Thông tin sách

Gia Tể Của Đức Chúa Trời Tam Nhất

Tác giả: Witness Lee
Dịch từ bản tiếng Anh: The economy of God
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 9

Untitled Document

CHƯƠNG CHÍN

XỬ LÝ HỒN

Trong các bước quan hệ với Chúa, trước hết, chúng ta phải bắt đầu từ tấm lòng vì đó là lối vào và lối ra của cả con người chúng ta. Thứ hai, chúng ta phải điều chỉnh lương tâm và thứ ba là mối tương giao giữa chúng ta với Chúa. Nhờ một lương tâm thuần khiết, một lương tâm không bị cáo trách, chúng ta sẽ có mối tương giao trong sáng với Chúa. Trực giác hay sự xức dầu được tiếp theo đó và luôn luôn phải căn cứ trên sự rưới huyết. Ngay cả các biểu tượng trong Cựu Ước cũng nêu lên nguyên tắc này. Huyết luôn luôn đi trước sự xức dầu vì sự rưới huyết xử lý các điều tiêu cực và sự xức dầu của Thánh Linh đem lại những điều tích cực để các yếu tố, yếu thể tính hay tố chất của chính Chúa được áp dụng vào trong chúng ta. Huyết rửa sạch mọi tiêu cực và sự xức dầu đem đến tất cả những gì Đức Chúa Trời là. Qua sự xức dầu này mà chính Đức Chúa Trời được áp dụng vào chúng ta. Bởi sự xức dầu trong linh, chúng ta có được cảm nhận trực tiếp của Đức Chúa Trời qua chức năng của trực giác. Dựa theo kinh nghiệm Cơ Đốc thì đây là một tiến trình đúng đắn xếp theo thứ tự sau đây: tấm lòng, lương tâm, sự tương giao và trực giác. Tất cả mọi sự xử lý bắt đầu từ tấm lòng và tiếp tục tiến vào trong linh chúng ta. Bây giờ chúng ta phải tiến đến việc xử lý phần hồn.

XỬ LÝ TÂM TRÍ

Với trực giác nằm trong linh, chúng ta cần tâm trí. Trực giác cho chúng ta cảm nhận của sự hiểu biết bề trong.

Cảm nhận những điều thuộc linh là một vấn đề nhưng hiểu được những điều thuộc linh ấy lại là một vấn đề khác. Những điều thuộc về Đức Chúa Trời được cảm nhận trong linh, nhưng phải được thông hiểu trong tâm trí. Nhiều khi chúng ta biết đến những điều của Đức Chúa Trời ở trong linh, nhưng vì nan đề của tâm trí nên chúng ta không hiểu thấu được những điều ấy. Đôi khi phải mất hai ba tuần hay cả tháng sau chúng ta mới hiểu được điều mình đã cảm nhận trong linh. Chúng ta ý thức được một điều gì đó nhưng chúng ta không thể nào thông giải ra được. Chúng ta cần sự hiểu biết trong tâm trí để giải thích những điều xảy ra trong linh mình. Nhờ chức năng của trực giác ở trong linh mà chúng ta cảm nhận được những điều thuộc về Đức Chúa Trời, nhưng chỉ bởi chức năng hiểu của tâm trí mà chúng ta mới có thể hiểu được những điều ấy.

Vì lý do này La Mã 12:2 cho biết chúng ta cần phải có một tâm trí đổi mới. Nhưng trước hết câu này lại nói rằng chúng ta không được rập khuôn theo đời này. Chữ “đời” hay “thế gian” viết trong bản dịch Anh ngữ King James có nghĩa là “thời đại” trong bản nguyên văn Hi Lạp. Chữ “thời đại” trong tiếng Hi Lạp tương đương với chữ “hiện đại” của tiếng Anh. Thời đại là trào lưu hiện đại, hay tân thời, của thế giới này. Lịch sử thế giới được chia ra làm nhiều thời đại kế tiếp nhau, chẳng hạn như thế kỷ thứ nhất, thế kỷ thứ nhì v.v... Chúng ta có thể nói rằng mỗi thế kỷ là một thời đại. Nếu không có các thời đại, thế giới không thể nào tồn tại được. Thời đại ngày nay là một phần trực thuộc hệ thống của thế giới hiện đang bao quanh chúng ta, vì thế, biến hóa theo thời đại này có nghĩa là đi theo tân thời, đi theo trào lưu hiện đại của thế giới.

Câu này tiếp tục như sau: “Nhưng hãy biến hóa bởi sự đổi mới của tâm trí anh em”. Nếu chúng ta bị những điều thuộc thời đại này chiếm hữu mình, tâm trí của chúng ta sẽ không bao giờ được đổi mới. Đây là lý do tại sao nhiều Cơ Đốc nhân đã thực sự được cứu nhưng không thể nào hiểu nổi những điều thuộc linh. Họ đã trở nên quá tân thời, hiện đại. Chúng ta phải từ bỏ thời đại tân thời này. Nếu chúng ta rập khuôn theo đời này thì chúng ta sẽ không bao giờ được biến đổi bởi sự đổi mới của tâm trí.

Vì tâm trí là một phần của hồn nên sự biến đổi phải xảy ra ở phần hồn. Chúng ta đã được tái sinh trong linh nhưng nan đề bây giờ là ở trong phần hồn. Chúng ta không nghi ngờ gì về sự tái sinh vì Chúa đang ở trong chúng ta là sự sống đời đời và Thánh Linh đang ngự trong chúng ta. Linh chúng ta được Thánh Linh làm cho sống động và tái sinh với Đấng Christ là sự sống. Nhưng còn phần hồn của chúng ta thì sao? Còn tâm trí, ý chí và tình cảm chúng ta thì thể nào? Trong linh, chúng ta hoàn toàn khác hẳn với những người thuộc thế gian, nhưng tôi e rằng trong tâm trí, ý chí và tình cảm, chúng ta cũng giống hệt như họ. Sự tái sinh đã được hoàn tất trong linh chúng ta nhưng sau khi được tái sinh, chúng ta cần được biến đổi trong hồn.

Chúng ta hãy minh họa những điều này bằng vài ví dụ. Chẳng hạn như vấn đề y phục của chúng ta. Nhiều người đã được cứu nhưng vẫn còn suy nghĩ về thời trang y như người thế gian. Họ ăn mặc rập khuôn theo kiểu tân thời. Họ nghĩ rằng miễn là vấn đề này không tội lỗi thì được rồi, nhưng ý nghĩ ấy chỉ là tư tưởng con người và quan niệm thiên nhiên mà thôi. Nếu họ đã được biến đổi bởi sự đổi mới của tâm trí thì những suy nghĩ về cách ăn mặc của họ phải được thay đổi.

Còn cách chúng ta sử dụng tiền bạc thì sao? Có thay đổi gì không? Tôi biết nhiều Cơ Đốc nhân, sau khi được cứu, vẫn tiếp tục sử dụng tiền bạc gần giống như người đời vậy. Chỉ đến khi nào họ yêu mến Chúa hơn và để cho Chúa làm việc trong họ nhiều hơn thì họ mới có thể được biến đổi trong cách tiêu tiền.

Cũng vậy, có rất nhiều anh em trẻ tuổi học ở các trường đại học vẫn luôn suy nghĩ về việc học và bằng cấp của họ như các thanh niên ngoài đời. Nếu họ để cho Chúa làm việc và được biến đổi trong hồn bằng cách đổi mới tâm trí họ thì những suy nghĩ về các vấn đề này sẽ được thay đổi. Điều này không có nghĩa là họ phải bỏ học, nhưng tư tưởng và quan niệm của họ về việc học sẽ thay đổi hoàn toàn. Họ sẽ có một quan niệm khác để đánh giá việc học và bằng cấp của họ.

Tư tưởng chúng ta về hầu hết mọi điều cần được thay đổi. Sự thay đổi này là gì? Đó là sự biến đổi của hồn chúng ta bằng cách đổi mới tâm trí. Chúng ta có Đấng Christ là sự sống ở trong linh, nhưng bây giờ chúng ta cần Đấng Christ lan tỏa và dầm thấm ra các phần bên trong của hồn bằng chính Ngài. Điều này sẽ biến đổi hồn chúng ta theo chính hình ảnh của Ngài. Hình ảnh của Đấng Christ lúc đó sẽ phản chiếu qua tư tưởng chúng ta và qua bất cứ điều gì chúng ta suy nghĩ và cân nhắc, tâm trí được đổi mới của chúng ta sẽ bày tỏ hình ảnh vinh hiển của Đấng Christ. Khi ấy, sự hiểu biết của tâm trí chúng ta sẽ trở nên thuộc linh. Tâm trí chúng ta sẽ hiểu được những điều mà chúng ta đã cảm nhận trong linh một cách dễ dàng.

Nếu chúng ta dịch La Mã 8:6 cho đúng, câu này sẽ là: “Đặt tâm trí vào linh là sự sống và bình an” hay “tâm trí được đặt vào linh là sự sống và bình an”. Trong La Mã 7 tâm trí toan tính làm nhiều điều bằng nỗ lực riêng của nó, vì thế mà nó luôn luôn bị đánh bại. Nhưng trong La Mã 8, tâm trí hợp tác với linh và được đặt vào linh. Tâm trí đã tìm được một luật khác có quyền năng và mạnh mẽ hơn luật của tội như đã đề cập ở chương 7. Luật mới này là luật của sự sống của Đấng Christ ngự bên trong chúng ta. Tâm trí sẽ không bao giờ toan tính làm điều này hay điều kia một cách độc lập nữa nhưng đặt chính mình vào linh là nơi Thánh Linh ngự. Tâm trí được đặt vào linh chứ không vào xác thịt. Đổi mới tâm trí là một vấn đề, nhưng đặt tâm trí vào linh, để tâm trí đứng về phía linh và hiệp tác với linh lại là một vấn đề khác. Tâm trí càng đứng về phía linh thì tâm trí càng ở dưới sự điều động của linh.

Vì tâm trí đứng về phía linh nên linh sẽ cai trị tâm trí, dầm thấm tâm trí và trở nên “linh của tâm trí”. La Mã 8:6 chép “tâm trí của linh”, nhưng Ê-phê-sô 4:23 chép “linh của tâm trí”. Khi linh kiểm soát và dầm thấm tâm trí, linh trở nên linh của tâm trí. Chúng ta hãy xem xét văn mạch của Ê-phê-sô 4:23. Câu 22 nói chúng ta phải lột bỏ người cũ và câu 24 nói chúng ta phải mặc lấy người mới. Lột bỏ người cũ là công tác của thập tự giá và mặc lấy người mới là công tác của sự phục sinh. Ở giữa công tác của thập tự giá và công tác của sự phục sinh thì có câu 23: “hãy đổi mới trong linh của tâm trí anh em”. Sự đổi mới của tâm trí bao gồm công tác của thập tự giá cộng với sự phục sinh. Điều này có nghĩa là tâm trí thiên nhiên của chúng ta cần phải bị loại trừ và được đổi mới trong sự phục sinh. Sự chết của thập tự giá không phải là tận cùng, nhưng là một tiến trình đưa đến một kết cuộc, đó là sự phục sinh. Càng chết bởi thập tự giá, chúng ta càng được phục sinh. Những điều tiêu cực không những bị kết liễu nhưng con đường dành cho những điều tích cực cũng được mở ra. Sự chết của tâm trí thiên nhiên dẫn đến một tâm trí phục sinh. Khi ấy, chúng ta sẽ có một tâm trí đổi mới trong sự phục sinh. Tâm trí đổi mới này thì ở trong linh và ở dưới sự kiểm soát của linh; tâm trí đã được đổi mới này được đổ đầy linh và đầy dẫy linh. Vì thế linh trở nên linh của tâm trí. Thế thì tâm trí chúng ta không những là một tâm trí được đổi mới, nhưng còn là một tâm trí thuộc linh với những sự thông hiểu thuộc linh. Một tâm trí thuộc linh như thế dễ dàng thông giải được những điều thuộc linh mà trực giác của chúng ta đã cảm nhận.

XỬ LÝ Ý CHÍ.

Giả sử tâm trí đổi mới của chúng ta hiểu được những gì mà chúng ta cảm nhận bằng trực giác. Vấn đề kế tiếp là chúng ta có bằng lòng vâng theo điều chúng ta hiểu hay không. Chúng ta có thể hiểu mà vẫn có thể trả lời “không!” Vâng phục bằng ý chí là cả một nan đề khác nữa. Thật thế, nếu chúng ta không có một ý chí vâng phục, những điều thuộc trực giác sẽ khó hiểu đối với chúng ta. Chúa rất khôn ngoan; Ngài không làm điều gì vô ích. Nếu Ngài biết chúng ta không muốn vâng phục, Ngài không cần ban cho chúng ta sự thông hiểu. Ngài sẽ để mặc chúng ta ở trong nơi tối tăm. Vì sao Ngài lại phải ban cho chúng ta sự hiểu biết trong khi chúng ta không muốn vâng lời? Sự vâng lời phải được hỗ trợ bằng một ý chí vâng phục, sẵn sàng vâng phục Chúa (Gi. 7:17). Khi chúng ta sẵn sàng vâng phục, chúng ta sẽ có thể hiểu biết.

Ví dụ, có một số người đến hỏi tôi về một số điều, nhưng họ lại không có lòng lắng nghe và hiểu biết. Tôi biết nói chuyện với họ chỉ tốn thì giờ vô ích. Lắm lúc tôi hỏi: “Anh có thực tâm hỏi câu ấy không? Nếu tôi trả lời câu hỏi của anh, anh có sẵn sàng thuận phục không?” Câu trả lời của họ thường là: “Thưa, có thể chứ, nhưng chắc tôi không thích. Tôi chỉ muốn nghiên cứu và tìm hiểu điều đó là gì thôi”. Tâm trí chúng ta phải hoàn toàn quy phục, mà không những chỉ quy phục thôi đâu, nhưng còn phải hòa hợp với ý muốn của Đức Chúa Trời (Lu. 22:42; Gia. 4:7; Phi. 2:13).

Đức Chúa Trời tạo dựng chúng ta với một ý chí tự do. Ngài không bao giờ ép buộc chúng ta làm bất cứ điều gì, nhưng luôn luôn cho chúng ta cơ hội chọn lựa. Mặc dù Ngài vĩ đại và khôn ngoan nhưng Ngài không bao giờ ép buộc chúng ta. Nếu Ngài buộc phải dùng sức, thì chứng tỏ Ngài quá nhỏ mọn. Sa-tan không những ép buộc người ta nhưng còn dụ dỗ họ nữa. Nhưng Đức Chúa Trời thì không bao giờ như vậy. Thật ra, Đức Chúa Trời nói rằng: “Nếu ngươi thích thì hãy làm; nếu không thì thôi. Nếu ngươi yêu ta thì hãy làm điều này. Nếu ngươi không yêu ta thì thôi. Hãy làm theo ý riêng của ngươi”. Vậy chúng ta cần vận dụng ý chí, bằng không, Đức Chúa Trời khó có thể hành động. Muốn vận dụng ý chí, chúng ta phải bắt ý chí mình quy phục và sẵn sàng vâng lời trong mọi lúc. Chính mình không những quy phục ý muốn Đức Chúa Trời nhưng cũng phải đem ý chí chúng ta đến chỗ hòa hợp với ý muốn của Ngài.

Khi ý chí chúng ta được xử lý đến mức độ ấy, nó sẽ được biến đổi; nó sẽ được dầm thấm Đấng Christ là sự sống của chúng ta bởi sự lan tỏa của Thánh Linh. Người khác sẽ ngửi thấy mùi thơm và cảm thấy chính hình ảnh của Đấng Christ trong ý chí chúng ta. Mỗi quyết định của chúng ta sẽ là một sự bày tỏ Đấng Christ. Đây không phải là một giả thuyết hay một giáo lý. Đôi khi khi gặp một vài anh em yêu dấu trong Chúa, chúng ta cảm nhận được mùi thơm của Đấng Christ trong bất cứ lời nào họ nói, điều gì họ chọn lựa hay việc gì họ quyết định. Điều ấy chứng tỏ họ được dầm thấm Đấng Christ bởi ý chí và tâm trí họ được biến đổi.

XỬ LÝ TÌNH CẢM

Sự xử lý cuối cùng trong hồn là sự xử lý tình cảm rắc rối của chúng ta. Như chúng ta đều biết, hầu hết mọi nan đề của chúng ta đều có liên hệ đến tình cảm. Tình cảm phải được đặt dưới sự kiểm soát của Thánh Linh. Đó là lý do tại sao Ma-thi-ơ 10:37-39 khuyên chúng ta phải yêu Chúa hơn tất cả mọi điều gì khác. Hễ điều gì Chúa không cho phép, chúng ta đừng yêu quý điều ấy. Điều chỉnh lòng yêu mến của chúng ta để đặt dưới sự kiểm soát của Chúa là một việc thuộc phương diện tiêu cực. Nhưng chúng ta cũng cần phải biết về phương diện tích cực, ấy là sẵn sàng vận dụng tình cảm của chúng ta phù hợp với niềm vui thích của Chúa. Lắm lúc tình cảm của chúng ta được Chúa cho phép nhưng Ngài không vui lòng. Ngài cho phép chúng ta yêu thích điều gì đó nhưng Ngài không hài lòng.

Một chị em kia đang ở trong một tình huống như vậy. Chị biết Chúa cho phép tình cảm chị làm một vài điều gì đó, nhưng chị cũng biết Chúa không vui lòng. Chị đến thưa với Chúa: “Chúa ơi! Mặc dù Ngài cho phép con làm, nhưng con sẽ không làm điều ấy vì con biết Ngài không vui”. Chị đã có một thái độ rất tốt và chị nhận được sự tương giao ngọt ngào đầy bình an, vui mừng. Chị học được bài học đem tình cảm của mình hoàn toàn đặt dưới sự kiểm soát và sự thỏa lòng của Chúa. Đôi khi chúng ta được Chúa cho phép yêu mến một điều gì đó nhưng Ngài không vui lòng. Càng yêu quý điều đó, chúng ta càng mất đi sự vui mừng. Cuối cùng, điều ấy trở nên một nỗi khổ, chứ không phải một niềm vui, điều này chứng tỏ chúng ta đã sai quấy trong tình cảm của mình. Chúng ta đều phải học cách xử lý tình cảm cho phù hợp với sự thỏa lòng và sự vui mừng của Chúa. Nếu chúng ta không cảm thấy Chúa vui lòng khi chúng ta đang theo đuổi điều gì, chúng ta đừng yêu thích điều đó nữa.

Nhiều người nghe các sứ điệp từ Ma-thi-ơ 10:37-39 khuyên họ đừng yêu cha mẹ mình, anh chị em mình và chính mình hơn Chúa nhưng họ không hiểu điều này có nghĩa gì. Điều ấy chỉ có nghĩa là họ phải yêu tất cả mọi điều dưới sự kiểm soát của Chúa và theo sự thỏa lòng của Ngài. Chúa không nhỏ nhen hay tàn nhẫn nhưng chúng ta phải biết rằng bất cứ điều gì chúng ta yêu hay ghét, thích hay không thích, đều phải được thực hiện theo sự cho phép của Chúa với sự vui mừng của Ngài. Chúng ta phải sử dụng tình cảm của mình dựa theo tình cảm của Chúa. Khi tình cảm của chúng ta không ở dưới tình cảm của Ngài thì chúng ta đã sai quấy và không bao giờ có sự vui mừng của Ngài được. Càng đi theo đường riêng của mình, chúng ta càng mất niềm vui. Chúng ta không thể có sự tương giao sâu xa, dịu dàng và ngọt ngào với Chúa được. Mặc dù không ai có thể trách chúng ta là sai quấy và chúng ta có thể tuyên bố với người khác là chúng ta được Chúa cho phép, tuy nhiên, chúng ta thừa biết rằng mình đã đánh mất sự vui mừng của Ngài khi chúng ta cố tâm làm điều ấy.

Nếu tình cảm chúng ta được giữ dưới sự cai trị của Chúa, kèm theo sự thỏa lòng và vui mừng của Ngài, tình cảm ấy sẽ được dầm thấm với linh. Kết quả là chúng ta sẽ được biến đổi theo chính hình ảnh của Chúa từ giai đoạn vinh quang này đến giai đoạn vinh quang kia.

Bởi điều chỉnh tấm lòng, lương tâm, sự tương giao, trực giác và xử lý tâm trí, ý chí và tình cảm, chúng ta sẽ được trưởng thành và tăng trưởng trọn vẹn; chúng ta sẽ đạt được tầm thước vóc giạc của Chúa. Khi ấy tất cả những gì chúng ta cần phải làm là chờ đợi Ngài đến để biến hóa thân thể chúng ta. Nếu hồn chúng ta được biến đổi thì sức mạnh và quyền năng thuộc linh ngay cả bây giờ sẽ dầm thấm vào thân thể yếu đuối hay chết của chúng ta khi nào chúng ta cần đến sức mạnh và quyền năng ấy. Chúng ta không những được tái sinh trong linh và biến đổi trong hồn nhưng sự sống thần thượng cũng sẽ dầm thấm thân thể hay chết của chúng ta lúc yếu sức. Cuối cùng, khi Chúa đến, thân thể chúng ta sẽ được biến hóa và toàn thể con người chúng ta – linh, hồn và thân – sẽ ở trong hình ảnh vinh hiển của Chúa. Đây là sự áp dụng sau cùng công cuộc cứu chuộc của Chúa đã được thực hiện trong ba giai đoạn: (1) tái sinh linh (2) biến đổi hồn và (3) biến hóa thân thể. Vào thời điểm hiện tại, chúng ta đang ở trong tiến trình biến đổi.

Hồn cần tất cả mọi điều xử lý trên: đó là xử lý tâm trí, ý chí và tình cảm. Nguyện xin Chúa giúp chúng ta thực hành những điều trên. Đây là những điều mà con cái Chúa rất cần ngày nay. Tất cả mọi sự dạy dỗ và ân tứ được Chúa ban cho đều vì mục đích này. Chỉ bởi tiến trình như đã nói trên chúng ta mới có thể trở thành những vật liệu thích ứng cho sự xây dựng Hội Thánh.