Thông tin sách

Nếp Sống Hội Thánh Cơ Đốc Bình Thường

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Nếp sống Hội thánh Cơ đốc bình thường
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 8

Untitled Document

CHƯƠNG TÁM

VẤN ĐỀ TÀI CHÁNH

Điều đáng lưu ý là mặc dầu sách Công vụ nêu lên nhiều chi tiết nhỏ nhặt về công tác của sứ đồ, nhưng vấn đề quan trọng hơn hết theo quan điểm loài người trong việc thực hiện bất cứ một công tác nào lại hoàn toàn không được bàn đến. Chúng ta không được biết nhu cầu công tác hay nhu cầu cá nhân của các công tác viên đã được đáp ứng như thế nào. Thật là lạ lùng! Điều con người cho là cực kỳ quan trọng thì các sứ đồ xem là ít quan trọng nhất. Vào những ngày đầu của Hội thánh, những người được Đức Chúa Trời sai phái đã ra đi dưới sự thúc giục của tình yêu thần thượng. Công tác của họ không chỉ là nghề nghiệp, và đức tin họ có nơi Đức Chúa Trời không thuộc trí tuệ, mà là thuộc linh; không chỉ là lý thuyết, nhưng vô cùng thực tế. Tình yêu và sự thành tín của Đức Chúa Trời là thực tại đối với họ, do đó tâm trí họ không thắc mắc gì về việc Ngài đáp ứng những nhu cầu tạm thời của họ. Ngày nay cũng vậy, vấn đề tài chánh không là nan đề đối với những ai tin cậy Đức Chúa Trời cách sống động và yêu Ngài cách chân thật.

Đề tài tài chánh hàm chứa các vấn đề hết sức quan trọng, nên chúng ta hãy dành một ít thì giờ bàn về điều này. Trong ân điển, Đức Chúa Trời là quyền năng lớn lao nhất; nhưng trong thế gian ma-môn là lớn lao nhất. Nếu các đầy tớ của Đức Chúa Trời không giải quyết vấn đề tài chánh cách minh bạch, họ cũng sẽ không giải quyết nhiều vấn đề khác. Một khi nan đề tài chánh được giải quyết, điều kỳ diệu là biết bao nhiêu nan đề khác cũng tự động được giải quyết với nó. Thái độ của các công tác viên Cơ Đốc đối với vấn đề tài chánh sẽ là dấu chỉ khá chính xác cho thấy họ có được Đức Chúa Trời ủy nhiệm hay không. Nếu công tác là của Đức Chúa Trời, thì công tác ấy sẽ thuộc linh; nếu công tác là thuộc linh, thì cách cung ứng sẽ thuộc linh. Nếu sự cung ứng không ở trên bình diện thuộc linh, chính công tác sẽ nhanh chóng trôi dạt vào bình diện thuộc công việc thế tục. Nếu tính cách thuộc linh không là đặc điểm của phương diện tài chánh, thì tính cách thuộc linh của các lãnh vực hoạt động khác chỉ là lý thuyết. Không lãnh vực nào của công tác thật sự chạm đến những vấn đề thực tế như lãnh vực tài chánh. Anh em có thể lý thuyết trong những lãnh vực khác, nhưng không thể lý thuyết trong lãnh vực này.

TẦM QUAN TRỌNG CỦA ĐỜI SỐNG ĐỨC TIN

Dầu có chức vụ gì chăng nữa, mỗi công tác viên phải vận dụng đức tin để đáp ứng mọi nhu cầu cá nhân của mình và mọi nhu cầu công tác của mình. Trong Lời Đức Chúa Trời chúng ta đọc thấy không một công tác viên nào yêu cầu hay nhận tiền lương để phục vụ Chúa. Phao-lô không ký hợp đồng với hội thánh tại Ê-phê-sô, hay với một hội thánh nào khác, để nhận tiền thù lao cho một thời gian phục vụ nào đó. Trong Kinh Thánh không có tiền lệ nào về việc các đầy tớ của Đức Chúa Trời trông đợi nguồn tài lực của loài người để đáp ứng các nhu cầu của mình. Chúng ta đọc trong Kinh Thánh câu chuyện Ba-la-am tìm cách trục lợi từ ân tứ tiên tri của mình, nhưng ông bị lên án một cách rõ ràng và mạnh mẽ. Chúng ta cũng đọc thấy Ghê-ha-xi tìm cách trục lợi từ ân điển của Đức Chúa Trời, nhưng ông bị mắc bệnh phung vì tội mình. Không đầy tớ nào của Đức Chúa Trời được mong đợi nơi loài người, dầu đó là cá nhân hay một hội đoàn nào để được cung ứng cho các nhu cầu tạm thời của mình. Nếu họ có thể đáp ứng nhu cầu cá nhân bằng sức lao động của đôi tay mình hay bằng thu nhập riêng của mình, thì đó là điều rất tốt. Nếu không, họ nên trực tiếp lệ thuộc vào một mình Đức Chúa Trời để được cung ứng như các sứ đồ đầu tiên. Mười hai sứ đồ được Chúa sai đi không có tiền lương cố định, và các sứ đồ được Linh sai đi cũng vậy; họ chỉ trông đợi Chúa đáp ứng mọi nhu cầu của mình. Giống như những sứ đồ ban đầu, các sứ đồ ngày nay cũng vậy, họ không nên xem ai là chủ của mình, nhưng trong những vấn đề thế tục cũng như trong những vấn đề thuộc linh, họ phải tin cậy Đấng sai họ đi là Đấng chịu trách nhiệm về mọi sự liên quan đến việc thực hiện ý muốn của Ngài.

Nếu một người có thể tin cậy Đức Chúa Trời, người ấy hãy ra đi và công tác cho Ngài; nếu không, người ấy hãy ở nhà, vì thiếu điều kiện đầu tiên để công tác. Có một quan niệm rất phổ biến cho rằng nếu có mức thu nhập cố định, công tác viên sẽ rảnh rang hơn cho công tác và kết quả sẽ tốt hơn; nhưng sự thật là trong công tác thuộc linh cần có mức thu nhập không cố định, vì điều đó sẽ buộc họ phải tương giao mật thiết với Đức Chúa Trời hơn, liên tục có khải thị rõ ràng về ý muốn của Ngài và trực tiếp có sự hỗ trợ thần thượng. Trong công việc thế gian, tất cả những gì một nhân viên cần được trang bị là ý chí và tài năng; nhưng lòng sốt sắng của con người và tài năng thiên nhiên không phải là sự trang bị cho công tác thuộc linh. Công tác mà phù hợp với ý muốn của Đức Chúa Trời thì cần phải hoàn toàn lệ thuộc vào Ngài; vì vậy, Đức Chúa Trời muốn các công tác viên của Ngài trông cậy một mình Ngài để được cung cấp về tài chánh, để họ phải bước đi trong mối tương giao mật thiết với Ngài và học tập tin cậy Ngài liên tục. Thu nhập cố định không nuôi dưỡng lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời và mối tương giao với Ngài; nhưng tình trạng hoàn toàn lệ thuộc vào Ngài cho nhu cầu của mình chắc chắn sẽ nuôi dưỡng điều đó. Cuộc sống càng bất ổn, công tác viên càng trông cậy Đức Chúa Trời; và thái độ tin tưởng lệ thuộc vào Ngài càng được vun trồng, thì công tác sẽ càng thuộc linh. Cho nên rõ ràng bản chất của công tác và nguồn cung ứng cho công tác liên hệ mật thiết với nhau. Nếu công tác viên nhận được tiền lương cố định từ con người, thì công tác sinh ra không bao giờ có thể thuần mang tính cách thần thượng.

Đức tin là nhân tố quan trọng nhất trong sự phục vụ Đức Chúa Trời, vì không có đức tin thì không thể có công tác thuộc linh thật; nhưng đức tin của chúng ta đòi hỏi phải được huấn luyện và làm cho mạnh mẽ, còn các nhu cầu vật chất là phương tiện được bàn tay Đức Chúa Trời dùng để đạt đến mục đích ấy. Chúng ta có thể tự xưng là mình có đức tin nơi Đức Chúa Trời về rất nhiều điều mơ hồ, và có thể tự dối mình mà tưởng rằng mình thật sự tin cậy Ngài trong khi không tin cậy Ngài gì cả, đơn giản chỉ vì không có gì cụ thể để chứng minh sự vô tín của chúng ta. Nhưng khi đối diện với các nhu cầu tài chánh, vấn đề này thực tế đến nỗi thực tại của đức tin chúng ta được thử nghiệm ngay lập tức. Nếu không thể tin cậy Đức Chúa Trời đáp ứng các nhu cầu thế tục của mình, thì chúng ta cũng không thể tin cậy Ngài đáp ứng các nhu cầu thuộc linh của mình; tuy nhiên nếu thật sự chứng minh được Ngài đáng tin cậy trong lãnh vực thực tế là nhu cầu vật chất, thì chúng ta cũng có thể tin cậy Ngài khi những khó khăn thuộc linh xuất hiện liên quan đến công tác hay đời sống cá nhân. Thật mâu thuẫn nếu chúng ta tuyên bố với người khác Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời hằng sống, nhưng chính mình không dám tin cậy Ngài sẽ đáp ứng các nhu cầu vật chất của mình.

Hơn nữa, ai nắm ví tiền là người nắm uy quyền. Nếu chúng ta được loài người tài trợ, công tác của chúng ta sẽ bị con người điều khiển. Đương nhiên nếu chúng ta nhận thu nhập từ một nguồn nào đó, chúng ta sẽ phải báo cáo những gì mình đã làm cho nguồn ấy. Mỗi khi chúng ta tin cậy loài người, công tác của chúng ta không thể không bị loài người ảnh hưởng. Tưởng rằng mình có thể nhận tiền từ loài người để làm công việc của Đức Chúa Trời là quan niệm sai lầm nghiêm trọng. Nếu được loài người tài trợ, chúng ta sẽ tìm cách làm đẹp lòng loài người, thường thì không thể vừa làm đẹp lòng Đức Chúa Trời vừa làm đẹp lòng loài người.

Đức Chúa Trời phải là Đấng duy nhất điều khiển công tác Ngài. Đó là lý do vì sao Ngài muốn chúng ta không lệ thuộc vào nguồn tài trợ của loài người. Nhiều người trong chúng ta đã kinh nghiệm rằng lắm lúc Đức Chúa Trời điều khiển chúng ta qua vấn đề tài chánh. Khi chúng ta ở trong trung tâm của ý muốn Ngài, chắc chắn Ngài sẽ cung ứng, nhưng ngay khi chúng ta không còn tiếp xúc sống động với Ngài, thì không chắc chúng ta nhận được sự cung ứng. Đôi khi chúng ta tưởng Đức Chúa Trời muốn mình làm một điều gì đó, nhưng Ngài bày tỏ cho chúng ta biết đó không phải là ý muốn của Ngài bằng cách từ chối không cung ứng tài chánh. Vì thế, chúng ta phải liên tục ở dưới sự hướng dẫn của Chúa, và sự hướng dẫn ấy là điều quí báu hơn hết. Nếu chúng ta ngưng lệ thuộc vào Ngài, thì làm sao lòng tin cậy của chúng ta phát triển?

Vấn đề đầu tiên mà người nào tin mình thực sự được Đức Chúa Trời kêu gọi phải đối diện là vấn đề tài chánh. Nếu không thể ngưỡng trông một mình Chúa đáp ứng nhu cầu hằng ngày của mình thì người ấy không đủ điều kiện tham gia công tác của Ngài, vì nếu tài chánh không độc lập với loài người thì công tác cũng sẽ không độc lập với loài người. Nếu không thể tin cậy Đức Chúa Trời cung ứng ngân khoản cần thiết, liệu một người có thể tin cậy Ngài khi gặp những nan đề trong công tác không? Nếu tuyệt đối lệ thuộc vào Ngài để được cung ứng thì chúng ta chỉ chịu trách nhiệm trước một mình Ngài trong công tác, trong trường hợp ấy chúng ta không cần ở dưới sự hướng dẫn của loài người. Tôi xin phép khuyên tất cả những ai chưa được chuẩn bị bước đi bởi đức tin là hãy tiếp tục làm bổn phận thế tục của mình và đừng tham gia vào công tác thuộc linh. Những ai công tác cho Đức Chúa Trời phải có khả năng tin cậy Ngài.

Nếu có đức tin thật nơi Đức Chúa Trời, chúng ta phải chịu trách nhiệm về mọi nhu cầu cá nhân và nhu cầu công tác. Chúng ta không được âm thầm hi vọng nhận được sự giúp đỡ từ nguồn tài trợ nào của loài người. Chúng ta phải có đức tin nơi một mình Đức Chúa Trời mà thôi, chứ không phải tin cậy Đức Chúa Trời lẫn loài người. Nếu các anh em bày tỏ tình yêu thương của họ, chúng ta hãy cảm tạ Đức Chúa Trời, nếu không, chúng ta cũng hãy cảm tạ Ngài. Thật đáng xấu hổ khi đầy tớ của Đức Chúa Trời một mắt hướng về Ngài còn một mắt hướng về loài người hay hoàn cảnh. Công tác viên Cơ Đốc nào xưng mình tin cậy Đức Chúa Trời mà lại hi vọng được những nguồn tài trợ khác giúp đỡ mình là không xứng đáng. Làm như vậy rõ ràng là vô tín. Tôi vẫn thường nói và nay nhắc lại rằng ngay khi mắt chúng ta hướng về các anh em, chúng ta đem ô nhục đến cho các đồng công của mình và danh của Chúa. Việc chúng ta sống bởi đức tin phải hoàn toàn chân thật, chứ đừng để biến thành “sống bởi lòng từ thiện”. Chúng ta dám tuyệt đối độc lập với con người trong vấn đề tài chánh, vì chúng ta dám tuyệt đối tin cậy Đức Chúa Trời; chúng ta dám vứt bỏ mọi hi vọng nơi họ vì chúng ta hoàn toàn tin cậy Đức Chúa Trời.

Nếu đặt hi vọng nơi loài người, khi nguồn tài trợ của họ khô cạn, nguồn cung ứng cho chúng ta cũng sẽ bị khô cạn. Chúng ta không có ban quản trị nào hậu thuẫn mình, nhưng có Vầng Đá dưới chân chúng ta; không ai đứng trên Vầng Đá này lại bị hổ thẹn. Con người và hoàn cảnh có thể thay đổi, nhưng chúng ta sẽ tiến lên cách vững vàng nếu chúng ta nương dựa nơi Đức Chúa Trời. Tất cả vàng bạc đều thuộc về Ngài và không ai bước đi trong ý muốn Ngài lại bị thiếu thốn bao giờ. Chúng ta có khuynh hướng tin cậy những con cái Chúa đã gửi quà cho chúng ta trong quá khứ, nhưng tất cả những người ấy sẽ qua đi. Chúng ta phải liên tục nhìn chăm vào Đức Chúa Trời bất biến mà ân điển và sự thành tín của Ngài còn mãi mãi.

Hai bước đầu tiên trong công tác của Đức Chúa Trời là cầu nguyện trong đức tin cho ngân khoản cần thiết, và sau đó là thật sự tiến hành công tác. Than ôi! Ngày nay nhiều đầy tớ của Đức Chúa Trời không có đức tin; nhưng họ tìm cách phục vụ Ngài. Họ tiến hành công tác mà không hội đủ điều kiện cần thiết để công tác; vì vậy, những gì họ làm không có giá trị thuộc linh. Đức tin là điều cần thiết hàng đầu trong bất cứ công tác nào cho Đức Chúa Trời, và chúng ta cần phải vận dụng đức tin khi liên hệ đến những vấn đề vật chất cũng như những nhu cầu khác. Nếu không có đức tin để có ngân quỹ, thì dầu công tác tốt đến đâu, sớm muộn gì công tác ấy cũng sẽ thất bại. Khi hết tiền, công tác cũng sẽ ngưng.

SỐNG NHỜ PHÚC ÂM

Chúa chúng ta nói: “Người làm công đáng được tiền lương mình” (Lu. 10:7); và Phao-lô viết cho người Cô-rin-tô: “Cũng vậy, Chúa đã truyền định rằng ai rao giảng Tin lành (hay: Phúc âm) thì nhờ Tin lành mà sống” (1 Cô. 9:14). Nhờ phúc âm mà sống có nghĩa là gì? Điều ấy không có nghĩa là đầy tớ của Đức Chúa Trời nên nhận một khoản tiền trợ cấp cố định từ hội thánh, vì vào thời Phao-lô người ta không biết đến hệ thống hiện đại trả tiền cho công tác phục vụ Chúa. Câu này có nghĩa là những người rao giảng phúc âm có thể nhận quà tặng từ các anh em; nhưng những món quà ấy không có điều kiện gì kèm theo. Không đặt ra thời hạn nhất định, không ấn định khoản tiền nhất định nào và không đưa ra trách nhiệm rõ ràng nào; tất cả đều là tự nguyện. Khi lòng các tín đồ được Đức Chúa Trời cảm động, họ tặng quà cho các đầy tớ của Ngài, để đang khi các đầy tớ nhận quà qua con người, họ vẫn hoàn toàn tin cậy Đức Chúa Trời. Mắt họ hướng về Ngài, họ trình bày với Ngài về những nhu cầu của mình và Ngài là Đấng chạm đến lòng con cái Ngài để họ dâng hiến. Đó là điều Phao-lô muốn nói khi ông đề cập đến việc sống nhờ phúc âm. Chính Phao-lô nhận quà tặng từ hội thánh tại Phi-líp (Phil. 4:16) và khi ở tại Cô-rin-tô, ông được các anh em ở Ma-xê-đoan giúp đỡ (2 Cô. 11:9). Đó là những gương mẫu sống nhờ phúc âm. Thỉnh thoảng Phao-lô nhận quà tặng từ các cá nhân và hội thánh, nhưng ông không nhận tiền thù lao cố định cho chức vụ rao giảng của mình.

Phải, “người làm công đáng được tiền lương mình”, và chắc chắn ông sống nhờ phúc âm. Nhưng chúng ta nên tự hỏi chúng ta là người làm công của ai? Nếu của con người, thì chúng ta hãy trông chờ con người tài trợ cho mình; nhưng nếu là người làm công của Đức Chúa Trời, chúng ta không được trông chờ ai ngoài Ngài, cho dù Ngài có thể dùng các anh em chúng ta đáp ứng nhu cầu của chúng ta. Toàn bộ vấn đề tùy thuộc vào việc Đức Chúa Trời có kêu gọi và sai chúng ta đi không? Nếu sự kêu gọi và ủy nhiệm đến từ Ngài, thì Ngài chắc chắn phải chịu trách nhiệm về tất cả những gì liên quan đến việc chúng ta vâng phục Ngài. Khi chúng ta bày tỏ cho Ngài biết nhu cầu của mình, chắc chắn Ngài sẽ nghe và cảm động lòng người cung ứng cho chúng ta về mọi điều mình cần. Nếu chúng ta chỉ là người tình nguyện phục vụ Ngài, thì Đức Chúa Trời sẽ không chịu trách nhiệm về những gì chúng ta có thể gặp phải, cho nên chúng ta sẽ không thể sống nhờ phúc âm.

Khi chị M. E. Barber nghĩ đến việc sang Trung Quốc phục vụ Chúa, chị thấy trước những khó khăn mà một phụ nữ sẽ đối diện khi phải một mình đi ra nước ngoài, cho nên chị xin lời khuyên nơi ông Wilkinson của Hội truyền giáo Mildmay cho Người Do Thái. Ông nói: “Đến một xứ xa lạ, không ai hứa tài trợ, không hội nào hậu thuẫn – tất cả những điều ấy không phải là nan đề. Vấn đề là: Cô tự ra đi hay Đức Chúa Trời sai cô đi?” Chị đáp: “Đức Chúa Trời sai tôi đi”. Ông bèn nói: “Vậy thì không cần đặt vấn đề, vì nếu Đức Chúa Trời sai cô, Ngài phải chịu trách nhiệm”. Vâng, nếu chúng ta tự ra đi, thì nỗi khốn khó và sự hổ thẹn đang chờ đợi chúng ta, nhưng nếu chúng ta ra đi như những người được Đức Chúa Trời sai đi, thì mọi trách nhiệm sẽ thuộc về Ngài, và chúng ta không bao giờ cần hỏi Ngài sẽ thực hiện bằng cách nào.

Nhưng tại Cô-rin-tô Phao-lô không sống nhờ phúc âm; chính tay ông may lều. Cho nên rõ ràng có hai cách đáp ứng nhu cầu của đầy tớ Đức Chúa Trời – hoặc họ trông đợi Đức Chúa Trời cảm động lòng con cái Ngài dâng hiến cho nhu cầu của họ, hay họ kiếm sống bằng cách làm việc ngoài đời bán thời gian. Tự tay mình làm việc có thể rất tốt, nhưng chúng ta cần lưu ý Phao-lô không xem đó là điều bình thường. Đó là điều ngoại lệ, là một phương thức chỉ được dùng đến trong những hoàn cảnh đặc biệt.

“Nếu chúng tôi đã gieo vật thuộc linh cho anh em, mà trở lại gặt vật thuộc thể của anh em, thì có phải là quá lẽ đâu? Nếu người khác còn có quyền bính ấy trên anh em, huống chi là chúng tôi? Dầu vậy, chúng tôi chẳng từng dùng quyền bính ấy; trái lại, chúng tôi nhịn chịu mọi sự, hầu cho khỏi ngăn trở Tin lành (hay: Phúc âm) của Đấng Christ. Anh em há chẳng biết rằng ai phục vụ thánh thì ăn của trong đền thờ, còn ai chầu bàn thờ thì đồng có phần với bàn thờ sao? Cũng vậy, Chúa đã truyền định rằng ai rao giảng Tin lành thì nhờ Tin lành mà sống. Phần tôi thì tuyệt chẳng dùng quyền bính ấy đâu, cũng chẳng viết lời này để cầu ai đãi tôi dường ấy. Vì tôi đành thà chết còn hơn là để cho ai khiến sự khoe khoang tôi ra luống nhưng... Thế thì phần thưởng của tôi là gì? Ấy là khi giảng Tin lành thì giảng nhưng-không, đến đỗi chẳng dùng trọn quyền bính tôi vẫn có trong Tin lành” (1 Cô. 9:11-15, 18). Có một số quyền lợi là đặc quyền của tất cả những ai rao giảng phúc âm. Phao-lô không nhận gì từ người Cô-rin-tô, vì lúc ấy ông ở trong hoàn cảnh đặc biệt; nhưng dầu ông không sử dụng những đặc quyền của người rao giảng phúc âm trong trường hợp đó, rõ ràng ông có sử dụng quyền ấy trong những lúc khác. “Hay là khi tôi đã giảng Tin lành của Đức Chúa Trời cho anh em cách nhưng không, tự hạ mình xuống cho anh em được nhắc lên, thì điều đó tôi há phạm tội chăng? Tôi đã vét lấy của các hội thánh khác nhận làm lương hướng để phục sự anh em. Khi tôi ở cùng anh em gặp phải lúc thiếu thốn, thì không lụy đến ai cả, vì các anh em ở Ma-xê-đoan đến đã bù lại chỗ thiếu thốn của tôi. Không cứ việc gì, tôi đều đã giữ mình cho khỏi lụy đến anh em, tôi lại cũng sẽ cứ giữ mình như vậy luôn. Tôi chỉ sự chân thật của Christ ở trong tôi mà quyết rằng, trong các miền A-chai không ai bịt miệng tôi khoe khoang điều này được” (2 Cô. 11:7-10).

NGUYÊN TẮC VỀ VIỆC NHẬN QUÀ TẶNG

Nhận lương hướng rõ ràng từ một hội thánh là điều không được phép, và đôi khi thậm chí nhận quà tặng không rõ ràng cũng là điều không được phép. Phao-lô chứng minh nguyên tắc này qua việc không nhận gì từ hội thánh Cô-rin-tô. Nếu ai cho chúng ta một món quà vì thương hại chúng ta, thì vì cớ Chúa chúng ta không dám nhận; hoặc nếu việc nhận quà đem chúng ta vào tình trạng phải chịu ơn người cho, hay đem chúng ta vào tình trạng bị họ điều khiển, chúng ta cũng phải từ chối không nhận quà. Mọi đầy tớ của Đức Chúa Trời không những phải hoàn toàn tin cậy Ngài sẽ cung ứng cho các nhu cầu của mình, mà khi được người ta tặng quà, họ cũng phải nhận biết rõ Đức Chúa Trời có chấp nhận những món quà ấy hay không.

Trong Cựu Ước, tiền phần mười của người Y-sơ-ra-ên được trao cho người Lê-vi. Người Y-sơ-ra-ên dâng hiến cho Đức Chúa Trời, không phải cho người Lê-vi, nhưng người Lê-vi đại diện cho Đức Chúa Trời để nhận của dâng. Ngày nay chúng ta đang đứng ở vị trí của người Lê-vi, những món quà tặng cho chúng ta thật sự là dâng cho Đức Chúa Trời. Chúng ta không nhận quà tặng từ con người nào cả; do đó, chúng ta không chịu ơn ai cả. Nếu ai muốn được biết ơn, người ấy phải tìm điều đó nơi Đức Chúa Trời, vì Đức Chúa Trời là Đấng nhận của dâng. Vì vậy mỗi khi một món quà được trao cho mình, chúng ta cần phải biết rõ Đức Chúa Trời có chấp nhận món quà ấy hay không. Nếu Đức Chúa Trời không nhận, thì chúng ta cũng không dám nhận. Chúng ta không dám nhận quà cách bừa bãi kẻo chúng ta đặt Đức Chúa Trời vào một vị trí sai trật. (Tôi nói điều này cách tôn kính). Có nhiều người sống không đẹp lòng Đức Chúa Trời; làm thế nào Đức Chúa Trời có thể nhận những gì họ dâng hiến? Nếu Ngài không nhận, chúng ta không dám thay mặt Ngài làm điều đó. Chúng ta chỉ nên nhận tiền khi về phần chúng ta không có bổn phận kèm theo, và về phần Đức Chúa Trời không có sự phản ánh sai trật về bản chất của Ngài.

Đôi khi món quà đúng đắn và thái độ của người tặng cũng đúng đắn; nhưng dựa trên sức mạnh của món quà, người tặng có thể nghĩ mình xứng đáng có quyền quyết định trong công tác. Người dâng tiền cho biết rõ mình muốn tiền dâng được dùng cho việc gì là điều rất chính đáng, nhưng người ấy mà quyết định công tác phải thực hiện như thế nào thì không được. Không đầy tớ nào của Đức Chúa Trời được hi sinh sự tự do bước theo sự dẫn dắt thần thượng do vì nhận tiền mà phải đặt mình dưới sự điều khiển của con người. Người dâng hiến hoàn toàn có quyền tự do yêu cầu quà tặng nên được dùng cho việc gì, nhưng ngay khi đã dâng rồi, thì người dâng hiến phải rút tay lại chứ đừng dùng món quà ấy làm phương tiện để gián tiếp điều khiển công tác. Nếu có thể tin cậy một đầy tớ của Đức Chúa Trời, người ấy hãy tin cậy, nếu không thì không cần phải trao tiền cho người đầy tớ ấy.

Trong công việc thế gian, người cung cấp phương tiện được nắm quyền trong lãnh vực mình cống hiến, nhưng trong công tác thuộc linh thì không như vậy. Mọi uy quyền trong công tác đều ở nơi người được Đức Chúa Trời kêu gọi làm công tác ấy. Trong lãnh vực thuộc linh, công tác viên điều khiển tiền bạc, chứ không phải tiền bạc điều khiển công tác viên. Người được Đức Chúa Trời kêu gọi và giao phó công tác là người Đức Chúa Trời sẽ bày tỏ cách thực hiện công tác, người ấy không dám nhận tiền từ những ai muốn dùng quà tặng để xen vào ý muốn của Đức Chúa Trời mà Ngài đã bày tỏ cho mình liên quan đến công tác. Người tặng quà mà thuộc linh thì chúng ta sẽ vui mừng nghe lời khuyên của người ấy, nhưng chúng ta yêu cầu lời khuyên của người ấy hoàn toàn do người ấy thuộc linh chứ không phải do người ấy quà tặng. Nếu người ấy tin cậy chúng ta và biết rõ Chúa hướng dẫn mình tặng quà cho chúng ta, thì chúng ta có thể nhận; nếu không, hãy để người ấy giữ tiền của mình, còn chúng ta tiếp tục công tác của Đức Chúa Trời theo con đường Ngài đã chỉ dẫn, trông đợi một mình Ngài cung ứng cho nhu cầu công tác và nhu cầu cá nhân.

Trong mọi sự phục vụ Đức Chúa Trời, chúng ta phải duy trì thái độ tuyệt đối lệ thuộc vào Ngài. Dầu ngân quỹ dư dật hay thiếu kém, chúng ta hãy bền lòng theo đuổi công tác, nhận biết đó là điều Đức Chúa Trời đã giao phó cho chúng ta, là điều chúng ta phải chịu trách nhiệm trước một mình Ngài. “Tôi tìm cách đẹp lòng người ta chăng? Ví bằng tôi còn làm đẹp lòng người ta, thì tôi chẳng phải là đầy tớ của Christ” (Ga. 1:10). Về phương diện tài chánh của công tác, chúng ta phải tuyệt đối độc lập với con người, nhưng thậm chí trong tình trạng độc lập của mình, chúng ta phải giữ thái độ thật sự khiêm nhường và sẵn sàng chấp nhận lời khuyên từ mọi chi thể của Thân thể là những người tiếp xúc gần gũi với Đầu; và qua họ chúng ta mong nhận được sự xác nhận về sự dẫn dắt mà chúng ta đã nhận lãnh trực tiếp từ Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, chúng ta nghe và nhận lời khuyên từ người khác vì họ thuộc linh chứ không vì vị thế tài chánh của họ. Chúng ta sẵn lòng nghe lời khuyên của chi thể giàu nhất trong Thân thể y như chúng ta sẵn sàng nghe lời khuyên của chi thể nghèo nhất, bất chấp tình trạng giàu hay nghèo của họ. Trong vấn đề tài chánh chúng ta phải giữ lập trường này, ấy là chúng ta chỉ liên hệ đến một mình Đức Chúa Trời. Nguyện sự khoe khoang của Phao-lô cũng là sự khoe khoang của chúng ta!

THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI NGƯỜI NGOẠI BANG

Nguyên tắc là “không nhận gì của người Ngoại bang” (3 Gi. 7). Chúng ta không dám nhận sự hỗ trợ nào cho công tác của Đức Chúa Trời từ những người không biết Ngài. Nếu Đức Chúa Trời không chấp nhận một người, không bao giờ Ngài chấp nhận tiền bạc của người ấy; và chỉ những gì Đức Chúa Trời chấp nhận các đầy tớ Ngài mới dám nhận. Nếu người tham gia phục vụ Đức Chúa Trời nhận tiền từ một người chưa được cứu để phát triển công tác, thì người ấy thật sự làm cho Đức Chúa Trời chịu ơn tội nhân. Chúng ta đừng bao giờ thay mặt Đức Chúa Trời nhận tiền của tội nhân mà trước ngai trắng lớn tội nhân có thể buộc tội Đức Chúa Trời là đã lợi dụng mình. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là chúng ta cần phải khước từ lòng hiếu khách của người ngoại. Nếu trong sự quan phòng của Đức Chúa Trời, khi đến thăm một Mi-lết nào đó, chúng ta có thể chấp nhận sự tiếp đãi của một Búp-li-u thân thiện. Nhưng điều này phải rõ ràng ở dưới sự sắp đặt của Đức Chúa Trời, chứ không phải là điều xảy ra thường xuyên. Nguyên tắc của chúng ta phải luôn luôn là không nhận gì của người ngoại. Khi bắt đầu dùng tiền của họ, công tác của chúng ta sẽ rơi vào tình trạng thảm hại.

CÁC HỘI THÁNH VÀ CÁC CÔNG TÁC VIÊN

Các hội thánh có nên cung cấp cho nhu cầu của công tác viên không? Lời Đức Chúa Trời cho chúng ta câu trả lời rõ ràng. Chúng ta nhận thấy tiền hội thánh thâu được sử dụng theo ba cách khác nhau:

(1) Dành cho những thánh đồ nghèo. Kinh Thánh chú ý nhiều đến những con cái thiếu thốn của Đức Chúa Trời, và một phần lớn tiền dâng hiến tại địa phương được dùng để làm giảm đi nỗi khốn khó của họ.

(2) Dành cho các trưởng lão của hội thánh địa phương. Vì hoàn cảnh các trưởng lão có thể cần phải bỏ công việc bình thường của họ để dâng mình hoàn toàn cho lợi ích của hội thánh, trong trường hợp đó các anh em tại địa phương nên nhận biết mình phải chịu trách nhiệm về nhu cầu tài chánh của họ, và tìm cách ít nhiều bù đắp những gì họ đã hi sinh vì cớ hội thánh (1 Ti. 5:17-18).

(3) Dành cho những anh em công tác và dành cho công tác. Điều này phải được xem như là dâng hiến cho Đức Chúa Trời, chứ không phải là trả lương cho họ.

“Tôi đã vét lấy của các hội thánh khác nhận làm lương hướng để phục sự anh em. Khi tôi ở cùng anh em, gặp phải lúc thiếu thốn, thì không lụy đến ai cả, vì các anh em ở Ma-xê-đoan đến đã bù lại đầy đủ cho sự thiếu thốn của tôi. Không cứ việc gì, tôi đều đã giữ mình cho khỏi lụy đến anh em, tôi lại cũng sẽ cứ giữ mình như vậy luôn” (2 Cô. 11:8-9). “Hỡi người Phi-líp, chính anh em cũng biết rằng lúc khởi đầu Tin lành (hay: Phúc âm), khi tôi lìa Ma-xê-đoan, về việc cung cấp và nhận lãnh, thì ngoài anh em ra chẳng có hội thánh nào khác dự phần với tôi;... Nhưng tôi có mọi sự, và đương dư dật; tôi đầy đủ rồi, vì tôi đã nhận ở nơi Ép-ba-phô-đích của tặng của anh em, là một thức hương có mùi thơm, một tế vật được nhận và đẹp lòng Đức Chúa Trời” (Phil. 4:15, 18). Nơi nào các thành viên của hội thánh mà thuộc linh, thì họ không thể không chăm lo cho lợi ích của Chúa tại những nơi ngoài địa phương mình, và tình yêu của Chúa sẽ thúc giục họ dâng hiến cho các công tác viên và cho công tác. Nếu các thành viên không thuộc linh, có lẽ họ sẽ lý luận rằng vì hội thánh và công tác tách biệt, nên họ không bị ràng buộc với công tác, và họ chịu trách nhiệm về hội thánh là đủ rồi. Nhưng những thành viên thuộc linh sẽ luôn luôn tích cực trong trách nhiệm đối với công tác và công tác viên, và họ không bao giờ trốn tránh trách nhiệm viện cớ là không chính thức chịu trách nhiệm. Họ sẽ xem bổn phận và niềm vui của họ là dâng hiến để đẩy mạnh điều Chúa quan tâm.

Trong các Thư tín có lời khích lệ các hội thánh dâng hiến cho người nghèo và cũng cho các trưởng lão cùng các giáo sư tại địa phương, nhưng không lời nào khích lệ việc dâng hiến cho các sứ đồ và cho công tác họ đảm nhiệm. Lý do rất hiển nhiên. Người viết những Thư tín ấy là các sứ đồ; vì vậy kêu gọi dâng hiến cho chính mình hay công tác của mình là điều không thích đáng, và Chúa cũng không cho phép họ tự do làm điều đó. Họ khích lệ các tín đồ dâng cho người khác là điều chính đáng, nhưng họ chỉ có thể trông đợi Đức Chúa Trời đáp ứng nhu cầu cá nhân và nhu cầu công tác. Đang khi họ chăm lo cho nhu cầu của những người khác, Ngài không bỏ qua nhu cầu của họ, và chính Ngài cảm động lòng các thánh đồ cung cấp mọi điều cần thiết. Vì thế, các công tác viên ngày nay nên làm như các sứ đồ ngày xưa, ấy là chỉ quan tâm đến nhu cầu của người khác, Đức Chúa Trời sẽ xem nhu cầu của họ là của Ngài.

Đây là một lời tuyên bố cao cả và cao thượng mà người anh Phao-lô của chúng ta đã nêu lên với người Phi-líp; ông dám nói với những người hầu như là những người duy nhất giúp đỡ mình rằng: “Nhưng tôi có mọi sự và đương dư dật”. Phao-lô không đưa ra một gợi ý nào về nhu cầu của mình, nhưng giữ vị trí của một đứa con giàu có của một Người Cha giàu có và không sợ làm như vậy mình sẽ không được cung cấp nữa. Thật rất tốt khi các sứ đồ nói với một người vô tín đang ở trongcảnh khốn khó rằng: “Bạc vàng ta chẳng có”, nhưngmột sứ đồ túng thiếu mà nói ra lời ấy với những tínđồ đang sẵn sàng đáp ứng lời kêu gọi giúp đỡ thìkhông được. Thật là một điều hổ thẹn cho Chúa nếumột người đại diện cho Ngài tiết lộ nhu cầu gợi lênlòng thương hại nơi người khác. Nếu có đức tin sốngđộng nơi Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ luôn luôn khoekhoang trong Ngài và dám tuyên bố trong mọi hoàncảnh: “Tôi có mọi sự và đang dư dật”. Không có gì nhỏnhen hay ích kỷ nơi những đầy tớ thật của Đức ChúaTrời; họ đều là những con người vĩ đại. Những dòng sau đây do chị M. E. Barber viết về Thi-thiên 23:5 khi chị đã dùng hết đồng tiền cuối cùng:

Luôn luôn có điều gì tuôn tràn,

Khi chúng ta tin cậy Chúa đầy ân điển của chúng ta;

Ngài làm đầy tràn mỗi chén,

Những dòng sông vĩ đại của Ngài đều mênh mông.

Không điều gì nhỏ hẹp, không điều gì hạn chế,

Mãi mãi tuôn ra từ kho Ngài;

Ngài ban lượng đầy trọn cho những người thuộc vềNgài,

Tràn ra, mãi mãi thêm lên.

Luôn luôn có điều gì tuôn tràn,

Khi từ tay Cha Chúng ta nhận phần của mình với lòng cảm tạ,

Ca ngợi Ngài về con đường Ngài đã hoạch định.

Sự thỏa lòng đầy trọn và sâu xa,

Đầy dẫy hồn và soi sáng đôi mắt,

Khi lòng tin cậy Giê-su

Thỏa đáp mọi nhu cầu của mình.

Luôn luôn có điều gì tuôn tràn,

Khi chúng ta nói về trọn cả tình yêu của Ngài;

Những vực sâu chưa dò thấu vẫn nằm bên dưới chúng ta,

Những nơi cao chưa ai đặt chân vẫn ở trên cao.

Môi miệng loài người không bao giờ có thể

Diễn tả hết lòng nhân từ kỳ diệu của Ngài.

Chúng ta chỉ có thể ngợi khen và ngạc nhiên

Và chúc tụng Danh Ngài mãi mãi.

Là những người đại diện cho Đức Chúa Trời trên thế gian này, chúng ta ở đây để chứng minh sự thành tín của Ngài; vì vậy, trong vấn đề tài chánh, trước hết chúng ta phải hoàn toàn độc lập với con người và hoàn toàn lệ thuộc vào Đức Chúa Trời. Thái độ, lời nói và hành động của chúng ta đều phải nói lên rằng chỉ một mình Ngài là nguồn cung ứng của chúng ta. Nếu tại đây có nhược điểm gì, Ngài sẽ bị cướp đi vinh quang Ngài đáng phải có. Là đầy tớ của Đức Chúa Trời, chúng ta phải bày tỏ nguồn cung ứng dư dật của Đức Chúa Trời mình. Chúng ta không được sợ tỏ ra giàu có trước mặt loài người. Đừng bao giờ thiếu trung thực, nhưng thái độ ấy hoàn toàn phù hợp với tính chân thật. Chúng ta hãy giữ bí mật về nhu cầu tài chánh của mình, cho dầu sự bí mật của chúng ta dẫn người ta đến chỗ kết luận là chúng ta giàu có trong khi chúng ta không có gì cả. Đấng thấy trong nơi ẩn mật sẽ ghi nhận mọi nhu cầu của chúng ta và sẽ cung ứng, không phải một cách ít ỏi, nhưng “y theo sự giàu có của Ngài ở nơi vinh hiển trong Christ Giê-su” (Phil. 4:19). Chúng ta dám làm cho sự việc trở nên khó khăn cho Đức Chúa Trời, vì Ngài không cần chúng ta giúp đỡ để thực hiện các phép lạ của Ngài.

Qua việc nghiên cứu Lời Đức Chúa Trời chúng tôi lưu ý hai điều liên quan đến thái độ của con cái Ngài đối với vấn đề tài chánh. Một mặt, các công tác viên phải thận trọng không tiết lộ nhu cầu của mình với ai ngoại trừ Đức Chúa Trời; mặt khác, các hội thánh nên trung tín nhớ đến nhu cầu của các công tác viên lẫn nhu cầu của công tác; không những họ nên gửi quà cho người đang công tác trong vùng lân cận của họ, hoặc cho những người được kêu gọi từ giữa vòng họ, nhưng như người Phi-líp và người Ma-xê-đoan, họ cũng nên thường xuyên cung cấp cho một Phao-lô ở xa. Tầm nhìn của các hội thánh phải được mở rộng thêm hơn. Phương cách hiện nay là một hội thánh hỗ trợ cho “mục sư” của mình hay giáo sĩ của mình là điều không được biết đến vào thời các sứ đồ. Với phương tiện hiện nay để chuyển tiền đến những nơi xa xôi, nếu con cái Đức Chúa Trời chỉ cung cấp cho nhu cầu vật chất của những người ở tại địa phương mình, chắc chắn họ thiếu sự sáng suốt thuộc linh và thiếu tấm lòng rộng mở. Về phần các công tác viên, họ không được trông mong gì nơi loài người; về phần các hội thánh, các hội thánh phải trung tín nhớ đến công tác và các công tác viên ở quê nhà lẫn hải ngoại. Điều thiết yếu cho sự sống thuộc linh của các hội thánh là họ phải quan tâm cách thiết thực đến công tác. Đức Chúa Trời không dùng một công tác viên thiếu đức tin, Ngài cũng không dùng một hội thánh thiếu yêu thương.

Sự khác biệt giữa hội thánh và công tác phải được định rõ trong tâm trí của công tác viên, đặc biệt về những vấn đề tài chánh. Nếu một công tác viên đến thăm một nơi nào đó ít lâu theo lời mời của hội thánh, công tác viên ấy nhận sự tiếp đãi của hội thánh là chính đáng. Nhưng nếu công tác viên ấy ở lại một thời gian không rõ là bao lâu, người ấy nên mang gánh nặng một mình trước mặt Đức Chúa Trời; nếu không, đức tin người ấy nơi Đức Chúa Trời sẽ suy yếu. Thậm chí nếu một anh em tự nguyện tiếp đãi miễn phí, công tác viên vẫn nên từ chối vì đời sống đức tin phải được gìn giữ cách cẩn thận. Các anh em thỉnh thoảng gửi quà tặng cho các công tác viên là điều đúng đắn, như người Phi-líp gửi cho Phao-lô, nhưng họ không phải chịu trách nhiệm về người nào. Các hội thánh không có bổn phận chính thức gì đối với các công tác viên, và các công tác viên phải đảm bảo chắc chắn là các hội thánh không có bổn phận ấy. Đức Chúa Trời cho phép chúng ta nhận quà, nhưng để người khác chịu trách nhiệm về chúng ta thì không phải là ý muốn của Ngài. Các anh em trong Chúa có thể gửi cho các công tác viên những món quà yêu thương, nhưng không người tín đồ nào được tự cho là mình chính thức chịu trách nhiệm về họ. Không những các hội thánh không chính thức chịu trách nhiệm về các công tác viên mà thậm chí họ cũng không chịu trách nhiệm về chi phí ăn ở hay lộ phí của họ. Toàn bộ trách nhiệm về tài chánh của công tác ở nơi những người Đức Chúa Trời đã giao phó công tác.

“Chúng tôi chẳng xử bất công với ai, chẳng làm bại hoại ai, chẳng nhũng lạm ai” (2 Cô. 7:2). “Tôi sẽ chẳng làm lụy cho anh em đâu” (2 Cô. 12:14). “Vì chúng tôi không khi nào dùng lời dua nịnh như anh em đã biết, cũng chẳng tạ từ để che đậy sự tham lam, có Đức Chúa Trời làm chứng cho” (1 Tê. 2:5). “Cũng chẳng từng ăn dưng của ai, nhưng chịu công lao khó nhọc mà làm lụng cả ngày lẫn đêm để không lụy đến ai trong anh em hết” (2 Tê. 3:8). Qua những câu trên chúng ta thấy rõ thái độ của vị sứ đồ. Ông không muốn áp đặt gánh nặng nào trên người khác và hoàn toàn không lợi dụng họ. Điều này cũng phải là thái độ của chúng ta. Không những chúng ta không nhận tiền lương, mà còn phải cẩn thận không lợi dụng anh em mình chút nào. Các sứ đồ phải sẵn sàng chịu bị lợi dụng, nhưng đừng bao giờ lợi dụng ai. Thật là đáng xấu hổ khi xưng mình tin cậy Đức Chúa Trời nhưng lại đóng vai một người nghèo túng, tiết lộ nhu cầu của mình và gợi lòng thương hại của người khác. Đầy tớ nào của Đức Chúa Trời mà thật sự nhìn thấy vinh quang của Đức Chúa Trời và địa vị vinh hiển của mình với tư cách là người làm việc cho Ngài thì có thể không lệ thuộc vào ai, và được tự do. Chúng ta chỉ đúng đắn khi hưởng sự tiếp đãi của anh em mình ít lâu mà thôi, nhưng phải nghiêm ngặt đề phòng kẻo mình lợi dụng họ trong những điều nhỏ nhặt chẳng hạn như ở lại một đêm, ăn một bữa bất thường hoặc dùng đèn hay than, hoặc sử dụng các vật dụng trong nhà, hay thậm chí đọc một tờ nhật báo. Không điều gì dễ bày tỏ tính nhỏ mọn cho bằng lợi dụng những điều lặt vặt. Nếu không cẩn thận trong những vấn đề ấy, chúng ta sẽ buông trôi nhiệm vụ của mình.

Mọi chuyển động của công tác viên đều ảnh hưởng lớn đến công tác, và trừ khi chúng ta tin cậy Đức Chúa Trời cách sống động, mức thu nhập sắp đến rất có thể quyết định hoạt động của chúng ta. Tiền bạc có quyền lực lớn ảnh hưởng đến con người, nếu không có đức tin thật nơi Đức Chúa Trời và thực lòng muốn thực hiện ý muốn của Ngài, chúng ta có khuynh hướng bị tình trạng ngân quỹ lên xuống ảnh hưởng mình. Nếu những hoạt động của chúng ta bị sự tài trợ chi phối, thì chúng ta là những người làm thuê, làm việc để lãnh lương, hoặc những hành khất tìm của bố thí và là sự ô nhục cho danh Chúa. Chúng ta đừng bao giờ đi đến một nơi vì làm việc tại đó sẽ có triển vọng đầy hứa hẹn về mặt tài chánh, cũng đừng từ chối đi đến một nơi vì viễn cảnh tài chánh đen tối. Trong mọi chuyển động của mình, chúng ta phải tự hỏi: Tôi có ở trong ý muốn của Đức Chúa Trời không? Tôi có bị những suy xét về tài chánh ảnh hưởng mình chút nào không? Chúng ta ra đi để phục vụ Chúa, chứ không phải để kiếm sống.

CÔNG TÁC VIÊN VÀ CÔNG TÁC CỦA HỌ

Chúng ta cần thấy rõ rằng không những chúng ta phải chịu trách nhiệm về những nhu cầu cá nhân, mà còn phải chịu trách nhiệm về những nhu cầu công tác nữa. Nếu Đức Chúa Trời kêu gọi chúng ta làm một công tác nào đó, thì mọi kinh phí liên quan đến công tác là việc của chúng ta. Dầu đi đến bất cứ nơi nào, chúng ta cũng phải chịu trách nhiệm về mọi chi phí liên quan đến chuyến đi, từ lúc khởi đầu cho tới khi kết thúc. Nếu được Đức Chúa Trời kêu gọi làm công tác tiên phong, dầu tiền thuê nhà cửa, bàn ghế, lộ phí có thể lên cao, một mình chúng ta phải cáng đáng. Ai không thể chịu trách nhiệm về nhu cầu của chính mình và nhu cầu của công tác mà Đức Chúa Trời đã kêu gọi mình làm thì không xứng đáng được gọi là đầy tớ của Đức Chúa Trời. Không phải hội thánh địa phương, mà là người đã được giao phó công tác phải mang mọi gánh nặng tài chánh liên quan đến công tác.

Một điểm khác chúng ta cần chú ý là phải phân biệt rõ giữa quà tặng dành cho cá nhân sử dụng và quà tặng dành cho công tác. Đề cập đến việc công tác viên không nên dùng tiền dành cho công tác để đáp ứng nhu cầu cá nhân dường như là thừa, nhưng chúng ta cần nhấn mạnh đến vấn đề này. Số tiền ấy phải được dùng để thanh toán các chi phí liên quan đến công tác, hoặc gửi cho một công tác viên khác. Chúng ta phải học tập công chính trong mọi vấn đề liên quan đến tiền bạc. Nếu công tác bị thiếu thốn, công tác viên phải mang gánh nặng ấy, nếu được dư dật, công tác viên không thể dùng số tiền dư cho nhu cầu của mình.

Khi mới bắt đầu phục vụ Chúa, tôi đọc thấy một sự kiện xảy ra trong đời sống Hudson Taylor và được giúp ích rất nhiều. Nếu tôi nhớ không lầm thì đây là điểm chính: Ông Taylor đang ở tại St. Louis, nước Mỹ, và dự định đến Spring field để nhóm họp. Chuyến xe ngựa chở ông đến nhà ga bị trễ, vì vậy khi ông đến đó tàu lửa đã chạy rồi và dường như không còn cách nào để ông giữ đúng hẹn. Nhưng quay sang tiến sĩ J. H. Brookes, ông nói: “Cha tôi điều khiển các chuyến tàu lửa; tôi sẽ đến đó đúng giờ”. Khi hỏi nhân viên hỏa xa, họ tìm được một chuyến tàu lửa lìa St. Louis đi một hướng khác và sẽ đi ngang đường dẫn đến Spring field; nhưng chuyến tàu lửa chạy đến Spring field luôn luôn chạy mười phút trước khi chuyến tàu từ St. Louis đến vì chúng chạy ngược chiều nhau. Không một chút do dự, ông Taylor nói ông muốn đi cách ấy, mặc dầu nhân viên hỏa xa nói rằng ông không thể chuyển tàu tại đó. Đang khi chờ đợi, một người đàn ông lịch thiệp đến nhà ga và trao cho ông một số tiền. Ông quay sang nói với tiến sĩ Brookes: “Anh thấy không, Cha tôi vừa mới gửi tiền vé tàu lửa cho tôi!” Ông có ý nói rằng dầu đến đúng giờ để đi chuyến tàu đã khởi hành, ông vẫn không thể lên tàu. Tiến sĩ Brookes kinh ngạc. Ông biết ông Taylor có khá nhiều tiền trong tay, là số tiền được tặng cho ông để lo cho công tác của ông tại Trung Quốc, nên tiến sĩ Brookes hỏi: “Ông có ý gì khi nói ông không có tiền mua vé?” Ông Taylor đáp: “Tôi không bao giờ dùng bất cứ điều gì dành cho công tác để chi phí cho cá nhân tôi. Số tiền để tôi sử dụng cho riêng mình vừa mới đến!” Hầu như đó là lần đầu tiên trong lịch sử của tuyến đường ấy, chuyến tàu St. Louis đến trước chuyến tàu kia và ông Taylor đã có thể giữ đúng hẹn tại Spring field!

BÀY TỎ NHU CẦU CỦA MÌNH

Như chúng tôi đã nói, một sứ đồ có thể khích lệ con cái Đức Chúa Trời nhớ đến nhu cầu của các thánh đồ và của các trưởng lão, nhưng không thể nhắc đến nhu cầu của chính mình hay nhu cầu của công tác. Sứ đồ ấy chỉ nên hướng sự quan tâm của hội thánh đến sự thiếu thốn của những người khác, và Đức Chúa Trời sẽ khiến những người khác quan tâm đến nhu cầu của người ấy. Người ấy hãy quan tâm đến nhu cầu của các thánh đồ và trưởng lão, và Đức Chúa Trời sẽ dùng các thánh đồ và trưởng lão làm cho các hội thánh chú ý đến nhu cầu của sứ đồ ấy.

Chúng ta phải tuyệt đôi tránh tuyên truyền công tác. Với lòng hoàn toàn thành thật chúng ta phải tin cậy Đức Chúa Trời và bày tỏ nhu cầu của mình cho một mình Đức Chúa Trời biết mà thôi. Nếu Chúa dẫn dắt, để bày tỏ vinh quang của Ngài chúng ta có thể thuật lại những gì Ngài đã làm qua chúng ta. (Xin xem Công. 14:27; 15:3-4). Nhưng chúng ta không được thực hiện điều gì theo cách quảng cáo, với hi vọng nhận được sự giúp đỡ về vật chất. Đó là điều làm buồn lòng Đức Chúa Trời và gây tổn hại cho chính chúng ta. Nếu đức tin của chúng ta bị suy yếu đối với vấn đề tài chánh, thì khi đức tin của chúng ta bị thử nghiệm qua những khó khăn liên quan đến công tác, chúng ta sẽ thấy đức tin ấy còn thiếu sót. Ngoài ra, nếu chúng ta biết chút gì về quyền năng của thập tự giá xử lý sự sống bản ngã, thì làm sao chúng ta lại có thể nhờ đến việc tuyên truyền công tác của mình, vì đó là lấy nhiều điều ra khỏi bàn tay của Đức Chúa Trời, và thực hiện chúng bằng sức riêng?

Tôi biết những công tác được khởi đầu trên nền tảng đức tin thuần khiết và được Chúa ban phước. Rồi ít lâu sau các công tác viên cảm thấy cần mở rộng công tác, và họ thật sự mở rộng công tác vượt quá mức thu nhập bình thường của mình. Kết cuộc họ phải nhờ đến sự quảng cáo gián tiếp để trang trải mọi phí tổn. Chúng ta hãy cẩn thận trong việc tự mở rộng công tác, vì nếu sự mở rộng ấy ra từ loài người thì chúng ta sẽ phải dùng đến những phương pháp của loài người để đáp ứng những đòi hỏi mới. Nếu Đức Chúa Trời thấy công tác cần mở rộng, chính Ngài sẽ mở rộng, và nếu Ngài mở rộng, Ngài sẽ chịu trách nhiệm đáp ứng những nhu cầu gia tăng. Vì dùng các phương pháp loài người để mở rộng công tác, nên người ta phải nghĩ ra những phương tiện của loài người để đáp ứng những đòi hỏi mới; cho nên họ dùng đến quảng cáo và tuyên truyền để giải quyết nan đề. Những thông báo, báo cáo, tạp chí quảng bá, người đại diện công tác, nhân viên đặc biệt và những trung tâm thương mại đặc biệt là những phương tiện được các công tác viên Cơ Đốc sử dụng nhiều để gia tăng ngân quỹ cho công tác. Người ta không muốn để Đức Chúa Trời mở rộng công tác theo thời điểm của Ngài và vì người ta không thể kiên nhẫn chờ đợi sự phát triển tự phát, nhưng thúc đẩy sự phát triển giả tạo, nên họ phải nhờ đến hoạt động thiên nhiên để đáp ứng những nhu cầu của sự phát triển ấy. Họ thúc đẩy sự phát triển, cho nên họ phải nghĩ ra những phương cách và phương tiện để gia tăng sự cung ứng. Sự phát triển tự phát của công tác Đức Chúa Trời không cần đến hoạt động của bản chất con người, vì Đức Chúa Trời đáp ứng mọi đòi hỏi do Ngài tạo nên.

Việc quảng cáo đã phát triển thành một nghệ thuật tinh xảo trong thời đại này, nhưng nếu phải theo gương các thương gia sử dụng những phương pháp quảng cáo hiện đại để làm cho công tác của mình thành công, thì chúng ta hãy từ bỏ chức vụ và thay đổi sự kêu gọi của mình. Sự khôn ngoan của thế gian tuyên bố “cứu cánh biện minh cho phương tiện”, nhưng trong lãnh vực thuộc linh thì không phải như vậy. Cứu cánh của chúng ta phải thuộc linh, và phương tiện của chúng ta cũng phải thuộc linh. Thập tự giá không chỉ là một biểu tượng, mà là một sự thật và nguyên tắc chi phối toàn bộ công tác của Đức Chúa Trời.

Chúng ta phải để cho Thánh Linh ngăn cản mình khi Ngài muốn, và đừng tìm cách thúc đẩy công việc tiến tới bằng cách dùng bàn tay loài người chạm đến công tác thần thượng. Chúng ta không cần nghĩ ra những phương cách để người ta chú ý đến công tác của mình. Trong sự tể trị và quan phòng của Ngài, Đức Chúa Trời thừa sức gánh vác mọi trách nhiệm. Nếu Ngài cảm động người ta giúp đỡ chúng ta, thì mọi sự sẽ tốt đẹp, nhưng nếu tự chúng ta tìm cách làm cho họ cảm động thì cả chúng ta lẫn công tác đều sẽ bị thiệt hại. Nếu thật sự tin Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ hoàn toàn phó thác vấn đề vào tay Ngài.

Chúng ta đều tin cậy Đức Chúa Trời chăm sóc cuộc sống mình, nhưng tại sao cần phải bày tỏ điều đó ra? Tôi cảm thấy khó chịu khi nghe các đầy tớ của Đức Chúa Trời nhấn mạnh đến sự kiện họ sống bởi đức tin. Chúng ta có thật sự tin cậy quyền tể trị và sự quan phòng của Đức Chúa Trời không? Nếu có, chắc chắn chúng ta có thể tin rằng Ngài sẽ bày tỏ nhu cầu của chúng ta cho các thánh đồ của Ngài, và điều khiển mọi sự để nhu cầu của chúng ta được đáp ứng mà không cần chúng ta phải cố gắng bày tỏ cho ai biết. Thậm chí nếu qua lối sống của chúng ta, người ta kết luận rằng chúng ta có thu nhập riêng, và do đó họ giữ lại quà tặng, thì chúng ta cũng đừng bận tâm. Tôi muốn khuyên những anh em trẻ tuổi trong chức vụ đừng đề cập đến những nhu cầu cá nhân của mình hay đức tin của mình nơi Đức Chúa Trời để có thể minh chứng về Ngài cách tốt hơn. Càng có đức tin, người ta càng ít nói về đức tin.

GIỮA VÒNG CÁC ĐỒNG CÔNG

Trong Cựu Ước chúng ta đọc thấy dầu người Lê-vi đại diện cho Đức Chúa Trời để nhận phần mười từ mọi người trong dân Ngài, nhưng chính họ cũng dâng phần mười cho Ngài. Đầy tớ của Chúa nên học tập ban cho cũng như nhận lãnh. Chúng ta ngợi khen Đức Chúa Trời vì các công tác viên trong những ngày qua đã dâng hiến cách rộng rãi cho các đồng lao của mình, nhưng chúng ta vẫn cần quan tâm hơn nữa đến nhu cầu vật chất của mọi anh em mình trong công tác. Chúng ta phải nhớ lời của Phao-lô: “Hai bàn tay nầy đã tự cung cấp sự cần dùng của tôi và của đồng bạn tôi” (Công. 20:34). Chúng ta không được chỉ hi vọng có đầy đủ để chi tiêu cho chính bản thân và công tác của mình, mà phải trông đợi Đức Chúa Trời cung ứng đủ cho chúng ta để chúng ta giúp đỡ những người khác nữa. Nếu chỉ bận tâm đến nhu cầu bản thân và nhu cầu công tác của mình, mà quên đi nhu cầu của các bạn đồng công, thì mức độ sự sống thuộc linh của chúng ta quá thấp. Như Phao-lô, chúng ta phải thường xuyên nghĩ đến những người ở với mình và giúp cung ứng cho nhu cầu của họ. Giữa vòng chúng ta nếu người nào chỉ nhận lãnh mà không ban cho, thì người ấy không xứng đáng với Đấng đã sai mình đi và với những người đồng lao khổ với mình.

Phạm vi suy nghĩ của chúng ta trong vấn đề nhu cầu vật chất phải luôn luôn dựa trên cơ sở “sự cần dùng của tôi và của đồng bạn tôi”. Tiền bạc Đức Chúa Trời gửi cho tôi không chỉ dành cho tôi, nhưng cũng dành cho những người ở với tôi. Một anh em từng gợi ý rằng Đức Chúa Trời chắc chắn sẽ cung cấp cho nhu cầu của tất cả các đồng công của chúng ta, cho nên chúng ta không cần phải quá lo lắng cho họ, đặc biệt vì chúng ta không phải là một hội truyền giáo và không có trách nhiệm đối với họ về mặt tài chánh. Nhưng anh em ấy quên rằng không những chúng ta chịu trách nhiệm về nhu cầu cá nhân và nhu cầu công tác của mình, mà như Phao-lô, theo cách thuộc linh chúng ta cũng chịu trách nhiệm về những người ở với mình nữa. Mức độ chúng ta quan tâm đến các anh em của mình trong công tác chứng tỏ chúng ta có phải là đồng công tốt hay không.

Vì chúng ta không phải là hội truyền giáo, không có tổ chức nhân tạo, không có trung ương, không có sự tập trung ngân quỹ và do đó không có trung tâm phân phối, làm thế nào mọi nhu cầu của các đồng công được cung ứng? Các anh em quan tâm đã nhiều lần hỏi tôi câu hỏi này. Câu trả lời là: mọi nhu cầu đều được đáp ứng nếu mỗi người nhận biết trách nhiệm ba mặt của mình – trước hết, về nhu cầu bản thân và gia đình; thứ hai, về nhu cầu công tác của mình; và thứ ba, về nhu cầu của các anh em đồng công. Chúng ta không nên chỉ trông đợi Đức Chúa Trời cung ứng cho nhu cầu cá nhân và mọi nhu cầu công tác của mình, mà chúng ta cũng phải trông đợi Ngài cung ứng ngân quĩ thêm nữa cách rõ rệt y như vậy để chúng ta có thể cung ứng cho những người cộng tác với mình. Dĩ nhiên chúng ta không chính thức chịu trách nhiệm về họ, nhưng chúng ta không thể bỏ lơ trách nhiệm thuộc linh của mình.

Nhu cầu của các công tác viên thay đổi, và nhu cầu của công tác cũng thay đổi; ngoài ra, quyền năng cầu nguyện nơi những cá nhân cũng khác nhau, và lượng đức tin cũng khác nữa. Vì vậy, mức thu nhập của chúng ta sẽ không giống nhau; nhưng mỗi người trong chúng ta phải vận dụng đức tin cách cụ thể để ngân quỹ được cung ứng đầy đủ hầu có thể phân phối cho nhu cầu của người khác. Lượng chúng ta nhận lãnh và ban cho có thể khác nhau, nhưng một nguyên tắc chung áp dụng cho tất cả chúng ta. Công tác trên nền tảng như vậy sẽ không cần đến trung ương; vì mỗi người trong chúng ta hành động như một loại trung ương và trung tâm điều phối. Dĩ nhiên điều đó không có nghĩa là chúng ta phải gửi cho tất cả những người cộng tác với mình một phần bằng nhau; đó là vấn đề [Chúa] dẫn dắt mỗi cá nhân. Chúng ta tin cậy nơi sự tể trị và sự quan phòng của Đức Chúa Trời và chúng ta để Ngài điều chỉnh việc chuyển các quà tặng để không ai dư dật và không ai bị bỏ trong tình trạng thiếu thốn. Nếu được Đức Chúa Trời dẫn dắt gửi tiền thường xuyên cho một công tác viên nào đó, chúng ta có thể gửi qua anh em này lần này và qua anh em khác lần khác thì tốt, để người nhận ít chú ý đến người cho.

Nguyên tắc quản trị của Đức Chúa Trời liên quan đến vấn đề tài chánh là “Kẻ đã thâu nhiều cũng chẳng dư, kẻ thâu ít cũng chẳng thiếu” (2 Cô. 8:15). Người nào thâu nhiều phải bằng lòng không có gì dư, vì chỉ khi ấy người thâu ít mới không thiếu. Một số người trong chúng ta đã chứng minh bằng kinh nghiệm rằng khi chúng ta mang gánh nặng thay cho những người thâu ít, Đức Chúa Trời biết điều đó và chúng ta sẽ thâu nhiều; nhưng nếu chúng ta chỉ nghĩ đến nhu cầu của mình, thì cùng lắm là chúng ta có thể hi vọng thâu ít và không bị thiếu thốn. Có khả năng giúp đỡ anh em mình trong công tác và cho đi thậm chí hơn phân nửa lợi tức của mình là một đặc quyền. Những người chỉ biết nhận thì ít khi được nhận; còn những người biết cho thì luôn luôn nhận lãnh và luôn luôn có thêm để cho. Càng tiêu tiền cho người khác, mức thu nhập của anh em càng gia tăng; càng tìm cách để dành, anh em càng buồn phiền vì rỉ sét và trộm cướp (Mat. 6:19-20).

Chúng ta không nên chỉ giúp đỡ những người trực tiếp hợp tác với mình, mà phải nhớ đến các công tác viên ở những nơi khác và tìm cách cung ứng cho nhu cầu của họ. Chúng ta phải thường xuyên nghĩ đến các công tác viên khác và nhu cầu của họ trước khi nghĩ đến những anh em mà chúng ta đang công tác giữa vòng họ, và khích lệ những anh em ở gần giúp đỡ những anh em ở xa; đừng bao giờ sợ rằng Đức Chúa Trời sẽ ban phước cho các công tác viên khác nhiều hơn mình. Chúng ta đừng nhường chỗ cho sự sợ hãi hay ganh tị. Chúng ta có thật sự tin vào sự tể trị của Đức Chúa Trời không? Nếu có, chúng ta sẽ không bao giờ sợ điều gì Đức Chúa Trời dự định cho mình sẽ không đến được với mình. Nhu cầu của Phao-lô và các đồng công rất lớn, và mặc dầu ông chỉ nêu lên với các hội thánh nhu cầu của các thánh đồ và các trưởng lão, Đức Chúa Trời vẫn chăm lo cho nhu cầu của ông và nhu cầu của những người ở với ông.

Nếu công tác của anh em muốn được tiến hành theo chiều hướng làm đẹp lòng Đức Chúa Trời, thì điều tuyệt đối cần thiết là quyền tể trị của Ngài phải là yếu tố vận hành trong kinh nghiệm của anh em, chứ không chỉ là lý thuyết suông. Khi anh em biết quyền tể trị của Ngài, thì dầu dường như người ta chuyển động quanh mình cách tình cờ và hoàn cảnh dường như quay cuồng cách ngẫu nhiên, anh em vẫn tin chắc rằng Đức Chúa Trời đang sắp đặt từng chi tiết trên con đường của mình vì vinh quang của Ngài và để anh em được ích lợi. Nhu cầu của người khác được người ta biết đến trong khi không ai biết hay thậm chí không ai quan tâm đến sự thiếu thốn của anh em, nhưng anh em sẽ không lo lắng nếu quyền tể trị của Đức Chúa Trời là một thực tại đối với mình; vì khi ấy anh em sẽ thấy rằng mọi hoàn cảnh lộn xộn, mọi người bàng quan và thậm chí mọi đạo quân gian ác chống đối đều được thầm lặng khai thác cho ý muốn của Ngài; và mọi lực lượng không liên hệ với nhau ấy sẽ trở nên liên hệ với nhau thành một mối để phục vụ cho mục đích của Ngài, và phục vụ cho mục đích của những người có cùng một ý muốn với Ngài. Phải, “Chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ thương yêu Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo chỉ định của Ngài” (La. 8:28).

Như vậy vấn đề không phải là nhu cầu của chúng ta nhỏ hay lớn, hoặc người ta biết hay không biết nhu cầu của chúng ta, mà đơn giản là chúng ta có ở trong ý muốn của Đức Chúa Trời hay không. Đức tin của chúng ta có thể bị thử nghiệm và lòng kiên nhẫn của chúng ta cũng vậy, nhưng nếu muốn phó thác mọi sự vào tay Đức Chúa Trời và yên lặng trông đợi Ngài, thì chắc chắn chúng ta sẽ thấy những sự việc xảy ra đúng thời điểm và những hoàn cảnh ăn khớp với nhau cách tốt đẹp, và từ tình trạng rối rắm vô lý ấy chúng ta sẽ thấy sự tương hợp hoàn hảo giữa nhu cầu của chúng ta và sự cung ứng.

TẠI SAO KHÔNG LÀ MỘT HỘI TRUYỀN GIÁO ĐỨC TIN?

Một số người hỏi: “Vì các anh tin rằng tất cả những đầy tớ của Đức Chúa Trời phải tin cậy Ngài sẽ đáp ứng cho nhu cầu hằng ngày của mình và vì các anh có một đoàn đồng công lớn, tại sao các anh không trở thành một hội truyền giáo đức tin có tổ chức?”

Có hai lý do: thứ nhất, trong Lời Đức Chúa Trời, mọi mối liên hệ của các công tác viên đều dựa trên nền tảng thuộc linh, chứ không dựa trên nền tảng hành chánh. Ngay khi anh em có một tổ chức hành chánh, thì anh em đổi mối quan hệ thuộc linh giữa các đồng công thành mối liên hệ hành chánh. Thứ hai, đức tin phụ thuộc vào một mình Đức Chúa Trời để đáp ứng mọi nhu cầu vật chất trong một tổ chức thì không sống động bằng đức tin trong những cá nhân liên hệ với nhau trong mối tương giao thuộc linh. Tin cậy Đức Chúa Trời với tư cách là một hội truyền giáo thì dễ hơn nhiều so với tin cậy Ngài với tư cách là một cá nhân. Trong Kinh Thánh chúng ta thấy đức tin cá nhân, nhưng không thấy đức tin của tổ chức. Một tổ chức đương nhiên có phần thu nhập, và mỗi thành viên chắc chắn sẽ nhận được một phần dầu có vận dụng đức tin hay không. Điều này mở đường cho những người không có đức tin sống động nơi Đức Chúa Trời gia nhập hội truyền giáo. Trong trường hợp những người có đức tin gia nhập hội truyền giáo, rất có thể lòng tin cậy của cá nhân họ nơi Chúa yếu dần do thiếu vận dụng [đức tin], vì dầu có vận dụng đức tin hay không, mỗi thành viên của hội truyền giáo vẫn khá thường xuyên nhận được sự cung ứng. Rất dễ mất đức tin nơi Đức Chúa Trời và chỉ tin cậy một tổ chức. Những ai biết sự yếu đuối của xác thịt đều nhận biết chúng ta dễ có khuynh hướng nương cậy điều gì đó và người nào đó ngoài Đức Chúa Trời. Chờ đợi hội truyền giáo chuyển tiền thì dễ hơn chờ đợi chim quạ từ trời rất nhiều. Anh em yêu dấu, sự thật có phải như vậy không? Nếu tôi nói điều gì không đúng, xin Đức Chúa Trời và loài người tha thứ cho tôi.

Vì chúng ta có khuynh hướng nhìn vào sô nước và quên đi nguồn nước, nên Đức Chúa Trời thường thay đổi phương tiện cung ứng của Ngài để giữ cho mắt chúng ta nhìn chăm vào nguồn. Cho nên các từng trời từng ban mưa rào mà chúng ta tiếp nhận cách vui thích trở nên như đồng, những dòng suối làm chúng ta tươi mát bị để cho cạn khô và chim quạ đem thức ăn hằng ngày không còn đến thăm chúng ta nữa; nhưng khi ấy Đức Chúa Trời làm chúng ta ngạc nhiên bằng cách đáp ứng nhu cầu của chúng ta qua một góa phụ nghèo nàn, nhờ đó chúng ta minh chứng nguồn tài trợ lạ lùng của Đức Chúa Trời. Đức tin của tổ chức không kích thích sự tin cậy của cá nhân nơi Đức Chúa Trời, và sự tin cậy ấy là điều Ngài muốn phát triển.

Tôi biết rằng trong một cơ chế có tổ chức, nhiều nan đề sẽ tự động biến mất. Nói về phương diện loài người, cơ chế này bảo đảm một mức thu nhập lớn hơn nhiều, vì nhiều con cái Đức Chúa Trời thích dâng hiến cho tổ chức hơn là cho các cá nhân. Ngoài ra, công tác có tổ chức được con cái Đức Chúa Trời chú ý đến hơn là công tác không có tổ chức. Nhưng những câu hỏi này liên tục thách thức chúng ta: Anh em có thật sự tin Đức Chúa Trời không? Những nguyên tắc của Kinh Thánh phải bị hi sinh cho sự tiện lợi sao? Anh em có thật sự muốn điều tốt nhất của Đức Chúa Trời với mọi khó khăn kèm theo không? Chúng ta muốn điều ấy, cho nên mới không có sự lựa chọn nào khác hơn là công tác trên nền tảng Thân thể Đấng Christ trong sự liên kết thuộc linh với tất cả những ai đứng trên cùng một nền tảng ấy.

Nhưng chúng ta muốn nêu rõ rằng chúng ta tuy không phải là một hội truyền giáo, nhưng chúng ta không chống đối các hội truyền giáo. Lời chứng của chúng ta có tính cách tích cực, chứ không tiêu cực. Chúng ta tin rằng trong Lời Đức Chúa Trời các nhóm người được sai đi liên kết trong công tác đều đứng trên nền tảng của Thân thể, và không nhóm nào được tổ chức thành hội truyền giáo. Dầu vậy nếu người nào cảm thấy mình được Đức Chúa Trời dẫn dắt để hình thành một tổ chức như vậy, chúng ta không chống đối. Chúng ta chỉ nói: Nguyện Đức Chúa Trời ban phước cho họ! Về phần mình, chúng ta mà lập hội truyền giáo vì những con cái khác của Đức Chúa Trời làm như vậy thì chúng ta sai trật, bởi vì chúng ta không tìm thấy lý lẽ nào trong Kinh Thánh ủng hộ cho điều đó và không được Linh dẫn dắt theo hướng ấy. Nhưng dù chúng ta công tác trong một sự tương giao với mọi mối liên hệ chỉ mang tính cách thuộc linh, hay trong một tổ chức với mọi mối liên hệ có tính cách hành chánh, nguyện Đức Chúa Trời làm cho chúng ta tuyệt đối hiệp một trong một điều là chúng ta không tìm cách gia tăng hay mở rộng đoàn công tác của mình, mà có mục tiêu duy nhất là chuyên công tác để thành lập và xây dựng các hội thánh địa phương.