Thông tin sách

Gia Tể Của Đức Chúa Trời Tam Nhất

Tác giả: Witness Lee
Dịch từ bản tiếng Anh: The economy of God
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 18

Untitled Document

CHƯƠNG MƯỜI TÁM

VẬN DỤNG LINH VÀ LỐI VÀO LINH

Trong chương 17, chúng ta thấy sự sống thần thượng mà chúng ta đã tiếp nhận phát sinh ra sự tương giao của sự sống hay sự luân lưu sự sống, và sự luân lưu của sự sống tạo ra sự cảm nhận bên trong tức là ý thức sâu xa hơn về sự sống. Bây giờ chúng ta hãy xem xét sự khác biệt giữa hồn và linh.

Xin nhớ rằng đền tạm hay đền thờ đều có ba phần: sân ngoài, Nơi Thánh và Nơi Chí Thánh. Tân Ước tuyên bố rất rõ chúng ta là đền thờ của Đức Chúa Trời. Vì thế, đền thờ không chỉ là biểu tượng của Đấng Christ nhưng còn là biểu tượng của Cơ Đốc nhân. Con người có ba phần: thân, hồn và linh (1 Tê. 5:23). Ba phần này tương ứng với ba phần của đền thờ. Thân thể tương ứng với sân ngoài, hồn tương ứng với Nơi Thánh, và linh tương ứng với Nơi Chí Thánh.

Trong biểu tượng đền tạm, sự hiện diện của Đức Chúa Trời hay vinh quang Sê-ki-na của Đức Chúa Trời và hòm bảng chứng, là biểu tượng về Đấng Christ thì ở trong Nơi Chí Thánh. Đấng Christ ở trong linh chúng ta là sự áp dụng hay sự ứng nghiệm của biểu tượng này trong thời Tân Ước. Ngày nay, Ngài ở trong phần sâu kín nhất của con người chúng ta, là Nơi Chí Thánh.

Đây là lý do vì sao sách Hê-bơ-rơ đề cập đến vấn đề này. Như chúng ta đã thấy, chương 4 câu 12 đề cập đến nhu cầu phân biệt linh và hồn. Nói cách khác, chúng ta cần phân biệt linh với hồn để kinh nghiệm Đấng Christ hằng sống, là Đấng đang ở trong linh chúng ta. Điều này phù hợp với sự dạy dỗ của toàn bộ Kinh Thánh Tân Ước. Cả bốn sách Phúc âm đều khuyên chúng ta từ chối và từ bỏ hồn, và các thư tín cũng khuyên chúng ta bước theo linh và sống trong linh chúng ta. Chúa Jesus là Linh thần thượng ngự trong chính linh này (2 Ti. 4:22). Vì thế, chúng ta phân biệt linh với hồn bằng cách từ chối hồn và theo Chúa trong linh chúng ta.

KINH NGHIỆM VỀ BÀN THỜ

Chúng ta hãy xem xét một nan đề trong việc áp dụng nguyên tắc này. Ngày nọ, một chị em đến nói với tôi: “Nếu chúng ta không ở trong Nơi Chí Thánh, thì chúng ta vẫn ở trong phần thân thể hay trong phần hồn. Như vậy làm sao chúng ta có thể vận dụng linh?” Điều này nghe có vẻ hợp lý. Nếu chúng ta vẫn ở trong thân thể hay trong hồn và không bước vào linh, làm sao chúng ta vận dụng linh? Chúng ta không thể trả lời câu hỏi này bằng tâm trí được. Tuy nhiên, khi ở trong thân thể hay trong hồn, không có nghĩa là chúng ta hoàn toàn bị cắt đứt khỏi linh. Khi chúng ta sử dụng tay chân mình, có phải bàn tay hay bàn chân ấy bị cắt đứt khỏi đầu không? Chúng ta là con người toàn diện: thân, hồn và linh. Chúng ta không thể chia cắt con người ra làm ba phần. Tôi nói với chị em đó là khi chị ăn năn tin Chúa Jesus, sự ăn năn của chị là sự vận dụng linh. Sự ăn năn thật đòi hỏi chúng ta phải có một linh thống hối. Nếu chúng ta chỉ ăn năn trong tâm trí, đó không phải ăn năn một cách sâu xa và chân thật. Sự ăn năn thật phải là một nhận thức sâu xa trong linh. Khi tin Chúa Jesus, chúng ta đã vận dụng linh dầu chưa hề biết từ ngữ linh. Mọi bước kinh nghiệm về Chúa đều ở trong linh chúng ta.

Khi tiếp nhận Chúa Jesus làm Cứu Chúa của mình, chúng ta đến thập tự giá là nơi chúng ta được cứu chuộc. Trong biểu tượng đền tạm, bàn thờ đặt ở sân ngoài tượng trưng cho thập tự giá. Chúng ta ăn năn và tiếp nhận Chúa Jesus tại thập tự giá. Ngay giây phút được cứu, chúng ta đã thật sự vận dụng linh. Nhờ đã vận dụng linh mình, chúng ta đụng chạm Đức Chúa Trời, cảm biết Đức Chúa Trời và có một sự tiếp xúc sống động với Ngài.

Nhưng có lẽ sau đó, chúng ta không sống bởi linh hay ngay cả bởi hồn, mà sống theo lối thế gian. Vâng, chúng ta được cứu tại thập tự giá, nghĩa là chúng ta đã vượt qua bàn thờ ở sân ngoài nhưng sau đó, chúng ta đã không tiếp tục sống trong linh hoặc ngay cả trong hồn nhưng theo lối sống thế gian.

Có lẽ anh em hỏi tôi lối sống thế gian là gì? Tôi xin minh họa qua câu chuyện một anh em tên Sung nguyên là một chánh án. Một ngày kia anh được mời đến một buổi truyền giảng Phúc âm của tôi. Sau buổi nhóm, là một người vô tín, anh đến hỏi tôi một câu đượm vẻ thế gian: “Ông Lý ơi, xin cho tôi biết Đức Chúa Trời là đàn ông hay là đàn bà?” Để trả lời, tôi chỉ nói với anh một ít về Đức Chúa Trời và Đấng Christ. Rồi anh nói rằng anh thật sự “cảm phục” bài giảng của tôi nhưng anh không biết cách nào để tin. Tôi bảo anh nên đơn sơ mở lòng ra tiếp nhận Đấng Christ, vì Ngài là Linh và Ngài ở khắp nơi. Tôi nói: “Anh hãy về nhà, đóng cửa lại; quì xuống, xưng các tội lỗi của mình và mở lòng ra hướng về Đấng Christ. Hãy nói với Ngài rằng anh tin Ngài đã chết cho anh và anh tiếp nhận Ngài làm Cứu Chúa của mình”. Anh hứa sẽ làm theo.

Đêm hôm ấy, trong khi đang sinh hoạt với gia đình gồm những người không biết gì về Cơ Đốc giáo, anh thình lình vào phòng đóng cửa lại và quì gối cầu nguyện. Khi vợ con hỏi anh định làm gì, anh đáp anh có công việc đặc biệt và đóng cửa lại. Vợ và con trai anh nhìn lén qua cửa sổ rồi cười nhạo anh. Khi cầu nguyện xong, anh nghĩ sẽ có một điều bất ngờ xảy đến cho mình nhưng chờ mãi không thấy. Sáng hôm sau, dùng điểm tâm xong, trên đường ra tòa để xử một vụ án, thình lình anh kinh nghiệm một điều. Anh bảo tôi rằng lúc ấy cả vũ trụ đã thay đổi, trời đất thật tuyệt vời. Ngay cả những chú mèo con, chó con mà anh từng xem thường bây giờ cũng trở nên đáng yêu. Anh vui mừng đến nỗi bật cười. Anh tự hỏi: “Chuyện gì đây?” Trong phiên tòa, anh không thể không cười. Sau đó, anh về nhà và lại cười nhiều hơn. Vợ anh ngạc nhiên hỏi: “Có chuyện gì vậy? Anh kiếm được nhiều tiền lắm phải không? Sao anh vui mừng quá vậy?” Anh đáp: “Anh không biết. Anh chỉ thấy vui mừng. Cả vũ trụ đã thay đổi”. Qua hôm sau, một thanh niên trong Chúa giúp anh biết anh đã thật sự được cứu.

Tuy nhiên, dầu đã được cứu, anh vẫn sống như một người thế gian, theo quan điểm thế gian. Anh vẫn ở sân ngoài dưới ánh sáng mặt trời; cảm nhận của anh không có gì thay đổi. Đến ngày thứ ba, anh được đưa đến buổi nhóm của Hội thánh. Tôi rất vui mừng gặp lại anh. Sau buổi nhóm anh nói: “Ông Lý ơi, ông ăn nói hoạt bát và hùng biện quá. Ông tốt nghiệp trường nào vậy?” Nhận xét ấy chứng tỏ anh còn nhìn sự việc theo cách thế gian. Rồi anh hỏi tôi nhiều vấn đề liên quan đến Hội thánh. Anh nói: “Làm thế nào ông đem được nhiều người vào Hội thánh vậy? Ông đã áp dụng những phương pháp nào? Ông có quảng cáo và cổ động như các đảng phái chính trị không?” Anh đã nhìn sự việc hoàn toàn theo quan điểm thế gian. Anh lại hỏi: “Ông Lý, xin ông hướng dẫn tôi làm thủ tục để trở thành một Cơ Đốc nhân. Tôi có phải điền đơn hay ký giấy tờ gì không?” Dĩ nhiên tôi giúp anh hiểu vấn đề một cách đúng đắn. Nhưng rồi anh lại hỏi: “Nếu tôi làm hội viên của Hội thánh ông, mỗi năm tôi phải đóng bao nhiêu tiền? Còn gia đình tôi thì sao? Hội thánh có kiểm soát cả gia đình tôi không? Ông có qui định luật lệ cho vợ con tôi không?” Đó là lối suy nghĩ của thế gian. Anh đã thật được cứu nhưng vẫn còn ở sân ngoài, còn sống tại Ai Cập. Anh kinh nghiệm lễ Vượt Qua nhưng chưa có kinh nghiệm vượt qua Biển Đỏ. Anh vẫn còn lệ thuộc thế giới vật chất.

KINH NGHIỆM BỨC MÀN THỨ NHẤT

Tôi xin tiếp tục dùng anh em trên làm ví dụ. Anh được cứu năm 1938. Năm kế tiếp, không có gì thay đổi. Dầu đã được cứu, anh vẫn hoàn toàn sống trong thế gian. Suốt ba năm trường không có một sự biến đổi nào. Đến năm 1941, anh được phục hưng và được biến đổi hoàn toàn. Một ngày kia, đang khi cầu nguyện, anh buông bỏ mọi điều của thế gian. Anh nói: “Chúa ôi, con xin từ bỏ kiến thức, nghề nghiệp, gia đình và mọi điều của thế gian. Chúa ôi, từ nay về sau, con chỉ yêu Ngài! Con được cứu đã ba năm nay nhưng bây giờ con mới biết con phải dứt bỏ mọi điều của thế gian”. Và từ ngày ấy, anh từ bỏ thế gian.

Qua hành động ấy, từ sân ngoài, anh vượt qua bức màn thứ nhất và đi vào Nơi Thánh. Anh khám phá cách tương giao với Đấng Christ và nhận lãnh Ngài như ma-na hằng ngày qua việc đọc Kinh Thánh. Kinh Thánh trở nên quí báu và ngọt ngào đối với anh. Mỗi ngày anh thưởng thức Kinh Thánh như thức ăn của mình. Từ ngày ấy, không những anh vui hưởng bánh trần thiết trên bàn, mà còn được soi sáng bởi sự chiếu sáng bên trong. Rồi anh cũng hưởng được niềm vui trong sự cầu nguyện nữa. Anh nói: “Anh Lý ơi (anh không còn gọi tôi là ông Lý), mỗi khi nhắm mắt cầu nguyện, tôi có cảm tưởng mình đang ở trên các từng trời”. Đây là gì? Đây là mùi thơm ngọt ngào của hương liệu đốt cháy. Anh cảm nhận được sự hiện diện của Đức Chúa Trời vì anh đã kinh nghiệm Đấng Christ là ma-na hằng ngày, là ánh sáng bên trong và là hương thơm phục sinh ngọt ngào.

Đến đây chúng ta cần xác định vị trí của kinh nghiệm này. Anh ấy từ sân ngoài tiến vào Nơi Thánh bằng cách vượt qua bức màn thứ nhất. Anh chưa vượt qua bức màn thứ hai. Ban đầu tội lỗi anh được xử lý tại bàn thờ của thập tự giá; nhưng thế gian và những điều của nó vẫn còn ở trong anh. Ba năm sau, anh vượt qua bức màn thứ nhất, anh rũ bỏ thế gian và những gì thuộc về nó rồi bước vào Nơi Thánh. Hằng ngày, anh bắt đầu kinh nghiệm Đấng Christ là sự sống, thức ăn, ánh sáng của mình và là hương thơm phục sinh ngọt ngào.

KINH NGHIỆM BỨC MÀN THỨ HAI

Nhưng anh vẫn chưa vào Nơi Chí Thánh. Tội lỗi và những gì của thế gian ra đi nhưng còn một điều sót lại, ấy là xác thịt. Vì thế, vẫn còn một bức màn ngăn cách. Qua thư từ qua lại gần đây từ miền Viễn Đông, tôi được biết hai năm qua, anh ấy đã kinh nghiệm sự tan vỡ người bên ngoài. Phá vỡ con người bề ngoài là xé rách bức màn thứ hai. Đó là sự xé rách hay phá vỡ xác thịt. Các bức thư cho biết từ kinh nghiệm ấy, anh đã thật sự nhận biết linh. Không những anh nhận biết linh mình, mà cả linh của những người khác nữa. Vì hiện nay anh ở trong linh nhiều hơn.

Khi bước vào sân ngoài, nhờ được cứu chuộc, tội lỗi chúng ta được xử lý. Khi chúng ta tiến vào Nơi Thánh, thế gian bị tiêu diệt. Tuy nhiên bản ngã vẫn còn nếu chúng ta không tiến vào Nơi Chí Thánh. Hằng ngày, chúng ta vẫn vui hưởng Đấng Christ là ma-na tuyệt diệu, là ánh sáng thiên thượng và là hương thơm ngọt ngào của sự phục sinh; nhưng những điều này vẫn còn nông cạn vì mọi điều trong Nơi Thánh đều được bày tỏ một cách công khai. Bánh trần thiết không phải là ma-na giấu kín, đèn không phải luật pháp ẩn tàng và bàn thờ xông hương không phải gậy ẩn giấu của sự phục sinh. Khi chúng ta đến buổi nhóm, mọi người đều có thể thấy chúng ta đang trưng bày ma-na, chiếu ra ánh sáng và tỏa hương thơm ngọt ngào của hương liệu bị đốt cháy. Nếu chúng ta ở trong trường hợp này, đừng nghĩ là mình đã sâu nhiệm lắm. Nhiều khi chúng ta đến buổi nhóm với hương thơm ngọt ngào của hương liệu đã bị đốt cháy vài người sẽ tấm tắc nói: “Ồ! thật là một anh em dễ mến. Thật là một chị em dịu dàng! Hễ họ mở miệng ra nói, ai cũng đều cảm thấy hương thơm ngọt ngào của Đấng Christ”.

Nhưng đó vẫn không phải là ma-na kín giấu, luật pháp ẩn tàng và gậy trổ hoa ẩn giấu. Dầu vậy chúng ta không nên phủ nhận mà trái lại phải tôn trọng những kinh nghiệm tốt đẹp ở Nơi Thánh. Ngợi khen Chúa, nhiều người đang vui hưởng Đấng Christ là ma-na hằng ngày, là ánh sáng và hương thơm phục sinh ngọt ngào. Nhưng chúng ta phải ý thức rằng đây không phải là mục tiêu, không phải là miền đất Ca-na-an. Đây chỉ là đồng vắng nơi có Vầng Đá hằng sống tuôn tràn nước sống và nơi mà Đấng Christ đang cung cấp lương thực là ma-na cho chúng ta hằng ngày. Nhận ma-na từ trời và nước sống tuôn tràn từ Vầng Đá không chứng tỏ rằng chúng ta đang sống cho mục đích của Đức Chúa Trời. Điều này chỉ chứng tỏ rằng chúng ta không ở trong Ai Cập, tức là không ở trong thế gian. Nói cách khác, chúng ta đang ở trong Nơi Thánh, chứ chưa phải là Nơi Chí Thánh. Chúng ta cần phải đẩy mạnh mà tiến lên để hưởng được điều tốt nhất. Ra khỏi Ai Cập chưa đủ. Đó chỉ là phương diện tiêu cực mà thôi. Còn có nhiều điều tích cực hơn nữa. Chúng ta cần tiến vào miền đất tốt lành là biểu tượng của Đấng Christ tổng-bao-hàm ở trong linh chúng ta. Chiên Con của lễ Vượt Qua tại Ai Cập, hay ma-na hằng ngày trong đồng vắng cũng không thể so sánh với miền đất tốt lành được. Miền đất Ca-na-an tốt lành không phải chỉ gồm một khía cạnh hay một phần của Đấng Christ, mà là một Đấng Christ tổng-bao-hàm.

Một lần nữa, chúng ta phải lưu ý điều này: khi được cứu, chúng ta đã vận dụng linh một cách không ý thức. Đây là điều chắc chắn đúng. Bây giờ ở trong Nơi Thánh, hằng ngày chúng ta đọc Kinh Thánh, tiếp xúc Đấng Christ và kinh nghiệm sự soi sáng. Tất cả những điều này phải được kinh nghiệm qua việc vận dụng linh, mặc dầu chúng ta là người ở trong hồn hơn là ở trong linh. Có lẽ chúng ta đọc Kinh Thánh mỗi sáng bằng cách vận dụng linh và vì thế chúng ta nuôi mình bằng Đấng Christ là ma-na hằng ngày. Nhưng đối với chính mình, chúng ta vẫn chưa ở trong linh, chúng ta vẫn còn ở trong hồn. Cuối cùng, một ngày nào đó, chúng ta sẽ ý thức rằng bản ngã cần phải bị xử lý và tan vỡ. Khi nhận thức mình đã bị đóng đinh rồi, chúng ta sẽ áp dụng thập tự giá cho chính mình, và khi qua kinh nghiệm chúng ta thừa nhận rằng bản ngã đã bị chôn thì chúng ta sẽ được chuyển vào trong linh mình. Kế đó chúng ta không những chỉ vận dụng linh để tiếp xúc với Chúa nhưng cả con người chúng ta đều ở trong linh. Vì vậy, có ba bước quan trọng chúng ta phải vượt qua: bàn thờ, bức màn thứ nhất và bức màn thứ hai. Tại bàn thờ tội lỗi chúng ta được xử lý, tại bức màn thứ nhất thế gian bị xử lý và tại bức màn thứ hai con người chúng ta – sự sống của hồn, con người thiên nhiên, con người bề ngoài, xác thịt, bản ngã – đều bị xử lý. Sau đó, chúng ta trở nên người ở trong linh. Điều này vượt hơn việc chúng ta chỉ vận dụng linh mình để kinh nghiệm những điều thuộc về Chúa.

KINH NGHIỆM CỦA BIỂN ĐỎ VÀ SÔNG GIÔ-ĐANH

Chúng ta hãy tìm hiểu thêm về địa lý và lịch sử của dân Israel. Tại Ai Cập, dân Israel dự lễ Vượt Qua để giải quyết vấn đề tội lỗi của họ. Họ được cứu khi tội lỗi của họ được xử lý bởi Chiên Con của lễ Vượt Qua. Tuy nhiên quyền lực của Ai Cập, Pha-ra-ôn và quân đội của ông ta vẫn bắt họ làm nô lệ. Vì thế họ cần vượt qua Biển Đỏ. Dưới dòng nước Biển Đỏ, quyền lực thế gian đã bị chôn vùi. Quân đội Pha-ra-ôn tượng trưng cho loài người và mọi điều thuộc thế gian. Đối với người này, một cặp mắt kính cũng có thể là một người lính của quân đội Ai Cập vì đối với họ, cặp mắt kính là một điều thuộc thế gian. Đối với người khác, vấn đề ăn mặc không chỉ là một chiến sĩ đơn độc, mà là cả một đạo binh của quân đội Ai Cập. Nhiều điều thuộc thế giới này ràng buộc và kiểm soát chúng ta dưới quyền lực của nó. Nhưng khi dân Israel vượt qua Biển Đỏ, cả thế gian đều bị xử lý. Tất cả quân đội Ai Cập đều bị chôn vùi dưới nước Biển Đỏ. Nước Biển Đỏ tiêu biểu cho khía cạnh thứ nhất của hiệu quả sự chết Đấng Christ. Mọi điều thuộc thế gian đều bị xử lý và chôn vùi trong cái chết của Đấng Christ.

Sau đó, dân Israel rời khỏi Ai Cập, họ đi lang thang trong đồng vắng và hằng ngày thưởng thức ma-na, tức là một điều gì thiên thượng của Đấng Christ. Họ có thể luôn luôn làm chứng với người khác là họ vui hưởng Đấng Christ là thế nào nhưng đồng thời họ vẫn lang thang trong đồng vắng. Một ngày kia, họ vượt qua sông Giô-đanh và giữa dòng sông Giô-đanh ấy, mười hai hòn đá tượng trưng cho dân Israel cũ kỹ bị chôn vùi. Dưới dòng nước Biển Đỏ, quân đội Ai Cập đã bị chôn vùi nhưng dưới dòng sông Giô-đanh, bản ngã và con người cũ của dân Israel bị chôn chặt. Sau những điều này, họ bước vào địa điểm thứ ba là miền đất Ca-na-an và vui hưởng sự trù phú bao-hàm-tất-cả của miền đất ấy.

Khi dân Israel ở Ai Cập, họ đang ở sân ngoài đền tạm. Khi vào đồng vắng, họ ở trong Nơi Thánh. Cuối cùng khi tiến vào Ca-na-an, họ ở trong Nơi Chí Thánh. Biển Đỏ tương ứng với bức màn thứ nhất, và sông Giô-đanh tương ứng với bức màn thứ hai. Rõ ràng hai dòng nước tiêu biểu cho hai khía cạnh của thập tự giá Đấng Christ. Khía cạnh thứ nhất của thập tự giá là xử lý những gì thuộc về thế gian của chúng ta, và khía cạnh thứ hai là xử lý bản ngã trong hồn chúng ta. Nói cách khác, chính thập tự giá xé rách hai bức màn ấy. Chúng ta phải đi qua hai bức màn cũng như dân Israel phải đi qua hai dòng nước vậy.

Bây giờ chúng ta phải tự xét xem mình đang ở đâu. Có phải chúng ta đang ở trong Ai Cập không? Hay ở trong đồng vắng? Hoặc ở Ca-na-an? Nói cách khác, phải chăng chúng ta đang ở sân ngoài đền tạm? Hay ở trong Nơi Thánh? Hoặc trong Nơi Chí Thánh? Chúng ta có đang ở trong bầu không khí thuộc thế gian với mọi điều dưới ánh sáng mặt trời không? Những người ở sân ngoài không có ánh sáng của Nơi Thánh, họ chỉ có ánh sáng mặt trời. Chúng ta có phải là những Cơ Đốc nhân như vậy không, nghĩa là những người đã tin Chúa Jesus, tiếp nhận Ngài làm Cứu Chúa, và tin Ngài đã chết trên thập tự giá vì tội lỗi chúng ta, mà vẫn còn giữ những quan điểm thế gian và sống trong bầu không khí thế gian không? Hay là chúng ta đang sống trong Nơi Thánh, vui hưởng Đấng Christ hằng ngày là ma-na, là ánh sáng thiên thượng và là hương thơm phục sinh ngọt ngào?

Hay chúng ta đã kinh nghiệm sâu xa hơn những điều ấy? Trong Nơi Chí Thánh chúng ta có thể kinh nghiệm Đấng Christ là Đấng ẩn mình, không phải như A-rôn ở sân ngoài nhưng là Mên-chi-xê-đéc trong Nơi Chí Thánh. Tại đây, chúng ta có thể vui hưởng Đấng Christ là ma-na kín giấu, là luật pháp ẩn tàng và là quyền bính phục sinh ẩn giấu để chúng ta có thể cai trị trên mọi sự. Mọi điều nơi đây đều ẩn giấu vì Đấng Christ được kinh nghiệm một cách sâu xa nhất ở bên trong. Nguyện xin Chúa ban ân điển để chúng ta biết mình đang ở đâu và cần bước vào nơi nào.