Thông tin sách

Gia Tể Của Đức Chúa Trời Tam Nhất

Tác giả: Witness Lee
Dịch từ bản tiếng Anh: The economy of God
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 8

Untitled Document

CHƯƠNG TÁM

ĐIỀU CHỈNH TẤM LÒNG VÀ NHÂN LINH

Chúng ta đã biết định nghĩa và chức năng của lòng, linh và hồn. Mối quan hệ giữa chúng ta với Chúa luôn luôn được bắt đầu và duy trì bởi tấm lòng. Dĩ nhiên, tiếp xúc với Chúa là vấn đề của linh, nhưng điều này phải được khởi xướng và duy trì bởi tấm lòng, vì tấm lòng là lối vào của cả con người chúng ta. Một tòa nhà với nhiều căn phòng luôn luôn có lối vào và lối ra, người ta theo lối vào để bước vào tòa nhà và rồi ra khỏi nhà ấy bằng một lối ra. Khi lối vào đóng kín, mọi người phải ở bên ngoài, không thể vào các căn phòng bên trong nhà ấy được. Nhưng khi cửa được mở ra, người ta có thể vào trong nhà và hưởng tiện nghi trong từng phòng.

Tấm lòng không phải là một phần tách rời và biệt lập của con người chúng ta, nhưng được cấu tạo gồm tất cả các phần của hồn và một phần của linh. Vì thế, là một sự kết hợp như vậy, tấm lòng trở nên cánh cửa của toàn thể con người chúng ta. Nói cách khác tấm lòng vừa là lối vào vừa là lối ra của con người chúng ta. Bất cứ điều gì muốn vào trong chúng ta phải đi xuyên qua tấm lòng. Bất cứ điều gì muốn ra khỏi chúng ta cũng phải vượt qua tấm lòng.

Chẳng hạn nếu lòng chúng ta không tỉnh táo, khi lắng nghe một bài giảng, chúng ta sẽ không nhận được thực chất của bài giảng ấy. Hay khi đọc sách, chúng ta sẽ không nhận được gì cả nếu lòng chúng ta không hướng về nội dung của quyển sách ấy. Ngay cả khi ăn nếu chúng ta chẳng có lòng dạ nào để ăn thì chúng ta sẽ không thể biết được thức ăn đó có ngon hay không. Điều này chứng tỏ rằng tấm lòng là cơ quan kiểm soát. Để kiểm soát cả một dinh thự, chúng ta phải đóng hay mở cửa. Vì thế tấm lòng có năng lực để đóng hoặc mở cả con người chúng ta.

Vì lý do này việc rao truyền Phúc âm phải được hướng dẫn bởi Thánh Linh để có thể đụng chạm lòng người. Cách giảng Phúc âm hữu hiệu nhất là đụng chạm đến tấm lòng con người. Nếu chúng ta xuyên phá được lòng người, nhiều người sẽ được chinh phục. Đó là lý do tại sao nhiều người chưa tin cứng lòng và khép lòng họ trước sự truyền giảng Phúc âm. Dầu chúng ta có giảng nhiều đến đâu, khi lòng họ đã khép kín, chúng ta không thể nào đụng chạm họ được. Chúng ta không thể truyền đạt bất cứ điều gì vào trong họ bởi vì lối vào của họ đã khép kín. Nếu muốn truyền giảng hiệu quả, chúng ta phải tìm cách xâm nhập qua cửa lòng của người nghe. Người giảng đạo hay nhất là người tìm được bí quyết để mở lòng người nghe.

Ngay cả Chúa Jesus cũng thu hút chúng ta qua tấm lòng của mình. Ngài không khuấy động linh chúng ta trước. Người tìm kiếm Chúa trong sách Nhã Ca ngay từ đầu đã cầu xin Chúa thu hút mình bằng tình yêu của Ngài để có thể yêu Ngài. Chúa đến đụng chạm tấm lòng chúng ta bằng tình yêu của Ngài. Đây là lý do mà sau khi sống lại Chúa đến hỏi Phi-e-rơ: “Ngươi thương yêu Ta chăng?” (Gi. 21). Tình yêu của Chúa là cách tốt nhất để mở cánh cửa lòng. Vì thế cách mở cửa lòng hữu hiệu nhất là giảng về tình yêu của Đức Chúa Trời. Một khi lòng đã mở ra, Thánh Linh rất dễ đụng chạm đến linh và mọi phần bên trong con người. Điều này không những đúng trong việc truyền giảng Phúc âm mà ngay cả trong chức vụ giảng dạy Cơ Đốc nữa.

ĐIỀU CHỈNH TẤM LÒNG

Vì lý do trên chúng ta phải điều chỉnh tấm lòng để chúng ta có thể có mối quan hệ đứng đắn với Chúa. Chúng ta điều chỉnh tấm lòng mình bằng cách nào? Một lần nữa, điều này rất đơn giản, Kinh Thánh chép rằng: “Phước cho kẻ có lòng tinh khiết”. Vài dịch giả đã đổi chữ “tinh khiết” thành “trong sạch”, nghĩa là “trong sạch trong lòng”. Nhưng chữ “trong sạch” không đầy đủ ý nghĩa. Đây không phải là vấn đề của một tấm lòng trong sạch, nhưng là tấm lòng tinh khiết. Chúng ta có thể sạch, nhưng vẫn bị pha trộn, cho nên không được tinh khiết. Bị pha trộn không có nghĩa là trở nên dơ bẩn, nhưng là có nhiều hơn một mục tiêu và một đích nhắm.

Đây là nan đề của nhiều anh chị em. Họ nghĩ rằng mình không có điều gì sai quấy trong lòng, vì họ trong sạch và không bị cáo trách. Nhưng họ không thuần khiết vì đang nhắm vào nhiều điều hơn là một mục tiêu, một đích nhắm. Vâng, họ hướng về Đức Chúa Trời nhưng đồng thời họ cũng hướng về những điều khác. Họ có thể nhắm tới Đức Chúa Trời và bằng cấp tiến sĩ cùng một lúc. Khi có hai điều là đích nhắm của mình, họ bị pha trộn và trở nên phức tạp. Chẳng hạn như chúng ta không thể nhìn hai vật với cặp mắt của chúng ta cùng một lúc. Nếu chúng ta cố gắng nhìn vào hai vật cùng một lúc, cả hai đều sẽ trở nên lu mờ.

Tại sao có người nói rằng họ không biết rõ ý Chúa? Vì họ có hai mục tiêu, hai đích nhắm. Nhiều anh chị em có nhiều hơn hai đích nhắm. Họ đang nhắm tới nhiều điều. Vâng, họ đang tìm kiếm Chúa nhưng đồng thời họ cũng tìm kiếm những điều khác nữa như địa vị và nghề nghiệp. Làm sao họ tránh khỏi tình trạng bối rối và lúng túng được? Lòng họ cần phải được tinh luyện khỏi nhiều tham vọng để chính Chúa trở nên mục tiêu của họ.

Ngay cả nhiều người phục vụ Chúa cũng có rất nhiều mục tiêu. Một anh em làm chứng rằng anh ấy có một mục tiêu lớn: anh muốn trở thành nhà truyền giảng vĩ đại nhất trong giáo phái của mình. Lòng của anh trong sạch, nhưng không tinh khiết. Lòng anh cần phải được tinh lọc cho đến khi chỉ còn lại một mục tiêu là chính Chúa. Nhiều Cơ Đốc nhân phục vụ Chúa lấy chính Chúa và công việc Ngài làm mục tiêu của họ. Họ có hai mục tiêu. Họ cần phải tinh luyện lòng mình cho đến khi không còn tìm kiếm điều gì khác ngoại trừ chính Chúa là mục tiêu của họ. Đích nhắm, mục tiêu và sở thích của họ chỉ nên là chính Chúa mà thôi. Khi họ tuyệt đối tìm kiếm không gì khác hơn là Ngài thì “bầu trời thuộc linh” không những sẽ mở rộng mà còn rất trong sáng đối với họ. Đôi khi bầu trời mở rộng nhưng đầy mây mù. Tại sao bầu trời thuộc linh vẫn u ám? Vì tấm lòng còn bị pha trộn và không tinh khiết. Khi tấm lòng được tinh luyện khỏi nhiều mục tiêu khác nhau, bầu trời sẽ trong sáng.

Một từ ngữ khác mà Kinh Thánh dùng để diễn tả tấm lòng là “đơn thuần” – “sự đơn thuần của tấm lòng”. Nhiều bản Kinh Thánh dịch chữ đơn thuần là đơn sơ – “sự đơn sơ của tấm lòng”. Sự đơn thuần của tấm lòng nghĩa là đơn sơ. Đơn sơ theo một ý cũng có thể là ngu dại. Những người thực sự yêu Chúa và chỉ chuyên tâm hướng về Ngài, đều thuộc hạng người ngu dại. Chúng ta đều phải là những Cơ Đốc nhân ngu dại. Điều này có nghĩa là: “Tôi không biết gì ngoại trừ Chúa Jesus. Bất cứ làm việc gì, tôi cũng chỉ biết Jesus. Bất cứ đi nơi nào, tôi cũng chỉ biết Chúa Jesus”. Chúng ta không nên cố gắng trở nên khôn lanh. Chúng ta chỉ có một con đường, đường hẹp của Chúa Jesus. Người ta sẽ nói: “Anh thật là dại dột”, nhưng chúng ta nên mong ước trở thành ngu dại như vậy. Đó là sự đơn sơ.

Ba phân đoạn Kinh Thánh đề cập đến sự tinh khiết của tấm lòng là Thi Thiên 73:1, Ma-thi-ơ 5:8 và 2 Ti-mô-thê 2:22. Câu sau cùng bày tỏ khi các hội-thánh đang thoái hóa, suy đồi, chúng ta nên theo đuổi Chúa với một tấm lòng tinh khiết và cùng cầu nguyện với những người có đồng một tấm lòng tinh khiết. Có ít nhất ba câu Kinh Thánh đề cập đến sự đơn thuần của tấm lòng: Công vụ 2:46, Ê-phê-sô 6:5 và Cô-lô-se 3:22. Nếu chúng ta tìm kiếm Chúa và phục vụ Ngài, chúng ta phải đối diện với hai vấn đề này: tấm lòng phải tinh khiết và đơn thuần. Chúng ta phải học tập không những để có tấm lòng trong sạch và đúng đắn, mà phải có một tấm lòng tinh khiết và đơn thuần. Nếu chúng ta điều chỉnh lòng mình như thế thì cả con người chúng ta sẽ mở rộng với Chúa vì cửa đã mở. Đây không phải là một giáo lý, nhưng chỉ là lời hướng dẫn cách điều chỉnh tấm lòng để cho phép Chúa chiếm hữu trọn vẹn cả con người chúng ta.

ĐIỀU CHỈNH LƯƠNG TÂM

Một lần nữa chúng tôi xin nhắc lại: trước tiên, Chúa phải thu hút chúng ta bằng tình yêu của Ngài. Ngài đụng chạm lòng chúng ta với tình yêu của Ngài để mở lòng chúng ta ra. Sau khi điều chỉnh tấm lòng, lương tâm cần phải được điều chỉnh. Trong sự hiện diện của Chúa việc điều chỉnh bắt đầu với tấm lòng, kế đến là lương tâm. Nếu lòng chúng ta tinh khiết và đơn thuần, lập tức chức năng của lương tâm sẽ rất sâu sắc và nhạy bén. Trong khi đọc quyển sách này, chúng ta có thể không có cảm giác là mình sai quấy và đã lầm lỗi, nhưng khi chúng ta điều chỉnh tấm lòng và làm nó trở nên tinh khiết và đơn sơ, lương tâm sẽ hoạt động một cách hoàn toàn. Lương tâm của chúng ta sẽ bắt đầu buộc tội chúng ta, bắt buộc chúng ta xưng tội và xử lý tội lỗi. Điều này làm cho “lương tâm chúng ta không bị lên án” nữa. Phao-lô nói rằng ông đã luyện tập cho mình có một “lương tâm không bị trách móc đối với Đức Chúa Trời và người ta” (Công. 24:16). Một lương tâm không chỗ trách được nghĩa là một lương tâm thoát khỏi mọi sự cáo trách và lên án.

Để có thể biết được sự khác nhau giữa hồn và linh, chúng ta cần có một lương tâm nhạy bén. Nhưng đây là một điều khó nếu chúng ta còn lý luận trong tâm trí mình. Anh em nói: “Vâng, tôi sai quấy mười phần trăm, nhưng anh em kia đối xử với tôi sai quấy một trăm phần trăm. Vì thế anh ấy thiếu tôi chín mươi phần trăm”. Điều nầy không gì khác hơn là một sự tính toán ở trong hồn. Khi chúng ta lý luận một cách hợp lý trong đầu óc của mình, một điều gì đó sâu kín hơn trong chúng ta sẽ nói rằng: “Dầu anh ấy nợ anh em đến đâu đi nữa, anh em vẫn phải giải quyết mười phần trăm ấy”.

Trương mục thuộc linh không giống như trương mục ngân hàng. Trương mục ngân hàng có mục tín dụng, khoản nợ và khoản dư, nhưng trương mục trong linh chỉ có một cột, là khoản nợ. Dù chúng ta có bao nhiêu tín dụng, nếu chúng ta có khoản nợ, chúng ta phải giải quyết nó. Ví dụ tôi ăn cắp cái đồng hồ của anh em và anh em lấy trộm chiếc xe của tôi. Và giả sử chúng ta biết rõ mình lấy trộm những gì của nhau. Nhưng một ngày kia, lương tâm hoạt động và lên tiếng: “Anh phải giải quyết món đồ ăn cắp ấy đi”. Dĩ nhiên nếu tính theo trương mục ngân hàng, tôi sẽ lý luận: “Chiếc đồng hồ này đáng giá 100 đô-la và chiếc xe kia trị giá 2.000 đô-la, như vậy người ấy thiếu tôi 1.900 đô-la. Tôi không cần phải xử lý với lương tâm của tôi, hơn nữa, tôi phải thu phần còn thiếu chứ”. Nhưng trương mục thuộc linh không làm việc theo cách đó. Trương mục thuộc linh đòi hỏi tôi phải quên người kia đã thiếu tôi bao nhiêu và giải quyết vấn đề 100 đô-la. Tôi phải xin lỗi người kia: “Thưa anh, tôi xin lỗi, tôi đã ăn trộm, đó là một điều tội lỗi. Đây là chiếc đồng hồ tôi đánh cắp, bây giờ tôi xin hoàn lại cho anh”. Tôi không được nói một lời nào về chiếc xe hơi kia. Tôi không có quyền đề cập đến nó. Chỉ có Thánh Linh mới có quyền phán với anh ấy. Trương mục thiên thượng chỉ có một cột chứ không có hai cột.

Anh em có thấy điểm tôi muốn nói không? Nếu tranh cãi và lý luận, anh em ở trong tâm trí, chứ không ở trong linh.

Để minh họa rõ hơn nữa, giả sử Thánh Linh đang làm việc trong linh của anh em đòi hỏi anh em đáp ứng lời kêu gọi của Ngài. Nhưng nhiều lý lẽ tràn ngập đầu óc anh em: Còn vợ tôi thì sao? Con tôi ra sao? Việc học của chúng ra thể nào? Tôi còn bà mẹ già 80 tuổi. Tốt hơn là tôi nên đợi ít lâu nữa. Sau khi mẹ tôi mất, khi ấy sẽ là thời điểm tốt nhất để tôi đáp ứng lời kêu gọi của Chúa. Đó chỉ là sự tranh cãi và lý luận trong tâm trí của hồn. Nghe có vẻ rất hợp lý, rất phải lẽ, rất đúng đắn, nhưng sâu thẳm trong linh anh em vẫn còn nghe tiếng gọi của Chúa.

Sự khác biệt giữa hồn và linh rất dễ hiểu, nhưng nan đề là toàn bộ con người chúng ta vẫn bị khóa chặt, bởi vì lòng chúng ta chưa mở ra. Chúng tôi phải nhắc lại điều này nhiều lần: chúng ta phải mở lòng mình ra. Khi chúng ta điều chỉnh lòng mình để nó trở nên tinh khiết và đơn thuần, lương tâm chúng ta lúc đó sẽ rất nhạy bén cáo trách và bày tỏ cho chúng ta biết nhiều điều mình đã vi phạm. Chỉ khi ấy lương tâm chúng ta mới được điều chỉnh qua sự xưng tội và nhờ áp dụng sự rảy huyết và sự tẩy sạch của Huyết Chúa (Hê. 9:14).

Khi lương tâm đã được tẩy sạch, chúng ta sẽ phục vụ Đức Chúa Trời hằng sống. Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời hằng sống, nhưng Ngài không phải là Đức Chúa Trời hằng sống đối với chúng ta khi lương tâm chúng ta chứa đầy những vi phạm. Trong trường hợp đó, chúng ta chỉ có Đức Chúa Trời trên danh nghĩa mà thôi; nhưng khi lương tâm được huyết tẩy sạch, chúng ta nhận biết Đức Chúa Trời là Đấng rất sống động. Đôi khi dường như là Đức Chúa Trời không có thật và đang sống động; Ngài chỉ là một danh hiệu, ĐỨC CHÚA TRỜI và chỉ có thế thôi. Khi ấy lương tâm chúng ta bị vẩn đục và đầy sự vi phạm, cần được điều chỉnh qua sự xưng tội và sự tẩy sạch.

Sau đó chúng ta sẽ có một lương tâm thanh sạch. Sứ đồ Phao-lô bảo Ti-mô-thê ông phục vụ Đức Chúa Trời với một lương tâm tinh khiết — không chỉ với một lương tâm được tẩy sạch nhưng còn là một lương tâm không pha trộn và không có bóng mờ (2 Ti. 1:3). Một sự cáo trách cũng đủ làm cho lương tâm không còn tinh khiết và bị lu mờ đi, cản trở sự tương giao của chúng ta với Chúa.

Một lương tâm tinh khiết cũng là một lương tâm tốt (1 Ti. 1:5, 19 và 1 Phi. 3:16, 21). Một lương tâm tốt là một lương tâm đã được tẩy sạch và tinh luyện; đó là một lương tâm đúng đắn và trong sáng, không một bóng mờ. Một lương tâm trong tình trạng tốt như vậy sẽ đem chúng ta vào sự hiện diện của Chúa; do đó sẽ không có điều gì ngăn trở giữa chúng ta với Ngài vì lương tâm chúng ta đã được tẩy sạch và tinh luyện rồi.

ĐIỀU CHỈNH SỰ TƯƠNG GIAO

Tiếp theo việc điều chỉnh lương tâm, thì phần tương giao trong linh của chúng ta cần được điều chỉnh như đã thấy trong 1 Giăng 1:1-7. Sự tương giao giữa chúng ta và Đức Chúa Trời được duy trì là nhờ một lương tâm tốt. Khi lương tâm bị cáo trách, nó trở nên một chướng ngại và làm tổn hại mối tương giao giữa chúng ta với Chúa; vì thế dựa theo 1 Giăng 1:9, chúng ta phải xưng nhận lỗi lầm, những sự thất bại và các tội lỗi của mình để huyết Chúa Jesus có thể tẩy sạch lương tâm chúng ta. Khi ấy, lương tâm chúng ta không còn bị cáo trách và sẽ không ngăn trở sự tương giao của chúng ta với Chúa. Nói một cách nghiêm túc, mối tương giao của chúng ta tùy thuộc vào việc chúng ta điều chỉnh lương tâm mình. Một lương tâm tinh khiết sẽ duy trì được mối tương giao với Chúa. Vì thế, hai sự xử lý này thực ra chỉ là một, bởi vì điều chỉnh lương tâm là điều chỉnh sự tương giao. Mối tương giao sẽ được duy trì nếu không có gì sai quấy trong lương tâm chúng ta. Nếu mối tương giao giữa chúng ta với Chúa bị gián đoạn thì có nghĩa là lương tâm chúng ta đã bị sai trật. Khi lương tâm chúng ta không tinh khiết và trong sáng, sự tương giao sẽ cắt đứt và chỉ có thể được nối lại khi lương tâm chúng ta được phục hồi.

ĐIỀU CHỈNH TRỰC GIÁC

Bây giờ chúng ta bàn đến trực giác. Cũng như sự tương giao theo sau lương tâm thì trực giác theo sau sự tương giao. Nếu chúng ta sai quấy trong lương tâm, sự tương giao sẽ bị gián đoạn và khi sự tương giao bị gián đoạn thì trực giác không làm việc. Vì vậy điều chỉnh lương tâm là một điều rất căn bản. Một lương tâm trong sáng sẽ đem chúng ta vào sự hiện diện của Chúa, kết quả sinh ra mối tương giao sống động với Ngài. Qua sự tương giao sống động này, linh chúng ta rất dễ cảm biết được ý Chúa một cách trực tiếp đây là chức năng của trực giác. Chức năng này hoàn toàn tùy thuộc vào sự tương giao hoàn hảo. Khi sự tương giao được hoàn hảo thì trực giác sẽ hoạt động một cách đúng đắn. Khi mối tương giao với Chúa bị gián đoạn thì tự động trực giác sẽ ngưng hoạt động và chỉ có thể được khôi phục khi sự tương giao được phục hồi.

1 Giăng 2:27 là một câu rất quan trọng mà hầu hết chúng ta không để ý. Câu này nói rằng sự xức dầu ở trong chúng ta. Sự xức dầu là sự hành động của Thánh Linh trong linh chúng ta để cho chúng ta có một cảm nhận trực tiếp từ Đức Chúa Trời. Cảm nhận trực tiếp đó là trực giác. 1 Giăng, đoạn một, bày tỏ rằng sự tương giao được gìn giữ và duy trì nhờ huyết. Đoạn hai bày tỏ trực giác hoạt động qua sự xức dầu bên trong của Thánh Linh. Khi Thánh Linh xức dầu chúng ta bằng cách chuyển động trong linh chúng ta, chúng ta có được một cảm nhận trực tiếp của trực giác.

Qua trực giác trong linh mình, chúng ta có hiểu biết bên trong, không phải là sự hiểu biết của tâm trí. Sự hiểu biết bên trong ở trong linh chúng ta, trong khi kiến thức thì ở trong tâm trí và sự hiểu biết bên trong của linh chúng ta luôn luôn đi trước sự hiểu biết của tâm trí. Nói một cách khác, khi Thánh Linh xức dầu linh chúng ta, chúng ta sẽ cảm nhận trực tiếp trong trực giác. Qua trực giác trong linh, chúng ta có sự hiểu biết bên trong, cảm nhận được những điều thuộc về Đức Chúa Trời. Nhưng chúng ta vẫn cần đến tâm trí để hiểu biết điều chúng ta đã cảm nhận trong linh. Đôi khi có một điều chúng ta chỉ có thể hiểu trong linh nhưng không thể hiểu trong tâm trí. Điều này nghe có vẻ như ngôn ngữ thiên thượng và thế gian này không hiểu điều chúng ta đang nói đâu. Sự hiểu biết của tâm trí chỉ hoạt động để diễn dịch điều linh chúng ta đã cảm nhận như sự hiểu biết bên trong. Tâm trí đã đổi mới và được soi sáng sẽ diễn dịch điều chúng ta cảm nhận trong trực giác của linh mình.

Xin giải thích cụ thể như sau. Đôi khi vào buổi sáng đang đọc Lời Chúa và cầu nguyện, sâu thẳm trong linh chúng ta tự nhiên cảm thấy có một gánh nặng, thật nặng và sâu đến nỗi chúng ta không hiểu điều đó là gì. Chúng ta phải ngửa trông Chúa để tìm hiểu gánh nặng này. Thế rồi ngày hôm ấy, tâm trí chúng ta dần dần hiểu được điều đã có trong linh mình. Vào buổi sáng bởi trực giác trong linh, chúng ta cảm thấy một gánh nặng, hay có được sự hiểu biết bề trong, nhưng trong ngày hôm ấy chúng ta từ từ nhận được sự thông giải từ tâm trí mình.

Tóm lại, 1 Giăng 1, mặc khải rằng sự tương giao phải được duy trì và trong đoạn 2, đặc biệt câu 27, bày tỏ rằng trực giác phải được Thánh Linh khuấy động và xức dầu. Nhưng cả sự tương giao lẫn trực giác đều tùy thuộc hoàn toàn vào việc chúng ta điều chỉnh lương tâm. Qua việc xử lý như vậy chúng ta có thể đạt được một lương tâm trong sáng và thuần khiết, đem chúng ta đến sự tương giao hoàn hảo với Chúa. Kết quả là chức năng của trực giác sẽ hoạt động vì khi ấy Thánh Linh sẽ có nền tảng để chuyển động và xức dầu cho linh chúng ta. Một lần nữa, chúng tôi xin nói rằng tất cả những điều này cần phải được thực tập hằng ngày. Mỗi ngày chúng ta phải điều chỉnh tấm lòng, lương tâm, sự tương giao và trực giác của mình.