Thông tin sách

Gia Tể Của Đức Chúa Trời Tam Nhất

Tác giả: Witness Lee
Dịch từ bản tiếng Anh: The economy of God
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 4

Untitled Document

CHƯƠNG BỐN

BÍ QUYẾT VỀ LINH NGỰ BÊN TRONG

Trong hơn 20 bản dịch Kinh Thánh Tân Ước bằng tiếng Anh, từ ngữ “linh” được viết cách khác nhau. Trong một vài chỗ, có những bản dịch viết hoa chữ này, trong khi các bản khác lại không viết hoa. Thí dụ như các dịch giả của bản King James viết hoa chữ “linh” trong nhóm chữ “luật của Linh” (La. 8:2), nhưng trong chính nhóm chữ nầy của một bản Kinh Thánh song ngữ Hi-Anh, chữ “linh” này lại không được viết hoa. Trong câu 4 của bản King James: “người bước đi... theo Linh”, chữ “Linh” này được viết hoa trong khi cũng chữ “linh” ấy lại được viết thường trong bản Hi-Anh. Một lần nữa, trong câu 5, “những kẻ theo Linh”, bản dịch King James viết hoa chữ “linh”, trong khi bản song ngữ Hi-Anh lại không viết hoa chữ này.

Vì sao các bản dịch lại mâu thuẫn với nhau như thế? Bất cứ dịch giả nào cũng cảm thấy khó khăn khi muốn xác định chữ “linh” trong các đoạn Kinh Thánh đã được nêu trong các ví dụ trên là đề cập đến Thánh Linh hay nhân linh. Vì linh của chúng ta đã hòa lẫn với Thánh Linh nên hai linh này đã hòa lẫn thành một linh (1 Cô. 6:17). Vì thế, người thì khẳng định rằng linh này là nhân linh, trong khi người khác lại nói linh này là Thánh Linh. Dĩ nhiên, văn mạch của vài phân đoạn giúp chúng ta hiểu rõ phân đoạn này đang đề cập đến Thánh Linh trong khi những phân đoạn kia nói về nhân linh.

“Nhưng nếu Đấng Christ ở trong anh em, dầu thân thể nhơn tội mà chết còn linh nhơn sự công chính mà sống”. Văn mạch của câu Kinh Thánh trong La Mã 8:10 này chỉ rõ rằng linh ở đây không phải là Thánh Linh vì nó được so sánh với thân thể. Chúng ta không thể nào so sánh Thánh Linh với thân thể chúng ta được vì sứ đồ đang so sánh nhân linh với thân thể của chúng ta. Vậy câu này có nghĩa gì? Ban đầu thân thể của chúng ta chết vì cớ tội. Nhưng bây giờ Đấng Christ ở trong chúng ta nên mặc dầu thân thể tội lỗi của chúng ta vẫn chết vì cớ tội nhưng linh của chúng ta sống động và đầy dẫy sự sống vì sự công chính. Vì vậy, “linh” được đề cập đến trong câu này không phải là Thánh Linh nhưng là nhân linh như đã được so sánh với thân thể con người.

Trong một câu khác là La Mã 8:11 rõ ràng chỉ về Linh của Đức Chúa Trời. Theo sau nhóm chữ “Linh của Ngài” chỉ rõ Linh là của ai. “Nhưng nếu Linh của Đấng đã khiến cho Jesus từ kẻ chết sống lại ở trong anh em, thì Đấng đã khiến cho Christ Jesus từ kẻ chết sống lại cũng sẽ nhờ Linh Ngài ở trong anh em mà ban sự sống cho (làm cho sống) thân thể hay chết của anh em”. Câu 10 bảo chúng ta rằng dù Đấng Christ ở trong chúng ta nhưng thân thể của chúng ta vẫn chết vì cớ tội. Tuy nhiên, câu 11 tuyên bố rằng vì được Đấng Christ ngự bên trong mà thân thể yếu đuối và hay chết của chúng ta sẽ trở nên sống động, phục hưng và mạnh mẽ. Bởi vì Đấng Christ đang sống trong chúng ta, nên thân thể của chúng ta, vốn đã chết vì cớ tội, có thể trở nên sống động và phục hưng nhờ Linh thần thượng cư ngụ trong linh của chúng ta. Linh ngự bên trong không những làm cho linh chúng ta sống động mà kết quả cũng làm cho thân thể của chúng ta được sống động nữa.

NHÂN LINH LÀ BÍ QUYẾT

Tại sao chúng ta nhấn mạnh đến sự khác biệt giữa Thánh Linh và nhân linh? Bởi vì nan đề lớn nhất của chúng ta là chúng ta không biết Linh ngự bên trong hay chúng ta không ý thức rằng nhân linh chính là nơi cư ngụ của Thánh Linh; chúng ta cũng không biết rằng hai linh này được hòa lẫn thành một Linh. Thật đáng thương thay! Đây là trọng tâm của gia tể Đức Chúa Trời và nhiều Cơ Đốc nhân đã đi lệch trọng tâm này. Điều này cũng giống như chúng ta không thể nào vào một căn nhà được nếu chúng ta đánh mất chìa khóa nhà. Phải có chìa khóa chúng ta mới có thể mở cửa bước vào và hưởng được mọi điều bên trong căn nhà ấy. Qua nhiều thế kỷ kẻ thù đã dấu chiếc chìa khóa ấy. Chìa khóa ấy là gì? Đó chính là: nhân linh của chúng ta là nơi trú ngụ của Thánh Linh, và nhân linh của chúng ta hiệp một với Thánh Linh kỳ diệu.

Lời của Đức Chúa Trời thì sống động và sắc bén hơn thanh gươm có hai bề lưỡi, đâm thấu đến nỗi chia hồn và linh. Suốt hơn 30 năm, tôi cố gắng tìm hiểu lý do nào lời này đã được viết ra và tại sao lại được viết trong chương thứ tư của sách Hê-bơ-rơ và Chúa đã bày tỏ cho tôi lý do. Sách Hê-bơ-rơ khuyến khích chúng ta ra khỏi đồng vắng, tiến vào miền đất tốt lành, ra khỏi giai đoạn đi lang thang mà vào giai đoạn yên nghỉ trong Đấng tổng-bao-hàm. Vào thời đó, những Cơ Đốc nhân người Do-thái đang mắc phải nguy cơ trôi dạt khỏi Đấng Christ mà trở về với Do Thái giáo, cũng giống như quay trở về xứ Ai Cập. Họ đã được giải cứu khỏi Do Thái giáo để đi vào miền đất an nghỉ tốt lành, nhưng họ đã đi lang thang giữa Do Thái giáo và Đấng Christ. Thư Hê-bơ-rơ được viết ra để khuyến khích họ ra khỏi giai đoạn lẩn quẩn bằng cách nhận Đấng Christ làm sự sống bao-hàm-tất-cả và là sự yên nghỉ của họ.

Thư Hê-bơ-rơ cũng đề cập đến Nơi Chí Thánh. Một lần nữa, trải qua nhiều năm tôi không hiểu Nơi Chí Thánh là gì. Cuối cùng Chúa giúp tôi nhận biết Nơi Chí Thánh, theo một ý nghĩa, chính là linh của chúng ta. Ngày nay nhân linh của chúng ta là Nơi Chí Thánh. Ba phần của đền thờ tương ứng với ba phần của con người: thân, hồn và linh. Phần trong cùng của đền thờ là Nơi Chí Thánh, tượng trưng phần sâu thẳm nhất của chúng ta là nhân linh. Giống như hòm bảng chứng là biểu tượng của Đấng Christ trong Nơi Chí Thánh, thì ngày nay Đấng Christ cũng ở trong linh chúng ta như vậy. Vì thế nhân linh của chúng ta là Nơi Chí Thánh, tức nơi chúng ta có thể tiếp xúc với Đức Chúa Trời. Nếu không thể nhận biết linh của mình thì chúng ta không thể xác định được vị trí của Nơi Chí Thánh.

Hơn thế nữa, chúng ta cần phải thật sáng tỏ rằng ngày nay Đức Chúa Trời Tam Nhất đã hoàn tất mọi điều: sự sáng tạo, sự nhập thể, sự sống trên đất và những khổ đau nơi trần thế; Ngài đã bước vào sự chết và vượt qua sự chết; Ngài đã phục sinh, thăng thiên và đăng quang. Đức Chúa Trời Tam Nhất tuyệt diệu đã đạt được mọi điều và tất cả thực tại này đều ở trong Thánh Linh, là Đấng đã vào trong chúng ta. Điều quan trọng là Thánh Linh đã được ban phát vào nhân linh của chúng ta, là nơi cư ngụ của Đức Chúa Trời ngày nay. Linh của chúng ta là cơ quan tiếp nhận Chúa và chứa đựng Ngài. Nếu muốn tiếp xúc với Linh kỳ diệu này, chúng ta phải biết về linh của mình. Nếu anh em muốn tiếp xúc với tôi, trước hết anh em phải biết nơi tôi ở. Hê-bơ-rơ 4:12 được viết để khuyến khích chúng ta tiến vào Nơi Chí Thánh, tức là linh của chúng ta. Nếu chúng ta không nhận biết rõ được linh của mình chúng ta không thể định được vị trí của Nơi Chí Thánh, tức là nơi Chúa ở ngày nay. Gia tể của Đức Chúa Trời là sự ban phát chính Ngài vào trong chúng ta, và nơi tiếp nhận sự ban phát của Ngài chính là linh chúng ta. Khi có thể nhận biết và vận dụng được linh mình để tiếp xúc với Chúa, chúng ta sẽ được dầm thấm, đầy dẫy Ngài và biến hóa theo hình ảnh của Ngài.

NHỮNG ĐIỀU LÀM LẠC MẤT BÍ QUYẾT

(1) Những Điều Tốt

Kẻ thù cố gắng ngăn trở chúng ta nhận biết linh mình. Hắn thực hiện điều này bằng cách, ngay sau khi chúng ta được cứu, hắn làm cho chúng ta quyết định làm điều tốt. Không một ai được miễn trừ khỏi những gợi ý quỷ quyệt này của hắn. Mới sáng nay có vài anh em cầu nguyện như vầy: “Chúa ôi, con muốn làm theo ý Ngài, con muốn làm vui lòng Ngài, con sẽ hết sức cố gắng làm những điều thỏa lòng Ngài”. Lời cầu nguyện này nghe có vẻ rất tốt, nhưng không phải đến từ Chúa mà đến từ kẻ thù. Bất cứ khi nào chúng ta có những ý định tốt như thế, chúng ta phải nhảy lên và đuổi Sa tan ra khỏi chúng ta. Trong tự điển Cơ Đốc của tôi không có chữ nào là “xấu” và cũng không có chữ nào là “tốt” cả. Từ đầu đến cuối, tự điển Cơ Đốc của tôi chỉ chứa đựng một chữ – “Christ!” Tôi không hiểu gì về tốt hay xấu. Tôi không muốn được giúp đỡ để làm điều thiện, điều tốt. Tôi chỉ muốn Đấng Christ.

Bây giờ anh em có thể hiểu lời Chúa nói: “Hãy cứ ở trong Ta và Ta cũng ở trong các ngươi; ai cứ ở trong Ta và Ta ở trong họ, thì được kết quả nhiều”. Trong câu này ta thấy không có điều gì thuộc nỗ lực riêng mà chỉ có vấn đề cứ ở trong Đấng đang ngự trong chúng ta và để cho Ngài cứ ở trong chúng ta mà thôi; rồi sau đó tất cả những sự phong phú của Đấng Christ sẽ được ban phát qua chúng ta. Việc kết quả chỉ là công tác bên ngoài của Đấng Christ ngự bên trong. Chúng ta nên nói rằng: “Tôi không biết điều này, tôi cũng không biết điều nọ. Tôi chỉ biết có một điều: tôi là một nhánh nho và Ngài là cây nho; tôi phải ở trong Ngài và để Ngài ở trong tôi”. Tự nhiên chúng ta sẽ kết quả. Đây là chìa khóa (bí quyết) đã bị lạc mất. Cố gắng làm điều tốt thật sự là một cám dỗ và là một điều chi phối lớn làm chúng ta rời khỏi việc kinh nghiệm Đấng Christ.

(2) Các Giáo Lý

Kẻ thù dùng các giáo lý tạo nên một mưu kế khác để làm cho những người có lòng tìm kiếm Chúa lạc xa khỏi Đấng Christ. Qua nhiều thế kỷ, các giáo lý như sự an ninh đời đời, các thời đại, tiền định, ân điển tuyệt đối v.v... đã bị kẻ thù dùng rất nhiều để chi phối các Cơ Đốc nhân làm cho họ không quan tâm đến Đấng Christ hằng sống. Tôi biết có những Cơ Đốc nhân quen thuộc với Kinh Thánh đến nỗi một người trong nhóm đó được gọi là “Kinh Thánh Phù Dẫn sống”. Nếu anh em không tìm được một khúc nào trong Kinh Thánh, họ có thể cho anh em biết nó ở sách nào, chương nào, câu nào ngay lập tức. Nhưng tôi có thể làm chứng rằng họ biết rất ít về việc tiếp xúc với Đấng Christ là sự sống của họ. Có kiến thức Kinh Thánh là một việc, nhưng biết Đấng hằng sống đã được khải thị trong Kinh Thánh thì lại là một việc khác. Chúng ta phải tiếp xúc Đấng Christ qua Kinh Thánh. Nhưng rất tiếc, nhiều Cơ Đốc nhân chỉ có Kinh Thánh trong tay và trong trí nhớ nhưng họ có rất ít Đấng Christ trong linh. Luật pháp Môi-se là để người ta đến với Đấng Christ và giữ họ cho Đấng Christ, giúp người ta biết Đấng Christ, nhưng nhiều người chỉ giữ luật pháp và bỏ quên Đấng Christ. Vì thế, luật pháp đã bị dùng một cách sai trật. Ngày nay, nan đề đó vẫn không thay đổi. Nguyên tắc ấy cũng áp dụng cho mọi sự dạy dỗ và các giáo lý của Kinh Thánh. Các giáo lý là những phương tiện để kinh nghiệm Đấng Christ nhưng các Cơ Đốc nhân dùng giáo lý và kiến thức để thay thế Ngài.

(3) Các Ân Tứ

Kẻ thù còn lợi dụng một điều nữa là các ân tứ thuộc linh. Chúng ta cần hiểu biết đúng đắn về ân tứ để có thể thấy mối liên hệ giữa ân tứ và gia tể của Đức Chúa Trời. Điều này áp dụng cho mọi ân tứ. Nhiều người có ân tứ đã để ý quá nhiều đến ân tứ của họ và phần nào họ bỏ quên Đấng Christ ngự bên trong. Đấng Christ ngự bên trong là trọng tâm của gia tể Đức Chúa Trời. Tất cả các ân tứ đều dành cho mục đích này. Nhiều người biết nói các thứ tiếng và biết cách chữa bệnh nhưng họ không biết cách nhận biết linh và tiếp xúc Đấng Christ. Mặc dầu tôi không nói nghịch lại bất cứ ân tứ nào nhưng tôi chống lại một điều, ấy là chú tâm quá nhiều đến ân tứ mà bỏ quên việc nhận biết linh để tiếp xúc với Đấng Christ. Điều này hoàn toàn sai lầm.

Sách La Mã dành rất ít chỗ cho ân tứ. La Mã là một bản phác họa tổng quát về đời sống và những bước đi của Cơ Đốc nhân, và bản phác họa ấy không đề cập nhiều đến ân tứ. Trong 16 đoạn chỉ có đoạn 12 là nói một ít về các ân tứ, và nếu đọc hết đoạn 12 thì chúng ta sẽ thấy không những ơn nói tiên tri được đề cập mà ngay cả các ân tứ bày tỏ sự nhân từ và ban tặng của cải vật chất cũng đã được liệt kê (La. 12:5-8). Những ân tứ được đề cập ở đây là kết quả của Đấng Christ sống động được các tín đồ kinh nghiệm như ân điển bên trong. Không phải tất cả Cơ Đốc nhân đều có ơn nói tiên tri. Đây chỉ là một trong nhiều ân tứ. Mặc dầu chúng ta không tìm cách chống đối bất cứ ân tứ nào, tuy nhiên, chúng ta phải đặt từng ân tứ vào mối tương quan đúng đắn với mọi ân tứ khác; nếu không, chúng ta sẽ mất quân bình.

Ân tứ cũng được đề cập trong 1 Cô-rin-tô 12 và 14. Tín hữu Cô-rin-tô có đủ tất cả các ân tứ và không thua kém ai về bất cứ ơn nào (1 Cô. 1:7). Tuy nhiên, dầu người Cô-rin-tô có đủ mọi ân tứ, trình độ thuộc linh của họ được mô tả là xác thịt và chưa trưởng thành (1 Cô. 3:1). Chúng ta có thể có các ân tứ nhưng vẫn còn non trẻ và xác thịt. Chắc chắn các ân tứ này có ích cho chúng ta nhưng chúng ta cũng cần phải biết đến những điều khác nữa. Dấu lạ và sự khôn ngoan là các ân tứ (1 Cô. 1:22), nhưng vị Sứ đồ giảng về “Đấng Christ bị đóng đinh” và “Đấng Christ là quyền năng của Đức Chúa Trời và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời”. Ý định duy nhất của vị Sứ đồ là cung ứng Đấng Christ là năng lực và sự khôn ngoan chứ không phải là sự bày tỏ các ân tứ và dấu lạ. Những ân tứ là một sự trợ giúp, nhưng không phải là cùng đích và trọng tâm. Đấng Christ ngự bên trong mới là trọng tâm. Các ân tứ chỉ để giúp chúng ta ý thức được trọng tâm này mà thôi.

1 Cô-rin-tô 12 đề cập đến các ân tứ thuộc linh, ngay cả việc nói các thứ tiếng, nhưng ở phần cuối của đoạn này Phao-lô nói về “con đường tối diệu hơn”. Văn bản Hi Lạp bày tỏ điều ấy một cách mạnh mẽ hơn: “con đường tối diệu nhất”. Con đường tối diệu nhất là gì? Chương 13 là sự nối tiếp của câu này: “Dầu tôi nói được các thứ tiếng của loài người và thiên sứ, nhưng không có tình thương yêu, thì tôi chỉ như đồng la kêu lên”. Chúng ta chỉ nghe một âm thanh nhưng chúng ta không thấy sự sống! Tình yêu là sự bày tỏ sự sống. Nói một cách chính xác, điều này chứng tỏ rằng nói tiếng lạ, tức nói các thứ tiếng, không phải là vấn đề thuộc sự sống. Nói các thứ tiếng mà không để ý đến sự sống thì chỉ giống như tiếng chập chõa vang lên mà thôi. Nhiều người thường xuyên nói các thứ tiếng nhưng vẫn rất nông cạn và thiếu trưởng thành trong đời sống Cơ Đốc của họ.

Trong chương 14, vị Sứ đồ khuyến khích chúng ta nên vận dụng linh mình vì ích lợi thuộc linh cho Hội thánh. Đây là phần kết luận của cả chương này. Mặc dầu Phao-lô vượt trỗi những người khác trong ân tứ nói các thứ tiếng nhưng ông thà nói năm lời dễ hiểu trong buổi nhóm hơn là 10.000 lời bằng các thứ tiếng (c. 18, 19). Trong những đoạn này, vị Sứ đồ có phần nào bày tỏ thái độ tiêu cực đối với việc nói các thứ tiếng. Thay vì khuyến khích việc thực tập các ân tứ, ông điều chỉnh người Cô-rin-tô bằng vài lời khuyên bảo có tính sửa sai. Vì thế chúng ta phải kết luận rằng tất cả các ân tứ là để kinh nghiệm Đấng Christ và phải được sử dụng một cách quân bình.

Bí quyết của gia tể Đức Chúa Trời ấy là Đấng Christ là mọi sự được đem vào linh của chúng ta. Dĩ nhiên chúng ta cần các lời dạy dỗ và các ân tứ để giúp chúng ta ý thức được trọng tâm. Nhưng chúng ta không được để các lời dạy dỗ và các ân tứ này thay thế trọng tâm ấy. Lời dạy dỗ hay các ân tứ không phải là trọng tâm, trọng tâm là chính Đấng Christ, là Linh sống động, đang ở trong linh chúng ta. Một số người cần ân tứ để giúp họ ý thức trọng tâm này. Không phải tất cả mọi người đều cần cùng một ân tứ giống nhau. Người này cần ơn nói tiên tri, người kia có thể cần ân tứ nói các thứ tiếng, người nọ có lẽ cần ơn chữa bệnh, trong khi người khác cần lời dạy dỗ. Nhiều người được lôi kéo đến Đấng Christ qua những sự dạy dỗ nào đó. Nhưng chúng ta cần phải được sáng tỏ rằng Đấng Christ ngự trong linh chúng ta là bí quyết của gia tể Đức Chúa Trời. Chúng ta phải hoàn toàn chú tâm vào bí quyết này. Thật ra không cần phải đặc biệt chú trọng vào sự dạy dỗ hay ân tứ nào cả nếu trong linh mình chúng ta đã nhận biết Đấng Christ ngự-bên-trong.

Người đầy tớ già của Áp-ra-ham được sai đi đem theo nhiều quà cáp để tìm vợ cho Y-sác. Tất cả các món quà này giúp Rê-bê-ca biết rằng nàng phải đi gặp Y-sác. Đây là vai trò đúng đắn của các món quà. Sau khi nhận được các món quà, Rê-bê-ca dường như quên chúng đi và nói: “Tôi phải đi gặp Y-sác! Tôi không thỏa lòng nếu cứ ở lại đây hưởng các món quà này mà quên mất Y-sác. Tôi phải đi gặp chàng rể của tôi!” Sau khi Rê-bê-ca lập gia đình với Y-sác, các món quà này không còn được nhắc đến nữa. Hằng ngày Rê-bê-ca chỉ vui thỏa chung sống với Y-sác. Đấng Christ quí báu hơn ân tứ nói các thứ tiếng, hơn ân tứ tiên tri, hơn tất cả mọi điều khác!

Có chìa khóa trong tay, tôi có thể mở mọi cánh cửa và vui hưởng cả căn nhà. Nếu không có chìa khóa, tôi phải tìm người thợ làm chìa khóa; nhưng nếu tôi có chìa khóa, tôi không cần người thợ ấy giúp tôi nữa. Nhu cầu thật sự của chúng ta là chiếc chìa khóa, chứ không phải người thợ làm chìa; cũng vậy, các ân tứ và các sự dạy dỗ không còn cần thiết nữa khi chúng ta nhận biết Đấng Christ ngự bên trong, là Đấng ở trong linh của chúng ta.

Một số người cần phải có những sự dạy dỗ hay các ân tứ nào đó để tìm thấy chìa khóa nhưng, ngợi khen Chúa, một khi chìa khóa nhận biết Đấng Christ ở trong tay chúng ta, chúng ta hãy quên hết mọi sự dạy dỗ và các ân tứ. Chúng ta hãy chú tâm trọn vẹn vào việc nhận biết linh, tiếp xúc với Đấng Christ hằng sống và tương giao với Ngài. Để giúp chúng ta nhận được chìa khóa hay bí quyết này, Đức Chúa Trời đã phân định một vài ân tứ và sự dạy dỗ nào đó. Chúng ta có thể ngợi khen Chúa về sự thương xót này nhưng chúng ta phải cẩn thận. Chúng ta không nên để ý quá nhiều đến người làm chìa khóa đến nỗi phải đến với người ấy hằng ngày. Hễ đã nhận được chìa khóa, chúng ta hãy cảm ơn người làm chìa khóa và lìa khỏi người ấy. Hãy dùng chìa khóa để bước vào căn nhà và khám phá những sự giàu có bên trong. Hằng ngày hãy học biết Đức Chúa Trời Tam Nhất tuyệt diệu này tức là Đấng Christ không dò lường được, là Thánh Linh tổng-bao-hàm, tức là Đấng đang ở trong linh chúng ta. Chúng ta có chìa khóa khi chúng ta nhận biết linh mình. Chúng ta đã có được bí quyết! Bất cứ điều gì chúng ta cần nơi Đấng Christ, chúng ta đều có được bằng cách vận dụng linh để tiếp xúc Ngài. Đây là trọng tâm của gia tể Đức Chúa Trời. Mặc dầu Chúa ban cho chúng ta các sự dạy dỗ và các ân tứ nhưng chính Ngài là mục tiêu, là Đấng trọn vẹn và bao-hàm-tất-cả. Chúng ta đừng chấp nhận thỏa lòng với điều gì kém hơn Ngài. Đích nhắm của gia tể Đức Chúa Trời là để cho Đấng Christ tổng-bao-hàm cư ngụ trong linh chúng ta. Suốt ngày chúng ta phải tìm cách quay vào trong linh mình, nhận biết linh và tiếp xúc với Đấng Christ là mọi sự. Khi ấy chúng ta sẽ nắm được bí quyết để sống một đời sống Cơ Đốc bình thường và đúng đắn.