Thông tin sách

Nếp Sống Hội Thánh Cơ Đốc Bình Thường

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Nếp sống Hội thánh Cơ đốc bình thường
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 7

Untitled Document

CHƯƠNG BẢY

GIỮA VÒNG CÁC CÔNG TÁC VIÊN

Các hội thánh trong Kinh Thánh hoàn toàn có tính cách địa phương. Chúng ta không bao giờ tìm thấy hội liên hiệp các hội thánh trong Kinh Thánh; tất cả các hội thánh ấy đều là những đơn vị độc lập. Đối với các công tác viên thì hoàn toàn khác. Giữa các công tác viên chúng ta thấy họ ít nhiều gắn bó với nhau; chúng ta thấy chỗ này có một nhóm nhỏ và chỗ kia có một nhóm khác liên kết với nhau vì công tác. Phao-lô và những người ở với ông – chẳng hạn như Lu-ca, Si-la, Ti-mô-thê, Tít và A-bô-lô – hình thành một nhóm; còn Phi-e-rơ, Gia-cơ, Giăng và những người ở với họ hình thành một nhóm khác. Nhóm này đến từ An-ti-ốt, nhóm kia đến từ Giê-ru-sa-lem. Phao-lô nhắc đến những người ở với ông (Công. 20:34), điều này cho thấy dầu không tổ chức các công tác viên thành những hội truyền giáo khác nhau, họ vẫn có những cộng tác viên đặc biệt của riêng họ trong công tác. Thậm chí ngay từ ban đầu, khi Chúa lựa chọn mười hai người, Ngài sai họ đi từng đôi. Tất cả đều là đồng công, nhưng mỗi người có một đồng công đặc biệt của mình. Việc phân nhóm các công tác viên ấy là do Chúa chỉ định và truyền bảo.

Những đoàn sứ đồ này không được hình thành theo đường hướng phe phái hay giáo lý; họ được hình thành dưới sự tể trị của Linh, là Đấng sắp đặt hoàn cảnh của các công tác viên khác nhau để liên kết họ với nhau trong công tác. Thật ra, đó không phải là họ chia rẽ với những công tác viên khác, nhưng chỉ là trong khi sắp đặt đường lối họ, Linh không dẫn họ đến chỗ hợp tác với những công tác viên ấy. Chính Thánh Linh, chứ không phải con người, là Đấng đã phán: “Hãy biệt riêng Ba-na-ba và Sau-lơ cho Ta”. Mọi sự tùy thuộc vào sự tể trị của Linh. Những đoàn sứ đồ đầu phục ý muốn và sự điều khiển của Chúa. Như chúng ta đã thấy, mười hai người được chia thành từng đôi, nhưng họ không tự do lựa chọn người hợp tác với mình; Chúa là Đấng chia họ thành từng đôi và sai họ đi. Mỗi người có một đồng công đặc biệt, nhưng đồng công ấy do Chúa chỉ định, chứ không do họ lựa chọn. Không phải vì hợp nhau về mặt thiên nhiên mà họ đặc biệt liên kết với một vài người, cũng không phải vì khác biệt về giáo lý hay sự thực hành mà họ đặc biệt không liên kết với những người khác. Nhân tố quyết định luôn luôn là sự sắp đặt của Chúa.

Chúng ta thừa nhận Chúa là Đầu của Hội thánh, và các sứ đồ được Chúa “đặt” ở vị trí thứ nhất trong Hội thánh (1 Cô. 12:28). Mặc dầu họ được lập thành từng nhóm, có những đồng công đặc biệt do Chúa chỉ định, nhưng họ vẫn không có danh hiệu, hệ thống hay tổ chức đặc biệt. Họ không tạo ra một nhóm người nhỏ hơn Thân thể làm nền tảng công tác của mình; tất cả đều dựa trên nền tảng của Thân thể. Do đó, mặc dầu vì sự khác biệt địa phương và do sự tể trị trên hoàn cảnh, họ hình thành những nhóm khác nhau, nhưng vẫn không có tổ chức bên ngoài Thân thể; công tác của họ luôn luôn bày tỏ chức vụ của Thân thể. Họ được cấu tạo thành những nhóm riêng rẽ, nhưng mỗi nhóm đứng trên nền tảng Thân thể, bày tỏ chức vụ của Thân thể.

Chúa là Đầu của Thân thể, chứ không phải của một tổ chức nào; do đó, mỗi khi công tác vì một đoàn thể, một hội truyền giáo hay một tổ chức từ thiện, chứ không phải chỉ vì Thân thể mà thôi, thì chúng ta đánh mất quyền làm đầu của Chúa. Chúng ta phải thấy rõ công tác là công tác của Thân thể Đấng Christ, và mặc dầu Chúa có chia các công tác viên của Ngài thành những nhóm khác nhau (chứ không phải những tổ chức khác nhau), công tác của họ luôn luôn đặt trên nền tảng Thân thể. Chúng ta phải nhận biết rằng mỗi cá nhân công tác viên và mỗi nhóm [công tác viên] đều đại diện cho chức vụ cung ứng của Thân thể Đấng Christ, mỗi chức vụ hành chánh đều được giữ trong Thân thể, và vì mục đích mở mang công tác của Đức Chúa Trời. Khi ấy, và chỉ khi ấy, chúng ta mới có một chức vụ – chức vụ xây dựng Thân thể Đấng Christ. Nếu thấy rõ sự hiệp một của Thân thể, chúng ta sẽ thấy những kết quả phước hạnh dường nào! Nơi nào nguyên tắc hiệp một của Thân thể vận hành, nơi đó không thể có tình trạng ganh đua. Không có gì quan trọng nếu tôi suy giảm và anh gia tăng; về phía tôi không có sự ganh tị, và về phía anh không có sự kêu ngạo. Một khi nhìn thấy mọi công tác và mọi bông trái của công tác đều vì sự gia tăng của Thân thể Đấng Christ, thì chúng ta không kể ai là thuộc về anh em và ai là thuộc về tôi; anh được dùng hay tôi được dùng không phải là điều quan trọng. Mọi sự tranh đấu xác thịt giữa vòng các công tác viên của Đức Chúa Trời sẽ kết thúc một khi chúng ta thấy rõ Thân thể là nguyên tắc của công tác. Sự sống và công tác trong Thân thể buộc một người phải xử lý xác thịt triệt để, và rồi điều đó đòi hỏi người ấy phải hiểu biết sâu xa về thập tự giá của Đấng Christ.

Các sứ đồ đầu tiên không bao giờ làm việc một cách tự do; họ công tác với nhau. Trong câu chuyện lễ Ngũ tuần chúng ta đọc thấy “Phi-e-rơ cùng mười một sứ đồ đứng dậy” (Công. 2:14). Tại Cửa Đẹp chúng ta thấy Phi-e-rơ và Giăng công tác với nhau, và một lần nữa hai người họ đến thăm Sa-ma-ri. Khi Phi-e-rơ đến nhà của Cọt-nây, sáu anh em khác cùng đi với ông. Khi các sứ đồ ra đi, họ luôn luôn đi theo nhóm bao gồm ít nhất hai người, không bao giờ đi một mình. Công tác của họ không mang tính chất cá nhân, mà mang tính chất tập thể. Đối với những người ở với Phao-lô tại An-ti-ốt và tại những nơi khác, điều đáng tiếc là người ta đã nhấn mạnh thái quá đến cá nhân Phao-lô, nên hầu như không thấy các đồng công của ông đâu cả. Chúng ta thấy tại Trô-ách, Lu-ca gia nhập đoàn của họ và đồng ý với Phao-lô về việc đáp ứng lời gọi mời của người Ma-xê-đoan. Về sau, khi từ Ma-xê-đoan trở về, họ đem theo các đồng công Sô-ba-tê, A-ri-tạc, Sê-cun-đu, Gai-út, Ti-mô-thê, Ti-chi-cơ và Trô-phim. Sau đó chúng ta thấy A-bô-lô, Bê-rít-sin và A-qui-la cùng đi với họ. Về sau nữa chúng ta thấy Phao-lô sai Ti-mô-thê đến Cô-rin-tô, và khích lệ A-bô-lô và Tít đến đó; ít lâu sau chúng ta thấy Ép-ba-phô-đích đi với họ như một đồng công. Thật là hay khi đọc thấy Phao-lô mở đầu các Thư tín của mình như sau: “Phao-lô... cùng Sốt-then là anh em”, “Phao-lô... cùng Ti-mô-thê là anh em”, “Phao-lô... Si-la và Ti-mô-thê”.

Như vậy một mặt chúng ta không thấy dấu vết của những hội truyền giáo có tổ chức trong Kinh Thánh, mặt khác chúng ta cũng không thấy công tác viên nào ra đi theo chủ trương cá nhân, tức mỗi người là luật lệ cho chính mình. Họ hình thành những nhóm công tác, nhưng các nhóm ấy dựa trên nền tảng thuộc linh, chứ không trên nền tảng tổ chức. Một mặt Kinh Thánh không chấp nhận các hội truyền giáo có tổ chức; mặt khác Kinh Thánh cũng không chấp nhận những công tác tự do; hai điều ấy xa cách ý tưởng của Đức Chúa Trời như nhau. Vì vậy, trong khi phải đề phòng cạm bẫy là tổ chức nhân tạo, chúng ta cũng phải canh chừng hiểm họa trở nên quá cá nhân chủ nghĩa. Chúng ta không được tổ chức thành một hội truyền giáo và do đó gây chia rẽ; đồng thời chúng ta phải có những người cộng sự trong công tác để hợp tác với họ trên nền tảng thuộc linh, qua đó duy trì chứng cớ của Thân thể.

Chúng ta cần nhấn mạnh đến sự kiện là các sứ đồ phối hợp công tác với những người khác, nhưng nhóm của họ không có tổ chức. Mối quan hệ của họ với nhau chỉ có tính cách thuộc linh mà thôi. Họ thương yêu và hầu việc cùng một Chúa, họ có cùng một sự kêu gọi, một sự ủy nhiệm và họ đồng tâm chí với nhau. Chúa liên kết họ; vì vậy họ trở nên đồng công của nhau. Một số người làm việc với nhau từ ban đầu; những người khác tham gia sau này. Họ là một đoàn công tác, nhưng không có tổ chức và không có sự phân bổ chức vụ hay địa vị. Những người tham gia với họ không đến vì thấy bảng quảng cáo “Cần Tuyển Người”, họ cũng không đến vì đã được đào tạo qua một khóa huấn luyện đặc biệt. Trong những chuyến đi của họ, Chúa đã sắp đặt hoàn cảnh khiến họ gặp nhau; Ngài kéo họ lại với nhau, và với cùng một tâm trí, cùng một linh, Chúa liên kết họ với nhau, tự phát họ trở nên đồng công của nhau. Trước hết không cần phải đậu một kỳ thi, hay phải đáp ứng một số điều kiện đặc biệt, hoặc dự qua một số nghi thức hoặc nghi lễ gì. Chúa là Đấng quyết định mọi sự. Ngài truyền lệnh; con người chỉ việc tán thành. Trong những nhóm như vậy không ai giữ địa vị hay chức vụ đặc biệt gì; không có giám đốc hay chủ tịch hoặc giám thị. Chức vụ Chúa ban cho họ cấu thành địa vị của họ. Họ không nhận lãnh chỉ định nào từ hiệp hội. Mối liên hệ hiện hữu giữa các thành viên có tính cách thuần thuộc linh, chứ không có tính cách hành chánh. Họ trở nên đồng công của nhau, không bởi tổ chức loài người, mà bởi sự gắn bó thuộc linh.

UY QUYỀN THUỘC LINH

Trước khi suy xét vấn đề uy quyền thuộc linh, chúng ta hãy đọc vài phân đoạn Kinh Thánh về mối liên hệ giữa các công tác viên, vì những phần Kinh Thánh này soi sáng nhiều cho đề tài của chúng ta. “Ti-mô-thê... Phao-lô muốn chàng đi với mình” (Công. 16:1-3). “Phao-lô thấy dị tượng đó rồi, chúng tôi lập tức tìm cách qua Ma-xê-đoan, vì đoán quyết rằng Đức Chúa Trời đã gọi chúng tôi giảng Tin lành (hay: Phúc âm) cho họ” (Công. 16:10). “Những người đưa Phao-lô dẫn người đến A-thên; rồi trở về, đem lịnh cho Si-la và Ti-mô-thê phải đến cùng người gấp gấp” (Công. 17:15). Phao-lô “định trải qua Ma-xê-đoan mà trở về. Kẻ cùng đi với người qua A-si có Sô-ba-tê, con By-ru, quê ở Bê-rê” (Công. 20:3-4). “Chúng tôi đi đến bến trước, đáp thuyền qua A-sốt, để rước Phao-lô tại đó; vì người muốn đi bộ, nên đã dặn như vậy” (Công. 20:13). “Nếu Ti-mô-thê đến, hãy cẩn thận để người ở với anh em không sợ hãi gì... hãy đưa người lên đường bình an, hầu cho người đi đến đây với tôi... Còn như anh em là A-bô-lô, tôi đã khuyên nài người đi với các anh em đây mà đến cùng anh em đó” (1 Cô. 16:10-12). “Chúng tôi đã khuyên Tít” (2 Cô. 8:6). “Tít... đã nhận lời khuyên lơn của tôi... Chúng tôi đã sai một anh em cùng đi với người” (2 Cô. 8:16-18). “Chúng tôi lại sai một anh em cùng đi với họ” (2 Cô. 8:22). “Ti-chi-cơ, là anh em yêu dấu... tôi đã sai người đến cùng anh em” (Êph. 6:21-22). “Dầu vậy, nay tôi tưởng cần phải sai Ép-ba-phô-đích đến cùng anh em” (Phil. 2:25). “Ti-chi-cơ... sẽ tỏ cho anh em biết mọi việc của tôi” (Côl. 4:7). “Lu-ca là thầy thuốc yêu dấu chào thăm anh em, Đê-ma cũng vậy” (Côl. 4:14). “Hãy nói với A-chíp rằng: Hãy cẩn thận làm tròn chức dịch” (Côl. 4:17). “Chúng tôi... sai Ti-mô-thê” (1 Tê 3:1-2). “Hãy cố gắng đến cùng ta cho kíp... Hãy đem Mác đến với con... Ta đã sai Ti-chi-cơ đến Ê-phê-sô” (2 Ti. 4:9-12). “Trô-phim đương đau yếu thì ta để ở lại tại Mi-lết. Hãy cố gắng đến trước mùa đông” (2 Ti. 4:20-21). “Ta đã để con ở lại Cơ-rết, để con sắp đặt mọi sự còn bỏ dở và lập những trưởng lão trong mỗi thành y như ta đã dặn bảo con” (Tít 1:5). “Đến chừng ta sai At-tê-ma hoặc Ti-chi-cơ đến cùng con, thì hãy ân cần đến cùng ta tại Ni-cô-bô-li, vì ta định ở đó qua mùa đông. Hãy ân cần lo đưa đường cho luật sư Xê-na và A-bô-lô, để họ không thiếu thốn chi hết” (Tít 3:12-13).

Những phần Kinh Thánh trên cho thấy rằng giữa vòng các công tác viên của Đức Chúa Trời, tình trạng lệ thuộc vào Ngài không làm cho chúng ta độc lập với nhau. Chúng ta thấy Phao-lô để Tít ở lại tại Cơ-rết để hoàn thành công tác ông bỏ dở, và sau đó ông sai A-tê-ma và Ti-chi-cơ thay thế Tít khi ông bảo Tít đi tiếp đến Ni-cô-bô-li. Trong những lần khác ông đã chỉ định Ti-mô-thê và Ti-chi-cơ làm một số công tác, và chúng ta đọc thấy ông thuyết phục Tít và A-bô-lô ở lại tại Cô-rin-tô. Chúng ta quan sát thấy những công tác viên này không những học tập công tác theo đồng đội, mà những người ít kinh nghiệm học tập đầu phục sự hướng dẫn của người thuộc linh hơn. Các công tác viên của Đức Chúa Trời phải học tập bị bỏ lại, được sai đi, và chịu thuyết phục.

Nhận biết sự khác biệt giữa uy quyền hành chánh và uy quyền thuộc linh là điều quan trọng. Trong một tổ chức, mọi uy quyền đều là hành chánh, không phải thuộc linh. Trong một tổ chức tốt, người giữ chức vụ có cả uy quyền thuộc linh lẫn uy quyền hành chánh; trong một tổ chức tồi, mọi uy quyền đều có tính cách hành chánh. Nhưng trong bất cứ tổ chức nào, dầu chính người giữ chức vụ có uy quyền thuộc linh hay không, uy quyền người ấy giữ trong tổ chức thật ra chỉ có tính cách hành chánh. Uy quyền hành chánh là gì? Nghĩa là vì giữ chức vụ, nên một người thi hành uy quyền. Người ấy sử dụng uy quyền chỉ vì đang nắm giữ chức vụ. Bao lâu còn giữ chức vụ, bấy lâu người ấy còn sử dụng uy quyền; ngay khi từ chức, uy quyền của người ấy chấm dứt. Uy quyền ấy hoàn toàn có tính cách khách quan, không có tính cách cố hữu trong người ấy. Uy quyền ấy không liên kết với con người, nhưng chỉ với địa vị của người ấy mà thôi. Nếu giữ chức giám thị, đương nhiên người ấy giám thị công việc, dầu có đủ điều kiện thuộc linh để làm việc đó hay không. Nếu giữ chức quản lý, thì tự động người ấy chỉ huy, mặc dầu thật ra tình trạng thiếu thuộc linh làm cho người ấy không đủ điều kiện để điều khiển đời sống người khác. Sự sống của tổ chức là địa vị; địa vị là điều quyết định uy quyền.

Nhưng trong những nhóm công tác viên được hình thành cách thần thượng thì không có tổ chức. Uy quyền được sử dụng giữa vòng họ, nhưng uy quyền ấy là thuộc linh, chứ không phải hành chánh. Đó là uy quyền dựa trên tình trạng thuộc linh, uy quyền này có được nhờ hiểu biết Chúa cách sâu xa và tương giao thân mật với Ngài. Sự sống thuộc linh là nguồn của uy quyền ấy. Lý do Phao-lô có thể lãnh đạo người khác không phải vì ông có chức vụ cao hơn mà vì ông có tình trạng thuộc linh trưởng thành hơn. Nếu đánh mất tính chất thuộc linh của mình, ông cũng sẽ mất uy quyền. Trong một tổ chức, người thuộc linh không nhất thiết nắm chức vụ nào, và người giữ các chức vụ không nhất thiết phải thuộc linh; nhưng trong Kinh Thánh thì ngược lại. Trong Kinh Thánh, người biết Chúa là người coi sóc công việc. Người thuộc linh là người hướng dẫn người khác, và nếu những người khác thuộc linh, họ sẽ nhận biết uy quyền thuộc linh và thuận phục. Trong một tổ chức, các công tác viên bắt buộc phải vâng phục, nhưng trong một nhóm người thuộc linh thì không, và nhìn từ quan điểm hành chánh, nếu họ không vâng phục, họ không có lỗi gì cả. Trong một hiệp hội thuộc linh không có sự bắt buộc; sự hướng dẫn và thuận phục đều dựa trên nền tảng thuộc linh.

Ngoài vấn đề về uy quyền thuộc linh, còn có vấn đề về những chức vụ cung ứng khác nhau. Mọi đầy tớ của Chúa đều ở trong chức vụ cung ứng, và mỗi người đều có chức vụ đặc biệt của mình. Trong một tổ chức, các chức vụ được con người phân công, nhưng trong công tác thuộc linh, các chức vụ cung ứng được Chúa chỉ định. Vì sự khác biệt trong chức vụ cung ứng, nên một mặt chúng ta phải vâng lời Chúa, mặt khác chúng ta phải vâng phục các anh em. Sự vâng phục ấy không phải vì địa vị của họ cao hơn, nhưng vì chức vụ của họ khác với của chúng ta, và dầu vậy hai chức vụ liên quan mật thiết với nhau. Nếu đầu đang chuyển động các đầu ngón tay tôi, thì các bắp thịt của cánh tay tôi không thể có thái độ độc lập hay từ chối cùng chuyển động. Nguyên tắc “ở trong một Thân thể” buộc các chi thể phải liên hệ mật thiết với nhau để cùng chuyển động. Khi chuyển động với các chi thể khác, chúng ta không thật sự vâng phục họ, nhưng đang vâng phục Đầu. Trong nhiều điều chúng ta có thể đòi hỏi một sự dẫn dắt trực tiếp từ Đầu, nhưng cũng trong nhiều điều, Đầu chuyển động những người khác và chúng ta chỉ cần cùng chuyển động với họ. Chuyển động của họ đủ chính đáng cho chúng ta ủng hộ. Điều quan trọng hơn hết là nhận biết mối liên hệ này của các chức vụ khác nhau trong Thân thể Đấng Christ. Chúng ta phải nhận biết chức vụ của mình và thừa nhận chức vụ của những người khác để chúng ta có thể chuyển động như người vâng phục những ai có chức vụ lớn hơn. Vì chức vụ của chúng ta có mối tương quan như vậy, nên chúng ta không dám có thái độ cá nhân hay độc lập.

Tất cả các địa vị mà những người phục vụ Đức Chúa Trời nắm giữ đều có tính cách thuộc linh, chứ không có tính cách hành chánh. Than ôi! người ta chỉ nhìn thấy một nửa lẽ thật, cho nên họ tìm cách tổ chức công tác và chỉ định người quản lý để giám thị sự phục vụ của những người khác, nhưng sự quản lý của họ dựa trên địa vị của họ trong tổ chức, chứ không phải trên địa vị của họ trong chức vụ cung ứng. Lý do Phao-lô có thể hướng dẫn người khác vì chức vụ Chúa phó thác cho ông đặt ông ở một vị trí có uy quyền trên họ; lý do Tít, Ti-mô-thê và Ti-chi-cơ thuận phục sự lãnh đạo là vì chức vụ Chúa giao phó cho họ đặt họ ở vị trí dưới uy quyền của ông. Tiếc thay, sự lãnh đạo ngày nay không dựa trên chiều sâu thuộc linh cũng không dựa trên tầm cỡ của chức vụ cung ứng.

Ti-mô-thê là người của Đức Chúa Trời. Anh sống gần gũi Chúa, vâng phục và phục vụ Ngài cách trung tín; nhưng nhiều lần anh được Phao-lô sai phái đi đây đi đó. Anh không nói: Anh nghĩ tôi không có khả năng tự công tác sao? Anh nghĩ tôi không biết cách rao giảng phúc âm và thành lập các hội thánh sao? Anh nghĩ tôi không biết cách giải quyết công việc sao? Mặc dầu Ti-mô-thê biết nhiều, anh bằng lòng vâng lời Phao-lô. Trong công tác thuộc linh có vấn đề chịu để người khác chỉ huy mình; có vị trí của Phao-lô và cũng có vị trí của Ti-mô-thê, nhưng đó là những vị trí thuộc linh, không phải vị trí hành chánh.

Ngày nay chúng ta phải học tập một mặt duy trì mối liên hệ đúng đắn với các đồng công của mình, mặt khác được Thánh Linh dẫn dắt. Chúng ta phải duy trì cả hai mối liên hệ này, và giữ quân bình giữa cả hai. Trong thư Ti-mô-thê thứ nhất và thứ nhì, có nhiều phân đoạn minh họa việc các đồng công hợp tác như thế nào và một công tác viên trẻ tuổi nên vâng phục người lớn tuổi hơn ra sao. Một Ti-mô-thê trẻ tuổi nên vâng theo các mạng lệnh của Thánh Linh, nhưng anh cũng nên tiếp nhận lời hướng dẫn của Phao-lô là người lớn tuổi hơn. Ti-mô-thê được Phao-lô sai đi, được Phao-lô để lại tại Ê-phê-sô và Ti-mô-thê vâng phục Phao-lô trong Chúa. Đây là gương mẫu cho các đầy tớ trẻ tuổi của Đức Chúa Trời. Học tập làm thế nào để được Linh dẫn dắt và đồng thời làm thế nào để hợp tác với các đồng công là điều quan trọng nhất trong công tác của Ngài. Trách nhiệm không hoàn toàn ở trên Ti-mô-thê, và cũng không hoàn toàn ở nơi Phao-lô. Trong công tác, Ti-mô-thê phải học tập phối hợp ăn khớp với Phao-lô, và Phao-lô cũng phải học tập phối hợp ăn khớp với Ti-mô-thê. Không những người trẻ tuổi học tập vâng phục sự chỉ dẫn của người lớn tuổi, nhưng người lớn tuổi phải học tập cách hướng dẫn người trẻ tuổi. Người đứng ở vị trí có thể để người khác ở lại, sai họ ra đi hay thuyết phục họ là người phải học tập không đi theo sự sai khiến của bản chất riêng của mình, không hành động theo xu hướng hay khát vọng cá nhân, vì nếu làm như vậy người ấy sẽ gây khó khăn cho những người ở dưới quyền mình. Phao-lô phải hướng dẫn Ti-mô-thê sao cho Ti-mô-thê không cảm thấy khó có thể vừa vâng phục Thánh Linh, vừa vâng phục Phao-lô.

Các đầy tớ của Đức Chúa Trời phải công tác với nhau trong từng đoàn, nhưng có một sự hợp tác cần phải tránh, đó là hợp tác trong tổ chức do loài người tạo ra, giới hạn các thành viên khiến họ không thật sự đáp ứng sự dẫn dắt của Linh. Khi các công tác viên hoàn toàn đầu phục sự hướng dẫn của con người, công tác của họ không phải là kết quả của gánh nặng thuộc linh Đức Chúa Trời đặt trên họ, mà chỉ là làm công việc để đáp ứng sự sai khiến của thượng cấp. Ngày nay nan đề là người ta đang chiếm chỗ của Thánh Linh, và ý muốn của những người ở các vị trí hành chánh chiếm chỗ ý muốn của Đức Chúa Trời. Các công tác viên không trực tiếp nhận biết ý muốn thần thượng, nhưng chỉ làm theo ý muốn của những người có quyền trên họ, mà cá nhân họ lại không mang gánh nặng gì từ nơi Chúa cho công tác của Ngài.

Lại có những người khác biết tâm trí của Đức Chúa Trời, được Ngài kêu gọi và hoàn toàn lệ thuộc vào Ngài để đáp ứng mọi nhu cầu của mình; nhưng mặc dầu họ biết thế nào là được Ngài hướng dẫn cách cá nhân, họ tưởng chỉ cần đi theo đường riêng của mình, làm công tác riêng của mình độc lập với những người khác.

Lời Đức Chúa Trời dạy dỗ rằng một mặt tổ chức loài người không được điều khiển các đầy tớ của Đức Chúa Trời; mặt khác, các đầy tớ Ngài phải học tập thuận phục uy quyền thuộc linh, là điều dựa trên sự khác biệt trong chức vụ. Không có sự phối hợp có tính cách tổ chức, nhưng có sự tương giao thuộc linh và sự hiệp một thuộc linh. Chủ nghĩa cá nhân và tổ chức con người đều không phù hợp với ý muốn của Đức Chúa Trời. Chúng ta nên cùng tìm kiếm với những chi thể phục vụ khác của Thân thể để nhận biết ý muốn Ngài, chứ đừng tìm kiếm cách độc lập. Sự kêu gọi Phao-lô và Ba-na-ba là dựa trên nguyên tắc này. Đó không phải chỉ là việc của hai tiên tri và giáo sư, mà cũng là của năm người chờ đợi Chúa để biết ý muốn Ngài. Công vụ chương 13 cho chúng ta một gương mẫu tốt về một đoàn công tác, tất cả các công tác viên đều có mối liên hệ với nhau, và sự dẫn dắt của một người được những người khác xác nhận.

PHẠM VI CỦA CÔNG TÁC

Không như phạm vi của hội thánh địa phương, phạm vi của công tác rất rộng lớn. Một số công tác viên được sai đến Ê-phê-sô, một số đến với Phao-lô tại Ni-cô-bô-li, một số ở lại Cô-rin-tô, một số khác được để lại tại Mi-lết, một số ở lại Cơ-rết, một số trở về Tê-sa-lô-ni-ca và một số khác nữa đi đến Ga-la-ti. Đó là công tác! Điều chúng ta thấy ở đây không phải là chuyển động của các hội thánh địa phương nhưng của công tác, vì chuyển động của các hội thánh địa phương luôn luôn giới hạn trong địa phương. Ê-phê-sô chỉ quản lý công việc của Ê-phê-sô, và La Mã quản lý công việc của La Mã. Hội thánh tự giới hạn trong những vấn đề tại địa phương của mình. Hội thánh tại Ê-phê-sô không cần gửi người đến Cô-rin-tô, hoặc hội thánh tại Cô-rin-tô không cần để người ở lại La Mã. Hội thánh ở đây có tính cách địa phương, công tác có tính cách ngoài địa phương. Ê-phê-sô, Cô-rin-tô và La Mã đều là mối quan tâm của các công tác viên. Hội thánh chỉ quản lý công việc tại một địa phương nào đó, nhưng các công tác viên của Đức Chúa Trời xem phạm vi Chúa đã phân định cho họ là “giáo phận” của họ.

KHÔNG CÓ SỰ KIỂM SOÁT TRUNG ƯƠNG, NHƯNG CÓ SỰ TƯƠNG GIAO

Trong Kinh Thánh các công tác viên được lập thành từng đoàn, nhưng sự kiện đó không hàm ý rằng tất cả các sứ đồ tụ tập lại thành một đoàn công tác và đặt mọi sự dưới một sự kiểm soát trung ương. Mặc dầu Phao-lô có “những người ở với mình”, và Phi-e-rơ có những người hợp tác với ông, các nhóm công tác này chỉ bao gồm một số sứ đồ, chứ không phải tất cả các sứ đồ. Tất cả các sứ đồ kết hợp thành một đoàn công tác là sự kiện không tìm thấy trong Lời Đức Chúa Trời. Khi hàng chục, hay thậm chí hàng trăm người nhận được cùng một sự ủy thác từ Đức Chúa Trời mà liên kết với nhau trong cùng một công tác thì đúng đắn; nhưng trong Kinh Thánh chúng ta không tìm thấy sự tập trung quyền hành để điều khiển tất cả các sứ đồ. Có một đoàn sứ đồ, nhưng đoàn ấy không lớn đến mức bao hàm tất cả các sứ đồ. [Chủ trương] đó là của Giáo hội La Mã, chứ không phải của Kinh Thánh.

Các phe nhóm được đề cập đến trong Phi-líp 1:15-17, 2 Cô-rin-tô 11:12-13, 22-23 và Ga-la-ti 4:17 cho thấy rằng công tác trong những ngày đầu không tập trung [về trung ương]. Nếu tập trung về trung ương, thì những phe nhóm ấy đã không thể tồn tại, vì chúng hẳn đã bị diệt trừ cách có hiệu quả. Kinh Thánh bày tỏ rằng trong công tác thần thượng không có tổ chức toàn cầu hay sự kiểm soát trung ương, đó giải thích sự kiện vị sứ đồ không có uy quyền để xử lý những nhóm người gây ra nan đề trong các hội thánh.

Lời giải thích là Đức Chúa Trời không muốn quyền lực của tổ chức thay thế quyền năng của Thánh Linh. Mặc dầu không có sự kiểm soát trung ương, nhưng nếu tất cả các công tác viên đều đi theo sự dẫn dắt của Linh, thì mọi sự sẽ hoạt động cách êm thắm và thỏa đáng, và sẽ có sự phối hợp của một đoàn thể. Bất cứ khi nào người ta ngừng vâng lời Linh và lao tác trong năng lực của xác thịt, thì tốt nhất là để cho công việc đổ vỡ tan nát. Một tổ chức tốt thường là một sự thay thế xấu cho quyền năng Thánh Linh, bằng cách giữ cho công tác không tan rã thậm chí sau khi sức sống của công tác ấy không còn nữa. Khi sự sống lìa khỏi công tác mà giàn giáo của tổ chức vẫn hỗ trợ công tác, thì nó ngăn không để cho công tác sụp đổ; nhưng đó là một thành quả đáng nghi ngờ vì một tổ chức huy hoàng bên ngoài có thể che mắt các đầy tớ của Đức Chúa Trời, khiến họ không nhìn thấy nhu cầu sâu xa bên trong. Đức Chúa Trời muốn công tác của Ngài thà bị gián đoạn hơn là cứ tiếp tục với quyền năng thuộc linh giả mạo như vậy. Khi vinh quang của Đức Chúa Trời đã lìa khỏi đền thờ, chính Ngài bỏ mặc để đền thờ đổ nát hoàn toàn. Đức Chúa Trời mong muốn tình trạng bề ngoài và bề trong phải tương xứng, để nếu sự chết xâm chiếm công tác, các công tác viên của Ngài có thể được tỉnh thức ngay hầu biết nhu cầu của mình và tìm kiếm mặt Ngài với tấm lòng khiêm nhường.

Sự điều khiển từ trung ương có nhiều điều xấu. Nó làm cho các đầy tớ của Đức Chúa Trời dễ coi thường sự dẫn dắt của Linh, và dễ phát triển thành hệ thống giáo hoàng, trở nên một quyền lực thế gian to lớn. Kinh Thánh cho thấy các đầy tớ của Đức Chúa Trời lập thành từng đoàn, nhưng họ không hình thành một đoàn công tác duy nhất.

Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là mỗi đoàn công tác có thể hoạt động cách độc lập, không biết gì đến việc liên hệ hoặc tương giao với các đoàn công tác khác. Nguyên tắc hiệp một của Thân thể có hiệu quả ở đây cũng như trong mọi mối quan hệ khác giữa con cái Đức Chúa Trời. Trong Kinh Thánh không những chúng ta thấy có nguyên tắc “đặt tay”, mà cũng thấy có nguyên tắc “trao tay hữu” (Ga. 2:9). Nguyên tắc đầu chỉ về sự đồng nhất; nguyên tắc thứ hai chỉ về sự tương giao. Tại An-ti-ốt Phao-lô và Ba-na-ba được đặt tay; tại Giê-ru-sa-lem không có sự đặt tay, nhưng Gia-cơ, Sê-pha và Giăng trao tay hữu tương giao với họ. Tại An-ti-ốt phạm vi lưu tâm là một đoàn sứ đồ, và điểm nhấn mạnh là sự đồng nhất; do đó họ được đặt tay. Nhưng tại Giê-ru-sa-lem phạm vi lưu tâm là mối liên hệ giữa các đoàn sứ đồ khác nhau, và điểm nhấn mạnh là sự tương giao; do đó họ được trao tay hữu.

Nhiều người được kêu gọi công tác cho Chúa, nhưng phạm vi phục vụ của họ không giống nhau, do đó những người công tác với họ không thể giống nhau. Nhưng những đoàn công tác khác nhau đều phải đồng nhất với Thân thể, ở dưới quyền làm Đầu của Chúa và có sự tương giao giữa vòng họ. Không có sự đặt tay giữa An-ti-ốt và Giê-ru-sa-lem, nhưng có sự trao tay hữu tương giao. Cho nên Lời Đức Chúa Trời không chứng nhận việc thành lập một đoàn công tác trung ương, cũng không chứng nhận việc hình thành những đoàn công tác rời rạc, cô lập và không liên hệ với nhau. Không có một trung ương để đặt tay, cũng không phải chỉ có sự đặt tay mà không có gì khác trong mỗi đoàn; nhưng giữa vòng họ còn trao tay hữu tương giao với nhau. Mỗi đoàn công tác nên thừa nhận những gì Đức Chúa Trời đang thực hiện qua những đoàn công tác khác và nên tương giao với họ, thừa nhận rằng họ cũng là những người phục vụ trong Thân thể. Dưới sự điều động của Đức Chúa Trời họ có thể công tác trong những đoàn khác nhau, nhưng tất cả phải công tác như một Thân thể. Việc trao tay hữu tương giao ngụ ý rằng chúng ta thừa nhận những người khác ở trong Thân thể và tương giao với họ, cùng chung công tác với tư cách là những chi thể hoạt động trong cùng một Thân thể. “Khi họ thấy sự giảng Tin lành (hay: Phúc âm) cho kẻ không chịu cắt bì đã ủy thác cho tôi... và nhận biết ân điển đã ban cho tôi, thì Gia-cơ, Sê-pha và Giăng, là những người có danh là rường cột, trao tay hữu tương giao với tôi và Ba-na-ba, hầu cho chúng tôi đi đến cùng dân Ngoại bang, còn họ thì đến cùng những kẻ chịu cắt bì” (Ga. 2:7-9). Những tổ chức trong thế giới Cơ Đốc không có mối quan hệ với nhau, rời rạc, rối loạn, xung đột, không nhận biết nguyên tắc Thân thể, và không ở dưới quyền tể trị và quyền làm đầu của Đấng Christ thì không bao giờ phù hợp với tâm trí của Chúa.

SỰ HỢP TÁC GIỮA VÒNG CÁC CÔNG TÁC VIÊN

Tự nhiên vấn đề được đặt ra là làm thế nào các công tác viên và các đoàn công tác hợp tác với nhau? Đức Chúa Trời ban một chức vụ cho đoàn này, và Ngài ban một loại chức vụ hoàn toàn khác cho đoàn kia. Làm thế nào các nhóm khác nhau này cùng công tác? Phi-e-rơ và những người cộng tác với ông, Phao-lô và những người ở với ông, được chỉ định cho những lãnh vực khác nhau, nhưng trong trường hợp công tác của họ trùng lặp, họ sẽ hành động như thế nào? Không có sự tập trung công tác, nhưng đồng thời có những nhóm công tác viên khác nhau, vậy làm thế nào những nhóm khác nhau ấy hợp tác với nhau? Chúng ta cần phải lưu ý hai điểm cơ bản liên quan đến công tác:

(1) Dầu chức vụ của một công tác viên là gì và hướng công tác đặc biệt của anh em ấy ra sao, mỗi khi đến một nơi không có hội thánh địa phương, trách nhiệm trước tiên của anh em ấy là thành lập một hội thánh địa phương. (Điều gì áp dụng cho cá nhân công tác viên cũng áp dụng cho bất cứ nhóm công tác viên nào).

(2) Nếu đến một nơi đã có hội thánh địa phương, thì mọi sự dạy dỗ và mọi kinh nghiệm của anh em đó phải được đóng góp cho hội thánh ấy, để hội thánh ấy được củng cố và gây dựng. Anh em đó không nên tìm cách lôi kéo hội thánh ấy về với chính mình hay với hội đoàn mà anh đại diện.

Nếu một công tác viên đến một nơi không có hội thánh và thành lập một hội thánh tại đó để truyền bá giáo lý đặc biệt của mình, thì chúng ta không thể hợp tác với người ấy vì người ấy đang xây dựng một bè phái, không phải một hội thánh. Mặt khác, nếu một công tác viên đến một nơi đã có hội thánh địa phương, và thay vì đóng góp sự dạy dỗ và kinh nghiệm của mình để xây dựng hội thánh tại đó, anh em ấy tìm cách làm cho hội thánh ấy trở nên một chi hội thuộc hội đoàn của mình, thì một lần nữa chúng ta không thể hợp tác, vì người ấy đang xây dựng một giáo phái. Nền tảng tương giao trong hội thánh là cùng có sự sống trong Đấng Christ và cùng sống tại một địa phương. Nền tảng hợp tác trong công tác là cùng có mục tiêu thành lập và xây dựng các hội thánh địa phương. Các chi nhánh giáo phái không ngăn trở chúng ta kể người nào là thuộc về Thân thể, nhưng mục tiêu mở rộng giáo phái chắc chắn sẽ ngăn chúng ta hợp tác với họ trong sự phục vụ Đức Chúa Trời. Thiệt hại lớn nhất một công tác viên có thể gây nên là thay vì thành lập và gây dựng các hội thánh địa phương, người ấy lại lôi kéo những tín đồ mình tìm thấy tại một địa phương về với hội đoàn của mình, hoặc xây dựng những người mình bỏ công lao đem đến với Chúa thành chi nhánh của giáo phái nào đó của mình. Cả hai phương thức ấy đều bị Lời Đức Chúa Trời lên án.

Phao-lô từ An-ti-ốt đến Cô-rin-tô và tại đó ông rao giảng phúc âm. Người ta tin và được cứu, chẳng bao lâu có một nhóm thánh đồ ở Cô-rin-tô. Phao-lô xây dựng họ thành loại hội thánh gì? Thành hội thánh tại Cô-rin-tô. Phao-lô không thành lập hội thánh thuộc An-ti-ốt tại Cô-rin-tô. Ông không lập hội thánh nhánh của An-ti-ốt tại Cô-rin-tô, nhưng chỉ thành lập một hội thánh tại Cô-rin-tô. Sau đó Phi-e-rơ đến Cô-rin-tô và rao giảng phúc âm, kết quả là có một nhóm người tin. Phải chăng Phi-e-rơ nói: “Phao-lô đến từ An-ti-ốt, nhưng tôi đến từ Giê-ru-sa-lem, cho nên tôi phải lập một hội thánh khác: tôi sẽ lập một hội thánh thuộc Giê-ru-sa-lem tại Cô-rin-tô, hoặc tôi sẽ hình thành một hội thánh nhánh của Giê-ru-sa-lem tại Cô-rin-tô đây”? Không, ông đóng góp tất cả những người mình đã đưa đến với Chúa cho hội thánh địa phương đã sẵn có tại Cô-rin-tô. Sau một thời gian, A-bô-lô đến. Một lần nữa người ta được cứu và một lần nữa tất cả những người được cứu đều được thêm vào hội thánh địa phương. Cho nên tại Cô-rin-tô chỉ có một hội thánh của Đức Chúa Trời; không có các giáo phái chia rẽ. Nếu Phao-lô lập tiền lệ xây dựng một hội thánh tại Cô-rin-tô để mở rộng phạm vi của hội thánh mà từ đó mình đã ra đi, gọi đó là hội thánh thuộc An-ti-ốt tại Cô-rin-tô, thì khi Phi-e-rơ đến Cô-rin-tô có lẽ ông sẽ tranh luận: “Phao-lô thành lập hội thánh thuộc An-ti-ốt tại Cô-rin-tô cũng được vì anh ấy ở An-ti-ốt đến, nhưng tôi không có liên hệ gì với An-ti-ốt cả; hội thánh của tôi ở Giê-ru-sa-lem, cho nên tôi phải thành lập một hội thánh Giê-ru-sa-lem tại đây”. Rồi A-bô-lô khi đến Cô-rin-tô cũng theo gương họ và thành lập một hội thánh khác là chi nhánh của hội thánh mà từ đó ông đã ra đi. Nếu mỗi công tác viên đều muốn hình thành một chi nhánh của hội thánh mình đại diện, thì bè phái và giáo phái là điều dứt khoát không thể tránh được. Nếu mục tiêu của công tác viên ở bất cứ nơi nào không phải là thành lập một hội thánh địa phương, nhưng là mở rộng hội thánh mà từ đó mình ra đi, thì người ấy không đang thành lập hội thánh của Đức Chúa Trời tại địa phương ấy, nhưng chỉ xây dựng hội đoàn riêng của mình. Trong tình huống ấy không thể nào có sự hợp tác.

Tình trạng đã thay đổi rất nhiều kể từ thời các sứ đồ đầu tiên. Cơ Đốc giáo đã đánh mất sự thuần khiết ban đầu và mọi sự liên quan đến Cơ Đốc giáo đều ở trong tình trạng giả tạo và lộn xộn. Dầu vậy, công tác của chúng ta ngày nay vẫn giống như vào thời các sứ đồ đầu tiên, đó là thành lập và xây dựng các hội thánh địa phương, tức những biểu hiện địa phương của Thân thể Đấng Christ. Cho nên nếu ở tại một nơi không có hội thánh, chúng ta nên tìm kiếm mặt Chúa để Ngài có thể làm cho chúng ta chinh phục được nhiều người cho chính Ngài và xây dựng họ thành một hội thánh địa phương. Nếu ở tại một nơi có các hội truyền giáo, hay các giáo hội, đứng trên nền tảng bè phái hay giáo phái, nhưng không có hội thánh nào đứng trên nền tảng Thân thể và địa phương, thì bổn phận của chúng ta vẫn là thành lập và xây dựng một hội thánh địa phương. Nhiều người vẫn nhất định theo đường lối cũ của họ; vì vậy, những người đứng trên nền tảng địa phương rõ ràng có thể ít hơn nhiều so với tổng số Cơ Đốc nhân tại địa phương ấy. Nhưng nền tảng trên đó họ đứng có phạm vi rộng bằng nền tảng trên đó hội thánh đứng, nên bổn phận của chúng ta vẫn là duy trì nền tảng ấy. Chúng ta chỉ có thể hợp tác với những người xây dựng Thân thể Đấng Christ được bày tỏ tại các hội thánh địa phương, và không hợp tác với những người xây dựng một điều gì khác. Mối liên hệ với giáo phái không ngăn cản chúng ta tương giao trong Chúa, nhưng sự mở rộng giáo phái ngăn cản chúng ta hợp tác trong công tác của Đức Chúa Trời.

Đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong công tác của Đức Chúa Trời – công tác viên không nên tìm cách thành lập chi nhánh của hội thánh từ đó mình ra đi, nhưng thành lập một hội thánh tại địa phương nơi mình đến. Người ấy không làm cho hội thánh mình đến thành ra sự mở rộng của hội thánh từ đó mình ra đi, nhưng người ấy thành lập hội thánh tại địa phương đó. Đến nơi nào, người ấy cũng thành lập một hội thánh tại nơi đó. Người ấy không mở rộng hội thánh “nhà” của mình, nhưng thành lập hội thánh tại nơi mình đến. Vì trong Kinh Thánh mọi hội thánh đều có tính cách địa phương, nên Giê-ru-sa-lem và An-ti-ốt không thể có các hội thánh nhánh. Chúng ta không thể mở rộng một hội thánh địa phương sang một địa phương khác; chúng ta chỉ có thể hình thành một hội thánh mới tại địa phương ấy mà thôi. Hội thánh các sứ đồ thành lập tại Ê-phê-sô là hội thánh tại Ê-phê-sô; hội thánh họ thành lập tại Phi-líp là hội thánh tại Phi-líp; các hội thánh họ thành lập tại những nơi khác là các hội thánh ở những nơi ấy. Trong Kinh Thánh không có tiền lệ nào về việc thành lập hội thánh nào khác hơn là các hội thánh địa phương. Mở rộng Hội thánh của Đức Chúa Trời là điều đúng, nhưng mở rộng một hội thánh địa phương của Đức Chúa Trời là điều hoàn toàn sai. Tôi định công tác ở nơi nào? Tôi phải tìm cách thành lập hội thánh tại nơi ấy.

Hiện nay có hai loại công tác viên là những người đứng trên nền tảng của Kinh Thánh và những người đứng trên nền tảng của giáo phái hay hội truyền giáo. Nhưng thậm chí với những người đứng trên nền tảng giáo phái hay hội truyền giáo, nguyên tắc hợp tác vẫn không thay đổi – mục tiêu duy nhất là thành lập và xây dựng hội thánh địa phương.

Công tác rao giảng phúc âm chính yếu là để cứu rỗi tội nhân, nhưng kết quả tự phát của công tác này là có hội thánh tại nơi phúc âm được rao giảng. Mục tiêu trước mắt là cứu rỗi người ta, nhưng kết quả sau cùng là thành lập các hội thánh. Hiểm họa các giáo sĩ đối diện là xây dựng những người mình đã dẫn đến với Chúa thành một chi nhánh của hội đoàn mình đại diện. Vì các công tác viên đại diện cho những hội đoàn khác nhau, nên tự nhiên họ hình thành những chi nhánh khác nhau của hội đoàn mình, và kết cuộc là tình trạng vô cùng lộn xộn trong công tác và các hội thánh của Đức Chúa Trời. Mục tiêu trước mắt của những công tác viên khác nhau chắc chắn đều giống nhau – người rao giảng nào lại không hi vọng chinh phục được nhiều người cho Chúa? – nhưng kết quả sau cùng của họ không sáng tỏ, không rõ ràng. Ngợi khen Đức Chúa Trời, một số công tác viên ra đi để thành lập các hội thánh địa phương, nhưng than ôi, những người khác ra đi để mở rộng giáo phái của mình hay hình thành các hội thánh thuộc hội truyền giáo.

Đó là điều các đồng công của tôi và tôi không thể có cùng quan điểm với nhiều con cái của Đức Chúa Trời. Trong thâm tâm chúng tôi cảm tạ Đức Chúa Trời vì trong thế kỷ qua Ngài đã sai nhiều đầy tớ trung tín của Ngài đến Trung Quốc, để những người ngồi trong tối tăm nghe được phúc âm và tin Chúa. Sự hi sinh quên mình, siêng năng và tin kính của họ thật là gương mẫu cho chúng tôi. Nhiều lần khi nhìn mặt những giáo sĩ chịu khổ vì phúc âm, chúng tôi đã cảm động cầu nguyện: “Chúa ơi, xin làm cho chúng con sống giống như họ”. Nguyện Đức Chúa Trời ban phước và thưởng cho họ! Chúng tôi thừa nhận mình hoàn toàn không xứng đáng có phần gì trong công tác của Đức Chúa Trời, nhưng chúng tôi nay là gì đều bởi ân điển của Ngài, và vì trong ân điển Ngài Đức Chúa Trời đã kêu gọi chúng tôi hầu việc Ngài, nên chúng tôi không thể không tìm cách trở nên trung tín. Về công tác rao giảng phúc âm của các anh em là giáo sĩ, chúng tôi không phê phán gì mà chỉ vô cùng khâm phục; nhưng chúng tôi không thể không đặt vấn đề với họ về phương pháp họ xử trí bông trái của công tác ấy. Vì hàng trăm năm qua công tác của họ không dẫn đến sự xây dựng các hội thánh địa phương nhưng thành lập những hội thánh thuộc hội truyền giáo hay những hội thánh nhánh của những giáo phái khác nhau mà các giáo sĩ đại diện. Theo ý kiến của chúng tôi thì làm như vậy là trái với Lời Đức Chúa Trời. Trong Kinh Thánh không có sự xây dựng các giáo phái; chúng ta chỉ thấy trong đó có các hội thánh địa phương. Nguyện Đức Chúa Trời tha thứ cho tôi nếu tôi sai lầm!

CÁC HỘI THÁNH ĐỊA PHƯƠNG VÀ CÁC HỘI THÁNH THUỘC HỘI TRUYỀN GIÁO

Tôi xin đề cập đến một sự kiện chính tôi đã trải qua. Cách đây ít lâu tôi gặp một giáo sĩ tại Thượng Hải mời tôi nếu có thể được thì cộng tác với hội truyền giáo của ông. Vì không biết rõ phải trả lời như thế nào, nên tôi không hứa. Về sau tôi tình cờ gặp ông ở một nơi khác trong nước, ông nhắc lại vấn đề và hỏi tôi có gì chống hội truyền giáo không. Tôi đáp: “Tôi không dám phê phán hội truyền giáo của ông, dầu tôi không tin hội ấy hoàn toàn phù hợp với ý tưởng của Đức Chúa Trời. Tôi tin rằng ý muốn của Đức Chúa Trời là thành lập hội truyền giáo ấy để các đầy tớ của Đức Chúa Trời ở các xứ tây phương có thể đến Trung Quốc rao giảng phúc âm. Tôi không có gì để nói về hội truyền giáo với tư cách là một đoàn thể, vì Kinh Thánh có nói về các đoàn công tác viên, và nếu ông cảm thấy hội ấy nên có tổ chức, có các viên chức và có một tên cụ thể, thì ông phải trả lời trước Đức Chúa Trời, chứ không phải trả lời trước loài người về việc làm đó. Tôi là ai mà dám phê phán các đầy tớ của Chúa? Nhưng dầu tôi không phê phán, tôi không thể bắt chước, vì Đức Chúa Trời đã không bày tỏ rằng đó là ý muốn và đường lối của Ngài dành cho tôi. Về hội truyền giáo với tư cách là hội truyền giáo, tôi không có gì để nói, nhưng tôi có những câu hỏi nghiêm túc về các hội thánh được thành lập bởi hội truyền giáo. Để minh họa, ông đại diện cho hội truyền giáo ‘X’. Bây giờ những người nhờ ông là công cụ mà được cứu trở nên Hội thánh ‘X’, hay họ trở thành hội thánh địa phương cụ thể tại nơi họ sống? Các giáo sĩ thuộc về Hội truyền giáo ‘X’ là điều đúng đắn, nhưng họ xây dựng các bông trái của hội truyền giáo thành ra Hội thánh ‘X’ là điều hoàn toàn sai. Lời Đức Chúa Trời không dứt khoát cấm hình thành Hội truyền giáo ‘X’, nhưng Lời Ngài rõ ràng không chấp nhận việc thành lập điều gì khác hơn là các hội thánh địa phương”.

Sau đó tôi đề cập đến gương mẫu của các sứ đồ, chỉ ra rằng họ luôn luôn tìm cách thành lập hay xây dựng các hội thánh tại địa phương họ công tác bằng bông trái của công lao họ. Họ không bao giờ dùng các bông trái ấy để hình thành những chi nhánh của đoàn thể mà họ đang công tác trong đó; nếu không, Hội thánh của Đức Chúa Trời đã bị xé nát thành vô số phe phái ngay từ đầu.

Rồi tôi lấy công tác tại địa phương T– để minh họa. Tôi nói: “Tại T–, Đức Chúa Trời đã dùng ông để chinh phục nhiều người. Nếu những người được cứu qua ông là công cụ trở nên hội thánh tại T–, thì nếu tôi đến T– chắc chắn tôi sẽ liên kết với họ, dầu tình trạng thuộc linh hoặc hình thức tổ chức của họ có như thế nào chăng nữa; nếu không, tôi sẽ phạm tội chia rẽ. Nhưng nếu ông xây dựng một Hội Thánh ‘X’ tại T– với những người được cứu ở đó, thì ông không đang xây dựng Hội Thánh của Đức Chúa Trời tại T–, và tôi rất tiếc phải nói rằng tôi không thể liên kết với một ‘hội thánh’ như vậy. Bắt buộc tôi phải công tác riêng rẽ tại T– trừ khi có một hội thánh tại đó đứng trên nền tảng địa phương của Kinh Thánh.

“Nếu tất cả chúng ta đều ra đi thành lập các hội thánh địa phương thì chắc chắn sẽ có sự hợp tác. Thành lập Hội truyền giáo ‘X’ là điều được phép làm, nhưng thành lập Hội thánh ‘X’ là điều không phù hợp với Kinh Thánh. Giả sử Hội truyền giáo ‘X’ đến T– thành lập hội thánh ‘X’; sau đó những hội truyền giáo khác cũng đến T–, mỗi hội thành lập một ‘hội thánh’ riêng thuộc hội truyền giáo của mình. Làm như vậy thì cũng giống như Phao-lô thành lập hội thánh thuộc An-ti-ốt tại Cô-rin-tô, ít lâu sau Phi-e-rơ đến lập hội thánh thuộc Giê-ru-sa-lem tại đó. Trên nền tảng ấy không thể có sự hợp tác, vì chúng ta không quan tâm đến khuôn mẫu Đức Chúa Trời đã bày tỏ rõ ràng trong Lời Ngài về việc thành lập các hội thánh địa phương.

“Nếu chúng ta đến một nơi để thành lập một hội thánh, hội thánh ấy phải có tính cách địa phương, hoàn toàn có tính cách địa phương, không điều gì bên ngoài được cướp đi chút nào đặc tính địa phương của hội thánh ấy. Nếu anh em đến T– với mục tiêu thành lập hội thánh tại T– và tôi đến T– cũng với mục tiêu duy nhất là thành lập hội thánh tại T–, thì việc hợp tác sẽ không còn là nan đề. Dầu một trăm lẻ một giáo sĩ đại diện cho một trăm lẻ một hội truyền giáo đều đến T– với một mục tiêu như vậy, thì sẽ không thể có sự chia rẽ, và hợp tác là điều dĩ nhiên. Nếu mục tiêu của Hội truyền giáo ‘X’ chỉ là rao giảng phúc âm, thì chúng ta có thể làm việc với nhau; nhưng nếu họ có mục tiêu hai mặt là rao giảng phúc âm và mở rộng hội truyền giáo, thì chúng ta không thể hợp tác được. Nếu công tác viên một mặt tìm cách rao giảng phúc âm và mặt khác tìm cách mở rộng hội đoàn riêng của mình, thì chúng ta không thể hợp tác với nhau được”. Việc một người có thành lập hội thánh địa phương hay không sẽ quyết định việc chúng ta có thể hợp tác với người ấy hay không. Dầu một người có thuộc hội truyền giáo nào chăng nữa, nếu người ấy đến một nơi mà không tìm cách lập “hội thánh” riêng, nhưng lập hội thánh tại địa phương ấy, thì chúng tôi hoàn toàn sẵn lòng công tác với người ấy. Mặc dầu không phải là một hội truyền giáo, chúng tôi sẵn sàng hợp tác với bất cứ hội truyền giáo nào nếu họ không ấp ủ mục tiêu riêng tư gì, nhưng chỉ có một mục đích mà Đức Chúa Trời đã bày tỏ là ý muốn của Ngài về công tác Ngài.

Nguyện Đức Chúa Trời ban cho chúng ta ân điển để nhìn thấy rằng các hội thánh của Ngài đều là các hội thánh địa phương.