Thông tin sách

Tính Cách Công Nhân Của Chúa

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: The character of the Lord's worker
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 10

Untitled Document

CHƯƠNG MƯỜI

MỘT VÀI VẤN ĐỀ KHÁC

Trong chương này chúng ta sẽ bàn về một vài vấn đề khác, cụ thể là: (1) duy trì tính tuyệt đối của lẽ thật, (2) chăm sóc sức khỏe bản thân, (3) những thói quen hằng ngày, và (4) hôn nhân và sự đồng trinh.

MỘT

Mỗi công tác viên Cơ-đốc phải duy trì tính tuyệt đối của lẽ thật. Điều này chỉ có được khi nào một người được giải cứu khỏi chính mình. Nhiều anh chị em không tuyệt đối với lẽ thật; họ bị ảnh hưởng bởi con người, những sự vật và cảm xúc riêng tư. Nếu một người không tuyệt đối với lẽ thật, thì trong quá trình công tác người ấy sẽ hi sinh lẽ thật vì con người, vì chính mình hay vì những ao ước riêng tư của mình. Một đòi hỏi cơ bản để làm đầy tớ của Chúa là không hi sinh lẽ thật. Chúng ta có thể hi sinh chính mình và ước vọng của mình, nhưng chúng ta không bao giờ có thể hi sinh lẽ thật. Những nan đề đối với nhiều công tác viên nảy sinh từ mối liên hệ bạn bè, người quen thân hay gia đình của họ. Lẽ thật bị sửa đổi vì bạn bè, gia đình và bà con của họ. Đức Chúa Trời không thể sử dụng những người như vậy. Nếu lẽ thật là lẽ thật thì không bị sửa đổi, dầu vì anh em, bà con hay người bạn thân của chúng ta. Giả sử, con trai của một công tác viên Cơ-đốc bày tỏ lòng mong muốn được báp-têm. Nếu người cha nhận thức được rằng vấn đề này liên quan đến lẽ thật, anh ấy sẽ trao vấn đề cho các anh em hướng dẫn trong hội-thánh và để họ quyết định xem con mình có sẵn sàng chịu báp-têm hay chưa. Nhưng nan đề là công tác viên ấy cho con mình đã hội đủ điều kiện để được báp-têm, và vì làm như vậy mà người ấy đã hi sinh tính tuyệt đối của lẽ thật. Người ấy bị mối liên hệ cha con ảnh hưởng, và không còn tuyệt đối với lẽ thật nữa. Nếu tuyệt đối với lẽ thật, người ấy sẽ chấp nhận chiều hướng của lẽ thật như đã được lập nên trong hội-thánh; người ấy sẽ không đem mối liên hệ cá nhân của mình vào tình cảnh đó. Hãy xem xét một minh họa khác: Tại nơi kia xảy ra một cuộc tranh luận. Một số thánh đồ có thể có thiện cảm với một nhóm anh em đặc biệt nào đó và đứng về phía họ, trong khi một số người khác có thể lại ưa chuộng một nhóm khác và đứng trong hàng ngũ bên kia. Thay vì ngồi xuống và xem xét giá phải trả để được tuyệt đối vì lẽ thật và bước đi theo lẽ thật, họ lại bị cảm xúc riêng tư ảnh hưởng và dẫn dắt. Điều này không có nghĩa là các anh em không nói về lẽ thật, mà có nghĩa là họ không tuyệt đối với lẽ thật. Họ không hoàn toàn gạt lẽ thật sang một bên; họ vẫn phần nào quan tâm đến lẽ thật. Nhưng họ không tuyệt đối với lẽ thật. Tuyệt đối với lẽ thật có nghĩa là không để những cảm xúc riêng tư hay mối liên hệ gia đình ngăn trở lẽ thật. Trong những vấn đề thuộc linh, lẽ thật bị sửa đổi ngay khi mối liên hệ con người được lưu tâm đến. Ngay khi mối liên hệ con người xen vào thì lời Đức Chúa Trời và những mạng lệnh của Ngài sẽ bị coi nhẹ vì các yếu tố con người, và lẽ thật bị sửa đổi.

Kinh Thánh chứa đựng nhiều qui định cùng mạng lệnh. Những qui định và mạng lệnh ấy đều ra từ Đức Chúa Trời, mà những đầy tớ của Đức Chúa Trời cần rao giảng và tuyên bố. Một mặt, thấy những người chỉ nói suông mà không làm thì thật là nản lòng. Mặt khác, chúng ta không thể làm một đầy tớ của Đức Chúa Trời nếu không thể rao giảng những gì vượt quá khả năng thực hành của mình. Đó là vì lẽ thật vốn tuyệt đối. Chuẩn mực của Lời thần thượng không được hạ thấp xuống đến mức độ bản thân chúng ta có thể đạt đến. Chúng ta tuyệt đối không thể sửa bậy lẽ thật để bào chữa cho những nhược điểm riêng của mình. Tuyệt đối với lẽ thật có nghĩa là như vậy. Chúng ta phải vượt trên chính mình, trên những cảm xúc riêng tư và những mối quan tâm cá nhân của chúng ta trong lời nói của mình. Đây là một đòi hỏi cao cho những đầy tớ của Chúa. Chúng ta phải coi chừng đừng làm nhiều điều theo cách này khi liên hệ đến các anh chị em rồi lại làm những điều ấy theo cách khác khi áp dụng cho vợ chồng hay con cái của mình. Lẽ thật luôn luôn tuyệt đối. Đức Chúa Trời muốn chúng ta duy trì tính tuyệt đối của lẽ thật. Nếu Lời Đức Chúa Trời nói một điều gì thì điều ấy là như vậy, bất kể nó liên hệ đến ai. Chúng ta không thể tạo trường hợp đặc biệt chỉ vì dính líu đến vài mối liên hệ đặc biệt. Nếu làm như vậy thì chúng ta hạ thấp chuẩn mực lẽ thật của Đức Chúa Trời. Không phải tôi đang nói đến việc phát biểu những điều không phải là lẽ thật; tôi đang bàn đến việc hi sinh tính tuyệt đối của lẽ thật. Chúng ta phải tập gìn giữ tính tuyệt đối của lẽ thật. Chúng ta không thể từ bỏ tính tuyệt đối của lẽ thật chỉ vì người nào đó là họ hàng của chúng ta. Chúng ta ở đây để bước theo lẽ thật chứ không phải bước theo con người, và chúng ta ở đây để duy trì tính tuyệt đối của lẽ thật.

Nhiều nan đề xuất hiện trong hội-thánh ngày nay vì con cái Đức Chúa Trời hi sinh lẽ thật. Một hội-thánh địa phương bị chia rẽ sau khi một anh em nói: “Tôi không có ý định tách khỏi anh em, nhưng đêm qua có một điều xảy ra trong hội-thánh mà tôi không được nói cho biết. Vì thế, hôm nay tôi sẽ không nhóm với anh em nữa”. Lẽ thật là tuyệt đối. Nếu việc anh ấy tự tách mình ra là đúng, thì anh ấy nên làm như vậy dầu được cho biết về vấn đề ấy. Cũng vậy, nếu việc anh ấy tự tách mình ra là sai trật, thì anh ấy không nên làm như thế dầu không được cho biết về vấn đề ấy. Nếu anh ấy tuyệt đối với lẽ thật, thì cho anh ấy biết [vấn đề đó] không phải là quan trọng. Nếu anh ấy tách ra vì anh không được cho biết [về vấn đề đó] thì con người đã được nâng lên cao hơn lẽ thật. Một anh em bị xúc phạm khi nêu lên một câu hỏi tại buổi nhóm mà không nhận được câu trả lời. Vì thế, tại nơi ấy, họ muốn có bàn [của Chúa] riêng và bẻ bánh riêng. Nếu việc tự tách mình ra là đúng, anh ấy nên khởi xướng một bàn khác từ trước. Nếu việc tự tách mình ra là sai trật, anh ấy không nên viện cớ là không nhận được câu trả lời mà mình đã hỏi. Tuyệt đối với lẽ thật là như vậy. Nếu có những bàn riêng rẽ phù hợp với lẽ thật thì nên có những bàn riêng rẽ, dầu các anh em gắn bó với nhau. Nếu việc có những bàn riêng rẽ không phù hợp với lẽ thật thì không nên có những bàn riêng rẽ, cho dầu có những xúc phạm. Anh chị em ơi, anh chị em đã nhìn thấy điều này chưa? Chúng ta phải khước từ mọi hình thức của bản ngã rồi mới có thể hầu việc Chúa. Nếu có tính kiêu ngạo, ích kỷ hay ý tưởng [muốn] được đối xử tôn trọng như một điều kiện để gìn giữ lời Đức Chúa Trời, thì chúng ta đang tự đặt mình ở trên lẽ thật của Đức Chúa Trời; chúng ta bày tỏ rằng chính mình quan trọng hơn lẽ thật của Ngài. Điều ấy làm cho chúng ta không đủ tư cách hầu việc Ngài. Trong khi phục vụ Chúa, chúng ta phải triệt để từ bỏ chính mình. Dầu chúng ta có thích những gì đang diễn ra hay không và dầu chúng ta có cảm thấy bị tổn thương về một vấn đề nào đó hay không thì cũng không liên quan gì đến vấn đề. Nếu điều gì phải được thi hành theo cách nào đó, thì phải được thi hành theo cách ấy, bất kể chúng ta cảm thấy thế nào. Dầu phải chịu khổ nhiều vì làm như vậy, chúng ta vẫn phải làm điều ấy. Dầu những người khác ngược đãi, khinh miệt và xem chúng ta không ra gì, chúng ta vẫn phải làm điều đó. Chúng ta không thể ép lẽ thật của Đức Chúa Trời theo con đường của mình chỉ vì chúng ta muốn đi con đường ấy. Con người quá táo bạo; họ luôn luôn ép buộc lẽ thật của Đức Chúa Trời theo mình.

Chúng ta phải nhìn thấy vinh quang lẽ thật của Đức Chúa Trời. Chúng ta không thể xen lẫn cảm xúc riêng tư của mình với lẽ thật của Ngài. Khi đứng bên lẽ thật của Đức Chúa Trời, chúng ta không nên chỉ xem mình nhỏ hơn lẽ thật ấy; chúng ta cần phải xem mình là không tồn tại. Nếu dính líu đến bản ngã dầu chỉ một chút, lập tức chúng ta sẽ gặp phải rắc rối. Một anh em vốn bị phê bình tại vài địa phương khác, nay đến với hội-thánh và cảm thấy khá vui vẻ với những người mình vừa tiếp xúc. Anh cảm thấy rằng tại những nơi khác, mình bị phê bình một cách bất công, nhưng anh chưa thật sự chạm đến lẽ thật trước mặt Chúa. Anh chỉ có được một ấn tượng tốt từ vài anh em. Một anh em như vậy chưa được rèn luyện vào kỷ luật trong hành vi của mình. Về sau, một anh em khác nói với anh ấy rằng: “Anh ơi, anh quá phóng túng”, và tiếp tục chỉ ra một vài điều người anh em mới đến ấy đã làm. Đó là nói sự thật trong tình yêu thương. Nhưng khi nghe như vậy, anh ấy bỏ đi và giận dữ chỉ trích rằng: “Chẳng lạ gì khi hội-thánh này bị rất nhiều người chống đối. Bị chỉ trích là phải lắm”. Anh chị em ơi, anh em ấy đã không tuyệt đối với lẽ thật. Nếu tuyệt đối với lẽ thật thì anh ấy đã không nói như vậy khi bị những người khác khiển trách. Vì không tuyệt đối với lẽ thật, anh ấy đã thay đổi thái độ của mình ngay khi bị khiển trách.

Tuyệt đối với lẽ thật có nghĩa là gì? Đó có nghĩa là gạt những cảm xúc sang một bên, bỏ qua những mối liên hệ cá nhân, và không ủng hộ bản ngã. Lẽ thật là tuyệt đối. Những cảm giác, mối liên hệ, kinh nghiệm và giao tiếp riêng tư của chúng ta không nên để xen lẫn với lẽ thật. Vì lẽ thật là tuyệt đối, nên điều gì đúng là đúng và điều gì sai là sai. Một anh em kia là người lãnh đạo tại nhiều nơi. Anh tiếp nhận đường lối của chúng ta và quyết định ủng hộ chứng cớ của hội-thánh. Nếu đường lối chúng ta đang theo là đúng thì nó luôn luôn đúng; nó không trở thành đúng vì anh em ấy tiếp nhận đường lối này. Nếu đường lối chúng ta theo là sai trật thì nó không thể trở nên đúng đắn chỉ vì anh em ấy tiếp nhận đường lối này. Đường lối ấy có đúng hay không thì không liên hệ gì đến anh em đó cả. Cho dù anh em ấy sa ngã, đường lối ấy vẫn đúng đắn vì lẽ thật là tuyệt đối. Tuy vậy, mắt nhiều người chỉ chăm chú vào anh em ấy. Họ nghĩ rằng nếu anh em ấy đúng thì đường lối anh em ấy chọn cũng đúng, và nếu anh em ấy sai trật thì đường lối anh em ấy chọn cũng sai trật. Mắt của họ hướng về lẽ thật hay hướng về con người? Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta có thể khinh suất. Chúng ta đừng bao giờ khinh suất; chúng ta cần phải giữ gìn chứng cớ của Đức Chúa Trời. Đó là một sự thật. Nhưng đồng thời, đường lối ấy có đúng đắn hay không tùy thuộc vào lẽ thật chứ không tùy thuộc vào người ta. Có phải như vậy nghĩa là khi các Cơ-đốc-nhân khác phạm tội thì chúng ta không còn là Cơ-đốc-nhân nữa? Có phải như vậy nghĩa là khi con cái khác của Đức Chúa Trời sa ngã thì chúng ta không còn là con cái Đức Chúa Trời nữa? Có phải đó nghĩa là khi nhiều con cái Đức Chúa Trời làm mất chứng cớ của mình thì chúng ta không còn là tín đồ nữa? Không, anh chị em ơi, lẽ thật vốn tuyệt đối. Dầu nhiều Cơ-đốc-nhân thất bại, Chúa vẫn xứng đáng để chúng ta tin cậy, và chúng ta vẫn phải tin cậy Ngài. Dầu nhiều con cái Đức Chúa Trời phạm tội, chúng ta vẫn là con cái Đức Chúa Trời; không nên có gì thay đổi cả. Điều này không có nghĩa là con cái Đức Chúa Trời được phép phạm tội hay các Cơ-đốc-nhân được phép thất bại. Nhưng điều này có nghĩa rằng lẽ thật là tuyệt đối. Nếu tin Chúa là điều đúng đắn thì chúng ta cần phải tin Ngài thậm chí khi những người khác không tin. Nếu làm Cơ-đốc-nhân là một điều đúng thì chúng ta cần phải làm Cơ-đốc-nhân thậm chí khi mọi người đều sa ngã. Vấn đề không phải là những người khác làm gì, mà vấn đề là điều ấy có phải là lẽ thật hay không. Nhiều chia rẽ trong hội-thánh, nhiều nan đề trong công tác và nhiều sự tranh chấp giữa vòng các công tác viên sẽ chấm dứt khi những mối liên hệ, cảm xúc và nan đề cá nhân được loại ra.

Tuyệt đối với lẽ thật không phải là một chuyện nhỏ. Chúng ta không thể thờ ơ đối với điều này. Nếu lơi lỏng đối với điều này thì chúng ta sẽ lơi lỏng đối với mọi sự. Để gìn giữ lẽ thật, chúng ta phải hoàn toàn từ bỏ chính mình. Nếu không có một tấm lòng và thói quen như vậy đối với lẽ thật thì sớm muộn gì chúng ta cũng gặp rắc rối. Một vài anh em nói: “Tôi cảm tạ Đức Chúa Trời đã đem tôi đến buổi nhóm này. Tôi đã được giúp đỡ rất nhiều”. Điều này không có nghĩa là anh em ấy tuyệt đối với lẽ thật. Có lẽ anh chỉ gắn bó với nơi này về mặt tình cảm. Khi điều gì đó khó chịu xảy ra với mình, có thể người ấy thay đổi ý kiến và kết luận là mình đang ở tại một nơi sai trật. Tuy nhiên, lẽ thật là tuyệt đối. Nếu nơi đó đúng thì nó đúng. Nếu nơi đó sai thì nó sai. Nơi đó không thể đúng chỉ vì nơi đó tốt đối với người ấy, và sai vì nơi đó không tốt đối với người ấy. Nếu một nơi đúng hay không tùy thuộc vào việc nơi đó cư xử với người ấy như thế nào thì người ấy phải là người quan trọng nhất thế giới! Lẽ thật không quan trọng đối với người ấy; người ấy thật quan trọng! Người ấy không tuyệt đối vì lẽ thật. Đó là chỗ nhiều nan đề phát xuất. Đức Chúa Trời đòi hỏi chúng ta chịu bị xử lý đến mức độ đối với mọi sự chúng ta gạt chính mình và cảm giác của mình sang một bên. Chúng ta cảm thấy vui sướng hay bị tổn thương là vấn đề nhỏ. Đừng bao giờ để xu hướng của chúng ta bị những cảm giác riêng tư của mình tác động. Nếu Đức Chúa Trời nói điều đó đúng thì điều đó đúng. Nếu Đức Chúa Trời nói điều đó sai thì điều đó sai. Nếu Đức Chúa Trời nói con đường này là đúng thì chúng ta phải theo cho dầu mọi người đều khước từ [con đường ấy]. Chúng ta không theo con đường ấy vì nó hứng thú hay vì một anh em nào đó đã đi con đường ấy. Nếu con đường ấy đúng thì chúng ta cần phải theo cho dầu không anh em nào đi con đường đó. Lẽ thật là tuyệt đối, và không nên để một người nào ảnh hưởng đến chúng ta bằng bất cứ cách nào. Nếu cân nhắc [những mối liên hệ] con người và để yếu tố ấy xen vào, chúng ta làm cho con người lớn hơn lẽ thật.

Mọi sự xét đoán đều căn cứ vào lẽ thật chứ không căn cứ vào những cá nhân. Khi nào nền tảng xét đoán bị chuyển sang một cá nhân thì chúng ta đã sửa đổi đường lối và lẽ thật của Đức Chúa Trời. Nền tảng xét đoán là Lời Đức Chúa Trời; nền tảng của việc ấy là lẽ thật. Chúng ta cần phải hành động giống nhau dầu những người khác cư xử với chúng ta tốt hay xấu. Khi đương đầu với một hoàn cảnh, chúng ta nên hỏi lẽ thật của Chúa là gì chứ đừng hỏi cảm giác của chúng ta thế nào. Đừng bao giờ để những xét đoán và cảm giác riêng tư dự vào công tác của Đức Chúa Trời. Nếu lẽ thật nói với chúng ta rằng chúng ta cần phải hoàn toàn biệt riêng mình ra, thì chúng ta cần phải cắt đứt quan hệ thậm chí với những người bạn thân nhất. Trước kia, có thể chúng ta từng ăn uống và sống với nhau mỗi ngày. Nhưng khi sự tuyệt đối của lẽ thật kêu gọi chúng ta phải biệt riêng thì chúng ta cần phải vâng phục. Tình cảm con người không được chiếm một chỗ nào cả. Nếu lẽ thật bảo chúng ta không nên phân rẽ, thì chúng ta không thể phân rẽ cho dầu hằng ngày chúng ta tranh luận và chọc tức nhau. Nếu đến với nhau chỉ vì những lý do riêng tư, thì chúng ta chưa biết lẽ thật là gì, và không thể tiến lên.

Anh chị em ơi, đây là một vấn đề rất căn bản. Con đường trước mặt chúng ta liên hệ rất mật thiết với những sự xử lý chúng ta nhận được từ Chúa. Nếu chúng ta quan tâm [đánh giá] mình vĩ đại và quan trọng thế nào, thì lẽ thật sẽ bị hi sinh. Để giữ gìn lẽ thật của Đức Chúa Trời, bản ngã của chúng ta phải ra đi; chúng ta phải giữ bản ngã cách ly. Chúng ta đều có tính khí và những cảm xúc của mình. Chúng ta không thể thay đổi lẽ thật của Đức Chúa Trời vì tính khí và những cảm xúc của mình. Không người nào phụng sự Đức Chúa Trời mà lại có thể hi sinh hay sửa đổi lẽ thật của Ngài vì sự an nhàn riêng của mình. Nếu xem lẽ thật của Đức Chúa Trời là rất thấp kém thì chúng ta không có tương lai thuộc linh với Đức Chúa Trời. Khi vị quan tòa chủ tọa một phiên tòa, ông phải tuyệt đối với pháp luật. Một tội ác phải được tuyên bố là một tội ác, và một người vô tội phải được tuyên bố là vô tội. Quan tòa không thể tuyên bố một tội phạm không có tội chỉ vì tội phạm ấy là anh em hay bạn của mình. Nếu vị quan tòa làm như vậy thì sẽ gây hỗn loạn. Pháp luật là tuyệt đối, và không thể xét đến những tình cảm riêng tư. Thật là kinh khủng nếu bị cáo bị xét là có tội chỉ vì vị quan tòa ngẫu nhiên là kẻ thù của bị cáo. Một quan tòa phải gìn giữ pháp luật. Chúng ta phải tin Đức Chúa Trời, hầu việc Ngài và duy trì lẽ thật của Ngài. Những cảm giác riêng tư của chúng ta không được xen vào. Tôi hi vọng chúng ta sẽ ghi nhớ rằng tất cả những cảm giác riêng tư của mình phải bị khước từ. Chúng ta đều phải được Chúa xử lý. Tất cả chúng ta phải nói với Ngài rằng: “Chúa ơi, con không là gì cả, nhưng lẽ thật của Ngài là tuyệt đối”. Nếu chúng ta làm như vậy thì trong công việc sẽ không còn những cuộc tranh cãi và nan đề nữa. Các anh em đồng công giữ gìn tính tuyệt đối của lẽ thật của Đức Chúa Trời thì có một lợi điểm lớn là giữa vòng họ, họ rất được tự do để phát biểu và công tác. Nhiều điều sẽ được thực hiện như chúng cần phải được thực hiện, và sẽ không cần lo ngại về phản ứng của người khác. Nếu chúng ta đều nhìn thấy tính tuyệt đối của lẽ thật, chúng ta sẽ chỉ quan tâm đến một vấn đề, đó là điều ấy có phù hợp với ý chỉ và quyết định của Đức Chúa Trời không. Nếu điều ấy phù hợp với ý chỉ và quyết định của Đức Chúa Trời thì chúng ta sẽ không còn sợ hãi. Nhưng nếu không tuyệt đối vì lẽ thật, thì chúng ta sẽ khó tiến lên. Khi việc gì nảy sinh, chúng ta sẽ xét đến phản ứng của anh Wang, suy nghĩ của anh Chow và hành động của anh Liu. Vì cả ba đều có những tính khí khác nhau nên chúng ta phải thỏa hiệp một ít ở đây và một ít ở kia. Điều đó thật kinh khủng. Lẽ thật sẽ bị hi sinh. Nếu đó là cách chúng ta làm việc, chúng ta sẽ không thể nói hay quyết định nhiều vì sợ xúc phạm người ta. Những nan đề sẽ phát triển giữa vòng chúng ta. Nếu một nhóm người chỉ quan tâm đến lẽ thật của Đức Chúa Trời và triệt để khước từ những phương cách của con người, thì đó sẽ thực sự là một tập thể những người được phước. Nếu họ cương quyết khước từ sự điều khiển và tài xử trí của con người, không thỏa hiệp hay xoa dịu bất cứ điều gì qua bàn tay con người mà làm việc theo ý chỉ của Đức Chúa Trời một cách nghiêm ngặt, thì chúng ta có thể tin chắc rằng nhóm ấy sẽ đầy dẫy ơn phước của Đức Chúa Trời. Nếu theo con đường tuyệt đối của lẽ thật giữa vòng những người đồng công, thì chúng ta sẽ có thể nói những gì mình nên nói và làm những gì mình nên làm. Nếu không thì sẽ có nhiều sự cân nhắc, xử sự có tính cách ngoại giao, có nhiều thay đổi, và hội-thánh sẽ không còn là hội-thánh nữa.

Chúng ta hãy xử lý vấn đề này trước mặt Chúa một cách chu đáo. Đó là một vấn đề rất trọng yếu và nghiêm trọng. Chúng ta hãy ghi nhớ rằng trong công tác của Chúa không có chỗ nào dành cho những cảm xúc và tình cảm riêng tư. Dầu những tình cảm riêng tư của chúng ta có thể ảnh hưởng người khác [khiến người ấy] tiếp nhận lẽ thật một cách tích cực, chúng ta vẫn cần phải giữ họ bên ngoài công tác. Chúng ta có thể ảnh hưởng một người [khiến người ấy] tiếp nhận lẽ thật bằng cách mời đến dự buổi cơm chiều, nhưng làm như vậy là sai trật. Lẽ thật là tuyệt đối. Từ tấm lòng tốt của mình, có thể chúng ta muốn làm điều gì để giữ gìn lẽ thật, nhưng lẽ thật không cần đến bàn tay con người nào giữ gìn nó cả. Lẽ thật có chỗ đứng, uy quyền và năng lực riêng của nó, và không cần bàn tay con người giữ gìn. Chúng ta không cần phải giúp lẽ thật một tay. Chúng ta không nên e sợ bất cứ người nào khước từ lẽ thật. Chúng ta chỉ cần học tập tôn trọng lẽ thật của Đức Chúa Trời, tiếp nhận con đường của lẽ thật, và đừng sửa đổi lẽ thật chút nào cả.

HAI

Một công tác viên Cơ-đốc cũng phải lưu ý đến thân thể của chính mình. Chúng ta đều biết Phao-lô là một anh em đầy ân tứ, và ông đã nhiều lần cầu nguyện để những người khác được chữa lành. Nhưng ông nói đến ba người chưa từng được lành bệnh, ấy là Trô-phim, Ti-mô-thê và chính ông. Khi Trô-phim bị bệnh, Phao-lô đã không cầu nguyện để Tô-phim được chữa lành, và cũng không vận dụng ân tứ chữa bệnh của mình. Trái lại, ông nói: “Trô-phim đang đau yếu thì ta để ở lại tại Mi-lết” (2 Ti. 4:20). Về phần Ti-mô-thê thì chứng đau dạ dày và những sự đau yếu thường xuyên của ông chưa bao giờ dứt hẳn (1 Ti. 5:23). Phao-lô đã không vận dụng ân tứ của mình hay cầu nguyện để chữa lành Ti-mô-thê. Ông thật đã chữa lành nhiều người. Thật hợp lý nếu cho rằng vì ông đã chữa lành rất nhiều người nên lẽ ra ông cũng nên chữa lành cho Ti-mô-thê. Ti-mô-thê là người nối nghiệp Phao-lô, và không thể nào thiếu ông được. Nhưng Phao-lô lại không chữa lành cho Ti-mô-thê. Sự đau yếu của ông ở trong bàn tay của Đức Chúa Trời chứ không ở trong bàn tay của Phao-lô. Ông đã nói gì? Ông nói: “Vì cớ tì vị con và vì con hay đau yếu, nên chớ uống nước không, nhưng phải dùng một ít rượu” (1 Ti. 5:23). Nói cách khác, Ti-mô-thê cần chăm sóc sức khỏe của mình. Ông cần phải tập quan tâm: ăn những gì tốt và kiêng ăn những gì không tốt cho mình, ăn những gì làm nhẹ cơn đau dạ dày và kiêng cữ những gì làm bao tử ông bị đau. Đó là lời của Phao-lô khuyên Ti-mô-thê. Còn về chính mình, Phao-lô nói đến cây giằm trong xác thịt của mình, và về điều đó ông cầu xin Chúa ba lần. Nhưng Chúa đã không chữa lành cho ông. Trái lại, Ngài phán: “Ân điển Ta đủ cho ngươi rồi” (2 Cô. 12:9). Bệnh hoạn của Trô-phim không được chữa, sự đau yếu của Ti-mô-thê không dứt hẳn, và cây giằm trong xác thịt của Phao-lô vẫn còn; bệnh hoạn của họ không được chữa lành. Nơi Phao-lô, chúng ta không thấy “tảng đá làm đắm thuyền” được cất đi. Nhưng chúng ta nhận thấy chiếc thuyền của ông vẫn lướt tới. Mặc dầu tảng đá, tức sự đau yếu của ông, vẫn còn đó, nhưng Đức Chúa Trời đã nâng mực nước lên, và chiếc thuyền của ông có thể lướt qua tảng đá cản trở mà không bị hư hại. Đó là lời chứng của Phao-lô.

Anh chị em ơi, phải được bàn tay của Đức Chúa Trời huấn luyện trong mười hoặc hai mươi năm rồi một người mới có thể trở nên phần nào hữu dụng cho Ngài. Nếu chúng ta muốn chạy cuộc đua một cách tốt đẹp và được trưởng thành trong Chúa phần nào, ít nhất chúng ta cần đến mười hay hai mươi năm huấn luyện. Tuy nhiên, một số người không quan tâm đến sức khỏe của mình một cách thích đáng nên có thể chết đi trước khi họ đạt đến điểm ấy. Đó là điều đáng tiếc nhất. Một số người chưa bắt đầu chạy cho đến khi họ đã ở trong Chúa hai mươi hay ba mươi năm. Khi ấy họ chạm đến đường lối đúng đắn, và sự hữu dụng của họ bắt đầu được phát huy. Hội-thánh không nên chỉ có trẻ con và thanh niên, mà phải có những người làm cha nữa. Tất cả những ai khao khát hầu việc Chúa cần phải xem việc một anh em hay chị em chết sớm sau khi trải qua nhiều năm và mất nhiều cố gắng để học tập những bài học của mình là một sự uổng phí lớn! Chúng tôi biết có một số bình chứa bị vỡ và hư giữa chừng đang khi trải qua tiến trình. Thật là đáng tiếc. Sự kiện ấy cũng như trường hợp Giê-rê-mi nói về những chiếc bình bị làm hỏng trong tay người thợ gốm (Giê. 18:4). Khi một người thợ gốm quay bàn xoay và nhào nặn những chiếc bình của mình, vài chiếc bình bị hư thậm chí trước khi chúng được đặt vào lửa. Thậm chí chúng chưa vượt qua được giai đoạn tạo hình. Đó là một mất mát. Hội-thánh đã chịu khổ vì mất mát nhiều người là những người đã thất bại trong những cuộc thử nghiệm và cám dỗ. Nếu Chúa thương xót chúng ta thì chúng ta có thể được tránh khỏi sự hư hỏng, gẫy vỡ và đổ nát như vậy. Có thể Chúa có thêm những thập tự giá cho chúng ta, và ý định của Ngài có thể là muốn chúng ta trở nên hữu dụng hơn trong những năm sau này. Chúa cần nhiều thời giờ để hoàn thành một cuộc thử nghiệm trong chúng ta. Có vài cuộc thử nghiệm phải cần đến một năm hay thậm chí một vài năm để hoàn thành. Một người con của Đức Chúa Trời có thể không có nhiều cơ hội để trải qua quá nhiều cuộc thử nghiệm trong cuộc đời mình. Chúng ta chỉ có thể kinh nghiệm được một vài cuộc thử nghiệm. Nhiều người bị đè bẹp ngay khi cuộc thử nghiệm bắt đầu. Thật đáng buồn và cũng là một mất mát khi một cuộc thử nghiệm không sinh ra kết quả mong muốn trong họ. Thời gian trôi qua, năm này sang năm nọ, hết thập niên này đến thập niên khác, có bao nhiêu con cái Đức Chúa Trời được bảo vệ an toàn để đến bên kia bờ cuộc thử nghiệm? Chúng ta phải nhìn nhận rằng không có mấy người được bảo toàn. Đừng tưởng đây là một điều đơn giản. Quá nhiều người bị ngã xuống bên đường! Trong sáu trăm ngàn [linh] hồn giữa vòng người Y-sơ-ra-ên, chỉ hai người còn sống bước vào Ca-na-an [tức Giô-suê và Ca-lép], và hai người khác vào Ca-na-an lúc đã chết [Gia-cốp và Giô-sép]. Rất ít người sống sót mà đạt đến mục tiêu. Đáng tiếc biết bao, khi những cuộc thử nghiệm gần kết thúc, thì họ đã lần lượt chết đi! Nếu ý chỉ của Đức Chúa Trời là chúng ta chết sớm thì không có gì để nói. Nhưng nếu chúng ta chết đi do không quan tâm đến sức khỏe của mình thì công việc của Đức Chúa Trời sẽ bị tổn hại. Nếu hội-thánh muốn phong phú thì phải có những anh em ở tuổi bảy mươi, tám mươi và ngay cả chín mươi. Nếu Chúa chỉ định một hay hai người trong họ về với Ngài sớm thì chúng ta không còn gì để nói cả. Nhưng nếu muốn hữu dụng trong công việc [Chúa], chúng ta phải dành thời giờ quan tâm đến thân thể của mình. Chúng ta không thể khinh suất. Thật là một nan đề lớn nếu khi vừa được huấn luyện đầy đủ mà một công tác viên đã đến những ngày cuối cùng của đời mình! Điều đáng tiếc nhất là một người lại ngã xuống ngay khi sắp được huấn luyện xong. Nếu mọi công tác viên Cơ-đốc đều như vậy thì công việc [Chúa] không thể tiến triển. Đáng tiếc biết bao, trước khi công tác bắt đầu thì thân thể đã trở nên tàn tạ, hay trước khi một người trở nên hữu dụng thì đã qua đời!

Anh chị em ơi, chúng ta không nên quan niệm là không cần quan tâm đến thân thể mình. Đúng là chúng ta cần có tâm trí sẵn sàng chịu khổ, và cần cai trị thân thể mình, bắt nó phải phục tùng. Nhưng nếu có thể được thì chúng ta cũng cần phải quan tâm đến sức khỏe của mình. Bừa bãi thì dễ, nhưng tập chăm sóc [thân thể] mới khó. Chúng ta phải tập ăn những thức ăn tốt cho sức khỏe và chăm sóc thân thể của mình bằng mọi cách có thể được. Khi Chúa giao nhiệm vụ và có nhu cầu trong công tác, thì chúng ta phải hi sinh chính mình. Về điều ấy chúng ta không có gì để nói cả. Nhưng đồng thời, chúng ta phải sử dụng mọi phương tiện sẵn có để chăm sóc thân thể của mình. Chúng ta phải ghi nhớ rằng mất đi một người là mất đi mười đến hai mươi năm thời gian được Chúa huấn luyện. Trong cuộc đời chúng ta không có nhiều khoảng thời gian mười đến hai mươi năm. Nhiều người khởi đầu có phần nào hữu dụng và có ân tứ trong việc phục vụ Chúa, nhưng khó mà nói rằng họ sẽ hữu dụng trong chức vụ. Cần ít nhất mười đến hai mươi năm rồi một người mới có thể trở nên hữu dụng trong chức vụ. Một người thường phải đợi mười hay hai mươi năm rồi mới có thể trở thành quý giá và hữu dụng. Thật sự hữu dụng là điều sẽ xảy ra mười hay hai mươi năm về sau; đó là chúng tôi đang nói đến những người chạy trên con đường thẳng. Nếu con đường không thẳng tắp, thậm chí mười hay hai mươi năm có thể cũng không đem lại kết quả gì. Dấy lên một người trong hai mươi năm không phải là một điều đơn giản. Đức Chúa Trời phải đập vỡ người ấy và làm công việc đẽo gọt trên người ấy nhiều lần rồi người ấy mới có thể vượt qua cuộc thử nghiệm. Người ấy phải trải qua những đau khổ từ năm này sang năm nọ, không chỉ vài năm mà là hai mươi năm, vác thập tự giá trong hai mươi năm, bị xử lý trong hai mươi năm, bị đập vỡ trong hai mươi năm, và chịu khổ dưới bàn tay nặng nề của Đức Chúa Trời trong hai mươi năm, rồi mới có thể bắt đầu hữu dụng cho Đức Chúa Trời. Công việc này khó biết bao! Tuy nhiên, nếu một người không chu đáo chăm sóc thân thể mình, người ấy có thể qua đời ngay khi bắt đầu hữu dụng. Điều đó rất đáng tiếc và là một mất mát lớn.

Lần kia, một anh em lớn tuổi được hỏi rằng: “Theo anh nghĩ thì giai đoạn nào trong cuộc đời của anh hữu ích nhất?” Anh suy nghĩ một lúc rồi trả lời: “[Giai đoạn] giữa bảy mươi và tám mươi tuổi”. Thật vậy, sự hữu dụng thuộc linh tăng trưởng theo năm tháng. Càng cứ đi trên con đường hầu việc Đức Chúa Trời thì chúng ta càng trở nên hữu dụng. Chúng tôi đã nhìn thấy nhiều người bị hủy hoại, sụp đổ, hư hại hay đã được chứng minh là không mấy hữu dụng trên con đường ấy. Chúng tôi đã thấy một số người mà chức năng của họ chỉ phát huy được một ít. Một số ít sẽ được chứng minh là hữu dụng sau [khi trải qua] hai mươi hay ba mươi năm. Nhưng khi ấy, có thể họ đã chuẩn bị lìa đời! Thật đáng tiếc khi một người chết đi ngay lúc bắt đầu trở nên hữu dụng! Người nào càng học được nhiều bài học trước mặt Đức Chúa Trời thì người ấy càng hữu dụng. Một người như vậy qua đời là một mất mát lớn. Trong việc chăm sóc sức khỏe của mình có nhiều điều cần thiết chúng ta phải đề phòng, và nhiều vấn đề thiết yếu chúng ta phải lưu ý. Chúng ta đồng ý rằng mình cần có tâm trí sẵn sàng chịu khổ, và một tâm trí như vậy không thể thiếu được. Nhiều lúc, khi bị đặt vào một hoàn cảnh khó khăn, chúng ta phải uyển chuyển. Nhưng nếu có thể được thì chúng ta nên tập chăm sóc thân thể của mình và không nên bừa bãi hay khinh suất đối với sức khỏe bản thân.

Những công tác viên Cơ-đốc không nên ăn vì khẩu vị mà vì dinh dưỡng. Chúng ta nên ăn những thức ăn có chất dinh dưỡng cao và ăn ít hơn hay hoàn toàn không ăn những thứ có ít chất dinh dưỡng. Đến lúc phải nghỉ ngơi, chúng ta nên tập nghỉ ngơi. Chúng ta đã chịu căng thẳng nhiều rồi. Nếu chúng ta không biết cách nghỉ ngơi, thân thể của chúng ta sẽ không được giải tỏa khỏi tình trạng căng thẳng ấy. Nếu tình trạng căng thẳng của chúng ta không được giải tỏa khi mình nằm trên giường, thì giấc ngủ của chúng ta có ích gì? Nó vô ích. Nhiều khi, chúng ta ngồi xuống cũng là một cách nghỉ ngơi. Nhưng nhiều người khi ngồi xuống, lại không nghỉ ngơi, vì họ tiếp tục bị căng thẳng và dồn ép. Một công tác viên Cơ-đốc cần phải đủ mạnh mẽ để chịu sự căng thẳng khi hoàn cảnh đòi hỏi. Đôi lúc sự căng thẳng có thể rất mãnh liệt. Nhưng khi có được một ít thời giờ giải lao, chúng ta nên nghỉ ngơi. Không ai có thể luôn luôn căng thẳng cả. Chúng ta phải tập thư giãn.

Anh chị em ơi, khi rảnh rỗi, chúng ta phải tập thư giãn các bắp thịt của mình. Trong khi chúng ta ngủ, tất cả chân tay của mình cần phải thư giãn. Chúng ta phải có thể đòi hỏi nhiều năng lực nơi mình khi cần đến, và lúc đó chúng ta cần có khả năng chịu đựng sự căng thẳng hơn những người mạnh mẽ nhất. Thân thể của chúng ta phải vâng phục chúng ta. Nhưng chúng ta không thể luôn luôn căng thẳng. Bắp thịt và thần kinh của chúng ta thường cần thư giãn và nghỉ ngơi; chúng ta phải tìm cơ hội cho thân thể mình nghỉ ngơi. Đó là một cách thân thể tự quân bình. Nếu không tìm ra thời giờ nghỉ ngơi, chúng ta sẽ đẩy chính mình vượt quá giới hạn và đi đến tình trạng thái quá. Chúng ta không phải là những người cực đoan. Anh chị em ơi, chúng ta phải học tập tin cậy Chúa về thân thể của mình, nhưng đồng thời cũng phải tuân theo qui luật thiên nhiên và nghỉ ngơi. Đây là một bài học rất căn bản. Chúng ta phải học tập “buông ra”. Nếu học tập “buông ra” thì chúng ta sẽ nhận thấy việc ngủ nghỉ dễ dàng hơn. Những người kinh nghiệm nói với chúng tôi rằng đếm số lần thở có thể giúp một người ngủ. Khi ngủ, hơi thở của chúng ta thật sâu. Có thể chúng ta không dễ gì điều khiển được giấc ngủ, nhưng lại dễ dàng điều khiển hơi thở của mình. Chúng ta có thể đếm số lần thở của mình, và không nên thở nhanh mà phải thở chầm chậm. Chúng ta có thể điều chỉnh hơi thở của mình theo cách chúng ta thở lúc ngủ. Tâm trí của chúng ta không nên tập trung vào giấc ngủ mà vào việc thở, vào việc đếm số lần thở. Trước hết, chúng ta điều chỉnh hơi thở của mình theo tốc độ chúng ta thở trong giấc ngủ của mình. Một lúc sau, chúng ta sẽ ngủ. Bằng phương cách này nhiều người có thể ngủ được. Trong giấc ngủ, chúng ta hít thở sâu và chậm. Bằng cách điều chỉnh hơi thở của mình, làm cho nó chậm và sâu, chúng ta có thể tạo ra giấc ngủ cho mình. Thường thì chúng ta chỉ cần đếm đến một vài trăm là đã ngủ. Chúng ta phải tin rằng thân thể Đức Chúa Trời tạo nên cho chúng ta có khả năng ngủ nghỉ. Chúng ta phải tin cậy Đức Chúa Trời, và cũng phải tin cậy qui luật của Đức Chúa Trời trong cõi thọ tạo của Ngài. Đức Chúa Trời đã tạo nên một cái đầu cho chúng ta để ngủ, và chúng ta phải có khả năng ngủ được. Chúng ta nên cố gắng thư giãn toàn bộ thân thể của mình. Làm như vậy sẽ đem đến cho chúng ta sự nghỉ ngơi. Nếu không thể nghỉ ngơi, ngày đêm chúng ta sẽ không ngừng bị căng thẳng. Một tình trạng như vậy sẽ không giúp chúng ta hoàn thành nhiều việc. Chúng ta có thể bệnh hoạn, có thể bị nhiều bệnh tật trói buộc, nhưng nếu chăm sóc thân thể mình hơn một chút, chúng ta sẽ tự cứu mình khỏi nhiều lo phiền.

Về việc ăn uống chúng ta cũng có thể nói như vậy. Chúng ta không nên ăn quá mức, và những thứ chúng ta ăn không nên quá giới hạn. Chúng ta cần phải tập ăn mọi loại thức ăn. Vài anh chị em không thể ăn món này, món kia và nhiều thứ khác. Có rất nhiều thứ họ không thể ăn; đó không phải là một thói quen lành mạnh. Chúng ta phải tập ăn nhiều thức ăn khác nhau. Nhiều thứ có thể cung cấp chất dinh dưỡng cho thân thể chúng ta. Nếu chỉ ăn một ít món, chúng ta sẽ không giúp cho thân thể mình khỏe mạnh. Bây giờ chúng ta có thể cảm thấy mình không thiếu dinh dưỡng, nhưng khi đến ba mươi hay bốn mươi tuổi, tình trạng thiếu chất dinh dưỡng nào đó sẽ xuất hiện. Sức khỏe của chúng ta bị suy sụp, và cuộc đời của chúng ta sẽ ngắn lại. Cuộc sống của chúng ta được chi phối bởi những thứ mình ăn. Đó là lý do tại sao chúng ta phải tập ăn nhiều thức ăn khác nhau. Một lợi điểm khác khi có nhiều loại thức ăn trong bữa ăn của mình là chúng ta hoàn toàn không bị trở ngại khi được sai đi công tác. Những người không quen ăn nhiều loại thức ăn khác nhau sẽ không thể chịu đựng nhiều điều khi họ [đi vào] cánh đồng [thuộc linh để công tác]. Họ không thể ăn những thứ quá lạnh hay quá nóng. Họ sẽ gặp phải nhiều rắc rối. Chúng ta bị bệnh là một chuyện khác; chúng ta phải chăm sóc sức khỏe của mình. Nhưng trong hoàn cảnh bình thường, chúng ta phải tập ăn càng nhiều loại thức ăn khác nhau càng tốt. Chúa Giê-su nói: “Hãy ăn vật gì họ đãi các ngươi” (Lu. 10:8). Đó là một nguyên tắc chỉ đạo tốt. Lần kia, trên một chuyến tàu một tín đồ hỏi người tín đồ khác rằng: “Tại sao Chúa Giê-su ban bánh và cá cho đám đông?” Người kia đáp: “Sự phong phú của biển cộng với sự phong phú của đất”. Đó là một câu trả lời rất hay. Con cái Đức Chúa Trời cần phải học tập nhận lấy mọi sự phong phú của biển và mọi sự phong phú của đất. Phạm vi thức ăn chúng ta ăn cần phải rộng rãi; các loại thức ăn phải đa dạng. Anh chị em ơi, đừng nghĩ đây là một việc nhỏ. Nếu chúng ta không tự kiềm chế và kỷ luật chính mình trong vấn đề này, thân thể của chúng ta sẽ chịu khổ. Chúng ta phải làm cho thân thể trở nên nô lệ của mình. Ban đầu, có thể chúng ta thấy điều này khó khăn; có thể chúng ta nhận thấy vài món ăn có mùi vị khó chịu đối với khẩu vị của mình. Nhưng chúng ta phải kỷ luật chính mình bằng cách tự ép mình ăn những món ấy. Một mặt, chúng ta phải có tâm trí sẵn sàng chịu khổ. Mặt khác, chúng ta phải học tập chăm sóc thân thể mình. Chúng ta phải có khả năng chịu đựng gian khổ. Khi gian khổ đến, chúng ta phải sẵn sàng hi sinh trọn bản thể của mình. Vài anh em sợ gian khổ; họ không thể chịu nổi điều này, điều kia và nhiều điều khác. Những người như vậy thì vô dụng trong bàn tay của Đức Chúa Trời. Cũng vậy, chúng tôi không tán thành những anh em không tập chăm sóc thân thể của mình. Anh chị em ơi, có ý thức về sức khỏe khó hơn không có ý thức về sức khỏe. Đừng tưởng rằng nói về sức khỏe là điều dễ dàng. Để chăm sóc thân thể của mình, chúng ta phải tập tự kiềm chế. Một người phải luyện tập tính tự kiềm chế rồi mới có thể khỏe mạnh. Chúng ta phải tập ăn những thứ có lợi cho thân thể mình. Chuyện ăn uống của chúng ta không thể để cho khẩu vị của mình sai khiến, mà cần phải được chỉ đạo bởi nhu cầu của thân thể. Chúng ta phải tập chăm sóc thân thể mình kỹ lưỡng và sử dụng nó một cách thích hợp. Chúng ta không thể để thân thể của mình dễ dàng suy sụp. Chúa đã dùng nhiều năm tháng để hành động trên chúng ta; chúng ta không thể đối xử với thân thể mình một cách nông nổi. Chúng ta phải làm mọi cách phòng ngừa bệnh tật. Nếu có thể được, và nếu Chúa sắp đặt như vậy, chúng ta cần phải hết sức cố gắng đáp ứng những điều kiện để có sức khỏe tốt và ăn những thứ ích lợi cho thân thể. Chúng ta không nên bỏ mặc thân thể mình sa vào những tình trạng nguy hiểm không cần thiết. Ti-mô-thê được khuyên uống một ít rượu, vì điều đó có ích cho sức khỏe của ông. Đừng uống bất cứ thứ gì có hại cho thân thể. Luôn luôn ăn vào những gì có lợi cho thân thể. Đây là vấn đề nguyên tắc. Một mặt, chúng ta phải từ bỏ tính yêu mình và trung tín cho đến chết. Mặt khác, khi không nhận được lệnh đặc biệt nào từ Chúa, chúng ta cần phải chăm sóc thân thể mình. Khi đến một nơi để công tác, chúng ta nên hết sức cố gắng giữ vệ sinh. Nhưng chúng ta không nên tạo gánh nặng cho các anh chị em tại địa phương ấy. Khi môi trường không đạt tiêu chuẩn vệ sinh thích hợp, chúng ta phải tập tin cậy nơi Đức Chúa Trời. Nhưng khi hoàn cảnh cho phép, chúng ta cần phải hết sức cố gắng giữ vệ sinh. Điều này sẽ giúp cho thân thể chúng ta tránh được nhiều sự tổn hại không cần thiết.

BA

Một công tác viên Cơ-đốc phải chú ý đến một điều khác nữa — phải uyển chuyển trong cuộc sống hằng ngày của mình. Những đầy tớ của Đức Chúa Trời không thể có một tiêu chuẩn cố định cho chính mình, cứng nhắc trong những phương cách và quan điểm của mình. Nếu muốn hầu việc Chúa một cách đúng đắn, chúng ta phải duy trì một nguyên tắc: Chúng ta làm mọi sự phù hợp với Kinh Thánh và theo cách thức không gây vấp phạm cho ai. Trong 1 Cô-rin-tô 9:19-22, Phao-lô nói: “Vì tôi dầu được tự do đối với mọi người, thì tôi cũng đành làm nô lệ cho tất cả, hầu cho tôi được nhiều người hơn. Đối với người Do-thái, tôi trở nên như người Do-thái, hầu được người Do-thái; đối với người dưới luật pháp — tôi cũng như kẻ dưới luật pháp — dầu chính tôi chẳng ở dưới luật pháp, hầu được người dưới luật pháp. Đối với người không luật pháp, tôi cũng như kẻ không luật pháp — mặc dầu đối với Đức Chúa Trời, tôi không phải là không luật pháp, bèn là dưới luật pháp của Đấng Christ — hầu được người không luật pháp. Đối với kẻ yếu đuối, tôi trở nên như người yếu đuối, hầu được người yếu đuối. Tôi đã trở nên mọi cách cho mọi người, để tôi có thể cứu được ít nhiều người không cứ cách nào”. Vì cớ phúc-âm, Phao-lô trở nên mọi cách cho mọi người. Đó là một đức tính cần thiết của người hầu việc Chúa.

Phi-líp 4:12 nói: “Tôi biết xử nghèo hèn, cũng biết xử dư dật; trong mọi sự mọi nơi, hoặc no hay đói, hoặc dư hay thiếu, tôi đều đã nắm được bí quyết rồi cả”. Con người có xu hướng chuyển từ thái cực này sang thái cực khác; con người có khuynh hướng cực đoan. Một số Cơ-đốc-nhân nghĩ rằng điều đúng đắn duy nhất cần làm là trở nên giàu có và đầy đủ. Những người khác thì trái ngược; họ nghĩ rằng một người phải chịu nghèo túng, thiếu thốn và đói khát. Nhưng Phao-lô lại nói rằng ông đã học tập bị nghèo túng, và đã học tập được dư dật. Ông đã học tập được no đủ và đói khát. Ông đã học tập được dư dật và thiếu thốn. Ông đã học được bí quyết trong tất cả những điều ấy. Ông nói: “Tôi có thể làm được mọi sự nhờ Đấng thêm sức cho tôi” (c. 13). Phao-lô thật uyển chuyển đối với những điều bên ngoài trong cuộc sống hằng ngày của mình. Dầu thế này hay thế kia, ông có thể chấp nhận mọi sự.

Thật đáng tiếc, nhiều anh chị em rất bướng bỉnh. Thói quen hằng ngày của họ là bất khả xâm phạm và không thể thay đổi được. Một số người phải tắm nước nóng mỗi ngày. Vài người phải cạo râu mỗi ngày. Nếu bị đặt vào một hoàn cảnh mà tại đó không thể sống phù hợp với những thói quen của mình, họ sẽ không thể thi hành nhiệm vụ. Có lẽ đó là những điều rất nhỏ, nhưng chúng có thể trở nên những chướng ngại vật cho công việc Chúa. Những người có thói quen cố định không thể làm đầy tớ của Đức Chúa Trời. Một công tác viên Cơ-đốc không thể quá thiên về một mặt nào. Người ấy có thể tiếp tục làm việc dầu có nước nóng để tắm hay không, trong một vài ngày có được cạo râu hay không, trong nhiều ngày có cơ hội thay áo quần hay không. Người ấy có thể ngủ trên một chiếc phản cứng hay giường mềm. Người ấy cần phải thấy thoải mái dầu được đặt vào bất cứ môi trường nào.

Không những thói quen hằng ngày không nên là vấn đề đối với một công tác viên, mà những điều khác như cá tính và tuổi tác cũng không nên là một trở ngại cho người ấy. Giả sử, tại một nơi người ta rất nồng nhiệt, trong khi tại một nơi khác người ta lại rất lạnh lùng. Đầy tớ của Đức Chúa Trời phải thi hành nhiệm vụ tại hai nơi ấy tốt đẹp như nhau. Nếu người ấy là một người lạnh lùng và chỉ có thể công tác giữa vòng những người lạnh lùng thay vì giữa vòng những người nồng nhiệt, thì người ấy không hội đủ điều kiện để thi hành công tác. Một số người chỉ có thể làm công tác với những người nồng nhiệt, và không thể thi hành công tác giữa vòng những người lạnh lùng. Một số người chỉ có thể làm công tác giữa vòng những người nghiêm túc; họ không thể làm công tác giữa vòng những người vô tâm. Tất cả những giới hạn như vậy tiêu biểu cho những giới hạn đối với công việc của Đức Chúa Trời. Một vài anh em chỉ có thể cung ứng cho những người lớn tuổi hơn; họ không có gì để nói khi ở giữa vòng các nhi đồng hay những người trẻ hơn mình. Cá tính quá thiên về một mặt như vậy ngăn cản công việc của Đức Chúa Trời. Chúa chúng ta tiếp nhận người già và ban phước cho trẻ em. Đức Chúa Trời muốn chúng ta giống như Chúa của mình, tiếp nhận người già và chúc phước cho trẻ em. Bà Guyon từng nói rằng một người hoàn toàn liên hiệp với Đức Chúa Trời có thể làm cố vấn cho người già và làm bạn với con trẻ. Đây là một bài học chúng ta phải học.

Anh chị em ơi, điều này lại liên quan đến việc xử lý bản ngã. Bản ngã phải được xóa sạch đến mức độ chúng ta có thể để Đức Chúa Trời đặt chúng ta vào bất cứ hoàn cảnh nào. Nhờ đó, chúng ta không còn thái độ cứng nhắc và hoàn toàn không còn thiên vị nữa. Phao-lô đã có thể trở nên mọi cách cho mọi người vì ông được Chúa huấn luyện một cách hoàn bị. Nguyện tất cả chúng ta đều học tập để được Chúa xử lý hầu những thói quen hằng ngày và cá tính của chúng ta không cứng nhắc và không thể thay đổi. Nguyện chúng ta không đi đến tình trạng cực đoan và nguyện chúng ta hoàn toàn không cản trở hay gây rắc rối cho công việc Chúa.

BỐN

Một công tác viên Cơ-đốc cũng phải có một quan điểm và cách giải quyết thích đáng cho vấn đề đồng trinh và hôn nhân. Nhiều người tránh đề cập đến điều này. Nhưng đây là một vấn đề quan trọng đối với một công tác viên Cơ-đốc, và chúng tôi phải nói vài lời về điều này dựa vào sự dạy dỗ của Kinh Thánh.

Phao-lô có nói một lời rõ ràng về vấn đề đồng trinh trong 1 Cô-rin-tô 7:25-35: “Về kẻ đồng thân tôi chẳng có mạng lệnh của Chúa; song tôi tỏ ý kiến tôi như kẻ đã được Chúa thương xót để làm người đáng tin. Cứ như tôi tưởng thì nhơn sự gian truân hiện nay, người ở như vậy là tốt. Có phải ngươi đã ràng buộc với vợ chăng? Chớ tìm cách thoát ly. Có phải ngươi chưa ràng buộc với vợ chăng? Đừng kiếm vợ. Nhưng nếu ngươi cưới vợ, thì chẳng phạm tội gì, và nếu người xử nữ lấy chồng, thì cũng chẳng phạm tội gì. Song những người dường ấy sẽ có sự khốn khó trong xác thịt, nên tôi muốn anh em khỏi sự đó. Nhưng, anh em ơi, tôi bảo điều này: thì giờ ngắn ngủi; từ nay về sau kẻ có vợ hãy nên như không có, kẻ đương khóc nên như không khóc, kẻ đương vui nên như chẳng vui, kẻ đương mua nên như chẳng được gì, kẻ dùng thế gian nên như kẻ chẳng quá dùng nó. Vì hình dạng của thế gian này qua đi. Nhưng tôi muốn anh em khỏi lo lắng. Ai không có vợ thì chăm lo việc Chúa, mong thể nào cho đẹp lòng Chúa”. Phân đoạn Kinh Thánh trên cho chúng ta thấy ích lợi của việc ở độc thân. Một người có thể hầu việc Chúa siêng năng hơn, ít bị chi phối hơn và chuyên chú hơn vào công tác. Một người đã thành hôn không thể sánh được với một người chưa lập gia đình về phương diện này.

Nhưng không phải ai cũng có thể tiếp nhận lời này. Chúng ta nên lưu ý các câu từ 36 đến 40: “Nếu có ai tưởng rằng mình đối đãi với con gái mình không hiệp lẽ, và nó đã lỡ thì, lại nếu có sự cần buộc, thì người ấy hãy làm theo ý mình, không phạm tội gì; hãy cho nó cưới gả. Phỏng có ai vững lòng, không bị sự ép buộc gì, song có quyền trên ý muốn mình, đã quyết tâm để giữ con gái mình cứ làm xử nữ, thì cũng là tốt. Thế thì, kẻ gả con gái mình là tốt, mà kẻ không gả nó lại là tốt hơn. Chồng còn sống bao lâu thì vợ chịu ràng buộc bấy lâu, còn nếu chồng chết thì vợ được tự do để lấy ai tùy ý, nhưng chỉ phải ở trong Chúa mà thôi. Song, theo ý kiến tôi, nếu nàng cứ ở vậy thì có phước hơn. Vả, tôi tưởng tôi cũng có Linh của Đức Chúa Trời”. Điều này đã đủ sáng tỏ. Nếu một người nghĩ rằng cứ giữ tình trạng đồng trinh là sai trật, tuổi trai trẻ đã qua, và cần phải lập gia đình, thì người ấy có thể tùy ý hành động. Một người muốn ở độc thân hay không là quyết định riêng của người ấy. Tất nhiên, để ở độc thân, ngoài việc quyết tâm trong lòng, một người phải “vững lòng, không bị sự ép buộc gì, song có quyền trên ý muốn mình”. Điều chính yếu là người ấy quyết định trong lòng mình.

Xin chúng ta đọc lại Ma-thi-ơ 19:10-12: “Môn đồ thưa rằng: Nếu cảnh ngộ người ta với vợ là vậy, thì thà không cưới vợ còn hơn. Ngài lại phán rằng: Chẳng phải mọi người đều nhận lời ấy được, duy kẻ được ban cho thôi. Vì có người hoạn từ trong lòng mẹ mà sanh ra, có người hoạn bởi người ta làm nên, và có người hoạn vì cớ nước trời mà tự hoạn lấy. Ai có thể nhận lời ấy, thì hãy nhận đi”. Nếu liên kết phần cuối của câu 11 và phần cuối của câu 12: “Duy kẻ được ban cho thôi... Ai có thể nhận lời ấy, thì hãy nhận đi”, chúng ta sẽ sáng tỏ rằng tình trạng đồng trinh được ban cho những người có thể chấp nhận điều đó.

Để tránh bị chi phối và có đủ thời giờ chuyên cần hầu việc Chúa, tốt hơn là ở độc thân. Giữa vòng các môn đồ của Chúa, Giăng ở độc thân. Về sau, Phao-lô cũng ở độc thân. Nhưng nếu ai cần phải lập gia đình thì có thể thực hiện điều ấy. Kết hôn không phải là một tội. Sự khác biệt giữa việc ở độc thân và lập gia đình không liên quan đến tội lỗi. Đó là vấn đề thời giờ, sự siêng năng và [tình trạng bị] chi phối.

Hôn nhân là thánh khiết, vì thân thể cũng như mọi nhu cầu của thân thể đều được Đức Chúa Trời tạo ra. Đó là lý do tại sao hôn nhân là thánh khiết. Nhưng bất cứ đòi hỏi [tính dục] nào con người có ngoài hôn nhân đều là tội lỗi. Tại sao một người phải lập gia đình? Đó là để tránh có những mối liên hệ ngoài hôn nhân. Vậy nên, hôn nhân không phải là một tội, mà ngược lại nó ngăn ngừa tội lỗi. Hôn nhân không phải là sa ngã. Trái lại, nó được thiết lập để ngăn ngừa sự sa ngã.

Phao-lô đã làm sáng tỏ điểm này trong 1 Cô-rin-tô 7:1-9: “Luận đến các vấn đề anh em đã viết cho tôi: Đàn ông không đụng đến đàn bà là tốt. Song vì cớ gian dâm, thì mỗi đàn ông phải có vợ, mỗi đàn bà phải có chồng. Chồng phải đãi vợ cách hiệp nghi, và vợ cũng phải đãi chồng như vậy. Vợ không có quyền bính trên thân mình, bèn là chồng; cũng vậy, chồng không có quyền bính trên thân mình, bèn là vợ. Đừng phụ nhau, trừ khi cùng hiệp ý tạm thời chia ra, để chuyên việc cầu nguyện; rồi trở lại hiệp cùng nhau, kẻo Sa-tan nhơn chỗ không thìn mình của anh em mà cám dỗ anh em chăng. Nhưng điều này tôi nói theo cách chuẩn hứa, chớ không theo cách truyền mạng. Tuy nhiên, tôi muốn mọi người đều giống như tôi. Song mỗi người đều có ân tứ riêng của Đức Chúa Trời, người này thể này, kẻ kia thể khác. Vậy, tôi nói với những kẻ chưa cưới gả và kẻ góa bụa rằng, nếu họ cứ ở như vậy thì tốt. Song nếu họ chẳng thìn mình được, thì hãy cưới gả; vì thà cưới gả còn hơn là để cho lửa tình un đốt”. Phân đoạn này cho chúng ta thấy một lý do để thành hôn là ngăn ngừa sự gian dâm, đồng thời cũng bày tỏ rằng Đức Chúa Trời ban cho vài người ân tứ đặc biệt để ở độc thân. Nhưng tốt hơn là những người không nhận được ân tứ này hãy kết hôn để tránh sa vào tội gian dâm.

Chúng ta không nên nói thêm nữa về vấn đề đồng trinh. Chúng ta biết rằng Phao-lô là một người đồng trinh. Nhưng ông bảo Ti-mô-thê rằng về sau, những sự dạy dỗ của linh lừa dối sẽ đến và cấm cưới gả. Ông nói đó là sự dạy dỗ của các quỉ (1 Ti. 4:1, 3). Một mặt, chúng ta tin ở độc thân là một điều tốt. Mặt khác, chúng ta phải duy trì sự quân bình trong Lời Đức Chúa Trời; chúng ta không thể nói hôn nhân là điều bất khiết. Chúng ta phải sáng tỏ rằng hôn nhân là thánh khiết; đó là điều được Đức Chúa Trời đã ấn định trong cõi sáng tạo của Ngài. Cấm cưới gả là một sự dạy dỗ của các quỉ.

Nếu một công tác viên Cơ-đốc kết hôn, người ấy cần phải hết sức cố gắng thu xếp công việc gia đình của mình sao cho ít bị chi phối nhất. Nhờ đó, anh có thể dâng mình cho công việc Chúa một cách tốt hơn. Nhưng anh phải chú ý phân biệt rõ ràng giữa công tác và gia đình của mình. Anh đừng bao giờ cho phép những thành viên trong gia đình chạm đến công tác của mình. Tất nhiên, nếu vài người trong họ cũng là anh em đồng công thì lại là chuyện khác. Anh đừng bao giờ mang về nhà những điều liên quan đến công tác. Một công tác viên không thể bị những thành viên trong gia đình ảnh hưởng đến công việc mình đang làm. Lần kia, một anh em nói rằng anh đến một nơi nọ công tác vì vợ anh đã hứa là anh sẽ đến đó. Điều này thật đáng kinh ngạc! Làm sao một người vợ lại có thể hứa điều gì đó thay cho chồng mình, và làm thế nào người chồng lại có thể ra đi vì lời hứa của người vợ? Chúng ta không thể hành động dựa trên lời hứa của những thành viên trong gia đình mình, và thật ra chúng ta thậm chí không thể hành động dựa vào lời hứa của những người đồng công của mình. Gia đình chúng ta phải được phân cách rõ ràng với công tác của mình. Một công tác viên Cơ-đốc không thể khinh suất cho gia đình mình biết những nan đề thuộc linh của anh chị em khác. Nếu những thành viên trong gia đình người ấy muốn biết một điều gì, họ nên tìm hiểu điều đó như cách mọi anh chị em khác tìm hiểu. Nhiều nan đề trong công tác phát sinh do các công tác viên nói chuyện một cách bừa bãi trong gia đình mình.

Một điểm khác chúng ta cần phải lưu ý là duy trì mối liên hệ đúng đắn khi chúng ta tiếp xúc giữa các anh em và các chị em. Nếu một anh em thích công tác giữa vòng các chị em thì đừng để anh tham gia công tác ấy. Cũng vậy, nếu một chị em thích công tác giữa vòng các anh em thì đừng để chị tham gia công tác ấy. Chúng ta phải rất nghiêm ngặt đối với nguyên tắc này. Trong hoàn cảnh thông thường, các anh em nên công tác với các anh em và các chị em với các chị em. Con Đức Chúa Trời đã để lại cho chúng ta một gương mẫu như vậy khi Ngài công tác trên đất. Giăng chương 3 đến 4 cho chúng ta thấy ranh giới rõ ràng trong vấn đề này. Nơi chương ba Chúa tiếp Ni-cô-đem vào ban đêm, trong khi nơi chương bốn Ngài gặp người đàn bà Sa-ma-ri vào ban ngày. Nơi chương ba Chúa tiếp Ni-cô-đem trong nhà, và nơi chương bốn Ngài gặp người đàn bà Sa-ma-ri tại cái giếng công cộng. Nếu hoán đổi bối cảnh của chương ba và bốn, chúng ta sẽ có các bối cảnh không thích hợp. Rõ ràng là Chúa nói chuyện với Ni-cô-đem trong hoàn cảnh rất khác với hoàn cảnh Ngài nói chuyện với người đàn bà Sa-ma-ri. Điều này để lại cho chúng ta một gương mẫu tốt đẹp.

Chúng tôi không nói rằng các anh em và các chị em không nên tiếp xúc và tương giao với nhau. Chúng tôi nói rằng một anh em hay một chị em thích hay ao ước ở giữa vòng những người khác phái cần phải được can ngăn để tránh những sự tiếp xúc ấy. Tất nhiên, trong Đấng Christ không có khác biệt giữa nam và nữ, và giữa vòng con cái Đức Chúa Trời không có bức tường ngăn cách giữa các anh em và chị em. Giữa các anh em và các chị em cần phải có mối tương giao tốt đẹp. Nhưng nếu một anh em có thói quen hay ưa thích nói chuyện với các chị em, hoặc ngược lại, thì chúng ta cần phải lập tức xử lý tình trạng ấy. Tôi hi vọng rằng các anh em và chị em sẽ tập tự động hạn chế và giới hạn khi họ tiếp xúc với nhau. Nếu ai vượt quá ranh giới đúng đắn và dự vào những mối tương giao bất thường, chúng ta cần phải xử lý tình trạng ấy một cách nghiêm khắc. Nguyện Chúa đầy ân điển đối với chúng ta để chúng ta duy trì một chứng cớ tốt đẹp trong vấn đề này.