiên của mình, hẳn đã rất sẵn sàng để làm điều đó. Điều lạ lùng là không những họ không dựng lên những tòa nhà đặc biệt, mà dường như họ cố ý không để ý đến toàn bộ vấn đề. Không phải Đạo Đấng Christ, mà là Do Thái giáo đã dạy rằng phải có những nơi biệt ra thánh dành cho sự thờ phượng thần thượng. Đền thờ của Tân Ước không phải là dinh thự vật chất, mà bao gồm những con người sống động, tức tất cả các tín đồ trong Chúa. Vì đền thờ Tân Ước là thuộc linh, nên vấn đề về nơi chốn các tín đồ nhóm họp hay nơi thờ phượng thì không mấy quan trọng. Chúng ta hãy quay sang Tân Ước và xem vấn đề nơi nhóm họp được bàn đến như thế nào.

Khi Chúa ở trên đất, đôi khi Ngài nhóm họp với các môn đồ lúc thì ở trên sườn đồi, lúc thì ở bờ biển. Ngài qui tụ họ lại quanh Ngài khi thì trong nhà, khi thì trên thuyền và đôi khi Ngài đi riêng với họ lên một phòng cao. Nhưng không có một nơi nào biệt riêng để Ngài thường xuyên nhóm họp với những người thuộc về Ngài. Vào lễ Ngũ tuần các môn đồ nhóm tại một phòng cao, và sau lễ Ngũ tuần họ hoặc cùng qui tụ trong đền thờ hoặc chia ra nhóm tại những ngôi nhà khác nhau (Công. 2:46), hoặc đôi khi họp tại vòm cổng Sa-lô-môn (Công. 5:12). Họ nhóm lại để cầu nguyện tại nhiều nhà khác nhau, mà nhà của Ma-ri là một trong những nơi ấy (Công. 12:12). Chúng ta đọc thấy vào một dịp kia họ nhóm họp tại một phòng trên lầu ba của một tòa nhà (Công. 20:8). Xem xét những phân đoạn trên, chúng ta thấy các tín đồ nhóm họp tại rất nhiều nơi khác nhau và không có nơi nhóm họp chính thức. Họ chỉ sử dụng bất cứ toà nhà nào thích hợp cho nhu cầu của mình, hoặc một nhà riêng, hoặc một căn phòng trong một ngôi nhà, hoặc một toà nhà công cộng rộng lớn như một đền thờ, hay một nơi khoảng khoát như vòm cổng Sa-lô-môn. Họ không có những tòa nhà đặc biệt dành riêng cho hội thánh sử dụng; họ không có cơ sở gì tương đương với “nhà thờ” ngày nay.

“Ngày thứ nhứt trong tuần lễ, chúng tôi nhóm lại để bẻ bánh, Phao-lô giảng luận cho chúng... Vả phòng chúng tôi nhóm họp trên lầu có nhiều đèn đuốc. Một gã trai trẻ kia tên là Êu-ty-che, ngồi trên cửa sổ” (Công. 20:7-9). Tại Trô-ách chúng ta thấy các tín đồ nhóm họp trên lầu ba một tòa nhà. Trong buổi nhóm này có bầu không khí thoải mái vui tươi, thật khác với những buổi thờ phượng câu nệ hình thức ngày nay, với tất cả các thành viên hội thánh ngồi cứng nhắc trên các hàng ghế. Nhưng buổi nhóm tại Trô-ách này thật sự phù hợp với Kinh Thánh. Buổi nhóm này không mang dấu ấn nghi thức, nhưng mang những dấu hiệu của sự sống thật, hoàn toàn tự nhiên và đơn sơ thuần khiết. Một số thánh đồ ngồi trên gờ cửa sổ, còn những người khác ngồi dưới đất như Ma-ri ngày xưa. Trong những buổi nhóm của mình chúng ta phải trở lại với nguyên tắc của phòng cao. Tầng trệt là nơi dành cho công việc, một nơi dành cho người ra kẻ vào; nhưng trên phòng cao có bầu không khí gia đình hơn và sự nhóm họp của con cái Đức Chúa Trời chính là công chuyện của gia đình. Bữa ăn tối cuối cùng của Chúa ở trên một phòng cao; lễ Ngũ tuần cũng vậy, và một lần nữa buổi nhóm được ghi tại đây cũng vậy. Đức Chúa Trời muốn sự thân mật nơi phòng cao là đặc trưng cho sự nhóm họp của con cái Ngài, chứ không phải nghi thức cứng nhắc của một dinh thự công cộng uy nghi.

Đó là tại sao chúng ta thấy trong Lời Đức Chúa Trời con cái Ngài nhóm họp trong bầu không khí gia đình tại nhà riêng. Chúng ta đọc thấy hội thánh trong nhà Bê-rít-sin và A-qui-la (La. 16:5; 1 Cô. 16:19), hội thánh trong nhà Nim-pha (Côl. 4:15), và hội thánh trong nhà Phi-lê-môn (Plm. 2). Tân Ước đề cập đến ít nhất ba hội thánh khác nhau trong nhà các tín đồ. Làm thế nào hội thánh lại ở trong nhà như vậy? Nếu tại một nơi có vài tín đồ và một người có nhà rộng đủ chỗ cho tất cả, thì tự nhiên họ nhóm họp tại đó và các Cơ Đốc nhân tại địa phương ấy được gọi là “hội thánh trong nhà anh X”.

Mọi sự phải bắt đầu ngay từ đầu. Khi một hội thánh được thành lập, ngay từ đầu các tín đồ phải học tập tự nhóm họp, hoặc trong nhà họ hoặc tại một tòa nhà nào khác mà họ có thể có được. Dĩ nhiên không phải mọi hội thánh đều là hội thánh trong một ngôi nhà, nhưng hội thánh trong một ngôi nhà là điều cần phải khích lệ chứ không nên xem như điều bất lợi. Nếu số tín đồ đông và phạm vi địa phương rộng lớn, giống như các thánh đồ tại Giê-ru-sa-lem, họ cần nhóm họp trong nhiều nhà khác nhau (đây có thể là nhà, hội trường hay một tòa nhà) thay vì trong một nhà. Chỉ có một hội thánh tại Giê-ru-sa-lem, nhưng các chi thể nhóm họp tại nhiều nhà khác nhau. Nguyên tắc nhóm tại nhà vẫn áp dụng cho ngày nay. Điều này không có nghĩa là cả hội thánh sẽ luôn luôn phân chia ra để nhóm họp; thật ra tất cả các tín đồ nhóm họp thường xuyên tại một chỗ là điều quan trọng và rất ích lợi (1 Cô. 14:23). Để có thể nhóm họp như vậy, họ có thể thuê hoặc mượn một nơi công cộng hoặc nếu có đủ phương tiện, họ có thể mua một hội trường để nhóm họp lâu dài. Nhưng nói chung nơi nhóm họp dành cho tín đồ có thể là ở nhà riêng. Nếu không tiện và không thích hợp, dĩ nhiên có thể mua những kiến ốc khác. Nhưng chúng ta nên khích lệ nhóm họp tại nhà của các Cơ Đốc nhân.

Những tòa nhà đồ sộ ngày nay với những ngọn tháp cao vút nói lên tính chất thế gian và xác thịt hơn là Linh, và trong nhiều phương diện không thích hợp cho mục đích nhóm họp của Cơ Đốc nhân bằng nhà riêng của dân Đức Chúa Trời. Trước hết, mọi người cảm thấy nói về những điều thuộc linh trong bầu không khí thoải mái ở nhà tự do hơn là trong một nhà thờ rộng lớn là nơi mọi sự đều được cử hành cách trịnh trọng; ngoài ra tại đó người ta không thể nói chuyện với nhau. Không hiểu sao, ngay khi người ta bước vào những tòa nhà đặc biệt ấy, tự nhiên họ ngồi yên cách thụ động và chờ nghe giảng. Bầu không khí gia đình cần phải tràn ngập mọi buổi nhóm của con cái Đức Chúa Trời để các anh em cảm thấy được tự do nêu thắc mắc (1 Cô. 14:35). Mọi sự phải ở dưới sự điều khiển của Linh, nhưng cũng phải có sự tự do của Linh. Hơn nữa, nếu các hội thánh ở trong nhà của các anh em, tự nhiên họ cảm thấy mọi mối quan tâm của hội thánh là của mình, vì họ có cảm nhận về mối quan hệ gần gũi giữa mình và hội thánh. Nhiều Cơ Đốc nhân cảm thấy công việc của hội thánh là một điều gì xa xôi vượt quá tầm tay của mình. Họ không cảm thấy một mối quan tâm mật thiết trong mình, vì trước hết họ có một “mục sư” đặc biệt chịu trách nhiệm về mọi việc ấy, và kế đến họ có nhà thờ rộng lớn có vẻ như xa cách nhà họ, tại đó các công việc được tiến hành cách rất hệ thống và chính xác đến nỗi họ cảm thấy bị áp đảo và cột trói trong linh.

Hơn nữa, các buổi nhóm trong nhà tín đồ có thể là chứng cớ có kết quả đối với hàng xóm chung quanh, những buổi nhóm ấy đem lại cơ hội làm chứng và rao giảng phúc âm. Nhiều người không chịu đến “nhà thờ” sẽ sẵn lòng đến nhà riêng. Ảnh hưởng như vậy là hữu ích nhất cho các gia đình Cơ Đốc. Từ những ngày đầu tiên con cái họ đã được bao bọc trong bầu không khí thuộc linh, và liên tục có cơ hội nhìn thấy thực tại của những điều đời đời. Lại nữa, nếu nhóm ở trong nhà các Cơ Đốc nhân, Hội thánh tránh được nhiều thiệt hại vật chất. Một trong những lý do các Cơ Đốc nhân tồn tại sau những đợt bắt bớ của người La Mã trong ba thế kỷ đầu tiên của lịch sử Hội thánh, ấy là họ không có những tòa nhà đặc biệt dành cho việc thờ phượng, nhưng nhóm họp trong những hầm hố, hang động và những nơi kín đáo khác. Những nơi nhóm họp như vậy không dễ gì bị những người bắt bớ khám phá; nhưng những tòa nhà đồ sộ đắt tiền ngày nay dễ bị định vị trí và bị hủy phá, và các hội thánh sẽ mau chóng bị xóa sạch. Những kiến trúc đường bệ của thời đại tân tiến này gây ấn tượng về tinh thần thế gian hơn là về Đấng Christ là danh mà Cơ Đốc nhân sở hữu. (Những hội trường và những tòa nhà cần cho công tác là vấn đề khác; ở đây chúng tôi chỉ nói về các nhà thờ mà thôi).

Như vậy, phương pháp tổ chức hội thánh của Kinh Thánh vô cùng đơn giản. Ngay khi có được một vài tín đồ tại một nơi, họ bắt đầu nhóm họp tại một trong những ngôi nhà của họ. Nếu con số gia tăng đến độ không thể nhóm họp trong một nhà nữa, thì họ có thể nhóm tại vài nhà khác nhau, nhưng thỉnh thoảng toàn thể tín đồ có thể nhóm họp tại một nơi công cộng. Có thể mượn, thuê hoặc xây một hội trường dành cho mục đích ấy tùy tình trạng tài chánh của hội thánh; nhưng chúng ta phải nhớ rằng nơi nhóm họp lý tưởng của các thánh đồ là nhà riêng của họ.

Những buổi nhóm liên hệ đến công tác được sắp đặt theo chiều hướng hoàn toàn khác, và hoàn toàn ở dưới sự bảo trợ của các công tác viên. Những buổi nhóm ấy theo nguyên tắc “căn nhà Phao-lô thuê riêng ở La Mã”. Như chúng ta đã thấy, khi Phao-lô đến La Mã, hội thánh đã hiện hữu tại đó và các tín đồ đã có các buổi nhóm thường xuyên. Phao-lô không dùng nơi nhóm họp của hội thánh cho công tác của mình, nhưng thuê một nơi riêng biệt vì ông ở lại La Mã một thời gian dài. Tại Trô-ách ông chỉ lưu lại một tuần lễ, cho nên ông không thuê một nơi ở tại đó, mà chỉ nhận sự tiếp đãi của hội thánh. Khi ông ra đi, những buổi nhóm đặc biệt do ông hướng dẫn chấm dứt, nhưng các anh em tại Trô-ách vẫn tiếp tục những buổi nhóm của họ. Nếu dự định ở lại nơi nào một thời gian khá lâu, một công tác viên phải có một trung tâm riêng cho công tác chứ đừng dùng nơi nhóm họp của hội thánh. Thường thường một trung tâm như vậy sẽ đòi hỏi tiện nghi nhiều hơn nơi nhóm họp của hội thánh. Nếu Chúa kêu gọi một vài đầy tớ Ngài duy trì chứng cớ lâu dài tại một nơi, thì nhu cầu về một tòa nhà đặc biệt liên quan đến công tác có thể lớn hơn nhiều so với nhu cầu về dinh cơ liên quan đến hội thánh. Nếu cần thực hiện công tác tại một nơi nào, thì điều hầu như thiết yếu là có một hội trường, trong khi nhà riêng của các anh em gần như luôn luôn đáp ứng được nhu cầu nhóm họp của hội thánh.

BUỔI NHÓM

Trước khi xem xét vấn đề nhóm họp, trước hết chúng ta hãy nói vài lời về bản chất của Hội thánh. Đấng Christ là Đầu Hội thánh và “chúng ta dầu nhiều mà vẫn một thân trong Christ, và là chi thể của nhau” (La. 12:5). Ngoài Đấng Christ, Hội thánh không có đầu; mọi tín đồ chỉ là các chi thể và họ là “chi thể của nhau”. Tính hỗ tương bày tỏ bản chất của Hội thánh, vì mọi mối quan hệ giữa vòng các tín đồ đều là mối quan hệ giữa các chi thể với nhau, chứ không bao giờ mang tính chất là đầu đối với các chi thể. Mọi người tạo thành hội thánh đều giữ vị trí các chi thể của Thân thể, không ai chiếm vị trí làm đầu. Toàn bộ sinh hoạt hội thánh và mọi hoạt động của hội thánh phải có đặc trưng là tính hỗ tương.

Nhưng bản chất của công tác thì có phần khác với bản chất của hội thánh. Trong công tác có nhóm hoạt động và nhóm thụ động. Các sứ đồ thì hoạt động, và những người mà giữa vòng họ các sứ đồ công tác thì thụ động, trong khi trong hội thánh mọi người đều hoạt động. Trong công tác, sinh hoạt có tính cách phiến diện; trong hội thánh, sinh hoạt có tính cách toàn diện.

Khi nhận biết sự khác biệt cơ bản giữa bản chất của công tác và hội thánh, chúng ta sẽ dễ hiểu sự dạy dỗ của Kinh Thánh về các buổi nhóm mà chúng tôi sắp bàn đến. Trong Kinh Thánh có hai loại buổi nhóm là buổi nhóm của hội thánh và buổi nhóm của sứ đồ. Nếu muốn phân biệt rõ giữa hai loại buổi nhóm này, trước hết chúng ta phải hiểu bản chất khác nhau của hội thánh và công tác. Một khi thấy rõ điều đó, chỉ cần nhìn qua bản chất của một buổi nhóm chúng ta sẽ thấy rõ buổi nhóm thuộc lãnh vực gì; nhưng nếu không nhận biết sự khác biệt, chúng ta sẽ thường xuyên nhầm lẫn hội thánh với công tác. Trong Hội Thánh đầu tiên có những buổi nhóm rõ ràng liên hệ đến các hội thánh, và cũng có những buổi nhóm rõ ràng liên hệ đến công tác. Trong buổi nhóm công tác chỉ một người chia sẻ, còn mọi người khác là thính giả. Một người đứng trước mặt mọi người, và sự giảng dạy của người ấy hướng dẫn tư tưởng và tấm lòng của những người yên lặng ngồi nghe. Có thể nhận biết ngay loại buổi nhóm này là buổi nhóm liên hệ đến công tác của sứ đồ, vì nó mang đặc tính của công tác, tức là một bên hoạt động còn một bên thụ động. Không có đặc điểm hỗ tương ở đây. Trong các buổi nhóm của hội thánh, “ai có hoặc thi ca, hoặc sự dạy dỗ, hoặc sự khải thị, hoặc tiếng lạ, hoặc thông dịch” (1 Cô. 14:26). Ở đây không phải trường hợp một người hướng dẫn và những người khác làm theo, nhưng mỗi người đóng góp phần của mình để đem đến sự ích lợi thuộc linh. Đành rằng chỉ một số người có mặt tham gia, nhưng tất cả đều có thể tham gia; chỉ một vài người thật sự đóng góp cho buổi nhóm, nhưng tất cả đều là những người có tiềm năng đóng góp. Kinh Thánh bày tỏ hai loại buổi nhóm khác biệt là buổi nhóm của sứ đồ được một người hướng dẫn, và buổi nhóm của hội thánh trong đó mọi anh em địa phương đều được tự do góp phần.

Những buổi nhóm của sứ đồ có thể được chia làm hai loại là buổi nhóm dành cho tín đồ và buổi nhóm dành cho người chưa tin. Buổi nhóm được tiến hành ngay sau khi Hội thánh hiện hữu là buổi nhóm của sứ đồ dành cho người chưa tin (Công. 2:14). Những buổi nhóm ở vòm cổng Sa-lô-môn (Công. 3:11) và tại nhà Cọt-nây (Công. 10) có cùng một bản chất, và có một số buổi nhóm khác giống như vậy được ghi lại trong sách Công vụ. Rõ ràng các buổi nhóm ấy là những buổi nhóm của sứ đồ, không phải những buổi nhóm của hội thánh, vì có một người nói và những người khác lắng nghe. Sự giảng dạy của Phao-lô tại Trô-ách dành cho các anh em (Công. 20). Dầu ở trong hội thánh hay không, buổi nhóm đó vẫn có bản chất của buổi nhóm sứ đồ, vì đó là buổi nhóm một chiều, một mình vị sứ đồ nói với cả buổi nhóm, không phải các chi thể tham gia gây dựng hỗ tương. Phao-lô rao giảng cho các anh em tại Trô-ách vì ông đi ngang qua nơi ấy, và bất cứ sứ đồ nào đi ngang qua một nơi như ông đều được tự do đáp ứng lời mời của anh em để giúp đỡ họ về mặt thuộc linh. Sau đó, khi Phao-lô ở tại La Mã, các tín đồ đến phòng ông đã thuê để nghe ông làm chứng (Công. 28:23, 30-31). Một lần nữa công tác này đặc biệt có bản chất là công tác của sứ đồ, vì một người hoạt động trong khi những người khác đều thụ động.

Loại buổi nhóm thứ hai được đề cập trong Thư tín đầu tiên gửi cho người Cô-rin-tô: “Vậy, nếu cả hội thánh nhóm lại, ai nấy đều nói tiếng lạ, mà có kẻ không biết tiếng ấy hoặc kẻ chẳng tin bước vào, thì họ há chẳng nói anh em là điên sao? ...Anh em ơi, vậy, phải thể nào? Khi nhóm lại, thì mỗi người trong anh em, ai có hoặc thi ca, hoặc sự dạy dỗ, hoặc sự khải thị, hoặc tiếng lạ, hoặc thông dịch: hãy làm mọi sự cho được gây dựng. Ví bằng có người nói tiếng lạ, chỉ nên hai hoặc ba người là cùng, mỗi người phải nói theo lượt mình, và phải có một người thông dịch. Nếu không có ai thông dịch, thì người đó phải làm thinh ở trong hội thánh, chỉ nói với chính mình và với Đức Chúa Trời mà thôi. Người tiên tri cũng chỉ nên có hai hoặc ba người nói mà thôi, còn những kẻ kia thì biện biệt. Song nếu có kẻ khác ngồi đó được sự khải thị thì người đương nói trước phải nín lặng. Bởi vì anh em thảy đều có thể từng một mà nói tiên tri, để ai nấy đều được học tập, ai nấy đều được khuyên lơn. Vả, tâm linh của tiên tri phải thuận phục tiên tri; vì Đức Chúa Trời chẳng phải là Đức Chúa Trời của sự lộn xộn, bèn là Đức Chúa Trời của sự bình an. Theo như trong cả các hội thánh của các thánh đồ” (1 Cô. 14:23, 26-33).

Đây rõ ràng là buổi nhóm của hội thánh, vì không phải một người hướng dẫn trong khi mọi người khác làm theo, nhưng mỗi người có ân tứ đều đóng góp cho buổi nhóm theo Linh dẫn dắt. Trong những buổi nhóm của sứ đồ có một sự khác biệt rõ ràng giữa người giảng dạy và thính giả, nhưng trong loại buổi nhóm này bất cứ chi thể có ân tứ nào của hội thánh cũng có thể làm người giảng dạy và bất cứ ai cũng có thể là thính giả. Không điều gì do loài người quyết định, và mỗi người đều tham gia theo như Linh dẫn dắt. Đó không phải là chức vụ “của mọi người”, nhưng là chức vụ của Thánh Linh. Các tiên tri và giáo sư cung ứng Lời khi Chúa ban cho, trong khi những người khác cung ứng cho buổi nhóm theo những cách khác. Không phải tất cả đều có thể nói tiên tri hay dạy dỗ, nhưng tất cả đều có thể tìm cách nói tiên tri và dạy dỗ (c. 1). Mỗi thành viên của hội thánh đều được ban cho cơ hội để giúp đỡ người khác, và mỗi thành viên đều có cơ hội để được giúp đỡ. Anh em này có thể nói vào thời điểm này của buổi nhóm, và anh em kia có thể nói vào thời điểm khác sau đó; anh em có thể được Linh lựa chọn để giúp đỡ các anh em lúc này, còn tôi thì lúc khác. Từ đầu chí cuối, mọi hoạt động trong buổi nhóm được nguyên tắc “hai hoặc ba” chi phối (cc. 27, 29). Thậm chí không phải hai hoặc ba tiên tri cố định được bổ nhiệm lâu dài để cung ứng cho các buổi nhóm, nhưng ở mỗi buổi nhóm Linh lựa chọn hai hoặc ba người giữa vòng tất cả các tiên tri có mặt. Chỉ nhìn sơ qua cũng thấy những buổi nhóm như vậy là những buổi nhóm của hội thánh, vì rõ ràng mọi diễn tiến đều có đặc tính hỗ tương.

Câu Kinh Thánh duy nhất trong Tân Ước nói về tầm quan trọng của việc các Cơ Đốc nhân nhóm họp với nhau là Hê-bơ-rơ 10:25: “Chớ bỏ sự nhóm lại như kẻ kia quen làm, nhưng phải khuyên lơn lẫn nhau, và hễ anh em thấy ngày ấy hầu gần chừng nào, thì càng phải làm như vậy chừng nấy”. Câu này cho thấy mục tiêu của sự nhóm họp là khuyên lơn “lẫn nhau”. Đây rõ ràng không phải là buổi nhóm của sứ đồ, vì không phải trường hợp một người khuyên lơn toàn thể buổi nhóm, nhưng mọi chi thể đều mang trách nhiệm như nhau trong việc khuyên lơn lẫn nhau. Một buổi nhóm của hội thánh phải có đặc tính “lẫn nhau”.

Theo Kinh Thánh ghi lại, hội thánh nhóm họp với vài mục đích. Trước hết để cầu nguyện (Công. 2:42; 4:24, 31; 12:5); thứ hai, để đọc (Côl. 4:16; 1 Tê. 5:27; Công. 2:42; 15:21, 30-31); thứ ba, để bẻ bánh – đây không phải là buổi nhóm được một cá nhân đơn độc chủ tọa và gánh hết trách nhiệm, vì Kinh Thánh chép “cái chén hạnh phước mà chúng ta chúc phước... Cái bánh mà chúng ta bẻ” (1 Cô. 10:16-17; Công. 2:42; 20:7); và thứ tư là để sử dụng các ân tứ thuộc linh (1 Cô. 14). Loại buổi nhóm cuối cùng là buổi nhóm của hội thánh, vì nhóm chữ “trong hội thánh” được lặp đi lặp lại trong phân đoạn mô tả buổi nhóm ấy (cc. 28, 34-35). Lời Chúa nói về buổi nhóm này rằng tất cả đều có thể nói tiên tri. Buổi nhóm này khác với buổi nhóm tại đó một người giảng dạy và mọi người khác ngồi yên lặng nghe giảng biết bao! Giữa vòng các loại buổi nhóm khác nhau của hội thánh không có buổi nhóm ấy, vì bản chất của buổi nhóm ấy bày tỏ rõ đó là buổi nhóm của sứ đồ, và vì là buổi nhóm của sứ đồ nên thuộc về phạm vi công tác chứ không thuộc về phạm vi của hội thánh. Những buổi nhóm chỉ hoạt động một chiều thì không ở trong phạm vi của hội thánh, vì thiếu đặc tính của tất cả các buổi nhóm của hội thánh; và ở đâu người ta tìm cách đem buổi nhóm ấy vào chương trình của hội thánh, thì nhiều rắc rối chắc chắn sẽ xảy ra.

Than ôi! Ngày nay cách nhóm họp này lại là đặc tính chính của các giáo hội. Người ta tham dự loại buổi nhóm này thường xuyên nhất. Ai thật sự được kể là một Cơ Đốc nhân tốt? Không phải là những người đến nhà thờ năm mươi hai sáng Chúa Nhật trong năm để nghe mục sư giảng sao? Nhưng đó là thụ động và báo trước tình trạng chết chóc. Thậm chí người đi “nhà thờ” năm mươi hai Chúa Nhật trong năm không thật sự đến buổi nhóm hội thánh một lần nào. Người ấy chỉ dự buổi nhóm liên hệ đến công tác. Tôi không có ý nói chúng ta đừng bao giờ có loại buổi nhóm đó, nhưng điều quan trọng ở đây là buổi nhóm như vậy là một phần của công tác chứ không phải là một phần của hội thánh. Nếu anh em có một công tác viên tại một địa phương, thì anh em có thể có loại buổi nhóm này, ngược lại thì không. Với tư cách là một hội thánh, hội thánh địa phương không có những buổi nhóm như vậy. Nơi nào chúng ta thấy có những buổi nhóm ấy trong sinh hoạt của hội thánh, chúng ta phải can ngăn và giúp các tín đồ nhìn thấy những buổi nhóm của hội thánh phải được hội thánh tiến hành. Nếu những buổi nhóm của sứ đồ thay thế những buổi nhóm của hội thánh, thì các thành viên của hội thánh trở nên thụ động và lười biếng, luôn luôn mong được giúp đỡ thay vì nương cậy Thánh Linh tìm cách giúp đỡ các thành viên khác. Điều đó trái với nguyên tắc của Tân Ước là giúp đỡ hỗ tương và gây dựng hỗ tương. Lý do các hội thánh tại Trung Quốc vẫn còn yếu đuối sau một trăm năm công tác của các hội truyền giáo Cơ Đốc là vì các đầy tớ của Đức Chúa Trời đã đưa vào các hội thánh địa phương cách nhóm họp thật sự thuộc về công tác và các thành viên của hội thánh tự nhiên kết luận rằng nếu họ tham dự những buổi nhóm như vậy và chỉ thụ động nhận lãnh tất cả những gì họ được dạy dỗ tại đó, thì họ đã thực hiện phần lớn bổn phận Cơ Đốc của mình. Họ không còn nhìn thấy trách nhiệm cá nhân, và tình trạng thụ động đã ngăn trở sự phát triển của sự sống thuộc linh khắp các hội thánh.

Hơn nữa, để duy trì việc rao giảng sáng Chúa Nhật, anh em phải có một người giảng dạy tốt. Vì vậy, công tác viên không những cần quản lý công việc hội thánh, mà còn phải duy trì buổi nhóm để nâng cao mặt thuộc linh. Nếu muốn nghe một bài giảng tốt vào mỗi Chúa Nhật, tự nhiên là các hội thánh mong người giảng dạy phải có trình độ cao hơn so với các anh em địa phương vừa được hoán cải gần đây. Làm thế nào có thể mong những anh em ấy soạn được một bài giảng tốt mỗi tuần một lần? Và có thể mong ai giảng dạy tốt hơn là một đầy tớ của Đức Chúa Trời được kêu gọi đặc biệt chứ? Cho nên một sứ đồ định cư để chăn dắt hội thánh, và hậu quả là các hội thánh và công tác mất đặc tính riêng biệt. Hậu quả là sự thiệt hại nghiêm trọng trong cả hai hướng. Một mặt, các anh em trở nên biếng nhác và ích kỷ vì họ chỉ nghĩ đến chính mình và sự giúp đỡ mình có thể nhận được, mặt khác, những vùng đất chưa được phúc âm hóa không có công tác viên nào đến vì các sứ đồ định cư làm trưởng lão. Vì thiếu hoạt động nên các hội thánh dừng tăng trưởng về mặt thuộc linh và vì thiếu các sứ đồ nên công tác không còn được mở rộng.

Vì việc đem một đặc trưng nào đó của công tác vào các hội thánh đã gây ra rất nhiều thiệt hại và cướp đi bản chất thật của cả hai, nên chúng ta phải phân biệt rõ ràng giữa những buổi nhóm đặc biệt thuộc về công tác và những buổi nhóm đặc biệt thuộc về hội thánh. Tại bất cứ nơi nào khi Đức Chúa Trời ban phước cho công tác của chúng ta và nhiều người được cứu, ngay từ đầu chúng ta cần phải lo liệu sao cho những người được cứu hiểu rằng những buổi nhóm giúp họ được cứu là những buổi nhóm thuộc về công tác chứ không thuộc về hội thánh, và vì họ là hội thánh nên họ phải có những buổi nhóm hội thánh của chính mình. Họ cần phải nhóm họp tại nhà mình hoặc những nơi khác để cầu nguyện, học hỏi Lời Chúa, bẻ bánh và vận dụng các ân tứ thuộc linh; trong những buổi nhóm như vậy, mục tiêu của họ phải là giúp đỡ lẫn nhau và gây dựng lẫn nhau. Mỗi cá nhân cần phải gánh vác phần trách nhiệm của mình, và truyền đạt cho người khác điều chính mình đã nhận được từ nơi Chúa. Việc tiến hành buổi nhóm không nên là gánh nặng của một cá nhân duy nhất, nhưng mọi thành viên cần phải mang gánh nặng cho nhau, và tìm cách giúp nhau nương cậy nơi sự dạy dỗ và dẫn dắt của Thánh Linh, và nương cậy nơi quyền năng của Ngài. Ngay khi được cứu, các tín đồ cần phải bắt đầu tự nhóm họp thường xuyên. Những sự nhóm họp như vậy của các tín đồ địa phương thật sự là những buổi nhóm của hội thánh.

Các buổi nhóm liên hệ đến công tác chỉ là thể chế tạm thời (trừ khi mục tiêu là duy trì chứng cớ đặc biệt tại một nơi đặc biệt). Nhưng sự nhóm họp của các tín đồ để tương giao với nhau và khích lệ lẫn nhau là một việc lâu dài. Thậm chí nếu các tín đồ chưa trưởng thành và những buổi nhóm của họ có vẻ trẻ con, họ phải học tập thỏa lòng với những gì mình nhận được nơi nhau và không nên trông mong ngồi nghe một bài giảng tốt. Họ nên tìm kiếm sự khải thị, các ân tứ thuộc linh và lời từ Đức Chúa Trời; nếu nhu cầu của họ đẩy họ đến với Ngài, thì kết quả là cả hội thánh sẽ trở nên phong phú. Ban đầu, những buổi nhóm của các tín đồ mới được cứu đương nhiên có đặc điểm là thiếu trưởng thành, nhưng nếu công tác viên đảm trách những buổi nhóm như vậy thì sẽ làm còi cọc sự tăng trưởng của họ chứ không thúc đẩy sự tăng trưởng. Tình trạng buổi nhóm của hội thánh chứ không phải tình trạng của những buổi nhóm liên hệ đến công tác cho thấy mức độ thuộc linh của một hội thánh tại địa phương. Khi vị sứ đồ giảng một bài thật xuất sắc, và mọi tín đồ gật gù tán đồng, liên tục chen vào những tiếng “A-men” nhiệt thành, hội chúng trông có vẻ thuộc linh sâu xa biết bao! Tuy nhiên, khi họ tự nhóm họp, người ta mới nhận thấy tình trạng thuộc linh thật của họ.

Buổi nhóm của sứ đồ không phải là phần nội tại của nếp sống hội thánh; đó chỉ là công tác và sẽ chấm dứt khi công tác viên ra đi. Nhưng những buổi nhóm của hội thánh vẫn tiếp tục, không bị gián đoạn, dầu công tác viên có mặt hay vắng mặt. Vì chưa nhận biết sự khác biệt giữa buổi nhóm dành cho hội thánh và buổi nhóm dành cho công tác, nên các anh em đã từng ngưng nhóm họp khi các công tác viên ra đi. Một trong những căn nguyên đưa đến sự thất bại thuộc linh ngày nay là con cái Đức Chúa Trời xem hội thánh là một phần của công tác; vì vậy khi có người giảng, họ trở thành những thính giả sẵn lòng nghe giảng, nhưng khi không có người giảng, các buổi nhóm tự động ngưng lại, và họ không nghĩ đến việc đơn sơ nhóm họp lại để giúp đỡ lẫn nhau.

Nhưng làm thế nào các tín đồ địa phương được trang bị để cung ứng cho nhau? Vào thời các sứ đồ, điều được mặc nhiên thừa nhận là [Thánh] Linh sẽ đến trên mọi tín đồ ngay khi họ quay về với Chúa và các ân tứ được truyền cho họ khi Linh đến, rồi nhờ vận dụng các ân tứ thuộc linh mà các hội thánh được gây dựng. Phương cách thông thường Đức Chúa Trời đã chỉ định để xây dựng các hội thánh là sự nhóm họp bình thường của các hội thánh, chứ không phải những buổi nhóm do các công tác viên tiến hành. Lý do các hội thánh ngày nay yếu đuối như vậy là vì công tác viên tìm cách xây dựng các hội thánh bằng những buổi nhóm do công tác viên đảm trách, thay vì giao cho họ trách nhiệm tự gây dựng lẫn nhau qua những buổi nhóm đúng đắn của hội thánh. Tại sao những buổi nhóm của hội thánh theo 1 Cô-rin-tô chương 14 không còn là một phần của nếp sống hội thánh? Vì rất nhiều người giữa vòng dân của Đức Chúa Trời thiếu kinh nghiệm [Thánh] Linh đến trên mình, và khi thiếu kinh nghiệm này, thì buổi nhóm được dẫn dắt theo chiều hướng 1 Cô-rin-tô chương 14 chỉ là hình thức trống rỗng. Trừ khi những người chúng ta dẫn dắt đến với Chúa có kinh nghiệm rõ rệt về việc Thánh Linh đến trên họ, việc hướng dẫn họ về cách thực hiện những buổi nhóm của hội thánh sẽ không ích lợi bao nhiêu vì những buổi nhóm ấy sẽ không có quyền năng và không có hiệu quả. Nếu Thánh Linh ở trên các tín đồ như vào thời hội thánh đầu tiên, Ngài sẽ ban các ân tứ cho những người có thể làm mạnh mẽ các thánh đồ và xây dựng Thân thể Đấng Christ. Qua thư Cô-rin-tô thứ nhất của Phao-lô chúng ta thấy Đức Chúa Trời đã trang bị cho các tín đồ những ân tứ thuộc linh để họ có thể thực hiện công tác xây dựng các hội thánh một cách ít nhiều độc lập với các sứ đồ. (Điều này không có nghĩa là họ không cần được các sứ đồ giúp đỡ thêm. Rõ ràng là họ cần). Than ôi! ngày nay nhiều người trong dân của Đức Chúa Trời đánh giá các đầy tớ của Ngài có giá trị hơn là Thánh Linh của Ngài! Họ hài lòng khi được cung ứng bởi các ân tứ của một công tác viên thay vì chính mình tìm kiếm các ân tứ của [Thánh] Linh; vì vậy những buổi nhóm đúng đắn của hội thánh bị thay thế bằng các buổi nhóm ở dưới sự bảo trợ của các công tác viên.

Trong 1 Cô-rin-tô chương 14 là phần đề cập đến buổi nhóm của hội thánh, các sứ đồ hoàn toàn không được nhắc đến! Họ không có vị trí trong những buổi nhóm của một hội thánh địa phương! Khi các thành viên của một hội thánh nhóm họp và các ân tứ thuộc linh được vận dụng, ơn nói tiên tri và những ân tứ khác được sử dụng, nhưng không hề đề cập đến các sứ đồ vì lý do đơn giản là các sứ đồ không có vị trí gì trong những buổi nhóm của một hội thánh địa phương; họ được bổ nhiệm cho công tác. Khi hội thánh địa phương nhóm họp, các ân tứ được vận dụng; chức vụ hành chánh không có chỗ tại đó, thậm chí là chức vụ sứ đồ. Nhưng điều này không có nghĩa là một sứ đồ đến thăm không được nói gì trong buổi nhóm của hội thánh. Điều này được minh họa bởi sự kiện Phao-lô tham gia vào buổi nhóm tại Trô-ách. Nhưng điểm cần lưu ý ở đây là Phao-lô chỉ đi ngang qua Trô-ách, vì vậy việc ông giảng dạy tại đó là sự xếp đặt tạm thời để các thánh đồ địa phương được ích lợi từ những ân tứ thuộc linh của ông và sự hiểu biết của ông về Chúa; đó không phải là một thể chế cố định.

Với tư cách là sứ đồ, các sứ đồ đại diện cho chức vụ hành chánh trong công tác chứ không đại diện cho một ân tứ đặc biệt gì; vì vậy ở đây họ hoàn toàn bị bỏ qua, không được nhắc đến. Họ không được nhắc đến trong sự nhóm họp của hội thánh địa phương. Trong tổ chức của hội thánh họ không có vị trí gì, vì chức vụ của họ với tư cách là sứ đồ không phải dành cho hội thánh mà dành cho công tác. Như chúng ta đã thấy, các sứ đồ không có tiếng nói trong vấn đề quản trị công việc của bất cứ hội thánh nào; nhưng qua sự kiện họ không có phần trong sự gây dựng hỗ tương trong các buổi nhóm địa phương, rõ ràng Đức Chúa Trời không muốn họ gánh trách nhiệm về chức vụ thuộc linh trong các hội thánh. Đức Chúa Trời ban ân tứ cho các anh em địa phương để những người ấy làm tiên tri, người giảng phúc âm, người chăn và giáo sư. Họ được trang bị như vậy để có thể mang gánh nặng về chức vụ thuộc linh tại địa phương. Các sứ đồ không chịu trách nhiệm về mặt thuộc linh hay vật chất của công việc tại bất cứ hội thánh nào; các trưởng lão chịu trách nhiệm quản lý tại địa phương, còn các tiên tri và những người phục vụ khác chịu trách nhiệm về chức vụ cung ứng tại địa phương.

Vậy thì các sứ đồ không liên quan gì đến hội thánh địa phương sao? Chắc chắn là có! Vẫn có nhiều cơ hội để họ giúp đỡ các hội thánh, nhưng không phải với tư cách là sứ đồ. Về phương diện công việc, họ có thể giúp đỡ cách gián tiếp bằng cách chỉ dẫn các trưởng lão là những người trực tiếp giải quyết công việc hội thánh; và về phương diện thuộc linh, trong những buổi nhóm họ có thể cung ứng bằng bất cứ ân tứ thuộc linh nào mình có được, chẳng hạn như ơn tiên tri hay dạy dỗ. Chức vụ sứ đồ của họ không có ảnh hưởng gì trong buổi nhóm vận dụng ân tứ thuộc linh trong hội thánh. Với tư cách là sứ đồ, họ không thể vận dụng ân tứ sứ đồ, nhưng với tư cách là các anh em họ có thể cung ứng cho những người cùng là tín đồ bằng cách sử dụng ân tứ mà [Thánh] Linh đã ban cho họ.

Không những các sứ đồ, mà ngay cả các trưởng lão cũng không có phần trong các buổi nhóm. Trong chương này (1 Cô. 14), các trưởng lão không có vị trí gì cả. Thậm chí họ không được đề cập đến. Chúng tôi đã nêu lên rằng các trưởng lão được lập ra để giữ một chức vụ hành chánh chứ không phải để cung ứng lời. Họ được chỉ định để quản trị hội thánh, không phải cho chức vụ cung ứng. Chức vụ hành chánh dành cho việc quản trị, còn ân tứ dành cho chức vụ cung ứng. Trong các buổi nhóm cung ứng lời, những người được Đức Chúa Trời ban ân tứ mới có ảnh hưởng, chứ không phải những người giữ chức vụ hành chánh; vì vậy trong những buổi nhóm của hội thánh, các tiên tri, giáo sư và người giảng phúc âm hướng dẫn, chứ không phải các trưởng lão. Họ là những người có ân tứ trong hội thánh. [Công vụ 20:28 phải được dịch là: “Anh em hãy giữ lấy mình, và luôn cả bầy mà Thánh Linh đã lập anh em làm người coi sóc, để chăn hội thánh của Đức Chúa Trời”. Theo 1 Phi-e-rơ 5:2, chăn bầy là bằng cách coi sóc: “Hãy chăn bầy của Đức Chúa Trời... coi sóc”.]

Chúng ta phải phân biệt giữa công tác của các trưởng lão với công tác của các tiên tri và giáo sư. Công tác của họ khác nhau nhưng không nhất thiết họ phải là những con người khác nhau. Một người rất có thể đóng cả hai vai trò. Các trưởng lão là những người giữ chức vụ hành chánh tại một hội thánh địa phương; các tiên tri và giáo sư là những người cung ứng có ân tứ tại một hội thánh địa phương. Các trưởng lão luôn luôn là để quản trị hội thánh; các tiên tri và giáo sư là để cung ứng trong các buổi nhóm của hội thánh. Mỗi khi có hội thánh, Chúa không những chỉ định các trưởng lão để quản trị hội thánh, mà Ngài cũng ban các ân tứ cho một số anh em để cấu tạo họ thành những người cung ứng cho các buổi nhóm. Nhưng điều này không có nghĩa là các trưởng lão không liên quan gì đến các buổi nhóm. Khi nào cần phải quản trị trong buổi nhóm, họ có thể thi hành uy quyền tại đó. Về chức vụ cung ứng lời, mặc dầu họ không thể cung ứng với tư cách là các trưởng lão, nhưng nếu họ cũng là tiên tri hay giáo sư thì họ có thể cung ứng trên cương vị ấy. Các trưởng lão hầu như bắt buộc phải là tiên tri và giáo sư; nếu không, họ không thể cai trị hội thánh cách có hiệu quả.

Điểm cần nhớ là các buổi nhóm của hội thánh là phạm vi dành cho chức vụ cung ứng Lời, chứ không phải phạm vi để sử dụng một chức vụ hành chánh gì. Đó là chỗ vận dụng ân tứ để gây dựng. Vì cả sứ đồ lẫn trưởng lão đều là những chức vụ hành chánh, một trong công tác và một trong hội thánh, vì vậy cả hai chức vụ ấy đều hoàn toàn nằm bên ngoài buổi nhóm. Nhưng Đức Chúa Trời nhân từ đối với hội thánh nên Ngài ban ân tứ để xây dựng hội thánh. Các buổi nhóm của hội thánh là nơi sử dụng các ân tứ này để giúp đỡ lẫn nhau.

Mọi buổi nhóm theo nguyên tắc “bàn tròn” là những buổi nhóm của hội thánh, và mọi buổi nhóm theo nguyên tắc “diễn giả và cử tọa” là những buổi nhóm thuộc về công tác. Những buổi nhóm thuộc về công tác có thể có tính chất tạm thời và không nhất thiết là một thể chế lâu bền, trong khi buổi nhóm hội thánh là đặc tính thường xuyên của sinh hoạt hội thánh. Bàn tròn giúp anh em có thể truyền đạt điều gì đó cho tôi, và tôi có thể truyền đạt điều gì đó cho anh em. Bàn tròn tạo cơ hội bày tỏ tính hỗ tương là đặc tính thiết yếu của mọi mối liên hệ trong hội thánh. Trong các hội thánh địa phương, chúng ta phải can ngăn mọi buổi nhóm theo nguyên tắc “diễn giả và cử tọa”, để một mặt các công tác viên của Đức Chúa Trời được tự do đi khắp nơi để công bố tin mừng cho tội nhân, và mặt khác những người mới được hoán cải sẽ gieo mình nơi Chúa để được trang bị những gì cần thiết hầu phục vụ lẫn nhau. Như vậy, khi tự gánh trách nhiệm của mình, các hội thánh sẽ phát triển sự sống và các ân tứ thuộc linh của chính mình nhờ luyện tập. Có buổi nhóm của sứ đồ khi công tác viên đến thăm địa phương thì được, nhưng khi công tác viên ấy ra đi, những buổi nhóm loại “tòa giảng” nên chấm dứt. Các tiên tri, giáo sư và người rao giảng phúc âm tại hội thánh địa phương thỉnh thoảng cũng có thể có những buổi nhóm như vậy, nhưng những buổi nhóm ấy cần được xem là trường hợp ngoại lệ, vì chúng khuyến khích tính thụ động và nói chung không làm cho các hội thánh phát triển về mặt thuộc linh.

Chúng ta hãy tham khảo sách Công vụ để xem gương mẫu Đức Chúa Trời lập cho Hội thánh Ngài từ ban đầu. “Họ đều cứ bền lòng trong sự dạy dỗ của các sứ đồ, sự tương giao, sự bẻ bánh và sự cầu nguyện... Hằng ngày họ đồng lòng hiệp ý cứ bền đỗ nhóm trong đền thờ luôn; còn ở nhà thì bẻ bánh, dùng bữa cách hớn hở thành thật” (Công. 2:42, 46). Đó là tình trạng vào những ngày đầu của lịch sử hội thánh. Các sứ đồ không thiết lập nơi nhóm họp trung tâm cho các tín đồ, nhưng những người này “cứ bền lòng trong sự dạy dỗ của các sứ đồ, sự tương giao, sự bẻ bánh và sự cầu nguyện”. Họ đi từ nhà này sang nhà kia tương giao với nhau.

Bây giờ chúng ta có thể rút ra những kết luận cho chính mình từ ba điểm chúng ta vừa xem xét. (1) Ở đâu có một nhóm tín đồ, thì một vài người trưởng thành hơn được chọn ra từ giữa vòng họ để chăm sóc những người khác, sau đó mọi trách nhiệm địa phương đều ở nơi họ. Ngay từ đầu những người mới được hoán cải cần sáng tỏ rằng bởi sự chỉ định thần thượng, việc quản trị hội thánh được giao phó cho các trưởng lão địa phương, chứ không phải cho công tác viên từ nơi khác. (2) Hội thánh không cần có nơi nhóm họp chính thức. Các thành viên nhóm tại một nhà hay nhiều nhà, tùy theo số lượng, và nếu hội thánh cần phải nhóm tại một vài nhà, thì thỉnh thoảng toàn thể hội thánh tập trung tại một nơi là điều tốt. Để tiến hành những buổi nhóm như vậy, hội thánh cần có một nơi nhóm họp đặc biệt để dùng cho các dịp nhóm chung hoặc để nhóm họp thường xuyên lâu dài, tùy theo điều kiện hiện tại của hội thánh. (3) Các buổi nhóm hội thánh không phải là trách nhiệm của các công tác viên. Các tín đồ địa phương nên học tập sử dụng các ân tứ thuộc linh mà Đức Chúa Trời đã phó thác cho họ để cung ứng cho nhau. Nguyên tắc tiến hành mọi buổi nhóm của hội thánh là nguyên tắc “bàn tròn”, chứ không phải nguyên tắc “tòa giảng và cử tọa”. Khi đến thăm nơi nào, vị sứ đồ có thể hướng dẫn một loạt buổi nhóm cho hội thánh địa phương, nhưng những buổi nhóm ấy là trường hợp ngoại lệ. Trong sự nhóm họp thường lệ của hội thánh, tất cả các anh em nên đóng góp đặc biệt trong quyền năng của Linh và dưới sự dẫn dắt của Linh. Nhưng để các buổi nhóm như vậy có giá trị rõ rệt, điều thiết yếu là các tín đồ phải nhận được ân tứ thuộc linh, khải thị và lời diễn đạt; vì vậy, các công tác viên nên thật sự quan tâm sao cho mọi người mới tin đều kinh nghiệm quyền năng của Linh tuôn đổ.

Nếu chúng ta làm theo các gương mẫu Đức Chúa Trời bày tỏ trong Lời Ngài, thì trong các hội thánh sẽ không có nan đề về việc tự quản trị, tự cung cấp và tự truyền bá. Các hội thánh ở những địa phương khác nhau nhờ đó sẽ tránh được nhiều chi phí không cần thiết, làm cho họ được tự do giúp các tín đồ nghèo như người Cô-rin-tô đã làm, hoặc giúp các công tác viên như người Phi-líp đã làm. Nếu các hội thánh đi theo đường hướng mà chính Đức Chúa Trời đã đặt ra cho họ, thì công tác của Ngài sẽ tiến triển không bị ngăn trở và vương quốc Ngài sẽ được mở rộng trên đất.

CHỨC VỤ CUNG ỨNG, CÔNG TÁC VÀ CÁC HỘI THÁNH

Trong các chương đầu của quyển sách này chúng ta đã thấy chức vụ cung ứng, công tác và các hội thánh địa phương là gì. Trong chương này chúng ta đã thấy mối liên hệ giữa chức vụ cung ứng và hội thánh địa phương, và cũng thấy sự khác biệt giữa hội thánh và công tác. Bây giờ chúng ta có thể xem xét mối liên hệ giữa chức vụ cung ứng, công tác và các hội thánh cách chi tiết hơn để thấy rõ vị trí, chức năng, lãnh vực riêng của những điều này, và thấy rõ những điều này ảnh hưởng lẫn nhau như thế nào.

Trong Công vụ chương 13 chúng ta thấy Đức Chúa Trời đã thiết lập một trong các hội thánh của Ngài tại một địa phương kia; rồi Ngài ban các ân tứ cho một vài cá nhân trong hội thánh ấy để trang bị họ phục vụ tại đó với tư cách là tiên tri và giáo sư hầu có thể xây dựng hội thánh. Những tiên tri và giáo sư này cấu thành chức vụ cung ứng trong hội thánh ấy. Khi những người cung ứng này đạt đến một mức độ trưởng thành thuộc linh nào đó trong sự sống và ân tứ, Đức Chúa Trời sai hai người trong vòng họ đi công tác ở những nơi khác; và lịch sử được lặp lại nơi các hội thánh được hai sứ đồ ấy thành lập.

Ở đây anh em không thấy mối liên hệ giữa các hội thánh, chức vụ cung ứng và công tác sao? (1) Đức Chúa Trời thành lập một hội thánh tại một địa phương. (2) Ngài dấy lên những người có ân tứ trong hội thánh cho chức vụ cung ứng. (3) Ngài sai một vài người được trang bị đặc biệt này ra đi công tác. (4) Những người này thành lập các hội thánh tại những nơi khác nhau. (5) Đức Chúa Trời dấy lên những người có ân tứ khác giữa vòng các hội thánh ấy cho chức vụ xây dựng các hội thánh. (6) Rồi vài người trong số ấy được tung ra công tác tại những cánh đồng khác. Do đó công tác trực tiếp sản sinh ra các hội thánh, và các hội thánh gián tiếp sinh ra công tác. Như vậy các hội thánh và công tác tiến triển, chuyển động theo một chu kỳ tái diễn mãi – công tác luôn luôn trực tiếp dẫn đến việc thành lập các hội thánh và các hội thánh luôn luôn gián tiếp dẫn đến việc phát triển công tác.

Về những người có ân tứ được Đức Chúa Trời dấy lên cho chức vụ cung ứng, họ lao khổ cả trong hội thánh lẫn trong công tác. Khi ở tại địa phương mình, họ tìm cách gây dựng hội thánh. Khi đi đến những nơi khác, họ mang gánh nặng công tác. Khi ở tại hội thánh địa phương, họ là các tiên tri và giáo sư. Khi được sai đến những nơi khác, họ là các sứ đồ. Dầu ở nhà hay ra đi, thì vẫn là những con người ấy, nhưng chức vụ cung ứng của họ khác đi tùy theo lãnh vực họ phục vụ. Các tiên tri và giáo sư (với người chăn và người rao giảng phúc âm) là những người có phạm vi hoạt động là địa phương, cộng với các sứ đồ có phạm vi công tác ở bên ngoài địa phương, cấu thành chức vụ cung ứng. Trong khi các tiên tri, giáo sư phục vụ các hội thánh, các sứ đồ tiến hành công tác, thì chức vụ cung ứng được Đức Chúa Trời thiết lập để đáp ứng nhu cầu thuộc linh trong cả hai lãnh vực. Ở đây một lần nữa chúng ta thấy mối quan hệ giữa các hội thánh, chức vụ cung ứng và công tác. Công tác do các hội thánh sản sinh, các hội thánh được thành lập do kết quả của công tác, và chức vụ thì phục vụ các hội thánh và công tác.

Trong Ê-phê-sô chương 4 chúng ta thấy phạm vi của chức vụ cung ứng là Thân thể Đấng Christ; phạm vi ấy được bày tỏ ở địa phương với tư cách là hội thánh hoặc ở ngoài địa phương với tư cách là công tác. Vì lý do đó các sứ đồ, tiên tri, người giảng phúc âm và giáo sư được liên kết với nhau, dầu thật ra lãnh vực công tác của sứ đồ khác với lãnh vực của ba loại người kia. Nhưng tất cả đều thuộc về một chức vụ cung ứng, mà phạm vi phục vụ của chức vụ ấy là Thân thể Đấng Christ. Hai nhóm người này chịu trách nhiệm về công tác của chức vụ cung ứng, một nhóm được Linh ban ân tứ để có thể phục vụ hội thánh địa phương, nhóm kia được kêu gọi từ những người có ân tứ ấy để phục vụ Ngài tại những nơi khác nhau, và ngoài ân tứ của mình, họ còn được ban cho một chức vụ hành chánh. Những người được ban ân tứ dùng ân tứ của mình để phục vụ Hội Thánh bằng cách phục vụ hội thánh tại địa phương mình. Những người vừa có ân tứ vừa có sự ủy nhiệm của chức vụ sứ đồ thì phục vụ Hội thánh bằng cách phục vụ các hội thánh tại những địa phương khác nhau.

Đức Chúa Trời dùng những người này để truyền ân điển của Ngài cho Hội thánh. Những ân tứ khác nhau giúp họ truyền ân điển từ Đầu đến Thân thể. Chức vụ cung ứng thuộc linh không là gì khác hơn cung ứng Đấng Christ cho dân Ngài. Khi ban những người này là quà tặng cho Hội thánh Ngài, Đức Chúa Trời có ý định rằng Đấng Christ mà họ biết và kinh nghiệm cách cá nhân sẽ được cung ứng cho dân Ngài qua các ân tứ của Linh. Họ được ban cho Hội thánh “để làm hoàn hảo các thánh đồ cho công tác của chức vụ cung ứng cho việc xây dựng Thân thể của Đấng Christ” (RcV).

Như vậy trong chức vụ cung ứng chúng ta có các tiên tri và những người cung ứng khác dùng ân tứ của mình để phục vụ hội thánh địa phương, trong khi các sứ đồ phục vụ tất cả các hội thánh bằng chức vụ hành chánh và những ân tứ của họ. Chức vụ cung ứng của hai nhóm người này rất quan trọng, vì mọi công tác của Đức Chúa Trời – trong địa phương và ngoài địa phương – đều ở nơi tay họ. Đó là lý do vì sao Lời Đức Chúa Trời tuyên bố rằng Hội thánh của Đức Chúa Trời được xây dựng trên nền của các sứ đồ và tiên tri.

Và trong các chức vụ hành chánh do Đức Chúa Trời thiết lập, chúng ta có các trưởng lão giữ chức vụ hành chánh cao nhất trong hội thánh địa phương, trong khi các sứ đồ không có chức vụ hành chánh gì tại đó cả. Mặt khác, các sứ đồ giữ chức vụ hành chánh cao nhất trong công tác, trong khi các trưởng lão không có chức vụ hành chánh gì tại đó. Các sứ đồ đứng đầu trong Hội thánh hoàn vũ, và các trưởng lão đứng đầu trong hội thánh địa phương. Khi nhìn thấy sự khác biệt giữa sứ đồ và trưởng lão, chúng ta sẽ hiểu tại sao hai chức vụ hành chánh này thường liên kết với nhau (Công. 15:2, 4, 6, 22-23). Các sứ đồ và các trưởng lão là những người đại diện cao nhất của Hội thánh và các hội thánh. Các sứ đồ giữ chức vụ hành chánh cao nhất trong công tác, nhưng với tư cách là sứ đồ, họ không có chức vụ hành chánh gì trong hội thánh địa phương; mặt khác, các trưởng lão giữ chức vụ hành chánh cao nhất trong hội thánh địa phương, nhưng với tư cách là trưởng lão, họ không có chức vụ hành chánh gì trong công tác cả.

Tại hội thánh địa phương có hai ban phục vụ, một ban liên hệ đến việc quản lý, ban kia liên hệ đến chức vụ cung ứng thuộc linh. Các chức vụ hành chánh thì liên quan đến sự quản lý hội thánh, và các trưởng lão cùng chấp sự giữ các chức vụ này. Các ân tứ liên quan đến chức vụ cung ứng của hội thánh, và các tiên tri cùng giáo sư (và những người rao giảng phúc âm) vận dụng những ân tứ này. Các trưởng lão và chấp sự chịu trách nhiệm về việc quản lý hội thánh, trong khi các tiên tri và giáo sư chính yếu quan tâm đến những buổi nhóm của hội thánh. Nếu các chấp sự và trưởng lão cũng là các tiên tri và giáo sư, thì họ có thể quản lý công việc của hội thánh và đồng thời cung ứng cho hội thánh trong các buổi nhóm. Chúng ta phải phân biệt giữa các trưởng lão và những người cung ứng. Trong đời sống hằng ngày, các trưởng lão cai quản hội thánh, nhưng trong các buổi nhóm để gây dựng, thì Đức Chúa Trời chỉ định những người cung ứng để phục vụ hội thánh. Tôi xin lặp lại rằng như vậy các trưởng lão được chỉ định để quản trị hội thánh, chứ không phải được chỉ định cho các buổi nhóm gây dựng hội thánh. Trong 1 Cô-rin-tô chương 14 là phần bàn về các buổi nhóm, các trưởng lão không được đề cập. Nhưng để phục vụ cách có hiệu quả, các trưởng lão cũng nên có ân tứ làm tiên tri, giáo sư, người chăn bầy hay người rao giảng phúc âm. Tuy nhiên cần ghi nhớ rằng khi cung ứng trong các buổi nhóm, họ không cung ứng với tư cách là trưởng lão, mà cung ứng với tư cách là tiên tri, hoặc giáo sư, hay là loại người cung ứng khác. Họ có phần trong chức vụ cung ứng với tư cách là tiên tri hay giáo sư. 1 Ti-mô-thê 5:17 nêu rõ rằng lãnh vực phục vụ thường lệ của họ là quản trị, nhưng một số trưởng lão (không nhất thiết tất cả) cũng có thể dạy dỗ và cung ứng.

Vì vậy chức vụ cung ứng, công tác và các hội thánh có phần khác nhau về chức năng và phạm vi, nhưng thật sự phối hợp và có mối tương quan với nhau. Ê-phê-sô chương 4 nói về Thân thể Đấng Christ, nhưng không phân biệt giữa các hội thánh, công tác và chức vụ cung ứng. Các thánh đồ thuộc các hội thánh, các sứ đồ thuộc công tác và những người cung ứng khác nhau thuộc chức vụ đều được xem xét trong ánh sáng của Thân thể Đấng Christ và trong mối liên hệ với Thân thể Đấng Christ. Vì dầu đó là hội thánh địa phương, chức vụ cung ứng hay công tác, tất cả đều ở trong Hội thánh. Cả ba thật sự đều là một; chúng ta tuy cần phân biệt ba điều đó để hiểu rõ hơn, nhưng thật ra không thể tách rời ba điều đó. Những người ở trong các lãnh vực khác nhau của Hội thánh cần nhìn thấy thực tại của Thân thể Đấng Christ và hoạt động liên kết với nhau như một thân thể. Dầu trách nhiệm khác nhau, họ không nên cô lập chính mình. “Hội thánh, là Thân thể Ngài” bao hàm các hội thánh, chức vụ cung ứng và công tác. Các hội thánh là Thân thể được bày tỏ ra tại địa phương, chức vụ cung ứng là Thân thể thi hành chức năng, và công tác là Thân thể tìm cách gia tăng. Cả ba đều là những biểu hiện khác nhau của một Thân thể, vì vậy cả ba đều tùy thuộc vào nhau và có mối tương quan với nhau. Không điều nào có thể tự chuyển động, hay thậm chí tự hiện hữu. Thật ra mối liên hệ của những điều này gần gũi và sống động đến nỗi không điều nào có thể tự trở nên đúng đắn nếu chưa được điều chỉnh cho đúng đắn với những điều khác. Hội thánh không thể tiến triển nếu không nhận sự giúp đỡ từ chức vụ cung ứng và không giúp đỡ cho công tác; công tác không thể tồn tại nếu không có sự cảm thông của chức vụ cung ứng và sự hỗ trợ của hội thánh; và chức vụ cung ứng chỉ có thể hoạt động khi có hội thánh và công tác.

Đây là điều quan trọng nhất. Trong các chương trước chúng tôi tìm cách bày tỏ chức năng và phạm vi riêng của hội thánh, công tác và chức vụ cung ứng; bây giờ do không hiểu bản chất thuộc linh của những điều thuộc về Đức Chúa Trời, hiểm họa là chúng ta không những phân biệt mà còn chia cắt những điều này thành những đơn vị rời rạc, như vậy làm mất đi mối liên hệ qua lại của Thân thể. Dầu giữa những điều này có sự phân biệt rõ ràng đến đâu chăng nữa, chúng ta phải nhớ rằng tất cả đều ở trong Hội thánh. Do đó những điều này phải chuyển động và hoạt động như một, vì dầu các chức năng và lãnh vực có đặc biệt đến đâu, tất cả đều ở trong một Thân thể.

Vì vậy, một mặt chúng ta phân biệt những điều này để hiểu rõ, và mặt khác chúng ta phải nhớ rằng những điều ấy liên hệ với nhau như một thân thể. Không phải một vài người có ân tứ nhận biết khả năng của mình, tự cho là họ phải cung ứng bằng những ân tứ mình sở hữu; cũng không phải một vài người nhận biết sự kêu gọi, tự thành lập đoàn công tác; cũng không phải một số tín đồ có cùng tâm trí liên kết lại và tự xưng là hội thánh. Tất cả phải đứng trên nền tảng Thân thể. Hội thánh là nếp sống của Thân thể thu nhỏ; chức vụ cung ứng là Thân thể thi hành chức năng để phục vụ; công tác là Thân thể truyền bá để tăng trưởng. Hội thánh, chức vụ cung ứng hay công tác đều không thể tự tồn tại. Mỗi điều phải tồn tại nhờ Thân thể, tìm thấy vị trí của mình trong Thân thể và hoạt động vì lợi ích của Thân thể. Cả ba đều từ Thân thể, trong Thân thể và vì Thân thể. Nếu nguyên tắc liên hệ với Thân thể và nguyên tắc liên hệ qua lại giữa các thành viên không được nhận biết, thì không thể có hội thánh, chức vụ cung ứng và công tác. Chúng ta không thể nhấn mạnh thái quá đến tầm quan trọng của nguyên tắc này, vì không có nguyên tắc này thì mọi sự đều nhân tạo, chứ không phải thiên tạo. Nguyên tắc cơ bản của chức vụ cung ứng là Thân thể. Nguyên tắc cơ bản của công tác là Thân thể. Nguyên tắc cơ bản của các hội thánh là Thân thể. Thân thể là luật chủ đạo của sự sống và công tác của con cái Đức Chúa Trời ngày nay.