Thông tin sách

Gia Tể Của Đức Chúa Trời Tam Nhất

Tác giả: Witness Lee
Dịch từ bản tiếng Anh: The economy of God
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 21

Untitled Document

CHƯƠNG HAI MƯƠI MỐT

XÂY DỰNG NƠI Ở CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Có nhiều chi tiết quan trọng khác về linh và hồn cần được xem xét, nhưng bây giờ chúng ta cần tập trung chú ý vào việc xây dựng nơi ở của Đức Chúa Trời. Trong những chương trước, chúng ta đã nhấn mạnh đến đền tạm là nơi ở của Đức Chúa Trời. Chúng ta đã thấy đền tạm gồm có sân ngoài và hai phần của đền tạm là Nơi Thánh và Nơi Chí Thánh. Chúng ta hãy ôn qua nội dung của ba phần này.

Sân ngoài có bàn thờ tượng trưng cho thập tự giá Đấng Christ và thùng rửa tượng trưng cho công tác tẩy sạch của Thánh Linh.

Nơi Thánh gồm có bàn để bánh trần thiết, chân đèn và bàn thờ xông hương. Cả ba vật dụng này tượng trưng cho nhiều phương diện khác nhau của Đấng Christ, là sự sống của chúng ta. Bàn để bánh trần thiết bày tỏ Đấng Christ là lương thực hàng ngày của chúng ta – Ngài là bánh sự sống của chúng ta. Chân đèn tượng trưng cho Đấng Christ là sự sáng của sự sống. Nguồn cung cấp sự sáng mà chúng ta vui hưởng trở thành sự sáng soi sáng bên trong chúng ta. Kế đến bàn thờ xông hương tượng trưng cho hương thơm phục sinh của Đấng Christ.

Nơi Chí Thánh chỉ có một vật ấy là: hòm bảng chứng, là biểu tượng của chính Đấng Christ. Trong hòm bảng chứng có ba điều: ma-na giấu kín, tức là sự sống và lương thực bên trong, luật pháp ẩn tàng, là sự soi sáng bên trong chúng ta và gậy trổ hoa ẩn giấu chính là năng lực và uy quyền phục sinh bên trong. Ma-na giấu kín, luật pháp ẩn tàng và uy quyền ẩn giấu, tất cả đều ở trong sự phục sinh và sâu xa hơn ba điều tương ứng trong Nơi Thánh.

NỘI DUNG CỦA ĐỀN TẠM

Tất cả những điều trên là nội dung của đền tạm, là nơi cư trú của Đức Chúa Trời. Kinh nghiệm về cả tám điều ở sân ngoài, Nơi Thánh và Nơi Chí Thánh là nội dung đích thực của nhà Đức Chúa Trời thật sự, tức là Hội thánh. Nếu chúng ta ao ước trở nên kiến ốc, tức nơi Đức Chúa Trời cư ngụ, chúng ta phải kinh nghiệm những gì mà Đấng Christ đã hoàn thành qua thập tự giá của Ngài và qua sự tẩy sạch của Thánh Linh. Chúng ta cũng phải kinh nghiệm đầy đủ Đấng Christ là sự sống, sự sáng và hương thơm phục sinh của mình. Hơn nữa, chúng ta cần thật sự kinh nghiệm về chính Đấng Christ là ma-na giấu kín, luật pháp ẩn tàng và uy quyền ẩn giấu. Kinh nghiệm về Đấng Christ trong mọi phương diện này sẽ tạo nên nội dung đích thực của nhà Đức Chúa Trời và cung cấp các vật liệu dành cho sự xây dựng.

Trong những năm gần đây, người ta nói nhiều về Hội thánh Tân Ước. Nhưng Hội thánh Tân Ước không phải là một Hội thánh theo một kiểu mẫu nào đó, mà là một Hội thánh đầy sự sống và kinh nghiệm về Đấng Christ. Giả sử chúng ta nói: “Chúng ta hãy tạo một mẫu người giống hệt như người kia”. Thế rồi chúng ta làm hai cánh tay bằng sáp, đầu bằng cẩm thạch, mình bằng gỗ, hai ống chân và bàn chân bằng đất sét. Khi ráp chúng lại với nhau theo một kích thước chính xác, hình dáng y hệt và một nước sơn giống như màu da người ấy, chúng ta có thể có một mô hình của con người ấy, nhưng không có thực tại của chính con người ấy. Con người thật không được chế tạo theo một kiểu mẫu, nhưng phải được sinh ra và được trưởng thành do sự tăng trưởng của sự sống. Trước hết, một người mẹ có sự sống đã sinh người ấy ra, rồi người ấy lớn lên do hấp thụ các chất bổ dưỡng hằng ngày. Cuối cùng người ấy trở nên một con người có một vóc dáng, khuôn mẫu, nào đó. Tuy nhiên, ngược lại, chúng ta có thể có một khuôn mẫu, một mô hình, nhưng không có chính con người ấy.

Khi ở tại Pittsburgh, có lần tôi nói với một người bạn: Chúng ta hãy quên hết các khuôn mẫu đi mà tập trung, chú ý vào sự sống. Thí dụ anh có một cậu con trai khôi ngô. Anh sẽ không quá chú trọng đến vóc dáng bên ngoài của cháu. Hằng ngày anh sẽ không cố gắng uốn nắn hình dáng bên ngoài của cháu theo cách này hoặc cách kia. Trước hết, mẹ cháu sinh cháu ra, rồi anh nuôi cháu bằng sữa và thức ăn thích hợp. Đứa bé dần dần lớn lên, hình thành một vóc dáng và khuôn mẫu nào đó. Như vậy khuôn mẫu có từ khi nó ra đời và là một sự phát triển của sự sống. Nếu chúng ta không thể tạo lập con anh thì chúng ta cũng không thể tạo lập một Hội thánh thời Tân Ước được. Nếu chúng ta cố gắng làm điều đó thì tất cả những gì chúng ta có chỉ là một khuôn mẫu không có sự sống. Chúng ta có thể tạo ra một Hội thánh có khuôn mẫu, nhưng chúng ta không thể tạo ra một Hội thánh của sự sống.

Trong những năm gần đây, tôi luôn luôn nài khuyên mọi người: “Đừng thành lập điều gì cả!” Bất cứ điều gì chúng ta tạo ra đều không phải là Hội thánh thật. Suốt sáu ngàn năm qua, không ai tạo được một con người sống động trên trái đất này; mọi người đều được sinh ra và lớn lên trong sự sống. Hội thánh là Thân thể của Đấng Christ, không một bàn tay con người nào có thể tạo ra Hội thánh được. Chúng ta có thể tạo ra nhiều điều nhưng không thể tạo nên một Thân thể sống bao gồm các chi thể sống được. Trong Tân Ước, Chúa không bao giờ truyền dạy chúng ta thành lập Hội thánh; nhưng Ngài dạy dỗ chúng ta phải kinh nghiệm Đấng Christ, cung ứng Đấng Christ cho người khác và sinh ra nhiều con cái thuộc linh. Hội thánh thật, là Thân thể của Đấng Christ, chỉ thành hình do sự sinh ra và tăng trưởng của sự sống. Đây là lý do vì sao chúng ta nhấn mạnh đến nguyên tắc là đền tạm phát sinh từ sự kinh nghiệm về nội dung của đền tạm.

VÁCH NGĂN CỦA SÂN NGOÀI

Dựa trên nguyên tắc này, chúng ta hãy xem những vật dụng chính của đền tạm là gì. Trước hết là “vách ngăn” (bức bố vi) của sân ngoài (Xuất. 27:9-19; 38:9-20). Gọi là “vách ngăn” vì nó giống như một hàng rào bao quanh tài sản của anh em, phân cách và giữ gìn tài sản của anh em khỏi mọi điều bên ngoài. Vách ngăn của sân ngoài gồm có ba phần: 1) những lỗ trụ bằng đồng, 2) những cây trụ, 3) những tấm màn dệt bằng chỉ gai xe mịn. Chân của các vách ngăn này là những lỗ trụ bằng đồng. Có hai mươi lỗ trụ ở phía bắc, hai mươi ở phía nam, mười ở phía tây đằng sau và mười ở phía trước (Xuất. 27). Tổng cộng có sáu mươi lỗ trụ bằng đồng. Mỗi lỗ trụ để dựng một trụ và tất cả được nối lại và kết hợp với nhau bằng những cái khoen. Những tấm màn trên các trụ dệt bằng chỉ gai xe mịn từng đôi. Như vậy, ba điều chính yếu là: các lỗ trụ bằng đồng, các cây trụ và những tấm màn dệt bằng chỉ gai xe mịn.

Đồng tạo nên nền của vách ngăn này cũng chính là vật liệu chế tạo hai vật dụng được thấy ở sân ngoài, đó là bàn thờ bằng đồng và thùng rửa bằng đồng. Ý nghĩa thuộc linh của điều này là những lỗ trụ bằng đồng đến từ kinh nghiệm bàn thờ và thùng rửa. Cả bàn thờ và thùng rửa đều bằng đồng; vì vậy, các lỗ trụ của vách ngăn đều làm bằng đồng. Trong sân ngoài có bàn thờ bằng đồng, thùng rửa bằng đồng và lỗ trụ bằng đồng. Ấn tượng đầu tiên mà người ta nhận được khi bước vào sân ngoài là nền của vách ngăn làm bằng đồng, cùng một vật liệu với bàn thờ và thùng rửa. Điều này có nghĩa là kinh nghiệm thập tự giá và kinh nghiệm sự tẩy sạch của Thánh Linh chính là nền tảng cho sự phân cách của nhà Chúa.

Chúng ta biết đồng tiêu biểu cho sự phán xét thần thượng. Tất cả những gì chúng ta có, tất cả những gì chúng ta là và tất cả những gì chúng ta làm đều phải được đặt trên bàn thờ để được xét xử. Bàn thờ hay thập tự giá là nơi phán xét đầu tiên; Đức Chúa Trời phán xét mọi sự trên thập tự giá. Theo Dân Số Ký, đồng dùng bọc bàn thờ này lấy từ những lư hương đồng của 250 người phản loạn. Khi những người này nổi loạn với Đức Chúa Trời và Môi-se, họ bị lửa phán xét và Đức Chúa Trời bảo Môi-se lấy tất cả những lư hương đồng của họ bọc bàn thờ này để ghi nhớ. Đây là đài tưởng niệm sự phán xét của Đức Chúa Trời đối với những người phản loạn (Dân. 16:38). Để nhận biết được sự xây dựng Hội thánh, tất cả những gì chúng ta có, chúng ta làm và chúng ta là đều phải chịu thập tự giá xét đoán. Đây là đế lỗ trụ của vách ngăn nhà Đức Chúa Trời.

Có lẽ chúng ta đã rõ nguyên tắc về sự phân cách, nhưng chúng ta chưa có thể áp dụng được điều này. Giả sử tôi là một anh em được cứu trong Cơ Đốc giáo ngày nay. Qua sự rao giảng Phúc âm, tôi nghe nói mình là một tội nhân, Đấng Christ yêu tôi và Ngài đã chết trên thập tự giá. Kết quả tôi thừa nhận mình là một tội nhân. Tôi cầu nguyện: “Ôi Đức Chúa Trời, xin tha thứ cho con vì con rất tội lỗi. Con cảm ơn Ngài vì Ngài đã ban Con Ngài, là Chúa Jesus, chết trên thập tự giá vì con. Con ngợi khen Chúa vì Ngài là Cứu Chúa của con và tội lỗi con đã được tha. Ha-lê-lu-gia, con có sự vui mừng và bình an trong lòng”. Đương nhiên sau đó tôi đến gặp một vị mục sư, là một người bạn tốt của tôi và để ông làm báp-têm cho tôi. Sau khi chịu báp-têm, tôi trở thành “hội viên” của Hội thánh ông. Một ngày kia, Chúa mở mắt tôi và tôi thấy vì sao Ngài cứu tôi. Ngài đã cứu tôi với mục đích xây dựng tôi với những người khác để trở nên nơi cư ngụ của Ngài. Sau khi nghe một nhóm tín đồ tại địa phương tôi nói về nếp sống Thân thể và sự xây dựng Hội thánh, tôi muốn cùng xây dựng nếp sống Thân thể với họ. Cuối cùng Thánh Linh phán với tôi: “Con có đến để được xây dựng không? Con có đến để nhận biết nếp sống Hội thánh không? Thế thì trước hết con phải đến thập tự giá. Tất cả những gì con có thể làm, tất cả những gì con là và con có đều phải bị phán xét trên thập tự giá”. Khi ấy tôi phải xưng tội, ăn năn mà nói rằng: “Chúa ôi, không có điều gì của con được Ngài chấp nhận và chẳng có điều gì tốt cho sự xây dựng nhà của Ngài cả. Tất cả đều phải bị phán xét”. Nếu tôi không bằng lòng đi qua sự phán xét của thập tự giá, tôi không thể nào được xây dựng với những người khác bởi vì không có cơ sở, không có nền tảng. Nếu tôi đến Hội thánh với một thái độ kiêu hãnh, tôi có thể bước vào để tổ chức, nhưng không thể nào được xây dựng trong Hội thánh. Như chúng ta đã thấy qua những lỗ trụ phân cách của nhà Đức Chúa Trời, nền tảng đến từ kinh nghiệm về bàn thờ bằng đồng. Vì thế nền tảng vững chắc cho việc xây dựng nơi ở của Đức Chúa Trời đến từ kinh nghiệm về thập tự giá. Không có cách nào khác. Tất cả đều phải đặt lên bàn thờ để bị thiêu đốt và phán xét. Thập tự giá ở ngay cổng chính của Hội thánh. Nếu chúng ta muốn bước vào Hội thánh, chúng ta phải đặt chính mình lên bàn thờ của thập tự giá.

Khi toàn bộ con người chúng ta và mọi hành động của chúng ta đã được đặt trên thập tự giá, chúng ta có thể làm chứng rằng mình thật dơ bẩn, trần tục và tội lỗi dường bao. Chúng ta ý thức không những mình cần sự cứu chuộc của Đấng Christ, mà còn cần sự tẩy sạch của Thánh Linh. Một ngày kia, theo cảm nhận bên trong, tôi cảm thấy muốn nhảy vào thùng rửa. Tôi cầu nguyện: “Chúa ôi, xin tẩy sạch con! Con tội lỗi, con trần tục! Mỗi một phần nhỏ của con đều dơ bẩn! Con cần sự tẩy sạch của Thánh Linh!” Với gánh nặng cầu nguyện này, tôi kinh nghiệm thập tự giá và thùng rửa. Tại thập tự giá, chúng ta đặt mọi sự của chính mình vào chỗ chết và tại thùng rửa chúng ta đặt mọi điều dưới sự tẩy sạch của Thánh Linh. Điều này không những làm cho chúng ta tinh khiết mà còn được luyện lọc. Sau đó chúng ta sẽ khiêm nhường đến với Hội thánh bởi sự thương xót, sự cứu chuộc và sự thanh tẩy của Ngài. Khi một anh em đã kinh nghiệm bàn thờ và thùng rửa và khi đã được luyện lọc khỏi tất cả mọi sự kiêu hãnh và công bình tự mình tạo ra, người ấy đã có nền tảng, là lỗ trụ bằng đồng, mà trên đó cột trụ được dựng nên.

Kinh Thánh không cho biết các cột trụ được làm bằng vật liệu gì, nhưng chúng ta được biết các móc, các đai cột các trụ lại với nhau và các đỉnh trụ, bọc trên các trụ đều được làm bằng bạc. Bạc tiêu biểu cho sự cứu chuộc. Điều này có nghĩa là để xây dựng nơi ở của Đức Chúa Trời, chúng ta được liên kết, gắn liền lại với nhau và được bao phủ không bởi gì khác hơn là sự cứu chuộc của Chúa. Nếu muốn thực hành nếp sống Hội thánh, chúng ta phải ý thức rằng bởi sự cứu chuộc của Chúa, chúng ta được kết hợp lại với nhau và sự cứu chuộc của Ngài bao phủ chúng ta, biệt riêng chúng ta cho sự xây dựng nhà của Đức Chúa Trời.

Trên các trụ này, cũng có bức màn dệt bằng chỉ gai xe mịn, làm chứng cho mọi người rằng Hội thánh tinh khiết và trong sạch trong mọi hành vi, cử chỉ. Đây là lằn ranh phân cách. Nếu Hội thánh được dựng nên với một biên giới bao quanh rõ rệt, từ xa người ta sẽ thấy vải gai trắng đánh dấu sự khác biệt. Đây là chứng cớ của Hội thánh với thế gian trong sự tối tăm. Cả thế gian đều đen tối, nhưng tại đây, một điều gì đó đã được dựng lên, làm chứng rằng Hội thánh tinh sạch, thuần khiết và trong trắng. Một chứng cớ như vậy phải là kết quả của sự phán xét tại bàn thờ và sự tẩy sạch của thùng rửa, nhờ đó Hội thánh có hành vi cử chỉ thánh khiết trước mắt thế gian. Đây là những tấm màn bằng sợi gai xe mịn treo trên những trụ chống đỡ, mà nền của những trụ ấy là những lỗ trụ bằng đồng. Đây là lằn ranh phân rẽ làm chứng rằng Hội thánh đã được luyện lọc khỏi thế gian. Bên ngoài ranh giới này, mọi sự vẫn đen tối, thế nhưng bên trong thì trong trắng.

CÁC TẤM VÁN CỦA ĐỀN TẠM

Mặc dầu những kinh nghiệm này rất tốt, chúng vẫn thuộc về sân ngoài. Có nhiều điều tốt ở sân ngoài: đồng, bạc và vải gai mịn trắng. Nhưng không có gì bằng vàng cả. Vàng tượng trưng cho bản chất thần thượng. Điều này nghĩa là khi chúng ta ở sân ngoài, Chúa chưa thể hành động để đem bản chất thần thượng của Ngài vào trong chúng ta và vì thế, bản chất ấy chưa được bày tỏ ra bên ngoài. Chỉ mới có sự phán xét và thanh tẩy các điều tiêu cực mà thôi. Nói cách khác, một anh em trước kia kiêu hãnh nhưng bây giờ đến với chúng ta rất khiêm nhường và dường như không có sự công bình tự tạo, vinh quang riêng và tự mãn. Nhưng đây chỉ là những điều thuộc lãnh vực hành vi con người và sự tẩy sạch thuộc lãnh vực ấy. Chưa có điều gì của Đức Chúa Trời được thực hiện trong anh để biểu lộ ra bên ngoài – không có vàng được thể hiện. Ở sân ngoài là một điều tốt, nhưng vẫn chỉ là ngoài sân, chưa phải là ngôi nhà. Đây vẫn là ở ngoài trời, không nơi trú ẩn, không có mái che, không có một kiến trúc. Chúng ta cần những điều thần thượng hòa lẫn với bản chất của mình: chúng ta cần một sự hòa lẫn giữa thần tính và nhân tính. Vì thế, chúng ta phải từ sân ngoài tiến vào Nơi Thánh và ngay cả vào Nơi Chí Thánh.

Bởi sự thương xót và ân điển của Chúa, nếu chúng ta vào Nơi Thánh và Nơi Chí Thánh, chúng ta sẽ thấy vàng hầu như ở khắp mọi nơi: bàn bằng vàng, chân đèn vàng, bàn dâng hương bằng vàng, rương vàng và những tấm ván bọc vàng. Chung quanh là vàng, nội dung là vàng, mọi vật dụng đều bằng vàng. Điều này có ý nghĩa gì? Ngợi khen Chúa, gỗ của những tấm ván (Xuất. 26:15) tiêu biểu cho nhân tính, bản tính con người và vàng bọc ngoài các tấm ván tượng trưng cho thần tính, bản chất thần thượng. Bây giờ thần tính và nhân tính trở nên một! Về một mặt, nó là gỗ, nhưng về mặt khác, nó là vàng. Tại đây trong Nơi Thánh và Nơi Chí Thánh, thần tính hòa lẫn với nhân tính. Đây là lý do vì sao những nơi này được gọi là Nơi Thánh và Nơi Chí Thánh, vì bất cứ điều gì thánh khiết phải thuộc về Đức Chúa Trời. Ở sân ngoài chúng ta là công chính, nhưng không thánh khiết. Mọi phương diện của hành vi và cử chỉ của chúng ta đều đúng đắn vì đã được thập tự giá phán xét và thùng rửa tinh luyện. Tại đây có sự công chính nhưng không có sự thánh khiết, là bản tính thần thượng được đem vào trong con người. Cho đến khi vào trong Nơi Thánh và Nơi Chí Thánh, chúng ta mới thấy mọi vật dụng đều được thếp vàng. Gần như mọi điều đều có yếu tố gỗ nhưng đều được bọc vàng. Có nhân tính nhưng nhân tính được hòa lẫn với thần tính.

Nếu không bước vào Nơi Thánh và Nơi Chí Thánh và không có những điều thần thượng được ban phát vào bên trong, chúng ta không thể là những tấm ván kết hợp lại với nhau thành nơi ở của Đức Chúa Trời. Hội thánh được xây dựng do sự hòa lẫn của Đức Chúa Trời và con người. Sự hòa lẫn của chính Đức Chúa Trời với chúng ta trở nên vật liệu cho sự xây dựng Thân thể của Đấng Christ. Dầu được thanh tẩy đến đâu chăng nữa, chúng ta chỉ có thể là vải gai mịn trắng, chúng ta không thể là những tấm ván để xây dựng đền tạm. Nhưng càng được thếp vàng, chúng ta càng trở nên vật liệu cho kiến trúc của Đức Chúa Trời. Đây là lý do vì sao chúng ta phải vào trong linh, vận dụng linh, bước đi theo linh và hòa lẫn với Chúa trong linh. Bởi sự hòa lẫn của thần tính và nhân tính mà chúng ta mới trở nên vật liệu cho sự xây dựng nhà của Đức Chúa Trời.

Các tấm ván bọc vàng trong Nơi Thánh và Nơi Chí Thánh đều dựng trên những lỗ trụ bằng bạc, nghĩa là sự cứu chuộc của Đấng Christ là cơ sở và nền tảng cho sự xây dựng nhà Đức Chúa Trời. Nhưng vàng bọc các tấm ván có từ đâu? Từ kinh nghiệm bàn thờ bằng vàng, chân đèn vàng, bàn thờ xông hương bằng vàng và hòm bảng chứng bằng vàng. Chúng ta càng kinh nghiệm Đấng Christ là sự sống, sự sáng, hương thơm phục sinh và càng kinh nghiệm chính mình Ngài một cách sâu xa hơn, bản tính thần thượng càng được ban phát vào trong chúng ta. Vàng để bọc các tấm ván có được là do chúng ta kinh nghiệm được nội dung từ Nơi Thánh và Nơi Chí Thánh. Thần tính hòa lẫn với nhân tính chỉ có được do chúng ta kinh nghiệm Đấng Christ là sự sống, sự sáng, hương thơm phục sinh của mình và ngay cả đến từ những kinh nghiệm sâu xa hơn về chính Đấng Christ. Những điều này tạo nên vật liệu cho sự xây dựng nhà Đức Chúa Trời. Chúng ta phải kinh nghiệm Đấng Christ hằng ngày như bánh ma-na, sự sáng và hương thơm phục sinh và kinh nghiệm Ngài một cách sâu xa nhất để có được sự hòa lẫn thần thượng.

Để được xây dựng, chúng ta cần được sáng tỏ về ba điều khác nữa. Trước hết, mỗi tấm ván rộng một cúp-bít rưỡi (Xuất. 26:16). Chúng ta cần ý thức mình chỉ là một cúp-bít rưỡi mà thôi. Có bốn mươi tám tấm ván trong đền tạm, được kết hợp từng cặp, mỗi cặp rộng ba cúp-bít. Vì sao mỗi tấm ván chỉ là một cúp-bít rưỡi? Vì mỗi tấm chỉ là một nửa và cần kết hợp với một nửa khác. Chúng ta phải ý thức mình chỉ là phân nửa. Khi Chúa Jesus sai các sứ đồ ra đi, Ngài luôn luôn sai họ đi từng đôi. Phi-e-rơ cần Giăng và Giăng cần Phi-e-rơ. Mỗi người trong chúng ta chỉ là phân nửa và cần phân nửa khác bổ sung cho. Chúng ta không bao giờ nên hành động và làm việc một cách độc lập và cá nhân. Tất cả các công tác và chức năng trong Hội thánh cần phải được hoàn thành một cách tập thể. Hai tấm ván cần được ráp lại với nhau. Mỗi người không phải là một tổng thể trọn vẹn; chúng ta cần phân nửa khác. Ai là phân nửa kia của bạn? Chúng ta phải ý thức mỗi một người chúng ta không phải ba cúp-bít, nhưng chỉ là một cúp-bít rưỡi. Chúng ta không thể đi một mình và phục vụ một cách cá nhân. Chúng ta không thể làm việc và hoạt động một cách độc lập. Chúng ta phải là những thành viên biết phối hợp trong sự xây dựng nhà của Đức Chúa Trời.

Hơn thế nữa, mỗi tấm ván có hai cái mộng, là phần nhô ra để được ăn khớp vào lỗ mộng (Xuất. 26:19). Vì sao mỗi tấm ván có hai thay vì một cái mộng? Điều này rất rõ ràng. Với một cái mộng, tấm ván có thể quay vòng vòng, nhưng hai cái mộng giữ chặt nó lại. Số hai chỉ về sự xác quyết. Giống như một người có hai chân. Nếu đứng một chân, một người dễ xoay hay ngã, nhưng nếu đứng hai chân anh không dễ gì ngã và cũng rất khó xoay tròn. Chúng ta không muốn có nhiều anh em “quay lòng vòng”. Vào buổi sáng, anh hướng phía này và buổi chiều anh lại hướng về phía kia. Sáng hôm sau anh lại quay qua hướng khác, luôn luôn quay vòng vòng. Nếu không biết anh ở đâu, chúng ta sẽ không bao giờ bắt được anh. Anh luôn luôn quay vòng vòng trên một cái mộng. Không thể xây dựng với những anh chị em thiếu ổn định như thế. Họ phải bền vững. Dầu bất cứ điều gì xảy ra, họ cứ đứng đó đến chết. Khi có một người bằng lòng hi sinh sự sống của mình, Hội thánh mới được xây dựng. Chúng ta cần người khác kết hợp với mình và chúng ta luôn luôn cần sự xác quyết của họ.

Ngoài ra còn có các thanh ngang bằng vàng và những khoen vàng để nối tất cả các tấm ván lại với nhau. Các khoen tượng trưng cho Thánh Linh. Chúng ta tiếp nhận Thánh Linh như những cái khoen vào giai đoạn đầu của đời sống Cơ-đốc của mình, là lúc chúng ta được tái sinh (Lu. 15:22 và Sáng. 24:47). Các khoen giữ những thanh ngang, cũng là biểu tượng của Thánh Linh, nhưng với nhân tính; bên trong các thanh ngang bằng vàng này là gỗ cây keo (gỗ si-tim theo Kinh Thánh Việt Ngữ bản cũ). Như chúng ta đã thấy, sau sự phục sinh và sự thăng thiên của Chúa, Thánh Linh ngự xuống từ trời với cả thần tính lẫn nhân tính; bây giờ Ngài là Linh của Chúa Jesus. Đây là Thánh Linh tuyệt diệu với cả thần tính và nhân tính kết hợp và liên kết chúng ta lại làm một với nhau. Khi ấy tất cả các tấm ván đều trở nên một. Giả sử như vàng bị lấy đi khỏi các tấm ván, khoen và các thanh ngang. Khi không còn vàng, tất cả các tấm ván sẽ rời rạc, riêng rẽ. Sự hiệp một không do nơi gỗ, nhưng do nơi vàng. Nếu vàng bị cất đi, sẽ không có yếu tố kết hợp và các tấm ván chỉ còn là những miếng gỗ riêng rẽ và rời rạc. Qua hình ảnh này, chúng ta thấy sự hiệp nhất, sự xây dựng không ở trong gỗ mà hoàn toàn ở trong vàng. Nghĩa là việc xây dựng Hội thánh không nằm trong nhân tính nhưng thuộc về thần tính. Chúng ta được xây dựng lại với nhau trong thần tính. Chính thần tính đã nối liền, liên kết và giữ chúng ta lại làm một với nhau.

Trước hết, anh em và tôi phải học biết rằng chúng ta chỉ là một nửa; thứ hai, chúng ta đừng bao giờ hành động một cách độc lập và cá nhân, thiếu sự xác quyết của người khác. Cuối cùng, chúng ta phải hành động, sống và phục vụ trong bản chất thần thượng. Ấy là trong bản tính này mà chúng ta là những tấm ván được liên hiệp với nhau. Khi ấy, chúng ta sẽ có nhà của Đức Chúa Trời. Một lần nữa, tôi xin lặp lại rằng tất cả những điều này đến từ kinh nghiệm về Đấng Christ như bánh trần thiết, chân đèn, hương thơm phục sinh và hòm bảng chứng gồm có ma-na giấu kín, luật ẩn tàng và gậy ẩn giấu. Những điều này thật đầy ý nghĩa! Nguyện Chúa ghi khắc bức tranh này vào trong chúng ta một cách đầy đủ, sâu xa và trọn vẹn. Đây là cách thức đúng đắn để chúng ta được xây dựng với nhau thành nơi cư ngụ của Đức Chúa Trời. Hội thánh không phải là vấn đề kiểu mẫu, mà là kinh nghiệm thật về Đấng Christ là sự sống và là mọi sự; vì thế, cách duy nhất để Hội thánh được xây dựng giữa vòng chúng ta là kinh nghiệm Đấng Christ trong linh.