Thông tin sách

Gia Tể Của Đức Chúa Trời Tam Nhất

Tác giả: Witness Lee
Dịch từ bản tiếng Anh: The economy of God
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 1

Untitled Document

CHƯƠNG MỘT

GIA TỂ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI TAM NHẤT

Trong tất cả các bài giảng sau đây, gánh nặng của tôi là chia sẻ về gia tể của Đức Chúa Trời. Xin chúng ta đọc 1 Ti-mô-thê, đoạn 1, từ câu 3 đến câu 7: “... để răn bảo những người kia đừng dạy các điều khác, cũng đừng nghe theo chuyện hoang đường và gia phả bất tận, là những sự gây nên tranh luận hơn là giúp đỡ gia tể của Đức Chúa Trời trong đức tin. Nhưng cùng đích của mạng lịnh này là tình yêu thương ra từ lòng trong sạch, lương tâm tốt và một đức tin không giả dối. Có mấy kẻ đã sai lệch (nguyên văn Hi Lạp: trật mục tiêu hay lệch trọng tâm) mà xây bỏ những sự ấy hướng về chuyện hư không, muốn làm thầy dạy luật pháp...” *

Những câu Kinh Thánh trên chứa đựng hai nhóm chữ rất quan trọng, ấy là “gia tể của Đức Chúa Trời” và “trật mục tiêu” như đã được viết trong Tân Ước bằng nguyên ngữ Hi Lạp. Sứ đồ Phao-lô đã được Đức Chúa Trời tuyển chọn để gánh lấy trách nhiệm về gia tể Đức Chúa Trời và chính ông cũng đã huấn luyện người con trai thuộc linh mình là Ti-mô-thê theo đường lối gia tể này. Thật đáng chú ý khi ghi nhận là Phao-lô viết thư tín này cho Ti-mô-thê vào thời điểm nhiều Cơ Đốc nhân đã trôi giạt khỏi đường lối ban đầu. Những Cơ Đốc nhân này đã đi lệch trọng tâm chính yếu của gia tể Đức Chúa Trời mà chú trọng đến nhiều điều khác.

* Những đoạn Kinh Thánh trong sách này được dịch từ bản American Standard Version, ngoại trừ những câu được chú thích khác.

NHỮNG ĐIỀU LÀM LỆCH KHỎI GIA TỂ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Theo quá trình lịch sử, Do Thái giáo và Trí Huệ giáo là hai yếu tố chính đã chi phối các Cơ Đốc nhân đầu tiên làm cho họ đi lệch con đường đúng đắn. Những người theo Do Thái giáo với những giáo lý và hình thức tôn giáo của họ, và những người theo Trí Huệ giáo với các triết lý của họ đã ngăn trở các Cơ Đốc nhân bước theo Chúa trong đường lối gia tể của Ngài. Hiển nhiên chính các yếu tố tốt đẹp của Do Thái giáo và Trí Huệ giáo đã đánh lạc hướng các Cơ Đốc nhân đầu tiên. Nếu các yếu tố này tương đối không tốt thì chắc đã không đủ sức lôi kéo các tín đồ ấy đi lệch trọng tâm gia tể của Đức Chúa Trời. Ví dụ như người theo Do Thái giáo nhấn mạnh đến Luật Pháp Môi-se như đã được chép trong Cựu Ước. Luật Pháp chẳng có gì sai trật cả, mà ngược lại chắc chắn Luật Pháp rất đúng đắn và tốt đẹp vì do Đức Chúa Trời trực tiếp ban bố. Tuy nhiên, Luật Pháp tự nó không liên hệ gì đến trọng tâm gia tể của Đức Chúa Trời. Còn Trí Huệ giáo, theo nhãn quan loài người, cũng có những nguyên tắc tốt đẹp riêng của nó. Thật thế, Trí Huệ giáo là một trong những phát kiến tốt nhất của nền văn minh nhân loại và đã giúp ích phần nào cho những người ngoại đạo. Nhưng những người theo Trí Huệ giáo cố gắng mang triết lý của họ vào Hội thánh làm cho các Cơ Đốc nhân bị lệch khỏi trọng tâm gia tể của Đức Chúa Trời.

Ngày nay, dầu không có những người theo Do Thái giáo hay Trí Huệ giáo quấy nhiễu, nhưng vẫn còn có nhiều điều khác đánh lạc hướng chúng ta. Trải qua gần hai mươi thế kỷ, kẻ thù quỷ quyệt đã không ngừng lợi dụng những điều xem dường như tốt lành để đánh lạc hướng các tín đồ khiến họ không đi theo Chúa trong đường lối đúng đắn nữa. Nếu dành riêng thì giờ ở với Chúa, chúng ta sẽ nhận thức rằng kẻ thù vẫn đang kiên trì lợi dụng ngay cả những điều tốt đẹp của Cơ Đốc giáo để đánh lạc hướng con dân Chúa làm họ đi lệch khỏi trọng tâm gia tể của Đức Chúa Trời. Có dịp lui tới nhiều nơi trên đất nước này, tôi nhận thấy có nhiều điều liên hệ đến tôn giáo, ngay cả những điều thuộc về Kinh Thánh, đã bị kẻ thù quỷ quyệt lợi dụng gây ảnh hưởng trên các Cơ Đốc nhân đang tìm kiếm Chúa để lôi cuốn họ ra khỏi đường lối gia tể của Đức Chúa Trời.

ĐỊNH NGHĨA VỀ GIA TỂ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Thế nào là gia tể của Đức Chúa Trời? Kinh Thánh bao gồm sáu mươi sáu sách, chứa đựng rất nhiều sự dạy dỗ khác nhau. Tuy nhiên, nếu nghiên cứu Kinh Thánh cẩn thận và kỹ lưỡng với sự thông hiểu thuộc linh, chúng ta sẽ thấy gia tể của Đức Chúa Trời chỉ là một kế hoạch ban phát chính mình Ngài vào trong nhân tính. Gia tể của Đức Chúa Trời là sự ban phát của Đức Chúa Trời. Gia tể này không có một ý nghĩa nào khác hơn là Đức Chúa Trời ban phát chính mình Ngài vào trong nhân loại. Thật đáng tiếc từ ngữ “ban phát” (tiếng Anh: dispensation) đã bị Cơ Đốc giáo dùng sai. Ý nghĩa của từ ngữ này tương tự như chữ “gia tể” trong tiếng Hi Lạp (oikonomia). Từ ngữ này có nghĩa là sự sắp xếp hành chính, sự quản lý để cai trị hoặc là sự quản gia (gia tể) để phân phát, phân phối theo kế hoạch của Đức Chúa Trời. Trong sự phân phát hay ban phát thần thượng này, Đức Chúa Trời là Đấng đầy quyền năng, Đấng tổng-bao-hàm, có ý định ban phát không gì khác hơn là chính mình Ngài cho chúng ta. Điều này cần được nhắc đi nhắc lại nhiều lần để chúng ta có nhận thức sâu xa.

Đức Chúa Trời là Đấng phong phú tột bậc. Ngài giống như một thương gia thành công có một vốn liếng khổng lồ. Đức Chúa Trời đang có một sự nghiệp kinh doanh rất lớn lao trong vũ trụ này, và sự giàu có vô hạn của Ngài chính là số vốn của Ngài. Chúng ta không thể nào biết nổi số vốn hàng tỷ, tỷ tỷ, tỷ tỷ tỷ... mà Ngài đang có. Tất cả vốn liếng này chỉ là chính Ngài và với số vốn này, Ngài định sản xuất hàng loạt chính mình Ngài. Chính Đức Chúa Trời là “Thương gia”, là “Vốn” và cũng là “Sản phẩm” nữa. Ý định của Ngài là ban phát chính mình Ngài cho nhiều người bằng cách sản xuất hàng loạt và tặng không. Vì vậy, Đức Chúa Trời cần phải có một sự xếp đặt thần thượng, một sự quản lý thần thượng, một sự ban phát thần thượng, một gia tể thần thượng với mục đích đem chính mình Ngài vào trong nhân tính.

Chúng ta hãy nói cách cụ thể hơn. Bây giờ khi đã biết mục đích của Đức Chúa Trời là ban phát chính mình Ngài, chúng ta cần phải tìm hiểu xem Đức Chúa Trời là gì rồi chúng ta mới có thể biết được Đức Chúa Trời muốn ban phát điều gì cho chúng ta. Nói một cách khác, tố chất của Đức Chúa Trời là gì? Khi người thương gia dự trù sản xuất một sản phẩm thì trước hết ông phải biết rõ tố chất hay chất liệu căn bản cấu tạo nên sản phẩm đó. Tố chất của Đức Chúa Trời là Linh (Gi. 4:24). Đức Chúa Trời, tức là Đấng quyền năng, Đấng tổng-bao-hàm, là Chúa hoàn vũ, có yếu thể tính là Linh. Đức Chúa Trời là Nhà Sản Xuất, và Ngài muốn tái sản xuất chính Ngài như một Sản Phẩm; vì vậy, những gì Ngài tái sản xuất phải là Linh, tức là chính tố chất của Ngài vậy.

CÁC GIAI ĐOẠN TRONG GIA TỂ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Đã thấy được mục đích của Đức Chúa Trời và điều Ngài muốn ban phát, bây giờ chúng ta cần phải nhận biết bằng cách nào Ngài có thể được ban phát cho con người qua gia tể của Ngài. Nói cách khác, Đức Chúa Trời muốn ban phát Linh vào trong con người nhưng chúng ta cần biết Ngài thực hiện điều đó bằng cách nào. Ấy là nhờ Đấng Tam Nhất. Đức Chúa Trời Tam Nhất – Cha, Con và Linh – chính là gia tể của Thần cách. Qua hai mươi thế kỷ, Cơ Đốc giáo đã có nhiều giáo lý về Đấng Tam Nhất (Đức Chúa Trời Ba Ngôi), nhưng không bao giờ có thể hiểu đúng mức được Đấng Tam Nhất trừ phi liên hệ Ngài với gia tể thần thượng. Tại sao cả ba Thân vị của Thần cách lại cần thiết để khai triển gia tể của Ngài? Chúng ta đã biết Cha, Con và Linh không phải là ba Đức Chúa Trời khác nhau, nhưng chỉ là một Đức Chúa Trời duy nhất mà thôi, tức là một Đức Chúa Trời được bày tỏ qua ba Thân vị. Nhưng mục đích có ba Thân vị trong Thần cách là gì? Tại sao lại có Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Thánh Linh? Ấy là vì chỉ có Đấng Tam Nhất mới có thể cung ứng phương tiện thiết yếu để nhờ đó Linh Ngài có thể được ban phát vào trong chúng ta.

2 Cô-rin-tô 13:14 trình bày các giai đoạn trong gia tể của Đức Chúa Trời qua Đấng Tam Nhất. “Nguyện ân điển của Chúa Jesus Christ và tình yêu thương của Đức Chúa Trời và sự tương giao của Thánh Linh ở cùng tất cả anh em”. Trong câu Kinh Thánh này, chúng ta có ân điển của Con, tình yêu thương của Cha và sự tương giao của Thánh Linh. Những điều này có ý nghĩa gì? Phải chăng có ba Đức Chúa Trời khác nhau? Có phải tình yêu thương, ân điển và sự tương giao là ba điều khác nhau không? Không phải như vậy đâu! Tình yêu thương, ân điển và sự tương giao chỉ là một yếu tố trong ba giai đoạn khác nhau: tình yêu thương là nguồn, ân điển là sự bày tỏ của tình yêu thương và sự tương giao là sự truyền đạt tình yêu thương trong ân điển. Cũng vậy, Đức Chúa Trời, Đấng Christ và Thánh Linh chỉ là một Đức Chúa Trời nhưng được bày tỏ qua ba Thân vị: Đức Chúa Trời là nguồn, Đấng Christ là sự bày tỏ Đức Chúa Trời và Thánh Linh là sự truyền đạt Đức Chúa Trời trong Đấng Christ vào bên trong con người. Vì thế, ba Thân vị của Đấng Tam Nhất trở nên ba giai đoạn nối tiếp nhau trong tiến trình của gia tể Đức Chúa Trời. Nếu không có ba giai đoạn này thì yếu thể tính của Đức Chúa Trời không thể nào được ban phát vào trong con người. Gia tể của Đức Chúa Trời được khai triển từ Cha, trong Con và qua Linh.

(1) Từ Cha

Đức Chúa Cha là nguồn chung của mọi sự. Ngài vô hình và không ai có thể đến gần được. Làm thế nào Đức Chúa Cha, là Đấng ở trong sự sáng mà con người không thể đến gần (1 Ti. 6:16) lại có thể ở trong chúng ta được? Làm sao chúng ta có thể thấy được Cha là Đấng vô hình? Nếu Đức Chúa Trời chỉ là Cha thì không ai có thể tiếp xúc với Ngài và Ngài cũng không thể ban phát chính Ngài vào trong con người. Nhưng qua sự sắp đặt thần thượng trong gia tể của Ngài, Ngài đã đặt chính mình Ngài vào trong Con Ngài, là Thân vị thứ hai của Đấng Tam Nhất, để làm cho Ngài trở nên thích ứng sẵn sàng cho con người tiếp nhận. Mọi sự đầy đủ của Cha ở trong Con (Côl. 1:19; 2:9) và được bày tỏ qua Con (Gi. 1:18). Cha, là nguồn vô tận của mọi sự, được hiện thân trong Con. Đức Chúa Trời mà ta không thể nào hiểu được bây giờ được bày tỏ trong Đấng Christ, là Lời của Đức Chúa Trời (Gi. 1:1). Đức Chúa Trời vô hình ấy được mặc khải trong Đấng Christ, là Hình Ảnh của Đức Chúa Trời (Côl. 1:15). Vậy, Con và Cha là một (Gi. 10:30) và ngay cả Con cũng được gọi là Cha (Ês. 9:6).

Trước kia, con người không thể tiếp xúc với Cha được. Chỉ riêng một mình Ngài là Đức Chúa Trời và chỉ riêng một mình Ngài có bản chất thần thượng. Không có điều gì trong Cha có thể nối liền khoảng cách giữa Đức Chúa Trời và con người. Nhưng ngày nay, chẳng những chính Ngài hiện thân trong Con mà lại nhập thể trong bản chất con người. Cha rất thỏa lòng để kết hợp thần tính của riêng mình với nhân tính trong Con. Nhờ sự nhập thể của Con mà bây giờ con người có thể đến gần Cha, là Đấng mà trước kia không ai có thể đến gần được. Nhờ đó, qua Con mà con người có thể thấy được Cha, đụng chạm Cha và tương giao với Cha.

Chúng ta có thể minh họa sự liên hệ này bằng cách nhúng một chiếc khăn tay màu trắng vào thuốc nhuộm màu xanh. Thần tính của Cha có thể ví như chiếc khăn trắng này. Chiếc khăn này được nhúng vào thuốc nhuộm xanh tượng trưng cho Cha trong Con đã trở thành thân xác trong nhân tính. Chiếc khăn màu trắng bây giờ đã trở thành màu xanh. Y như màu xanh thấm vào chiếc khăn tay thì cũng vậy nhân tính đã được thêm vào thần tính và hai bản chất trước kia vốn riêng biệt nhưng bây giờ đã trở nên một. Vậy, giai đoạn đầu tiên để Đức Chúa Trời ban phát chính mình Ngài vào trong con người là qua sự hiện thân và nhập thể của chính Ngài trong Con với tư cách là một con người, Đức Chúa Trời sinh sản chính Ngài vào trong nhân loại.

(2) Trong Con

Giai đoạn thứ hai để đem Đức Chúa Trời vào trong con người ấy là nhờ Thân vị thứ nhì của Đấng Tam Nhất, tức là Con của Đức Chúa Trời. Để hiểu được giai đoạn thứ nhì của gia tể Đức Chúa Trời, chúng ta cần phải biết Đấng Christ là ai. Yếu tố nào đã cấu tạo nên Đấng Christ? Những thành phần nào đã được kết hợp với nhau để tạo thành Đấng Christ?

Có bảy yếu tố căn bản đã được đem vào trong Thân vị kỳ diệu này, là những yếu tố đã được thêm vào trong lịch sử của Ngài. Trước hết, Đấng Christ là hiện thân thần thượng của Đức Chúa Trời. Yếu tố đầu tiên ở trong Đấng Christ là yếu thể tính và bản chất thần thượng của Đức Chúa Trời.

Yếu tố thứ hai, tức sự nhập thể của Ngài, là sự hòa lẫn giữa bản chất thần thượng của Ngài với bản chất con người. Qua sự nhập thể, Ngài đã đem Đức Chúa Trời vào trong con người và hòa lẫn yếu thể tính thần thượng của Đức Chúa Trời với nhân tính. Trong Đấng Christ không những chỉ có Đức Chúa Trời mà thôi nhưng còn có con người nữa.

Yếu tố thứ ba là cuộc sống làm người của Ngài, tức là yếu tố đã được thêm vào bản chất thần thượng và con người của Ngài. Đấng Thần-nhân đầy vinh hiển này sống ba mươi ba năm rưỡi trên đất và đã kinh nghiệm tất cả mọi điều thông thường trong cuộc sống hằng ngày của con người. Phúc âm Giăng là sách nhấn mạnh Ngài là Con của Đức Chúa Trời cũng cho chúng ta biết Ngài mệt mỏi, đói khát và có lúc Ngài khóc nữa. Sự đau khổ của con người cũng là một phần trong cuộc sống hằng ngày của Ngài, trong đó bao gồm nhiều nỗi ưu phiền của trần thế, những nan đề, thử thách và sự bắt bớ trên đất.

Yếu tố thứ tư là kinh nghiệm về sự chết Ngài. Ngài đã đi vào sự chết. Không những Ngài bước vào sự chết, mà Ngài còn vượt qua sự chết. Kết quả là sự chết Ngài rất linh nghiệm. Sự chết của A-đam thật là kinh khủng và hỗn loạn, nhưng sự chết của Đấng Christ thì kỳ diệu và linh nghiệm. Sự chết của A-đam làm cho chúng ta trở thành nô lệ cho sự chết, trong khi sự chết của Đấng Christ giải phóng chúng ta ra khỏi sự chết. Dầu sự sa ngã của A-đam đem nhiều yếu tố gian ác vào trong chúng ta nhưng sự chết linh nghiệm của Đấng Christ, là quyền năng tiêu trừ bên trong chúng ta, trừ khử mọi yếu tố thuộc bản chất A-đam.

Vì vậy, trong Đấng Christ có bản chất thần thượng, có bản chất con người, có cuộc sống hằng ngày của con người với những nỗi đau khổ hằng ngày của cuộc sống ấy và cũng có sự hiệu nghiệm của sự chết Ngài. Nhưng trong Đấng Christ còn có thêm ba yếu tố nữa. Yếu tố thứ năm là sự phục sinh của Ngài. Sau khi phục sinh, Đấng Christ không lột bỏ nhân tính để trở thành một Đức Chúa Trời đơn độc như trước. Đấng Christ vẫn còn là một con người! Và với tư cách là một con người, Ngài có thêm yếu tố của sự sống phục sinh hòa lẫn với nhân tính của Ngài.

Yếu tố thứ sáu trong Đấng Christ là sự thăng thiên. Bởi thăng thiên lên các từng trời mà Ngài trở nên siêu việt, vượt trỗi hơn tất cả những kẻ thù, tất cả các chấp chánh, quyền lực, quyền thế và các bậc cầm quyền. Tất cả đều ở dưới chân Ngài. Vì vậy, năng quyền siêu việt của sự thăng thiên đã được hòa lẫn với Ngài.

Sau cùng, yếu tố thứ bảy trong Đấng Christ là sự đăng quang của Ngài. Là con người với bản chất thần thượng, Đấng Christ được lên ngai làm Vua tại từng trời thứ ba với tư cách là Đấng Nguyên Thủ được tôn cao trên toàn cõi vũ trụ. Ngài ở trên các từng trời, là Chúa của các chúa và Vua của các vua.

Vậy, chúng ta cần nhớ bảy yếu tố kỳ diệu ở trong Ngài là: bản chất thần thượng, bản chất con người, cuộc sống hằng ngày của con người với mọi đau khổ hằng ngày trên đất, sự hiệu nghiệm của sự chết Ngài, năng quyền phục sinh, quyền năng siêu việt của sự thăng thiên và sự đăng quang của Ngài. Tất cả mọi yếu tố này đều đã được hòa lẫn trong chính Đấng Christ kỳ diệu này.

(3) Qua Linh

Tuy nhiên, Đức Chúa Trời không thể nào nhờ Con mà vào trong linh chúng ta được. Theo như các giai đoạn đầu trong gia tể của Ngài, Cha đã đặt chính Ngài vào trong Con và Con có bảy yếu tố được hòa lẫn trong chính Ngài. Nhưng chúng ta cũng cần phải có thêm một giai đoạn nữa, là giai đoạn thứ ba và cũng là giai đoạn cuối cùng, để Đức Chúa Trời có thể ban phát chính Ngài vào trong con người. Giai đoạn thứ nhất là chính Cha được hiện thân trong Con. Giai đoạn thứ hai là Con đã nhập thể trong nhân tính để có được bảy yếu tố kỳ diệu hòa lẫn trong Ngài. Giai đoạn thứ ba là ngày nay cả Cha và Con đang ở trong Thánh Linh. Tất cả những gì có trong Cha đều ở trong Con. Cả Cha lẫn Con, chứa đựng mọi yếu tố trong Đấng Christ, đều được đem vào trong Thánh Linh.

Sau khi Chúa thăng thiên, Thánh Linh không còn giống như Linh của Đức Chúa Trời vào thời Cựu Ước nữa. Linh của Đức Chúa Trời trong Cựu Ước chỉ có một yếu tố duy nhất, ấy là bản chất thần thượng của Đức Chúa Trời. Là Linh thần thượng, Ngài không có những yếu tố của bản chất loài người, cuộc sống hằng ngày của con người, sự hiệu nghiệm của sự chết, sự phục sinh, sự thăng thiên và sự đăng quang. Tuy nhiên, ngày nay, dưới gia tể Tân Ước, tất cả bảy yếu tố của Đấng Christ đã được đặt vào trong Linh và Linh tổng-bao-hàm này đã vào trong chúng ta và ở trên chúng ta. Nói cách khác, Ngài ở trong chúng ta và chúng ta ở trong Ngài. Đây là sự hòa lẫn thật sự giữa Đức Chúa Trời và con người mà chúng ta có thể kinh nghiệm được bất cứ lúc nào. Chúng ta được hòa lẫn với Thánh Linh cả bên trong lẫn bên ngoài.

Thánh Linh là ai? Ngài là Linh Lẽ Thật (Gi. 15:26). Nhưng sự thật là gì? Ý nghĩa của chữ lẽ thật trong tiếng Hi Lạp là “thực tại”. Vì thế, Thánh Linh là Linh Thực tại tức là thực tại trọn vẹn của Đấng Christ. Như Đức Chúa Trời hiện thân trong Đấng Christ thì Đấng Christ cũng được nhận biết trong Thân vị kỳ diệu của Thánh Linh. Đấng Christ không thể tách rời khỏi Đức Chúa Trời và Thánh Linh không thể tách rời khỏi Đấng Christ. Đấng Christ là Đức Chúa Trời đã được biểu lộ và Thánh Linh là Đấng Christ được nhận biết trong thực tại.

“Bây giờ Chúa là Linh” (2 Cô. 3:17). Câu này chứng tỏ rằng Thánh Linh không thể bị tách rời khỏi Đấng Christ. Chúa chính là Đấng Christ và Ngài đã được đề cập đến là Linh. “A-đam sau cùng đã trở nên Linh ban sự sống” (1 Cô. 15:45). Một lần nữa, Kinh Thánh bày tỏ rằng Đấng Christ, tức A-đam sau cùng, là Linh. Chúng ta phải thừa nhận rằng Linh ban-sự-sống đây chính là Thánh Linh.

Hơn thế nữa, Đức Chúa Cha cũng là Linh (Gi. 4:24). Vì vậy, cả ba Thân vị của Thần cách đều là Linh. Nếu Đức Chúa Cha không phải là Linh thì làm sao Ngài có thể ở trong chúng ta và làm thế nào chúng ta có thể tiếp xúc Ngài được? Hơn nữa, nếu Đức Chúa Con không phải là Linh, làm sao Ngài có thể ở trong chúng ta và làm thế nào chúng ta có thể kinh nghiệm Ngài được? Vì Cha và Con, cả hai đều là Linh nên chúng ta có thể dễ dàng tiếp xúc với Đức Chúa Trời và kinh nghiệm được Đấng Christ.

Xin chú ý đến các câu Kinh Thánh sau đây: “Một Đức Chúa Trời và Cha... là Đấng ở trong mọi người” (Êph. 4:6). “Chúa Jesus Christ ở trong anh em” (2 Cô. 13:5). “... Linh Ngài ở trong anh em” (La. 8:11). Ba câu này mặc khải rằng Đức Chúa Cha, Con và Linh, tất cả đều ở trong chúng ta. Vậy có bao nhiêu Thân vị ở trong chúng ta? Ba Đấng hay một Đấng? Chúng ta không nên nói rằng có ba Thân vị khác nhau ở trong chúng ta và cũng không nên nói rằng chỉ có một Thân vị ở trong mình mà chúng ta phải nói rằng trong chúng ta có Đấng Ba-trong-một đang ngự. Ba Thân vị của Thần cách không phải là ba Linh nhưng là một Linh mà thôi. Cha ở trong Con và Con cùng với bảy yếu tố kỳ diệu đều ở trong Linh. Khi Thánh Linh kỳ diệu này ngự vào trong chúng ta thì Thần cách được ban phát vào trong chúng ta. Vì cả Ba Thân vị đều ở trong một Linh nên chúng ta có Cha, Con và Thánh Linh ở bên trong mình. Sau đó, chúng ta sẽ thấy rằng Đức Chúa Trời Tam Nhất ở trong nhân linh chúng ta là sự sống thuộc linh bề trong. Đó chính là trọng tâm của gia tể Đức Chúa Trời và đó mới là phương cách mà Thần cách được ban phát vào trong chúng ta. Trọng tâm của gia tể thần thượng là ban phát Đức Chúa Trời Tam Nhất, là Đấng ở trong một Linh vào trong nhân linh chúng ta. Vì vậy, bây giờ chúng ta phải hoàn toàn chú tâm vào việc sống bởi Đức Chúa Trời Tam Nhất, là Đấng cư ngụ bên trong nhân linh con người. Nếu chúng ta đi lệch điều này, dầu những điều khác có tốt đẹp và đúng Kinh Thánh đến đâu đi nữa, chắc chắn chúng ta sẽ lệch trọng tâm của gia tể Đức Chúa Trời. Ngày nay, Chúa đang khôi phục con cái Ngài bằng cách làm cho họ chú tâm vào trọng tâm gia tể thần thượng của Ngài.

Chúa ơi, Ngài ở trong con là sự sống,

Và là mọi sự của con đây!

Sự sống Ngài mật thiết với bản thân con, và luôn sẵn sàng cho con,

Để con có thể kinh nghiệm được Ngài.

Chúa ơi, Ngài là Linh,

Gần gũi và thân thiết với con biết bao!

Con ngưỡng mộ sự sẵn sàng kỳ diệu của Ngài dường nào!

Ngài là sự cung ứng phong phú,

Đáp ứng tất cả những nhu cầu lớn nhỏ của con,

Ngài rất sẵn sàng và đầy đủ,

Để bây giờ có thể áp dụng cho con.

Sự xức dầu ngọt ngào với quyền năng của Ngài,

Đã nâng đỡ con trong khi yếu đuối;

Nhờ Ngài cung ứng năng lực,

Duy trì sức mạnh con đêm ngày.

Luật sự sống của Ngài ở trong lòng và tâm trí

Điều chỉnh cách cư xử của con.

Sự phong phú của thực tại Ngài

Dầm thấm toàn bản thể con.

Ôi, Ngài hiệp một với con mãi mãi,

Sự hiệp một không gì so sánh được!

Ngài luôn luôn hiệp với con trong một linh,

Cho đến đời đời vô cùng!

(Dịch lời Thánh Ca 539)