Thông tin sách

Nếp Sống Hội Thánh Cơ Đốc Bình Thường

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Nếp sống Hội thánh Cơ đốc bình thường
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 5

Untitled Document

CHƯƠNG NĂM

NỀN TẢNG LIÊN HIỆP VÀ PHÂN CHIA

HÌNH THÀNH CÁC HỘI THÁNH ĐỊA PHƯƠNG

Trong chương trước chúng ta nhận thấy từ ngữ “hội thánh” chỉ được đề cập đến hai lần trong các sách Phúc âm. Từ ngữ này được dùng thường xuyên trong sách Công vụ, nhưng sách này không bao giờ nói cách rõ ràng và đầy đủ cho chúng ta biết một hội thánh được hình thành như thế nào. Chương hai nói ba ngàn người được cứu, và chương bốn nói năm ngàn người nữa được cứu, nhưng không nói gì về việc những tín đồ này hình thành hội thánh. Không một lời nào giải thích về việc họ được gọi là hội thánh trong chương kế tiếp. “Cả hội thánh đều sợ hãi quá đỗi” (5:11). Ở đây Kinh Thánh gọi con cái Đức Chúa Trời là “hội thánh”, mà không hề nói hội thánh đã xuất hiện như thế nào. Trong Công vụ 8:1, ngay sau khi Ê-tiên chết, từ ngữ hội thánh lại được sử dụng, và lần này sự liên kết rõ ràng hơn trước. “Ngày ấy có cơn bắt bớ lớn nổi lên cho hội thánh tại Giê-ru-sa-lem”. Theo phân đoạn này các tín đồ tại Giê-ru-sa-lem rõ ràng là hội thánh tại Giê-ru-sa-lem. Như thế, bây giờ chúng ta biết hội thánh là gì. Hội thánh bao gồm tất cả những người được cứu tại một địa phương nào đó.

Về sau, trong chuyến truyền giáo thứ nhất của các sứ đồ, nhiều người đã được cứu tại những nơi khác nhau qua việc rao giảng phúc âm. Kinh Thánh không đề cập đến việc họ được xây dựng thành các hội thánh, nhưng Công vụ 14:23 nói về Phao-lô và Ba-na-ba: “Hai người đã tuyển lập [những] trưởng lão trong mỗi hội thánh”. Các nhóm tín đồ tại những nơi khác nhau này được gọi là các hội thánh, mà không giải thích làm thế nào họ trở nên các hội thánh. Họ là những nhóm tín đồ, cho nên họ đơn giản là các hội thánh. Mỗi khi một số người tại một nơi nào đó được cứu, họ tự phát trở thành hội thánh tại nơi ấy. Không giới thiệu hay giải thích gì cả, Lời Đức Chúa Trời trình bày với chúng ta một nhóm tín đồ như vậy là một hội thánh. Theo Kinh Thánh phương cách thành lập hội thánh là đơn giản rao giảng phúc âm; chúng ta không cần gì hơn, thậm chí không được phép làm gì hơn. Nếu người ta nghe phúc âm và tiếp nhận Chúa làm Cứu Chúa, thì họ là hội thánh; không cần thủ tục gì khác để trở nên một hội thánh.

Nếu có một người tin Chúa tại một nơi nào đó, thì đương nhiên người ấy trở nên một thành phần của hội thánh tại nơi ấy; không cần phải thêm một bước nào khác để làm cho người ấy trở nên thành phần của hội thánh. Sau này người ấy không cần gia nhập hội thánh. Nếu người ấy thuộc về Chúa, thì người ấy thuộc về hội thánh tại địa phương ấy rồi; và vì đã thuộc về hội thánh, người ấy không cần tuân thủ một điều kiện nào nữa để thuộc về hội thánh. Nếu trước khi thừa nhận một tín đồ làm thành viên của hội thánh mà chúng ta nhất định đòi người ấy phải gia nhập với chúng ta hoặc người ấy phải cắt đứt mối liên hệ với một nơi khác, thì “hội thánh của chúng ta” dứt khoát không phải là một trong những hội thánh của Đức Chúa Trời. Nếu bắt một người tín đồ phải đáp ứng bất cứ điều kiện gì để làm thành viên tại địa phương, thì ngay lập tức chúng ta đứng trên một vị trí không phù hợp với Kinh Thánh, vì điều kiện duy nhất để làm thành viên của hội thánh địa phương là làm tín đồ tại địa phương đó. Người được cứu nào thuộc về cùng một địa phương với chúng ta thì cũng thuộc về cùng một hội thánh với chúng ta. Khi nói đến hội thánh tôi có ý nói đến một hội thánh phù hợp với Kinh Thánh, chứ không phải một tổ chức của loài người. Một hội thánh địa phương là một hội thánh bao gồm tất cả con cái Đức Chúa Trời tại địa phương ấy.

Chúng ta phải cẩn thận lưu ý rằng nền tảng để chúng ta tiếp nhận một người vào trong hội thánh là Chúa đã tiếp nhận người ấy rồi. “Anh em hãy tiếp nhận kẻ yếu đức tin... vì Đức Chúa Trời đã tiếp nhận người” (La. 14:1, 3). “Vậy nên, anh em hãy tiếp nhận lẫn nhau, cũng như Đấng Christ đã tiếp nhận anh em” (15:7). Chúng ta tiếp nhận một người đơn giản là chúng ta thừa nhận rằng Chúa đã tiếp nhận người ấy. Việc chúng ta tiếp nhận người ấy không làm cho người ấy trở nên một thành viên của hội thánh; nhưng chúng ta tiếp nhận người ấy vì người ấy đã là một thành viên rồi. Nếu thuộc về Chúa, người ấy ở trong hội thánh. Nếu không thuộc về Chúa, người ấy không ở trong hội thánh. Ngoài điều kiện được Chúa tiếp nhận chúng ta mà đòi hỏi thêm điều gì rồi mới chấp nhận tương giao với một người thì chúng ta tuyệt nhiên không phải là hội thánh, mà chỉ là một bè phái.

Ở TRONG VÒNG VÀ Ở NGOÀI VÒNG

Tại bất cứ nơi nào phúc âm đã được công bố và người ta tin Chúa, thì họ là hội thánh tại nơi ấy, và họ là anh em của chúng ta. Vào thời các sứ đồ, vấn đề thuộc về một hội thánh hay không thuộc về một hội thánh là vấn đề vô cùng đơn giản. Nhưng đến thời chúng ta thì vấn đề ấy không đơn giản như vậy vì bị những tổ chức được mệnh danh là “hội thánh” làm cho phức tạp; các “hội thánh” ấy đã loại trừ những người lẽ ra phải ở trong hội thánh và bao gồm những người lẽ ra phải ở ngoài hội thánh. Loại người nào có thể chính đáng được xem là thành phần của hội thánh? Điều kiện tối thiểu nào chúng ta có thể đòi hỏi nơi người khác trước khi chấp nhận họ vào sự tương giao của hội thánh? Trừ khi những điều kiện làm thành viên của hội thánh được định nghĩa rõ ràng, luôn luôn sẽ có hiểm họa loại trừ những người thật sự thuộc về hội thánh ra khỏi hội thánh và bao gồm những người không thuộc về hội thánh.

Trước khi chuyển sang nhận biết ai thật sự thuộc về một hội thánh địa phương và ai thì không, trước hết chúng ta hãy hỏi xem ai thuộc về Hội thánh hoàn vũ và ai thì không, vì về cơ bản điều kiện làm thành viên trong một hội thánh [địa phương] thì y như điều kiện làm thành viên trong Hội thánh [hoàn vũ]. Khi biết loại người nào thuộc về Hội thánh [hoàn vũ], thì chúng ta cũng biết loại người nào thuộc về một hội thánh [địa phương].

Làm thế nào chúng ta biết ai là Cơ Đốc nhân và ai không phải là Cơ Đốc nhân? “Song nếu ai không có Thánh Linh của Christ, thì nấy chẳng thuộc về Ngài” (La. 8:9). Theo Lời Đức Chúa Trời, những ai có Đấng Christ cư ngụ trong lòng bởi Linh Ngài đều là Cơ Đốc nhân thật. Cơ Đốc nhân khác nhau về hàng ngàn phương diện, nhưng trong vấn đề cơ bản này họ không có gì khác nhau: mỗi Cơ Đốc nhân và mọi Cơ Đốc nhân đều có Linh của Đấng Christ cư ngụ trong họ. Nếu muốn biết ai thuộc về Chúa, chúng ta chỉ cần khám phá xem người ấy có Linh của Đấng Christ hay không. Ai có Linh của Đấng Christ thì ở trong vòng Hội thánh, còn ai không có Linh của Đấng Christ thì ở ngoài vòng. Người dự phần Linh của Đức Chúa Trời là một phần thiết yếu của Hội thánh Đức Chúa Trời; ai không dự phần Linh của Đức Chúa Trời thì không có phần gì trong Hội thánh. Điều này đúng trong Hội thánh hoàn vũ và cũng đúng trong hội thánh địa phương. “Chính anh em hãy tự xét mình, coi có đức tin chăng. Cũng hãy tự thử nghiệm lấy mình. Về phần anh em, há không biết rằng Giê-su Christ ở trong anh em sao? — miễn là anh em quả không bị loại ra!” (2 Cô. 13:5). Có một đường ranh giới chủ quan giữa Hội thánh và thế gian; tất cả những ai ở bên trong ranh giới ấy đều được cứu, và tất cả những ai ở bên ngoài đều hư mất. Đường ranh giới này là Linh cư-ngụ-bên-trong của Đấng Christ.

SỰ HIỆP MỘT CỦA LINH

Hội thánh của Đức Chúa Trời bao gồm rất nhiều tín đồ sống vào những thời điểm khác nhau và ở rải rác khắp trên đất tại những nơi khác nhau. Làm thế nào tất cả các tín đồ hiệp lại thành một Hội thánh hoàn vũ được? Với những sự khác biệt về tuổi tác, địa vị xã hội, giáo dục, bối cảnh, quan điểm và tính tình, làm sao tất cả những con người này trở nên một hội thánh? Bí quyết sự hiệp một của các thánh đồ là gì? Bằng cách nào Đạo Đấng Christ đã làm cho những con người với hàng ngàn sự khác biệt như vậy thật sự trở nên một? Không phải nhờ tổ chức một hội đồng lớn và mọi người đồng ý hiệp một mà các Cơ Đốc nhân hiệp nhất. Sự hiệp nhất của Cơ Đốc nhân không phải là sản phẩm của con người; nguồn gốc của sự hiệp nhất thuần mang tính cách thần thượng. Sự hiệp một huyền nhiệm quyền năng này được đặt trong lòng tất cả các tín đồ vào giây phút họ tiếp nhận Chúa. Đó là “sự hiệp một của Thánh Linh” (Êph. 4:3).

Linh cư ngụ trong lòng của mỗi tín đồ là một Linh; vì vậy, Ngài làm cho tất cả những ai có Ngài cư ngụ bên trong đều trở nên một, cũng như chính Ngài là một. Các Cơ Đốc nhân có thể khác nhau về nhiều mặt, nhưng tất cả các Cơ Đốc nhân thuộc mọi lứa tuổi tuy rất khác nhau nhưng có một điểm cơ bản giống nhau là Linh của Đức Chúa Trời cư ngụ trong mỗi người. Đó là bí quyết sự hiệp một của các tín đồ, và đó là bí quyết khiến họ phân rẽ với thế gian. Lý do của sự hiệp nhất Cơ Đốc chính là lý do của sự phân rẽ Cơ Đốc.

Sự hiệp nhất cố hữu nêu trên làm cho tất cả các tín đồ hiệp một, và sự hiệp nhất cố hữu này giải thích lý do vì sao không thể chia rẽ các tín đồ, ngoại trừ vì lý do địa lý. Những ai không có điều này là người ngoại; những ai có điều này là anh em của chúng ta. Nếu anh em có Linh của Đấng Christ và tôi có Linh của Đấng Christ, thì chúng ta đều thuộc về cùng một Hội thánh. Không cần được hiệp nhất; chúng ta đang hiệp nhất bởi một Linh cư ngụ bên trong hai chúng ta. Phao-lô nài khuyên mọi tín đồ hãy cố gắng “giữ sự hiệp một của Thánh Linh” (Êph. 4:3); ông không khuyên chúng ta phải có sự hiệp một, mà chỉ hãy giữ gìn sự hiệp một. Chúng ta đã có sự hiệp một rồi, vì hiển nhiên chúng ta không thể giữ điều mình chưa có. Đức Chúa Trời không bao giờ bảo chúng ta phải trở nên một với những tín đồ khác; chúng ta đã là một rồi. Vì vậy, chúng ta không cần tạo nên sự hiệp một, mà chỉ cần duy trì sự hiệp một mà thôi.

Chúng ta không thể tạo ra sự hiệp một này, vì chúng ta là một trong Đấng Christ bởi Linh, và chúng ta không thể phá vỡ sự hiệp một này, vì đó là sự kiện đời đời trong Đấng Christ; nhưng chúng ta có thể phá hủy hiệu quả của sự hiệp một, làm cho biểu hiện của sự hiệp một trong Hội thánh bị mất đi. Than ôi! Không những chúng ta không giữ sự hiệp một quí báu này, mà còn thật sự phá hủy bông trái của nó, đến nỗi giữa vòng con cái của Đức Chúa Trời chỉ còn chút ít dấu vết bề ngoài của sự hiệp một.

Làm thế nào chúng ta xác định ai là anh em của chúng ta và cùng là thành viên với chúng ta trong Hội thánh của Đức Chúa Trời? Không phải bằng cách điều tra xem họ có cùng giữ những quan điểm giáo lý như chúng ta không, hay có những kinh nghiệm thuộc linh giống chúng ta không; cũng không phải bằng cách xem những phong tục, lối sống, mối quan tâm và sở thích có phù hợp với chúng ta không. Chúng ta chỉ hỏi: Linh của Đức Chúa Trời có cư ngụ trong họ không? Ngoài sự hiệp một của Linh chúng ta không thể nhất định đòi phải hiệp một về ý kiến, kinh nghiệm hay bất cứ điều gì khác giữa vòng các tín đồ. Giữa vòng con cái Đức Chúa Trời có thể có sự hiệp một của Linh và luôn luôn phải có như vậy. Tất cả những ai có sự hiệp một ấy đều ở trong Hội thánh.

Khi anh em đi đường, phải chăng thỉnh thoảng anh em tình cờ gặp một người xa lạ trên một chuyến tàu thủy hay tàu hỏa, rồi chỉ sau vài phút trò chuyện anh em thấy một tình thương thuần khiết dành cho người ấy dâng lên trong lòng? Tình thương tự phát tuôn ra như vậy là vì một Linh cư ngụ trong cả hai tấm lòng. Sự hiệp một thuộc linh bên trong ấy vượt trên mọi khác biệt xã hội, chủng tộc và quốc gia.

Làm sao chúng ta có thể biết một người có sự hiệp một của Linh hay không? Trong câu Kinh Thánh ngay sau lời Phao-lô khuyên hãy giữ sự hiệp một của Linh, ông giải thích những người sở hữu sự hiệp một này có những gì giống nhau. Chúng ta không thể trông mong các tín đồ giống nhau về mọi sự, nhưng có bảy điều mà tín đồ thật nào cũng có, và chúng ta có thể biết một người có sự hiệp một của Linh hay không nhờ xét xem người ấy có bảy điều này hay không. Nhiều điều khác rất quan trọng, nhưng bảy điều này có tính cách sống còn, không thể thiếu được trong sự tương giao thuộc linh, và đó là những đòi hỏi tối thiểu và tối đa dành cho những ai tự xưng mình là tín đồ.

BẢY NHÂN TỐ TRONG SỰ HIỆP MỘT THUỘC LINH

“Chỉ có một Thân thể và một Thánh Linh, cũng như trong một sự kêu gọi mình mà anh em đã được gọi đến một hi vọng, một Chúa, một đức tin, một báp-têm, một Đức Chúa Trời là Cha của mọi người, Ngài vượt trên mọi người, suốt qua mọi người, và ở trong mọi người” (Êph. 4:4-6). Một người được cấu tạo thành một thành viên của Hội thánh nhờ người ấy sở hữu sự hiệp một của Linh, và do đó người ấy hiệp một với mọi tín đồ về bảy điểm trên. Đó là bảy yếu tố trong sự hiệp một của Linh, là cơ nghiệp chung của mọi con cái Đức Chúa Trời. Khi vẽ một đường ranh giới giữa những người thuộc về Hội thánh và những người không thuộc về Hội thánh, ngoài bảy điều này chúng ta không được đòi hỏi gì thêm kẻo chúng ta loại trừ những người thuộc về gia đình của Đức Chúa Trời; chúng ta cũng không dám đòi hỏi ít hơn, kẻo chúng ta bao gồm những người không thuộc về gia đình thần thượng. Tất cả những người có bảy điều này đều thuộc về Hội thánh, và tất cả những người không có bất cứ điều nào trong bảy điều này đều không thuộc về Hội thánh.

(1) MỘT THÂN THỂ. Vấn đề hiệp một bắt đầu với câu hỏi là một người có phải là chi thể của Thân thể Đấng Christ không. Phạm vi tương giao của chúng ta là phạm vi của Thân thể. Những ai ở ngoài phạm vi ấy không có mối liên hệ thuộc linh với chúng ta, nhưng ai ở bên trong phạm vi ấy thì ở trong sự tương giao với chúng ta. Chúng ta không thể chọn lựa sự tương giao trong Thân thể Đấng Christ, chấp nhận một số chi thể này và khước từ những chi thể kia. Chúng ta đều là một phần của Thân thể, không gì có thể phân rẽ chúng ta với Thân thể, hoặc phân rẽ chúng ta với nhau. Bất cứ ai đã tiếp nhận Đấng Christ đều thuộc về Thân thể, người ấy và chúng ta là một. Nếu không muốn có mối tương giao với người nào, thì trước hết chúng ta phải bảo đảm rằng người ấy không thuộc về Thân thể; nếu người ấy thuộc về Thân thể, chúng ta không có lý do gì khước từ người ấy (trừ khi vì lý do kỷ luật như được nêu rõ trong Lời Đức Chúa Trời).

(2) MỘT LINH. Giả như có người tìm cách tương giao với chúng ta, và người ấy tuy khác với chúng ta về kinh nghiệm hay quan điểm, nhưng có cùng một Linh như chúng ta, thì chúng ta phải tiếp nhận người ấy làm anh em. Nếu người ấy đã tiếp nhận Linh của Đấng Christ, và chúng ta cũng đã tiếp nhận Linh của Đấng Christ, thì chúng ta là một trong Chúa, không điều gì được chia rẽ chúng ta.

(3) MỘT HI VỌNG. Hi vọng này chung cho mọi con cái Đức Chúa Trời, không phải là hi vọng tổng quát, mà là hi vọng về sự kêu gọi của chúng ta, tức là hi vọng của sự kêu gọi làm Cơ Đốc nhân. Là Cơ Đốc nhân, chúng ta hi vọng điều gì? Chúng ta hi vọng được ở với Chúa mãi mãi trong vinh quang. Không một hồn nào thật sự thuộc về Chúa mà trong lòng không có hi vọng này, vì có Đấng Christ trong chúng ta là có “hi vọng về vinh quang” trong chúng ta (Côl. 1:27). Nếu ai tuyên bố mình thuộc về Chúa mà không có hi vọng về cõi trời hay vinh quang, thì lời tuyên bố của người ấy chỉ là lời xưng nhận suông, trống rỗng. Tất cả những ai cùng chia sẻ hi vọng này đều là một, và nếu có hi vọng cùng nhau ở trong vinh quang suốt cõi đời đời, làm sao chúng ta có thể chia rẽ nhau trong cõi thời gian? Nếu là những người sẽ chia sẻ cùng một tương lai, chúng ta không vui lòng chia sẻ cùng một hiện tại sao?

(4) MỘT CHÚA. Chỉ có một Chúa, là Chúa Giê-su, và tất cả những ai thừa nhận Đức Chúa Trời đã làm cho Giê-su người Na-xa-rét làm Chúa và Đấng Christ đều là một trong Ngài. Nếu ai thừa nhận Giê-su là Chúa, thì Chúa của người ấy cũng là Chúa của chúng ta, và vì chúng ta cùng phục vụ một Chúa, nên không gì có thể phân rẽ chúng ta.

(5) MỘT ĐỨC TIN. Đức tin được đề cập ở đây không phải là niềm tin liên quan đến việc giải nghĩa Kinh Thánh, mà là đức tin qua đó chúng ta được cứu và là tài sản chung của tất cả các tín đồ; đây là đức tin tin rằng Giê-su là Con Đức Chúa Trời (tức Đấng đã chết để cứu các tội nhân và sống lại để ban sự sống cho kẻ chết). Bất cứ ai thiếu đức tin sống động này thì không thuộc về Chúa, nhưng tất cả những ai sở hữu đức tin này đều thuộc về Chúa. Con cái Đức Chúa Trời có thể đi theo nhiều cách giải nghĩa Kinh Thánh khác nhau, nhưng về đức tin cơ bản này, họ là một. Những ai thiếu đức tin này đều không có phần trong gia đình của Đức Chúa Trời, nhưng đối với tất cả những ai sở hữu đức tin này chúng ta đều thừa nhận là anh em của chúng ta trong Chúa.

(6) MỘT BÁP-TÊM. Báp-têm bằng cách dìm xuống nước hay rảy nước? Dìm mình xuống nước một lần hay ba lần? Có nhiều hình thức báp-têm khác nhau được con cái Đức Chúa Trời chấp nhận, cho nên nếu chúng ta lấy hình thức của báp-têm làm ranh giới phân chia giữa những ai thuộc về hội thánh và những ai không thuộc về hội thánh, thì chúng ta sẽ loại trừ nhiều tín đồ thật khỏi sự tương giao của mình. Có những con cái Đức Chúa Trời thậm chí tin rằng báp-têm vật chất là điều không cần thiết, nhưng vì họ là con cái Đức Chúa Trời, nên chúng ta không dám vì vậy mà loại bỏ họ khỏi sự tương giao của mình. Một báp-têm được đề cập trong phân đoạn này có nghĩa là gì? Phao-lô đã làm sáng tỏ vấn đề này trong Thư thứ nhất gửi cho người Cô-rin-tô. “Đấng Christ há bị chia xé ra sao? Phao-lô há vì anh em đã chịu đóng đinh trên thập tự giá sao? Hay là anh em đã nhơn danh Phao-lô mà chịu báp-têm sao?” (1:13). Điều được nhấn mạnh không phải là hình thức báp-têm, mà là danh chúng ta được báp-têm vào trong đó. Câu hỏi đầu tiên không phải là anh em được báp-têm bằng cách rảy nước hay dìm xuống nước, được nhúng xuống một lần hay ba lần, báp-têm theo nghĩa đen hay theo nghĩa thuộc linh, mà là: Anh em được báp-têm vào trong danh của ai? Nếu anh em được báp-têm vào trong danh Chúa, thì đó là điều kiện để anh em làm thành viên của hội thánh. Nếu ai chịu báp-têm vào trong danh Chúa, tôi sẽ tiếp đón người ấy như anh em tôi, dầu cách người ấy chịu báp-têm có như thế nào chăng nữa. Chúng tôi nói như vậy không hàm ý rằng chúng ta chịu báp-têm bằng cách rảy nước hay dìm xuống nước, sự báp-têm của chúng ta có tính cách thuộc linh hay theo nghĩa đen thì không có gì quan trọng. Lời Đức Chúa Trời dạy rằng báp-têm phải theo nghĩa đen và bằng cách dìm xuống nước, nhưng điểm chính ở đây là cách làm báp-têm không phải là nền tảng để chúng ta tương giao, nhưng nền tảng là chúng ta chịu báp-têm vào trong danh ai. Tất cả những ai chịu báp-têm vào trong danh Chúa đều là một trong Ngài.

(7) MỘT ĐỨC CHÚA TRỜI. Chúng ta có tin cùng một Đức Chúa Trời siêu nhiên, thuộc riêng chúng ta là Cha của chúng ta không? Nếu tin như vậy, thì chúng ta thuộc về cùng một gia đình và lý do chúng ta chia rẽ là không chính đáng.

Bảy điểm nêu trên là bảy nhân tố trong sự hiệp một thần thượng, tức tài sản của tất cả các thành viên thuộc gia đình thần thượng, và những điểm ấy tạo nên sự thử nghiệm duy nhất cho những ai xưng nhận mình là Cơ Đốc nhân. Đó là tài sản của mỗi Cơ Đốc nhân thật, dầu người ấy ở đâu hay thuộc về thời nào. Giống như sợi dây thừng bảy tép, sự hiệp một của Linh ràng buộc tất cả các tín đồ trên khắp thế giới; dầu tính tình hay hoàn cảnh của họ khác nhau ra sao, hễ họ có bảy biểu hiện này của sự hiệp một bề trong, thì không gì có thể phân rẽ họ.

Nếu chúng ta áp đặt thêm điều kiện tương giao nào ngoài bảy điều trên mà điều kiện tương giao ấy chỉ là kết quả của một đời sống thuộc linh, thì chúng ta phạm tội bè phái, vì chúng ta gây chia rẽ giữa những người rõ ràng là con cái Đức Chúa Trời. Ngoài bảy điều này, nếu chúng ta thử nghiệm bằng những điều như báp-têm bằng cách dìm mình, giải nghĩa lời tiên tri theo một cách nào đó, giảng dạy về sự thánh khiết theo một chiều hướng đặc biệt, có được cái mệnh danh là kinh nghiệm Ngũ tuần hoặc từ bỏ một hội thánh thuộc giáo phái, thì chúng ta áp đặt những điều kiện Lời Đức Chúa Trời không đòi hỏi. Tất cả những người có bảy điểm này như chúng ta đều là anh em của chúng ta, bất kể họ có kinh nghiệm thuộc linh, quan điểm giáo lý hay cái gọi là mối liên hệ hội thánh như thế nào. Sự hiệp một của chúng ta không dựa trên việc chúng ta quí trọng lẽ thật về sự hiệp một, cũng không dựa trên việc chúng ta ra khỏi tất cả những gì mâu thuẫn với sự hiệp một của mình, nhưng dựa trên sự kiện thực tế là chúng ta hiệp một; sự hiệp một ấy trở thành hiện thực trong kinh nghiệm chúng ta nhờ Linh cư-ngụ-bên-trong của Đấng Christ.

CÁC HỘI THÁNH ĐỊA PHƯƠNG

Bây giờ Hội thánh hoàn vũ như thế nào thì hội thánh địa phương cũng y như vậy. Hội thánh hoàn vũ bao gồm tất cả những người có sự hiệp một của Linh. Hội thánh địa phương bao gồm tất cả những người có sự hiệp một của Linh tại một địa phương. Hội thánh của Đức Chúa Trời và các hội thánh của Đức Chúa Trời không khác nhau về bản chất, nhưng chỉ khác nhau về phạm vi. Hội thánh hoàn vũ bao gồm mọi người trong hoàn vũ có Linh của Đức Chúa Trời cư ngụ bên trong mình; hội thánh địa phương bao gồm tất cả những người ở một địa phương có Linh cư ngụ bên trong mình.

Người nào muốn thuộc về hội thánh tại một địa phương cũng phải đáp ứng hai đòi hỏi là làm con cái của Đức Chúa Trời và sống tại địa phương ấy. Điều kiện duy nhất để làm thành viên trong Hội thánh [hoàn vũ] của Đức Chúa Trời là làm con của Đức Chúa Trời, nhưng điều kiện để làm thành viên trong hội thánh [địa phương] của Đức Chúa Trời là làm con của Đức Chúa Trời và sống tại địa phương đó.

Về bản chất, Hội thánh không thể phân rẽ cũng như chính Đức Chúa Trời không thể phân rẽ. Vì vậy, phân chia Hội thánh thành các hội thánh không phải là phân chia về bản chất, sự sống hay yếu thể tính, mà chỉ là phân chia về sự quản trị, tổ chức và quản lý. Vì hội thánh trên đất bao gồm rất nhiều cá nhân, nên tổ chức là điều không thể thiếu được. Toàn thể con dân Đức Chúa Trời ở rải rác khắp nơi trên thế giới mà sống và nhóm họp tại một nơi thì không thể được về mặt vật lý; và đó là lý do duy nhất Hội thánh của Đức Chúa Trời được chia ra thành các hội thánh.

Chúng ta phải nhận thức rõ ràng rằng bản chất của tất cả các hội thánh địa phương trên khắp thế giới thì giống y như nhau. Không phải thành phần cấu tạo của hội thánh địa phương này khác với thành phần cấu tạo của hội thánh địa phương kia. Về bản chất hoàn toàn không có gì khác biệt. Sự khác biệt duy nhất ở nơi địa phương, và mỗi địa phương có ranh giới riêng. Hội thánh không thể phân chia; vì vậy, trong bản chất các hội thánh cũng không thể phân chia. Chỉ có thể phân chia ở phạm vi bề ngoài. Do giới hạn về vật lý mà việc phân chia về địa lý là điều không thể tránh được, nhưng sự hiệp một thuộc linh của các tín đồ vượt qua mọi ngăn cách của không gian.

Địa phương là lý do được qui định cách thần thượng để phân chia Hội thánh, vì đó là sự phân chia duy nhất không thể tránh khỏi. Ngoại trừ địa phương mọi ngăn cách khác giữa tất cả các tín đồ trên thế giới đều có thể tránh được. Hễ còn ở trong thân xác, thì các tín đồ không thể tồn tại tách biệt với chỗ ở của mình; cho nên, các hội thánh bao gồm những tín đồ như vậy không thể không bị hạn chế bởi nơi ở của họ. Sự khác biệt về địa lý là điều tự nhiên, chứ không có tính cách tùy tiện, tùy hứng. Chỉ vì con cái Đức Chúa Trời bị giới hạn về thể xác và do đó sự phân chia về địa lý là điều không thể tránh được, nên Đức Chúa Trời đã ấn định rằng Hội thánh của Ngài phải được chia thành các hội thánh dựa trên nền tảng địa phương. Sự phân chia ấy phù hợp với Kinh Thánh, và tất cả những sự phân chia khác đều xác thịt. Sự phân chia con cái Đức Chúa Trời mà không dựa vào địa lý thì không những nói lên sự phân chia về phạm vi, mà còn nói lên sự phân chia về bản chất. Sự phân chia theo địa phương là sự phân chia duy nhất không chạm đến sự sống của Hội thánh.

Hầu hết các tín đồ ngày nay đều hoàn toàn đui mù đối với nền tảng Kinh Thánh của một hội thánh đến nỗi nếu có ai hỏi: “Anh thuộc hội thánh nào?” thì ý tưởng đầu tiên của người được hỏi là mình tán đồng khuynh hướng dạy dỗ nào, hoặc mình có sự tương giao đặc biệt với nhóm người nào, hoặc nhóm Cơ Đốc nhân của mình khác với những nhóm khác ra sao, hay nhóm ấy mang danh hiệu đặc biệt gì, hoặc hình thức tổ chức mình chấp nhận là gì — tóm lại, họ nghĩ về mọi điều ngoại trừ nơi họ sống. Ít người trả lời câu hỏi ấy rằng: “Tôi thuộc về hội thánh tại Ê-phê-sô”, hoặc “Tôi thuộc về hội thánh tại Thượng Hải”, hoặc “Tôi thuộc về hội thánh tại Los Angeles”. Nhờ ở trong Đấng Christ mà chúng ta phân rẽ với thế gian, và vì sống tại một địa phương cụ thể mà chúng ta phân rẽ với các Cơ Đốc nhân khác. Chỉ vì chúng ta ở một nơi khác với họ, mà chúng ta thuộc về một hội thánh khác. Lý do duy nhất tôi không thuộc về cùng một hội thánh với những tín đồ khác là vì tôi không sống cùng một địa phương với họ. Nếu muốn ở cùng một hội thánh, tôi phải thay đổi chỗ ở, dọn đến ở cùng một địa phương với họ. Mặt khác, nếu muốn ở trong một hội thánh khác với những người đang sống trong cùng một địa phương với tôi, giải pháp duy nhất là tôi dọn nhà đến một địa phương khác. Khác biệt về địa phương là lý do chính đáng duy nhất cho sự phân chia giữa các tín đồ.

BẢY LÝ DO PHÂN CHIA BỊ CẤM

Về mặt tích cực, chúng ta vừa mới thấy cơ sở Đức Chúa Trời đã ấn định cho việc phân chia Hội thánh. Bây giờ về mặt tiêu cực, chúng ta sẽ thấy Hội thánh không được phân chia vì những lý do gì.

(1) NHỮNG NGƯỜI LÃNH ĐẠO THUỘC LINH. “Tôi có ý nói rằng trong anh em mỗi người nói: “Ta thuộc về Phao-lô”, _“Ta thuộc về A-bô-lô”, _“Ta thuộc về Sê-pha”, _ “Ta thuộc về Christ” (1 Cô. 1:12). Ở đây Phao-lô chỉ ra tính xác thịt của các tín đồ Cô-rin-tô vì họ toan phân chia hội thánh của Đức Chúa Trời tại Cô-rin-tô mà theo sự chỉ định thần thượng thì hội thánh ấy không thể bị phân chia, vì đã là đơn vị nhỏ nhất phù hợp với Kinh Thánh trên đó một hội thánh được thành lập. Họ tìm cách chia rẽ hội thánh dựa vào lý do là một số người lãnh đạo đã được Đức Chúa Trời dùng cách đặc biệt giữa vòng họ. Sê-pha là một người rao giảng phúc âm nhiệt thành, Phao-lô là người chịu khổ nhiều vì Chúa, A-bô-lô là người chắc chắn đã được Chúa dùng để phục vụ Ngài, nhưng dầu cả ba người ấy tại Cô-rin-tô đều thuộc về Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời không bao giờ cho phép hội thánh tại đó lấy họ làm lý do để chia rẽ. Ngài ấn định rằng Hội thánh được phân chia trên nền tảng là địa phương, chứ không trên nền tảng là các nhân vật nào đó. Có một hội thánh tại Cô-rin-tô và một hội thánh tại Ê-phê-sô là điều được chấp nhận, có vài hội thánh tại Ga-la-ti và một số hội thánh tại Ma-xê-đoan là đúng, vì địa phương khác nhau là lý do chính đáng để phân chia thành những hội thánh khác nhau. Các tín đồ quí trọng những người lãnh đạo đã được Đức Chúa Trời dùng giữa vòng họ là điều có thể chấp nhận được, nhưng họ mà phân chia các hội thánh theo những người lãnh đạo giúp đỡ họ thì thật sai lầm.

Phao-lô, Sê-pha và A-bô-lô là những đầy tớ chân thật của Đức Chúa Trời, họ không chấp nhận tinh thần bè phái chia rẽ họ; sự chia rẽ gây ra do những người theo họ. Khuynh hướng của bản chất loài người là tôn thờ anh hùng, và thích bộc lộ ưu đãi đối với những người hợp với thị hiếu của mình. Vì rất nhiều con cái của Đức Chúa Trời chỉ biết chút ít hoặc không biết gì về quyền năng của thập tự giá xử lý xác thịt, nên khuynh hướng tôn sùng con người thường xuyên lộ ra trong Hội thánh của Đức Chúa Trời, và hậu quả là họ gây ra nhiều thiệt hại. Chúng ta học tập nơi những người thuộc linh và nhận lợi ích từ sự lãnh đạo của họ là phù hợp với ý muốn của Đức Chúa Trời, nhưng chia rẽ Hội thánh theo những người chúng ta ngưỡng mộ thì hoàn toàn trái với ý muốn của Ngài. Nền tảng duy nhất phù hợp với Kinh Thánh để hình thành một hội thánh là sự khác biệt về địa phương, chứ không phải sự khác biệt về người lãnh đạo.

(2) CÔNG CỤ ĐEM LẠI SỰ CỨU RỖI. Những người lãnh đạo thuộc linh không phải là lý do chính đáng để phân chia Hội thánh; công cụ Đức Chúa Trời dùng để cứu rỗi chúng ta cũng không phải là lý do chính đáng. Một số tín đồ Cô-rin-tô công bố họ “thuộc về Sê-pha”, những người khác “thuộc về Phao-lô”, những người khác nữa “thuộc về A-bô-lô”. Họ truy nguyên khởi điểm đời sống thuộc linh của mình là từ những người này, và nghĩ mình thuộc về những người ấy. Điều thường xảy ra và tự nhiên xảy ra là những người được cứu qua công cụ là một công tác viên hay một hội đoàn xem mình là thuộc về công tác viên ấy hay hội đoàn ấy. Tương tự như vậy, điều thường xảy ra và tự nhiên xảy ra là một cá nhân hay một hội truyền giáo xem những người được cứu qua họ là thuộc về họ. Đó là suy nghĩ thiên nhiên, chứ không thuộc linh. Đó là điều thường xảy ra, nhưng trái với ý muốn của Đức Chúa Trời. Than ôi! Rất nhiều đầy tớ của Đức Chúa Trời vẫn chưa nhận biết họ là đầy tớ của hội thánh địa phương, chứ không phải là chủ của một “hội thánh” riêng tư của mình. Các hội thánh được phân chia theo địa lý, chứ không phân chia theo các công cụ cứu rỗi chúng ta.

(3) CHỦ NGHĨA PHI BÈ PHÁI. Một số Cơ Đốc nhân nghĩ họ không dại gì mà nói: “Ta thuộc về Sê-pha”, hay “Ta thuộc về Phao-lô”, hoặc “Ta thuộc về A-bô-lô”. Họ nói: “Ta thuộc về Christ”. Những Cơ Đốc nhân ấy khinh thường những người kia, cho họ là bè phái, và trên cơ sở ấy họ bắt đầu một cộng đồng khác. Thái độ của họ là — “Các anh là người thuộc bè phái; tôi thì không. Các anh là những người tôn thờ anh hùng; chúng tôi chỉ thờ phượng Chúa mà thôi”.

Nhưng Lời Đức Chúa Trời không chỉ lên án những người nói: “Ta thuộc về Sê-pha”, “Ta thuộc về Phao-lô” hay “Ta thuộc về A-bô-lô”. Lời Ngài cũng dứt khoát và rõ ràng lên án những người nói: “Tôi thuộc về Christ”. Cho rằng mình chỉ thuộc về Đấng Christ không phải là sai trật; điều đó đúng và thậm chí còn cần thiết. Khước từ tất cả những sự phân rẽ giữa vòng con cái Đức Chúa Trời cũng không có gì sai; đó là điều đáng được khen ngợi. Đức Chúa Trời không lên án loại Cơ Đốc nhân này vì điều nào trong hai điều ấy; Ngài lên án họ vì chính cái tội mà họ lên án nơi những người khác — chủ nghĩa bè phái của họ. Để phản đối tình trạng chia rẽ giữa vòng con cái Đức Chúa Trời, nhiều tín đồ tìm cách chia rẽ những người không chia rẽ với những người chia rẽ mà không bao giờ ngờ tới việc chính họ cũng là người chia rẽ! Lý do chia rẽ của họ có thể chính đáng hơn lý do của những người chia rẽ vì sự khác biệt về giáo lý hay vì lòng ưa chuộng riêng đối với người lãnh đạo nào đó, nhưng sự thật họ vẫn chia rẽ con cái Đức Chúa Trời. Thậm chí dầu họ bác bỏ sự chia rẽ ở nơi khác, bản thân họ vẫn gây chia rẽ.

Khi nói: “Tôi thuộc về Đấng Christ”, phải chăng anh em có ý nói những người khác không thuộc về Ngài? Anh em nói: “Tôi thuộc về Đấng Christ” là hoàn toàn chính đáng, nếu lời của anh em chỉ ngụ ý mình thuộc về Ngài; nhưng nếu lời ấy ngụ ý: “Tôi không phải là người bè phái; tôi hoàn toàn đứng tách biệt với những người bè phái như các anh”, thì lời nói ấy tạo nên một sự khác biệt giữa anh em và các Cơ Đốc nhân khác. Chính ý tưởng phân biệt giữa con cái Đức Chúa Trời bắt nguồn từ bản chất xác thịt của con người, và có tính cách bè phái. Nếu chúng ta xem những tín đồ khác là bè phái và cho chính mình là không bè phái, ngay lập tức chúng ta phân biệt con cái Đức Chúa Trời và do đó bày tỏ tinh thần chia rẽ qua chính hành động lên án sự chia rẽ. Bất kể chúng ta phân biệt giữa các thành viên của gia đình Đức Chúa Trời vì lý do gì — dầu viện lý do là chính Đấng Christ chăng nữa — chúng ta vẫn phạm tội gây chia rẽ trong Thân thể.

Vậy như thế nào mới đúng? Mọi sự loại trừ người khác đều sai trật. Mọi sự bao hàm (những con cái thật của Đức Chúa Trời) thì đúng đắn. Các giáo phái là không phù hợp với Kinh Thánh, và chúng ta không nên dính dấp gì đến giáo phái, nhưng nếu chúng ta có thái độ phê phán và nghĩ: “Họ là giáo phái, còn tôi thì không. Họ thuộc về bè phái, còn tôi chỉ thuộc về Đấng Christ thôi” — phân biệt như vậy rõ ràng là bè phái.

Phải, ngợi khen Đức Chúa Trời tôi thật thuộc về Đấng Christ, nhưng tôi không chỉ tương giao với những người nói: “Ta thuộc về Christ”, mà với mọi người thật thuộc về Đấng Christ. Điều tối quan trọng không phải là lời xưng nhận, mà là sự thật. Mặc dầu những tín đồ khác nói họ thuộc về Phao-lô, Sê-pha và A-bô-lô, nhưng thật ra họ thuộc về Đấng Christ. Tôi không mấy bận tâm đến điều họ nói, nhưng tôi rất quan tâm đến việc họ là gì. Tôi không hỏi họ có thuộc về giáo phái hay không, có thuộc về bè phái hay không; tôi chỉ hỏi: “Họ có thuộc về Đấng Christ không?” Nếu họ thuộc về Đấng Christ, thì họ là anh em tôi.

Chỗ đứng của cá nhân chúng ta nên phi giáo phái, nhưng nền tảng sự tương giao của chúng ta không phải là phi giáo phái. Bản thân chúng ta phải phi bè phái, nhưng chúng ta không dám nhất định lấy chủ nghĩa phi bè phái làm điều kiện để tương giao. Nền tảng tương giao duy nhất của chúng ta là Đấng Christ. Chúng ta phải tương giao với tất cả các tín đồ tại một địa phương, chứ không chỉ với tất cả các tín đồ phi bè phái tại địa phương ấy. Họ có thể tạo nên những sự khác biệt về giáo phái, nhưng chúng ta không được đưa ra đòi hỏi phi giáo phái. Chúng ta không dám phân biệt giữa chúng ta và họ, vì họ phân biệt giữa họ và những người khác. Họ là con cái Đức Chúa Trời, và không phải vì họ phân biệt giữa họ và con cái khác của Đức Chúa Trời mà họ không còn là con cái Đức Chúa Trời nữa. Chủ nghĩa giáo phái hay chủ nghĩa bè phái của họ có nghĩa là họ áp đặt những giới hạn khe khắt trên mục đích và tâm trí của Chúa dành cho mình, và do đó họ sẽ không bao giờ vượt quá một mức độ tăng trưởng thuộc linh và [mức độ] đầy trọn nào đó. Họ có thể được ban phước, nhưng không bao giờ có được sự đầy trọn của mục đích thần thượng.

Tất cả các tín đồ sống trong cùng một địa phương đều thuộc về cùng một hội thánh. Đó là một nguyên tắc bất biến. Chúng ta không dám thay đổi “tất cả các tín đồ tại một địa phương” thành ra “tất cả các tín đồ phi giáo phái tại một địa phương”. Nếu chúng ta làm cho chủ nghĩa phi giáo phái hay chủ nghĩa phi bè phái, thay vì địa phương, thành ra ranh giới của hội thánh mình, thì chúng ta đánh mất nền tảng địa phương với tư cách là một hội thánh và trở nên một bè phái. Điều chúng ta theo đuổi không phải là hội thánh giáo phái, hội thánh liên giáo phái hay hội thánh phi giáo phái, mà là hội thánh địa phương. Sự khác biệt giữa hội thánh địa phương và hội thánh phi giáo phái thì to lớn y như sự khác biệt giữa trời và đất. Hội thánh địa phương thì phi giáo phái, nhưng hội thánh phi giáo phái là giáo phái. “Hội thánh tại Cô-rin-tô” phù hợp với Kinh Thánh, nhưng “hội thánh của tất cả những người nói ‘Tôi thuộc về Đấng Christ’ tại Cô-rin-tô” thì không phù hợp với Kinh Thánh. Công tác của chúng ta có tính cách tích cực và xây dựng, chứ không phải tiêu cực và phá hoại. Chúng ta nhắm đến việc thành lập các hội thánh, chứ không phải phá hủy các giáo phái. Bản chất con người có khuynh hướng đi đến chỗ cực đoan; chúng ta rất dễ hoặc chính mình phi giáo phái và đòi hỏi những người khác cũng phi giáo phái, hoặc không phản đối chủ nghĩa giáo phái nơi người khác và dần dần chính chúng ta cũng trở nên giáo phái. Chính chúng ta phải phi giáo phái, nhưng không được đòi hỏi các Cơ Đốc nhân khác cũng phi giáo phái để lấy đó làm nền tảng tương giao với họ.

Vì vậy, nếu chúng ta đến một nơi mà danh Đấng Christ chưa được nói đến, thì chúng ta phải rao giảng phúc âm, chinh phục người ta cho Chúa và thành lập một hội thánh địa phương. Nếu chúng ta đến một nơi đã có các Cơ Đốc nhân, nhưng các tín đồ ấy phân rẽ nhau thành những “hội thánh” giáo phái lập trên những nền tảng khác nhau, thì công tác của chúng ta cũng giống như ở những nơi kia — chúng ta phải rao giảng phúc âm, dẫn người ta đến với Chúa, và lập họ thành một hội thánh trên nền tảng địa phương phù hợp với Kinh Thánh. Đồng thời chúng ta phải duy trì thái độ bao hàm, không loại trừ những tín đồ thuộc các bè phái khác nhau, vì cũng như chúng ta, họ là con cái của Đức Chúa Trời và sống tại cùng một địa phương; vì vậy, họ thuộc về cùng một hội thánh như chúng ta. Về phần mình, chúng ta không thể gia nhập một bè phái nào hay tiếp tục ở trong một bè phái nào, vì mối liên hệ của chúng ta với hội thánh chỉ có thể dựa trên nền tảng địa phương, nhưng đối với những người khác chúng ta không được lấy việc lìa bỏ bè phái làm điều kiện để tương giao với những tín đồ ở trong một bè phái. Làm như vậy sẽ khiến chủ nghĩa phi giáo phái trở nên nền tảng hội thánh của chúng ta, thay vì lấy địa phương làm nền tảng. Chúng ta phải sáng tỏ về điểm hội thánh phi giáo phái không phải là hội thánh địa phương. Có một sự khác biệt lớn lao giữa hai điều đó. Hội thánh địa phương thì phi giáo phái, tích cực và bao hàm; nhưng hội thánh phi giáo phái không phải là hội thánh địa phương; hội thánh phi giáo phái thì tiêu cực và loại trừ những người khác.

Chúng ta hãy thấy rõ vị trí của mình. Chúng ta không nhắm đến việc thành lập các hội thánh phi giáo phái, nhưng thành lập các hội thánh địa phương. Chúng ta muốn thực hiện công tác tích cực. Nếu các tín đồ được hướng dẫn nhìn thấy hội thánh địa phương là gì — tức là biểu hiện của Thân thể Đấng Christ tại một địa phương — thì chắc chắn họ sẽ không ở lại trong bất cứ bè phái nào. Mặt khác, họ có thể nhìn thấy tất cả những điều xấu xa của chủ nghĩa bè phái và lìa bỏ chúng, mà không biết hội thánh địa phương là gì. Chúng ta phải giúp đỡ những người mà Đức Chúa Trời vui lòng dùng chúng ta giúp họ hiểu rõ lẽ thật về hội thánh địa phương, và đừng nhấn mạnh đến vấn đề giáo phái. Họ phải nhận thức rằng mỗi khi dùng từ ngữ “chúng ta” để nói về con cái Đức Chúa Trời, họ phải bao hàm tất cả con cái Đức Chúa Trời, chứ không chỉ những người nhóm họp với họ. Nếu khi nói “anh em chúng tôi” mà chúng ta không bao gồm mọi con cái Đức Chúa Trời, nhưng chỉ nghĩ đến những người liên tục nhóm họp với mình, thì chúng ta đã có tinh thần chia rẽ.

Tôi không dung thứ chủ nghĩa bè phái, và tôi không tin rằng chúng ta nên thuộc về một bè phái nào, nhưng công việc của chúng ta không phải là thuyết phục người ta lìa bỏ bè phái. Nếu mối quan tâm hàng đầu của chúng ta là dẫn dắt người ta đến chỗ thực sự hiểu biết Chúa và quyền năng của thập tự giá Ngài, thì họ sẽ vui lòng từ bỏ chính mình cho Ngài, và sẽ học tập bước đi trong Linh, khước từ những điều thuộc xác thịt. Chúng ta sẽ thấy không cần nhấn mạnh đến vấn đề giáo phái, vì chính Linh sẽ soi sáng họ. Nếu một tín đồ chưa học biết con đường thập tự giá và bước đi trong Linh, thì ra khỏi một bè phái có ích lợi gì?

(4) NHỮNG KHÁC BIỆT VỀ GIÁO LÝ. Trong tiếng Hi Lạp từ ngữ “tà giáo” (BNC: tà thuật) trong Ga-la-ti 5:20 không nhất thiết hàm ý sai lầm, mà hàm ý chia rẽ vì lý do giáo lý. Bản Tân Ước Xen Hàng (Interlinear New Testament) dịch chữ này là “bè phái”, trong khi Bản Dịch Mới của Darby dịch là “các trường phái ý kiến”. Toàn bộ tư tưởng ở đây không phải là sự khác biệt giữa sự thật và sự sai lầm, mà là sự chia rẽ dựa trên giáo lý. Lời giảng dạy của tôi có thể đúng hoặc sai, nhưng nếu tôi lấy nó làm lý do chia rẽ, thì tôi phạm tội “tà giáo” được đề cập ở đây.

Đức Chúa Trời cấm bất cứ sự chia rẽ nào vì lập trường giáo lý. Một số tin rằng tín đồ được cất lên trước cơn đại nạn; những người khác tin rằng họ được cất lên sau cơn đại nạn. Một số tin rằng tất cả các tín đồ đều sẽ vào vương quốc; những người khác tin rằng chỉ một phần sẽ được vào. Một số tin cách làm báp-têm là dìm xuống nước; những người khác tin cách làm báp-têm là rưới nước. Một số tin rằng những biểu hiện siêu nhiên nhất thiết phải đi kèm với báp-têm trong Thánh Linh, trong khi những người khác không tin như vậy. Theo Kinh Thánh, không quan điểm giáo lý nào trong các quan điểm ấy được làm lý do phân rẽ con cái Đức Chúa Trời. Các giáo lý có đúng có sai, nhưng Đức Chúa Trời không chấp nhận một sự chia rẽ nào dựa trên sự khác biệt về các giáo lý ấy.(1) Nếu một nhóm tín đồ tách khỏi một hội thánh địa phương vì nhiệt tình với một sự dạy dỗ nào đó theo Lời Đức Chúa Trời, “hội thánh” mới mà họ thành lập có thể có nhiều sự dạy dỗ về Kinh Thánh hơn, nhưng không bao giờ có thể là một hội thánh phù hợp với Kinh Thánh. Đem sự sai lầm vào trong hội thánh là xác thịt, nhưng chia rẽ hội thánh vì một sự sai lầm cũng có thể là xác thịt. Xác thịt rất thường phá hủy sự hiệp một của hội thánh tại bất cứ nơi nào.

[(1) Dĩ nhiên ở đây chúng tôi không bàn đến nền tảng của đức tin, những giáo lý thiết yếu về các Thân vị thần thượng, đức tin nơi Đấng Christ, sự chuộc tội, v.v..., mà bàn đến những vấn đề phụ thuộc.]

Nếu muốn duy trì một vị trí phù hợp với Kinh Thánh, chúng ta phải bảo đảm chắc chắn rằng các hội thánh chúng ta thành lập tại các nơi khác nhau chỉ đại diện cho các địa phương, chứ không đại diện cho các giáo lý. Nếu “hội thánh” của chúng ta không phân rẽ với các con cái khác của Đức Chúa Trời vì lý do địa phương mà thôi, mà đại diện cho sự truyền bá một giáo lý nào đó, thì dứt khoát chúng ta là một bè phái, dầu sự dạy dỗ của chúng ta có đúng với Lời Đức Chúa Trời đến đâu chăng nữa. Mục đích của Đức Chúa Trời là một hội thánh cần phải đại diện cho con cái Đức Chúa Trời tại một địa phương, chứ không đại diện cho một lẽ thật đặc biệt nào tại đó. Dầu ở nơi nào, hội thánh của Đức Chúa Trời cũng bao gồm tất cả con cái Đức Chúa Trời tại nơi ấy, chứ không chỉ bao gồm những người có cùng một quan điểm giáo lý.

Giả như chúng ta đến một nơi tại đó hội thánh đã được thành lập trên nền tảng địa phương rõ ràng và khám phá thấy các thành viên của hội thánh ấy có những quan điểm chúng ta cho là không phù hợp với Kinh Thánh, hoặc họ cho những quan điểm của chúng ta là không phù hợp với Kinh Thánh, khi ấy nếu chúng ta không chịu nhìn nhận họ là hội thánh của Đức Chúa Trời tại địa phương ấy mà rút lui không tương giao với họ, thì chúng ta gây chia rẽ. Vấn đề không phải là họ có đồng ý với lẽ thật được chúng ta trình bày không, mà là họ có đứng trên nền tảng địa phương rõ ràng không. Nếu lòng chúng ta thật muốn giữ gìn đặc tính địa phương của những hội thánh của Đức Chúa Trời, chúng ta không thể không đối diện với những nan đề trong công tác của mình. Trừ khi thập tự giá hành động cách mạnh mẽ, chúng ta mà bao gồm trong hội thánh tất cả những tín đồ tại một địa phương với tất cả những quan điểm khác nhau của họ thì sự bất đồng sẽ liên tục xảy ra. Xác thịt chỉ muốn bao gồm những ai có cùng quan điểm, và loại trừ tất cả những ai có quan điểm khác với mình. Liên hệ thường xuyên và gần gũi với những người giải nghĩa Kinh Thánh không giống mình là điều khó chịu cho xác thịt, nhưng tốt cho linh. Đức Chúa Trời không dùng sự chia rẽ để giải quyết nan đề, mà dùng thập tự giá. Ngài muốn chúng ta vâng phục thập tự giá, để qua chính những nan đề trong hoàn cảnh của mình, mà sự khiêm nhường, kiên nhẫn và tình yêu của Đấng Christ được đem vào trong đời sống của chúng ta cách sâu xa. Trong những hoàn cảnh ấy, nếu không biết thập tự giá, có lẽ chúng ta sẽ tranh luận, nổi nóng và cuối cùng đi đường riêng. Có thể chúng ta có những quan điểm đúng đắn, nhưng Đức Chúa Trời ban cho chúng ta cơ hội để bày tỏ thái độ đúng đắn; chúng ta có thể tin cách đúng đắn, nhưng Đức Chúa Trời đang thử nghiệm xem chúng ta có yêu thương cách đúng đắn không. Chúng ta dễ có một tâm trí chứa đầy những sự dạy dỗ của Kinh Thánh, và có một tấm lòng thiếu vắng tình yêu thật. Những người khác với chúng ta chính là phương tiện trong tay Đức Chúa Trời để thử nghiệm xem chúng ta có kinh nghiệm thuộc linh hay chỉ có kiến thức Kinh Thánh, để thử nghiệm xem những lẽ thật chúng ta công bố là vấn đề sự sống đối với chúng ta hay chỉ là lý thuyết suông.

La Mã chương 14 chỉ cho chúng ta cách đối xử với những người có quan điểm khác với mình. Chúng ta sẽ làm gì nếu trong hội thánh mình có những người ăn chay và giữ ngày Sa-bát? Chúng ta sẽ thấy hầu như không thể chịu nổi nếu trong cùng một hội thánh một số tín đồ giữ Chúa Nhật còn những người khác giữ ngày Sa-bát, một số tự do ăn thịt trong khi những người khác ăn chay trường. Đó chính là tình huống Phao-lô đã đối diện. Chúng ta hãy lưu ý lời kết luận của ông. “Anh em hãy tiếp nhận kẻ yếu đức tin, nhưng không nên xét đoán ý kiến của họ” (c. 1). “Ngươi là ai mà dám xét đoán gia bộc của kẻ khác? Nó đứng hay ngã chỉ can hệ với chủ nó. Mà nó chắc đứng, vì Chúa có quyền khiến nó đứng” (c. 4). “Vậy, chúng ta chớ xét đoán lẫn nhau nữa, nhưng thà định rằng chớ ai để đá vấp chơn hoặc làm dịp vấp phạm cho anh em mình” (c. 13). Ôi, vì lòng khoan dung Cơ Đốc, vì tấm lòng rộng mở! Than ôi! Nhiều con cái Đức Chúa Trời quá nhiệt thành đối với những giáo lý ưa thích của mình đến nỗi vội dán nhãn tà giáo và ngược đãi tất cả những ai có lời giải nghĩa Kinh Thánh khác với mình. Đức Chúa Trời muốn chúng ta bước đi trong yêu thương đối với tất cả những người có quan điểm trái ngược với quan điểm yêu quí của chúng ta (c. 15).

Điều này không có nghĩa là tất cả những thành viên của một hội thánh có thể có quan điểm gì tùy ý, mà có nghĩa rằng giải pháp cho nan đề khác biệt về giáo lý không phải là thành lâp những nhóm riêng rẽ theo những quan điểm khác nhau, mà là bước đi trong tình yêu đối với những người có cái nhìn khác với chúng ta. Bằng sự dạy dỗ kiên nhẫn chúng ta có thể giúp đỡ mọi người đạt đến “sự hiệp một của đức tin” (Êph. 4:13). Đang khi chúng ta kiên nhẫn trông đợi Chúa, Ngài có thể ban ân điển cho những người khác để thay đổi quan điểm của họ, hoặc Ngài có thể ban ân điển cho chúng ta để nhìn thấy chúng ta không phải là giáo sư tài giỏi như mình vẫn tưởng. Không có điều gì thử nghiệm tình trạng thuộc linh của một giáo sư bằng việc người ta chống đối sự dạy dỗ của giáo sư ấy.

Các giáo sư phải học tập khiêm nhường, và tất cả những tín đồ khác cũng vậy. Khi nhận ra vị trí của mình trong Thân thể, họ sẽ biết không phải ai cũng được ban cho thẩm quyền quyết định những vấn đề về giáo lý. Họ phải học tập vâng phục những người đã được Đức Chúa Trời trang bị cho chức vụ đặc biệt để dạy dỗ dân Ngài. Những ân tứ thuộc linh và kinh nghiệm thuộc linh thì cần thiết cho sự dạy dỗ thuộc linh; vì thế, không phải ai cũng có thể dạy dỗ.

“Thì anh em hãy đồng tâm chí, đồng tình thương yêu, hiệp một tâm hồn, một ý chí mà làm cho sự vui mừng của tôi được đầy đủ. Chớ làm sự chi vì phe đảng hoặc vì hư vinh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mỗi người coi người khác hơn mình. Mỗi người chớ chăm về việc riêng mình, nhưng cũng phải chăm về việc kẻ khác nữa” (Phil. 2:2-4). Khi các hội thánh ghi nhớ những gì Phao-lô viết cho hội thánh tại Phi-líp, thì một địa phương chỉ có một hội thánh mà không có sự bất đồng nào giữa vòng nhiều thành viên của hội thánh ấy là điều hoàn toàn khả thi.

(5) NHỮNG KHÁC BIỆT VỀ CHỦNG TỘC. “Vì chưng chúng ta, hoặc người Do Thái, hoặc người Hi Lạp, hoặc tôi mọi, hoặc tự chủ, thảy đều đã chịu báp-têm trong một Thánh Linh để nên một thân, và thảy đều đã chịu uống cùng một Thánh Linh nữa” (1 Cô. 12:13). Trong tất cả các dân tộc, người Do Thái là người có thành kiến chủng tộc mạnh mẽ nhất. Họ xem các dân tộc khác là ô uế và họ bị cấm không được ăn chung; nhưng khi viết cho người Cô-rin-tô, Phao-lô nêu rõ rằng trong Hội thánh cả người Do Thái lẫn người Ngoại bang đều là một. Mọi sự khác biệt trong A-đam đã bị tiêu trừ trong Đấng Christ. Một “hội thánh” theo chủng tộc không được thừa nhận trong Lời Đức Chúa Trời. Tư cách thành viên của hội thánh được xác định bởi nơi cư ngụ, chứ không phải bởi chủng tộc.

Ngày nay, tại những thành phố lớn trên thế giới có hội thánh dành cho người da trắng, hội thánh dành cho người da đen, hội thánh dành cho người Âu châu và hội thánh dành cho người Á châu. Tình trạng ấy xảy ra là vì người ta không hiểu biết ranh giới của một hội thánh là thành phố. Đức Chúa Trời không cho phép con cái Ngài chia rẽ do khác biệt về màu da, phong tục hay lối sống. Dầu thuộc về chủng tộc nào chăng nữa, nếu họ thuộc về cùng một địa phương, thì họ thuộc về cùng một hội thánh. Đức Chúa Trời đã đặt các tín đồ thuộc những chủng tộc khác nhau trong một địa phương, để nhờ vượt lên trên mọi sự khác biệt bề ngoài, họ có thể ở trong một hội thánh bày tỏ một sự sống và một Linh của Con Ngài. Ân điển đắc thắng tất cả những gì ra từ chúng ta bởi thiên nhiên. Tất cả những gì thuộc về chúng ta trong A-đam đều bị loại trừ trong Đấng Christ. Toàn bộ vấn đề phụ thuộc vào câu hỏi — mọi khác biệt thuộc xác thịt đã bị tiêu trừ trong Đấng Christ, hay vẫn còn chỗ cho xác thịt trong Hội thánh? Nguồn cung ứng của chúng ta trong Đấng Christ có đủ để đắc thắng mọi ngăn cách thiên nhiên hay không? Chúng ta hãy nhớ rằng dầu ở địa phương nào, hội thánh cũng bao gồm mọi tín đồ sống tại đó và loại ra mọi người sống ở những nơi khác.

(6) NHỮNG KHÁC BIỆT VỀ QUỐC GIA. Người Do Thái và người Ngoại bang tượng trưng cho sự khác biệt về quốc gia cũng như chủng tộc, nhưng trong Hội thánh của Đức Chúa Trời không có người Do Thái hay người Hi Lạp. Không có sự phân biệt về chủng tộc, cũng không có sự phân biệt về quốc gia. Mọi tín đồ sống tại một nơi, dầu thuộc quốc tịch nào, đều thuộc về cùng một hội thánh. Trong lãnh vực thiên nhiên có sự khác biệt giữa người Hoa, người Pháp, người Anh và người Mỹ, nhưng trong lãnh vực thuộc linh thì không có sự khác biệt nào cả. Nếu một tín đồ người Hoa sống tại Nam Kinh, người ấy thuộc về hội thánh tại Nam Kinh. Nếu một tín đồ người Pháp sống tại Nam Kinh, người ấy cũng thuộc về hội thánh tại Nam Kinh. Đối với người Anh, người Mỹ và tất cả những người thuộc quốc tịch khác thì cũng vậy, miễn là họ đã được tái sinh. Lời Đức Chúa Trời thừa nhận hội thánh tại La Mã, hội thánh tại Ê-phê-sô và hội thánh tại Tê-sa-lô-ni-ca, nhưng không thừa nhận hội thánh Do Thái, hội thánh Trung Hoa hay hội thánh Anh Quốc. Lý do tên của các thành phố trong Kinh Thánh liên quan đến các hội thánh của Đức Chúa Trời là vì sự khác biệt về nơi ở là sự khác biệt duy nhất được Đức Chúa Trời thừa nhận giữa vòng con cái Ngài. Về bản chất sự sống của họ là một, cho nên không thể phân rẽ, nhưng hễ họ còn ở trong thân xác thì nơi chốn sự sống ấy cư ngụ không thể không khác nhau.

Vì các hội thánh có tính cách địa phương, nên nếu một tín đồ — bất kể thuộc quốc tịch gì — dọn nhà từ nơi này đến nơi khác, ngay lập tức người ấy trở nên thành viên của hội thánh tại nơi mới đến, và không còn mối quan hệ với hội thánh tại nơi người ấy ở trước kia. Anh em không thể sống tại một nơi, và là thành viên của hội thánh tại một nơi khác. Không có tình trạng vượt quá phạm vi lãnh thổ trong mối liên hệ với các hội thánh của Đức Chúa Trời. Ngay khi vượt quá giới hạn của thành phố, anh em vượt quá giới hạn của hội thánh. Nếu một anh em người Hoa dọn nhà từ Nam Kinh đến Hán Khẩu, anh em ấy trở thành một thành viên của hội thánh tại Hán Khẩu. Tương tự như vậy, một anh em người Anh từ Luân Đôn đến Hán Khẩu ngay lập tức trở nên thành viên của hội thánh tại Hán Khẩu. Việc thay đổi chỗ ở nhất thiết liên quan đến sự thay đổi hội thánh, trong khi việc nhập quốc tịch không ảnh hưởng gì đến tư cách thành viên của hội thánh.

Các đồng công của chúng tôi ra đi từ Trung Quốc đến Các Đảo Miền Nam phải cẩn thận không được thành lập hội thánh Trung Hoa Hải Ngoại tại đó. Người ta có thể lập Phòng Thương mại Trung Hoa Hải Ngoại, Đại Học Trung Hoa Hải Ngoại, hay Câu lạc bộ Trung Hoa Hải Ngoại. Bất cứ điều gì anh em thích có thể thuộc về người Hoa tại hải ngoại, nhưng một hội thánh thì không thể như thế được. Một hội thánh luôn luôn có tính cách địa phương! Nếu anh em đến bất cứ thành phố nào ở nước ngoài, thì đương nhiên điều tiếp theo là anh em thuộc về hội thánh tại thành phố ấy. Các hội thánh của Đức Chúa Trời không có gì thuộc về người Hoa cả.

Thật vinh hiển dường nào nếu những người được cứu tại mỗi thành phố có thể bỏ qua mọi sự khác biệt thiên nhiên và chỉ nghĩ đến sự hiệp một thuộc linh của mình. “Chúng ta là các tín đồ trong Đấng Christ tại một nơi nào đó” là lời tốt đẹp nhất mà một nhóm tín đồ có thể tuyên xưng. Đấng Christ ở trong anh em là yếu tố quyết định anh em có thuộc về Hội Thánh hay không, còn nơi anh em sống quyết định anh em thuộc về một hội thánh cụ thể nào. Câu hỏi Đức Chúa Trời đặt ra cho thế gian là: “Họ có thuộc về Đấng Christ không?” Câu hỏi Đức Chúa Trời đặt ra cho các tín đồ là: “Họ sống ở đâu?” Vấn đề là địa phương chứ không phải quốc tịch. Các hội thánh của Đức Chúa Trời được xây dựng trên vị trí thành phố, chứ không phải trên vị trí quốc gia.

Quan niệm thông thường về một hội thánh bản xứ tuy có phần đúng ở một vài phương diện, nhưng về cơ bản thì sai trật ở điểm quan trọng nhất. Vì phương cách thần thượng để phân chia hội thánh là theo địa phương, chứ không phải theo quốc gia, nên tất cả những sự phân biệt giữa quốc gia Cơ Đốc giáo và quốc gia ngoại giáo đều trái với tư tưởng của Đức Chúa Trời. Hội thánh của Đức Chúa Trời không biết đến người Do Thái hay Hi Lạp, vì vậy cũng không biết đến người bản xứ hay người nước ngoài, quốc gia ngoại giáo hay quốc gia Cơ Đốc giáo. Kinh Thánh phân biệt giữa các thành phố, chứ không phân biệt giữa các quốc gia, ngoại giáo hay Cơ Đốc giáo. Cho nên nếu muốn hoàn toàn hòa hợp với tâm trí của Đức Chúa Trời, chúng ta đừng phân biệt giữa hội thánh người Hoa và hội thánh người nước ngoài, giữa các công tác viên người Hoa và công tác viên nước ngoài, hoặc giữa ngân sách cho người Hoa và ngân sách cho người nước ngoài.

Tư tưởng về hội thánh bản xứ là người bản xứ của một quốc gia cần phải tự quản trị, tự cung cấp và tự truyền bá, trong khi tư tưởng của Đức Chúa Trời là các tín đồ tại một địa phương — dầu là người bản xứ hay người nước ngoài — cần phải tự quản trị, tự cung cấp và tự truyền bá. Hãy lấy Bắc Kinh làm thí dụ. Thuyết về hội thánh bản xứ phân biệt giữa người Hoa và người nước ngoài tại Bắc Kinh, trong khi Lời Đức Chúa Trời phân biệt giữa tín đồ tại Bắc Kinh — dầu là người Hoa hay người nước ngoài — với tín đồ tại các thành phố khác. Đó là lý do tại sao trong Kinh Thánh chúng ta đọc thấy các hội thánh (số nhiều) của người Ngoại bang, chứ không bao giờ có hội thánh (số ít) của người Ngoại bang. Nỗ lực tổ chức tất cả các tín đồ người Hoa thành một hội thánh cho thấy tình trạng thiếu hiểu biết về nền tảng thần thượng để hình thành các hội thánh.

Một mặt, không có hội thánh của người Ngoại bang trong Kinh Thánh; mặt khác, chúng ta đọc thấy “hội thánh của người Tê-sa-lô-ni-ca”. Điều này gợi ý rằng đó là cách diễn tả duy nhất thuộc loại này được dùng trong Tân Ước. Lời [Chúa] không nói về hội thánh của người Hi Lạp (một chủng tộc hay quốc gia), nhưng nói về hội thánh của người Tê-sa-lô-ni-ca (một thành phố). Trong tư tưởng của Đức Chúa Trời không có hội thánh của người Hoa, nhưng có hội thánh của người Bắc Kinh. Kinh Thánh không biết gì đến hội thánh của người Pháp, nhưng thừa nhận hội thánh của người Paris. Hiểu rõ nền tảng thần thượng của việc thành lập hội thánh — tức là theo sự khác biệt của thành phố chứ không theo quốc gia — sẽ cứu chúng ta khỏi quan niệm sai lầm về hội thánh bản xứ. Dầu thế nào đi nữa, tại một địa phương không nên phân biệt giữa Cơ Đốc nhân người Hoa và Cơ Đốc nhân người nước ngoài, giữa công tác viên người Hoa và công tác viên người nước ngoài, hay giữa tiền bạc của người Hoa và tiền bạc của người nước ngoài.

(7) NHỮNG KHÁC BIỆT VỀ XÃ HỘI. Vào thời Phao-lô, theo quan điểm xã hội, có một hố sâu ngăn cách cố định giữa người tự do và người nô lệ; nhưng họ thờ phượng bên nhau trong cùng một hội thánh. Vào thời chúng ta, nếu một người đạp xích lô và một quốc trưởng đều thuộc về Đấng Christ và sống tại cùng một nơi, thì họ thuộc về cùng một hội thánh. Có thể có một hội truyền giáo cho những người đạp xích lô, nhưng không thể có một hội thánh cho những người đạp xích lô. Sự khác biệt về xã hội không phải là nền tảng thích đáng để hình thành một hội thánh riêng biệt. Trong Hội thánh của Đức Chúa Trời “không thể có người nô lệ hay tự chủ”.

Trong Kinh Thánh chúng ta thấy có ít nhất bảy điều rõ rệt Đức Chúa Trời cấm không được dùng làm lý do để phân chia Hội thánh của Ngài. Thật ra bảy điều này chỉ tiêu biểu cho tất cả những lý do khác mà tâm trí con người có thể nghĩ ra để phân chia Hội thánh của Đức Chúa Trời. Hai ngàn năm lịch sử Hội thánh là bản ký thuật đáng buồn về những phát minh của con người để phá hủy sự hiệp một của Hội thánh.

NHỮNG NGƯỜI ĐẮC THẮNG

Phạm vi của hội thánh là địa phương, và hội thánh địa phương không bao giờ được chia rẽ. Câu hỏi tự nhiên được đặt ra là nếu sự sống thuộc linh của một hội thánh địa phương (không phải giáo phái) rất thấp kém, một vài chi thể thuộc linh hơn không thể họp lại với nhau mà thành lập một hội chúng khác sao? Theo Lời Đức Chúa Trời, câu trả lời dứt khoát là không! Lời Đức Chúa Trời chỉ chấp nhận việc thành lập các hội thánh trên nền tảng địa phương. Ngay cả tình trạng kém thuộc linh cũng không phải là lý do chính đáng để phân chia hội thánh. Nếu các phương pháp, sự quản trị và tổ chức địa phương chưa đạt đến tình trạng lý tưởng, điều đó cũng không được dùng làm lý do để chia rẽ. Thậm chí sự dạy dỗ sai lầm (ngoại trừ 2 Giăng 9) cũng không phải là lý do để những người hiểu biết nhiều hơn hình thành một hội thánh riêng rẽ. Chúng ta phải ghi tạc vào lòng rằng sự khác biệt về địa phương là lý do duy nhất để phân chia Hội thánh của Đức Chúa Trời. Không lý do nào khác phù hợp với Kinh Thánh.

Là những người sống trong cùng một địa phương, chúng ta không thể không thuộc về cùng một hội thánh. Đó là điều không ai thoát khỏi. Nếu không thỏa lòng về hội thánh tại địa phương mình, điều duy nhất tôi có thể làm là đổi địa phương; khi ấy tự động tôi thay đổi hội thánh. Chúng ta có thể lìa khỏi giáo phái, nhưng không bao giờ được lìa khỏi một hội thánh. Lìa khỏi một giáo phái là chính đáng, nhưng lìa khỏi một hội thánh — dầu vì lý do hội thánh không thuộc linh, sai giáo lý, hay tổ chức dở — thì hoàn toàn không chính đáng. Nếu anh em lìa khỏi một hội thánh địa phương và hình thành một hội chúng riêng biệt, thì có thể anh em thuộc linh hơn, có sự dạy dỗ thuần khiết hơn, có sự quản trị tốt đẹp hơn, nhưng anh em không có hội thánh, mà chỉ có bè phái.

Trong chương hai và ba của sách Khải Thị chúng ta thấy bảy hội thánh khác nhau tại bảy địa phương khác nhau. Chỉ hai hội thánh không bị quở trách, mà thật sự còn được Chúa khen ngợi. Năm hội thánh kia đều bị khiển trách cách cụ thể. Về mặt thuộc linh, năm hội thánh ấy ở trong tình trạng đáng buồn. Họ là các hội thánh yếu đuối, thất bại; nhưng đó là các hội thánh, chứ không phải các bè phái. Về mặt thuộc linh họ sai lầm, nhưng về vị trí họ đúng đắn; vì vậy Đức Chúa Trời chỉ ra lệnh cho những người ở trong đó phải làm người đắc thắng. Chúa không nói lời nào về việc lìa khỏi hội thánh. Một hội thánh địa phương là hội thánh anh em không thể lìa khỏi được; anh em phải ở lại trong đó. Nếu thuộc linh hơn các thành viên khác, anh em nên dùng ảnh hưởng thuộc linh của mình và uy quyền của mình trong sự cầu nguyện để phục hưng hội thánh ấy. Nếu hội thánh không đáp ứng, anh em có thể chọn lựa hai điều; hoặc anh em ở lại đó, giữ mình không bị ô uế, hoặc anh em phải thay đổi nơi ở. Nhưng hành động này không áp dụng cho một bè phái. Áp dụng sai hai chương này để giữ các tín đồ được Thánh Linh dạy dỗ ở trong bè phái là điều vô ích, vì bảy hội thánh này chỉ về các hội thánh địa phương, không phải “các hội thánh” bè phái. Dầu yếu đuối thế nào, theo Kinh Thánh các hội thánh này vẫn ở trên nền tảng của Thân thể tại địa phương. Lời Đức Chúa Trời không bao giờ cho ai được quyền lìa khỏi một hội thánh. Tất cả những nhóm tín đồ lấy một điều gì khác hơn địa phương làm nền tảng cho sự tương giao của mình đều là bè phái, dầu họ có thể tự gọi mình là hội thánh. Lìa khỏi một bè phái là chính đáng, nhưng lìa khỏi một hội thánh địa phương thì không bao giờ chính đáng. Nếu lìa bỏ một hội thánh địa phương, anh em không có sự phê chuẩn của Chúa và đã phạm tội gây chia rẽ trong Thân thể.

Thật bi thảm khi một vài thành viên thuộc linh lìa khỏi một hội thánh địa phương và hình thành một hội chúng khác chỉ vì các thành viên khác yếu đuối và thiếu trưởng thành. Các thành viên mạnh hơn nên ở lại trong hội thánh ấy như những người đắc thắng, tìm cách giúp đỡ các anh chị em yếu đuối hơn và dâng trình cho Chúa tình hình tại đó. Ôi, chúng ta có khuynh hướng khinh thường những tín đồ mà chúng ta cho là kém hơn mình và thích gắn bó với những người có sự tương giao đặc biệt tâm đầu ý hợp với mình. Tấm lòng kiêu ngạo và sự vui hưởng những điều thuộc linh cách ích kỷ làm cho chúng ta bỏ qua sự kiện là hội thánh ở bất cứ nơi nào cũng phải bao gồm mọi con cái của Đức Chúa Trời sống tại nơi ấy; vì vậy chúng ta thu hẹp sự tương giao Cơ Đốc và lựa chọn giữa vòng con cái Đức Chúa Trời. Đó là chủ nghĩa bè phái và là điều làm buồn lòng Chúa.