Thông tin sách

Tính Cách Công Nhân Của Chúa

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: The character of the Lord's worker
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 9

Untitled Document

CHƯƠNG CHÍN

ĐỐI VỚI TIỀN BẠC

Thái độ của một công tác viên Cơ-đốc, một đầy tớ của Đức Chúa Trời, đối với tiền bạc cần phải thế nào? Đây thật là một vấn đề nghiêm trọng, và trừ phi một công tác viên đã được phá vỡ xuyên suốt cách dứt khoát trong vấn đề này, người ấy không thể công tác cho Chúa. Nếu có nan đề đối với tiền bạc, một công tác viên không thể tiến xa. Một công tác viên thường có nhiều dịp đụng chạm đến tiền bạc. Vì vậy, vấn đề đang được bàn ở đây là một điều rất cơ bản.

Ma-môn đứng đối lập với Đức Chúa Trời, và chúng ta cần phải khước từ ảnh hưởng của nó. Đó là quan điểm Cơ-đốc đúng đắn đối với tiền bạc. Chúng ta phải cảnh giác đề phòng kẻo mình rơi vào quyền lực của nó. Không công tác viên nào bị quyền lực của ma-môn cột trói mà có thể thuyết phục những người khác thoát khỏi quyền lực của nó. Điều ấy không thể thực hiện được. Nếu chúng ta bị ma-môn cột trói và điều khiển, thì chúng ta sẽ không thể nào giúp các anh chị em khác thoát khỏi sự điều khiển và giam cầm của nó. Một công tác viên cần phải ghét tính lười biếng, và cũng cần phải ghét quyền lực của ma-môn. Nếu không thì người ấy sẽ vô dụng trong công tác của Đức Chúa Trời. Tiền bạc là một vấn đề lớn. Chúng ta hãy xem xét một vài điều liên quan đến tiền bạc.

MỘT

Trước hết, chúng ta hãy chú ý đến mối liên hệ giữa tiền bạc với đường lối và sự dạy dỗ của một công tác viên. Trong Cựu Ước có [những sự kiện] lịch sử về Ba-la-am, và trong Tân Ước có đường lối và sự dạy dỗ của Ba-la-am. Ba-la-am được đề cập đến trong Phi-e-rơ thứ nhì, Giu-đe và Khải-thị. Điều này cho thấy mức độ Đức Chúa Trời chú ý đến Ba-la-am. Ba-la-am là một tiên tri thi hành công tác vì lợi lộc. Nói cách khác, ông thương mại hóa chức vụ tiên tri của mình. Không phải ông không biết địa vị của mình. Ông hoàn toàn có ý thức về điều đó. Cũng không phải ông không biết ý chỉ của Đức Chúa Trời. Khi Ba-lác vua xứ Mô-áp khởi sự tàn hại dân Đức Chúa Trời, Ba-la-am hoàn toàn ý thức rằng dân Đức Chúa Trời không nên bị nguyền rủa; ông biết họ là dân được Giê-hô-va ban phước. Nhưng vì thèm muốn những điều Ba-lác hứa, tức lời hứa làm thỏa mãn mọi điều ham muốn của mình, nên ông đến với Chúa nhiều lần để xin phép. Sau cùng, Đức Chúa Trời cho phép ông. Nhiều người nghĩ một cách sai lầm rằng phân đoạn này là một tấm gương về việc chờ đợi Đức Chúa Trời. Thật ra, nếu không vì lời hứa của Ba-lác thì Ba-la-am không bao giờ cầu xin Đức Chúa Trời gì cả. Ông biết rõ rằng một chuyến đi như vậy không phù hợp với Chúa. Ý tưởng của Đức Chúa Trời là ban phước và chăm sóc theo ân điển; ý tưởng của Ngài không phải là nguyền rủa. Nhưng Ba-la-am cứ nài xin Đức Chúa Trời vì ông nhận được một lời hứa từ Ba-lác. Về sau, Đức Chúa Trời bảo ông hãy đi. Nhưng ý chỉ của Đức Chúa Trời là không muốn ông đi; ấy là Ngài cho phép ông đi. Đối với Đức Chúa Trời, nếu lời đề nghị quà cáp của Ba-lác có thể làm cho Ba-la-am cầu nguyện nhiều thì Ngài đơn giản bảo Ba-la-am ra đi. Ba-la-am chắc chắn là một tiên tri, nhưng ông để tiền bạc ảnh hưởng con đường của mình và dẫn mình lạc lối.

Bất cứ công tác viên Cơ-đốc nào chưa giải quyết vấn đề tiền bạc bên trong chính mình và vẫn bị quyền lực tiền bạc trói buộc thì chắc chắn sẽ làm cho lãnh vực công tác của mình liên hệ đến tiền bạc. Khi phải quyết định nơi công tác, chắc chắn quyết định của người ấy sẽ bị vấn đề hỗ trợ tài chánh ảnh hưởng. Người ấy sẽ đi đến nơi nào có tài trợ, và sẽ không đi đến nơi nào không có tài trợ. Sự tài trợ sẽ hướng dẫn người ấy. Nếu người ấy chỉ đi đến nơi nào có trợ cấp, chắc chắn người ấy sẽ không đi đến một nơi nghèo nàn, hay nếu có đi thì sau một thời gian ngắn ngủi người ấy cũng sẽ rời khỏi nơi đó. Nếu một nơi khác trợ cấp dồi dào, tự phát người ấy sẽ bị thu hút đến nhận trợ cấp của họ, và sẽ nghĩ rằng Đức Chúa Trời hướng dẫn mình đến đó. Một số lời cầu nguyện và sự hướng dẫn sẽ theo sau sự tài trợ. Sự tài trợ ấy trở nên trọng tâm [thu hút] sự chú ý. Lợi lộc và tiền bạc thúc đẩy Ba-la-am đến quấy rối Đức Chúa Trời nhiều lần. Ông cứ quấy rầy Đức Chúa Trời về việc ông nên đi hay không. Hơn mười năm trước, một anh em lớn tuổi nhận xét về tình trạng thảm thương của những công tác Cơ-đốc rằng: “Hãy xem biết bao nhiêu đầy tớ của Đức Chúa Trời theo đuổi tiền bạc! Rất nhiều địa phương nghèo nàn thiếu sự chăm sóc, nhưng quá nhiều công tác viên thường xuyên qua lại những địa phương lớn đã đông đúc rồi. Sự hướng dẫn họ nhận được có gì sai lầm?” Đây là một lời mạnh mẽ. Nếu một anh em chưa được xử lý về vấn đề tiền bạc thì không có gì ngạc nhiên nếu họ không thể tránh khỏi bước đi giống như Ba-la-am. Con đường của người ấy sẽ được định đoạt bởi số lượng trợ cấp mình nhận được. Lượng trợ cấp sẽ hướng dẫn con đường người ấy. Nếu chỗ kia nghèo nàn, người ấy sẽ không thăm viếng hay hiếm khi thăm viếng nơi ấy. Dầu có thăm viếng nơi đó, người ấy cũng sẽ vội vàng lìa khỏi. Nếu một địa phương trợ cấp dồi dào, người ấy sẽ thăm viếng thường xuyên hơn hoặc sẽ ở luôn tại đó. Tiền bạc sẽ trở nên “nguồn hướng dẫn” của người ấy. Đối với những người như vậy, Đức Chúa Trời chỉ có thể phán: “Hãy đi theo ý ngươi”. Một công tác viên chưa thoát khỏi ảnh hưởng của tiền bạc thì vô dụng. Nếu một công tác viên không thể khoe khoang như Phao-lô đã khoe khoang đối với vấn đề tiền bạc, thì người ấy vô dụng. Nếu một công tác viên chưa thoát khỏi tiền bạc và ảnh hưởng của nó thì người ấy không thể làm một người phụng sự của Đức Chúa Trời; đường lối của người ấy chắc chắn sẽ là đường lối của Ba-la-am. Một số người rất dễ bị tiền bạc chạm đến; con đường của họ dễ bị tiền bạc ảnh hưởng. Kết quả, là đường lối của họ là đường lối của Ba-la-am. Đường lối của Ba-la-am đơn giản là đường lối bị tiền bạc sai khiến. Nguyện Chúa nhân từ đối với chúng ta để tất cả chúng ta được giải cứu khỏi tiền bạc. Chúng tôi không muốn thấy bất cứ người nào trong chúng ta trở nên người ăn xin. Nguyện địa điểm chúng ta thi hành công tác không trở nên nơi chúng ta ăn xin. Một khi tình trạng ấy xảy ra thì chúng ta sẽ trở nên nô lệ cho tiền bạc. Đầy tớ của Đức Chúa Trời mà bị tiền bạc dẫn dắt và kiểm chế thì thật thảm thương và hổ thẹn! Tìm kiếm sự hướng dẫn theo sự dẫn dắt của tiền bạc chứ không bởi sấp mình dưới chân Đức Chúa Trời thì thật xấu hổ! Nếu một người chưa hoàn toàn được giải cứu khỏi tiền bạc, có thể người ấy đang lún sâu vào ách nô lệ của tiền bạc trong khi lại nói rằng mình đang ở dưới sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời. Điều này quá xấu hổ! Tất nhiên, vấn đề tiền bạc là vấn đề rất cạn cợt. Nếu Đức Chúa Trời mà chúng ta tin là Đấng sống thì chúng ta có thể ra đi khắp nơi. Nhưng nếu Ngài không sống, chúng ta nên mau mau rút lui và đừng làm gì cả. Giảng về một Đức Chúa Trời hằng sống mà lại để tiền bạc chi phối con đường của chúng ta là một điều đáng hổ thẹn. Đó là một điều vô cùng xấu hổ!

Trong Tân Ước, Phi-e-rơ nói đến đường lối của Ba-la-am. Ông cho chúng ta thấy đó là gì: “Cặp mắt họ đầy sự gian dâm, không thể ngớt phạm tội, như những linh hồn không vững bền, có lòng tập tành tham lam, chánh là con cái bị rủa sả” (2 Phi. 2:14). Tại đây, điểm nhấn mạnh là thói quen tập tành tham lam. Tham lam là vấn đề của lòng, nhưng có thể trở thành một thói quen. Khi một người bị sự tham lam chế ngự một lần, hai lần hay nhiều lần thì sự tham lam trở thành thói quen của người ấy. “Họ đã bỏ đường ngay thẳng mà đi lạc, theo đường của Ba-la-am, con trai Bê-ô, là kẻ ham tiền công bất chính” (c. 15). Khi một người bị mắc vào thói tham lam thì điều gì xảy ra? Người ấy từ bỏ đường ngay thẳng mà đi lạc và theo đường của Ba-la-am con trai Bê-ô. Anh chị em ơi, Đức Chúa Trời đã đặt trước mặt chúng ta “con đường thẳng”. Chúng ta nên đi đường nào? Một số người đã bỏ con đường thẳng mà đi lạc, và theo đường của Ba-la-am. “Đường của Ba-la-am” là gì? Ông là một tiên tri ham thích tiền công bất chính. Điều này cho chúng ta thấy rõ ràng rằng đường của Ba-la-am là đường liên quan đến việc bán chức vụ tiên tri của mình vì lợi lộc. Nhưng phúc-âm không phải để bán, và chức vụ tiên tri cũng không phải để bán. Chúng ta không thể bán phúc-âm của Đức Chúa Trời, cũng không thể bán chức vụ của các tiên tri. Nhưng tại đây có một người bán chức vụ tiên tri của mình. Con đường người ấy đi thật sai trật. Lòng người ấy đầy dẫy sự tham lam. Đó là lý do tại sao người ấy lầm lạc mỗi khi cơn cám dỗ đến. Không phải Ba-la-am chấp nhận lời đề nghị của Ba-lác là do một ý tưởng tham lam mà do thói tham lam. Anh chị em ơi, anh chị em đã nhìn thấy điểm này chưa? Đó là một thói quen. Đó là lý do tại sao Ba-la-am lầm lạc ngay khi Ba-lác cho ông tiền. Nếu quyền lực ma-môn chưa được trừ diệt khỏi chúng ta, chân chúng ta sẽ đuổi theo ngay khi miếng mồi của nó nhử trước mặt chúng ta, và chúng ta sẽ mất đi sự hữu dụng của mình. Nếu muốn chạy trên con đường ngay thẳng, chúng ta phải tuyệt đối khước từ ma-môn. Nếu không thì ở bên ngoài chúng ta có thể tìm kiếm sự dẫn dắt, cầu xin được hướng dẫn và theo đuổi ý chỉ của Đức Chúa Trời trong khi chân chúng ta vẫn đi trên con đường sai trật. Ba-la-am cầu nguyện, theo đuổi ý chỉ của Đức Chúa Trời, và chờ đợi Ngài. Tuy nhiên, ông vẫn đi con đường sai trật. Xin ghi nhớ rằng hễ tiền bạc chiếm một chỗ trong lòng chúng ta và sự tham lam đã trở thành thói quen, thì dầu chúng ta có hết sức cầu xin Đức Chúa Trời ngăn chặn mình đến một nơi nào đó đi nữa, rốt cuộc tiền bạc vẫn chi phối bước đi của chúng ta. Chúng ta sẽ không thể chạy trên con đường thẳng.

Giu-đe cũng đề cập đến Ba-la-am. Câu 11 nói: “Họ... vì lợi mà đua đuổi theo sự sai lầm của Ba-la-am”. Đó là những lời mạnh mẽ. Một số người đã đua đuổi lợi lộc. Đua đuổi có nghĩa là chạy một cách mau lẹ, nhanh chóng và vội vã. Một số người đua đuổi theo sự sai lầm của Ba-la-am. Con cái Đức Chúa Trời phải hoàn toàn được giải cứu khỏi sự cám dỗ của lợi lộc. Nếu không thì họ sẽ không còn lựa chọn nào khác ngoại trừ con đường sai lầm.

Ngoài việc viện dẫn [gương] Ba-la-am, 2 Phi-e-rơ 2:3 còn mô tả một tình trạng khác: “Họ sẽ bởi lòng tham lam mà lấy lời thêu dệt khoét anh em; nhưng sự kêu án họ từ xưa chẳng chậm trễ, sự hư mất của họ cũng chẳng ngủ”. 2 Phi-e-rơ chương 2 bàn về các tiên tri giả. Các tiên tri giả làm gì? Họ bởi lòng tham lam mà lấy lời thêu dệt khoét các tín đồ. Họ thật tham lam, và tìm kiếm lợi lộc. Vậy nên, họ thêu dệt những lời dối trá. Nếu con đường của một người bị tiền bạc chi phối, sớm muộn gì sự dạy dỗ của người ấy cũng sẽ bị tiền bạc chi phối. Chúng ta có thể tin chắc như thế. Người như vậy sẽ nói thế này với kẻ nghèo và nói thế kia với kẻ giàu. Người ấy sẽ nói với kẻ nghèo là Chúa đòi hỏi thế này, và khi có mặt kẻ giàu, người ấy sẽ nói với họ rằng Chúa đòi hỏi thế khác. Lời nói của người ấy bị lòng ham muốn lợi lộc tác động. Nói cách khác, sự dạy dỗ của người ấy đến với nơi nào có tiền. Lời Đức Chúa Trời thẳng thắn và mạnh mẽ. Chúng tôi sợ rằng một số người đã noi theo gương của các tiên tri giả và giáo sư giả. Nếu đường lối hành động của một người bị quyền lực tiền bạc tác động và điều khiển thì người ấy là tiên tri và giáo sư giả. Là một đầy tớ trung tín của Đức Chúa Trời, không vị tiên tri, người hướng dẫn hay giáo sư nào có thể bị quyền lực tiền bạc lay chuyển. Nếu một người có thể bị mua chuộc bằng tiền, nếu người ấy bị tiền bạc ảnh hưởng, và nếu tiền bạc có thể thay đổi đường lối hành động của mình, thì người ấy cần phải phủ tro trên mình và xưng nhận mình là một tiên tri giả và giáo sư giả. Người ấy là một đầy tớ giả chứ không phải là một đầy tớ thật của Đức Chúa Trời. Đó là một điều rất nghiêm trọng. Chúng ta phải hoàn toàn được giải cứu khỏi ma-môn. Những người để sự cung ứng tiền bạc chi phối đường lối và lời nói của mình cần phải bị ngăn không cho tham dự vào công việc của Đức Chúa Trời.

Không chỉ Phi-e-rơ và Giu-đe là những người duy nhất đề cập đến vấn đề này. Khi nhấn mạnh đến mối nguy cơ này, Phao-lô cũng nói điều ấy với Ti-mô-thê. 1 Ti-mô-thê 6:3 chép: “Ví thử có ai dạy giáo lý khác, không theo đạo thuần chánh của Chúa chúng ta là Giê-su Christ, và sự dạy dỗ theo sự kỉnh kiền”. Những người dạy giáo lý khác, dạy những giáo lý kỳ dị và không theo đạo thuần chánh của Chúa Giê-su Christ, sẽ trở nên thế nào? Câu 4 và 5 chép: “Thì kẻ ấy lên mặt, không biết chi hết; nhưng có tật hay tranh biện, cãi cọ về lời lẽ, là điều gây nên sự ganh gỗ, tranh cạnh, nhạo báng, nghi ngờ xấu, và cuộc cãi lẫy của kẻ có tâm trí bại hoại, thiếu hẳn lẽ thật, coi sự kỉnh kiền là nguồn lợi”. Điều thú vị đáng chú ý là trong lịch sử hội-thánh, tất cả những giáo sư tà giáo, tức những người dạy khác, đều coi sự tin kính (kỉnh kiền) là nguồn lợi. Không ai trong họ tận tâm đến mức như Phao-lô. Họ đều tính toán xem mình có thể thu lại được bao nhiêu so với những gì đã bỏ ra. Nguyện không ai trong chúng ta cố gắng thâu bất cứ điều gì từ bất cứ ai qua phúc-âm! Không gì trên thế giới bị Đức Chúa Trời lên án hơn là kiếm lợi lộc qua sự tin kính. Không gì đê tiện hơn tham gia vào công tác Cơ-đốc để kiếm lợi lộc. Đó là điều ghê tởm nhất. Sử dụng sự tin kính để kiếm lợi lộc là điều ghê tởm nhất. Mọi công tác viên đều phải hoàn toàn được giải thoát khỏi mọi ý tưởng về lợi lộc rồi mới có thể tham dự vào công tác. Anh chị em ơi, nếu muốn công tác cho Chúa, tâm trí của anh chị em phải hoàn toàn thoát khỏi ảnh hưởng của tiền bạc. Thà chết và nhịn đói còn hơn công tác vì lợi lộc. Mỗi công tác viên Cơ-đốc đều phải rất mạnh mẽ trong vấn đề này. Nếu người nào dụ dỗ chúng ta thỏa hiệp trong vấn đề này, chúng ta không nên nhượng bộ người ấy một tấc đất nào. Chúng ta phải bước theo Chúa một cách tuyệt đối. Anh chị em ơi, chúng ta có thể bán áo quần và của cải của mình, nhưng không bao giờ có thể bán lẽ thật hay sự tin kính của mình. Trừ phi chúng ta chết đối với ma-môn, và tâm trí chúng ta hoàn toàn thoát khỏi nó, tốt hơn là chúng ta đừng đụng gì đến công việc Chúa. Câu 6 nói: “Nhưng lòng kỉnh kiền với sự hài lòng là lợi lớn rồi”. Lợi lộc thật nằm ở đó: sự tin kính ở đó, sự hài lòng cũng ở đó. Khi có sự tin kính, chúng ta không xin thêm gì nữa, không trông đợi gì nữa, và chúng ta thỏa lòng với những gì mình có. Đó là lợi, mối lợi lớn. Sự kỉnh kiền trở nên phương tiện kiếm tiền là điều đáng xấu hổ. Nhưng sự tin kính với sự hài lòng là lợi lớn. Các câu từ 7 đến 10 đặc biệt quan trọng đối với các công tác viên Cơ-đốc: “Vì chúng ta chẳng đem gì vào thế gian, cũng chẳng có thể đem gì ra được, Nhưng có ăn có mặc, thì phải hài lòng. Còn như kẻ muốn giàu có thì sa vào sự cám dỗ, mắc lưới rập, ngã trong nhiều sự tham dục ngu dại thiệt hại, là sự khiến cho người ta đắm chìm trong sự bại hoại hư mất. Bởi chưng sự ham tiền là cội rễ mọi điều ác, có kẻ vì đeo đuổi nó mà bị lừa dối bội đạo, chuốc nhiều sầu khổ mà tự đâm lấy mình”. Anh chị em ơi, chúng ta đừng bao giờ lấy sự tin kính làm phương tiện kiếm lợi lộc. Chúng ta phải hoàn toàn thoát khỏi ảnh hưởng của tiền bạc. Nếu nan đề của chúng ta là không thể đắc thắng điều này thì tốt hơn chúng ta nên tìm một nghề khác. Chúng ta không bao giờ có thể quá sa bại đến nỗi theo đuổi tiền bạc trong sự giảng dạy và công tác của mình. Tốt hơn nên chọn một nghề khác và hầu việc Chúa theo cách ấy. Hầu việc Chúa bằng một nghề nghiệp khác không gì sai trật cả. Không ai có thể khinh suất đối với vấn đề tiền bạc, và không ai có thể gây nhục nhã cho danh Chúa bởi tiền bạc. Một công tác viên phải trong sạch đối với tiền bạc. Lòng người ấy phải được giải cứu khỏi tiền bạc một cách trọn vẹn. Người ấy phải tuyệt đối, vì Lời Đức Chúa Trời lên án vô cùng nghiêm khắc đối với bất cứ sự ô uế nào liên quan tiền bạc.

Giu-đe 16 nói: “Ấy là kẻ hay lằm bằm, hay phàn nàn, miệt mài theo tư dục mình, miệng thốt lắm lời khoe khoang, và vì lợi mà dua nịnh người ta”. Nhiều người thốt lắm lời khoe khoang. Họ khoe khoang về số lần lời cầu nguyện của họ được nhậm và số lần họ làm những phép lạ thần kỳ và những công việc lạ lùng. Họ nói những điều đó “vì lợi”. Nhiều người nói những gì người khác thích nghe để dua nịnh họ vì lợi. Chúng ta phải xử lý mọi động cơ bị tư tưởng tìm lợi lộc thúc đẩy. Đó là một đức tính cơ bản của một công tác viên Cơ-đốc. Một người đã thỏa hiệp trong vấn đề tiền bạc sẽ thỏa hiệp trong mọi sự. Đối với tiền bạc, chúng ta phải cứng rắn, rất cứng rắn, và đừng nhượng bộ trong bất cứ sự thối nát nào cả. Là những công tác viên Cơ-đốc, chúng ta phải hoàn toàn trong sạch trong vấn đề tiền bạc.

HAI

Bây giờ chúng ta hãy xét xem Chúa Giê-su huấn luyện các môn đồ Ngài thế nào. Lu-ca chương 9 ghi chép việc Ngài sai mười hai môn đồ ra đi, và chương mười ghi chép việc Ngài sai bảy mươi môn đồ ra đi. Trong bốn sách Phúc-âm, chỉ sách Lu-ca là ghi chép việc sai bảy mươi môn đồ đi. Trong việc sai mười hai môn đồ đi, Chúa dặn: “Trong lúc đi đường đừng đem chi theo hết, hoặc gậy, hoặc bị, hoặc bánh, hoặc tiền bạc; cũng đừng đem hai áo trong” (9:3). Chúa bảo họ để lại nhiều điều. Khi bổ nhiệm bảy mươi môn đồ, Ngài truyền: “Đừng đem túi bạc, bị, dép” (10:4). Một điểm chung trong cả hai trường hợp là tiền bạc. Nói cách khác, tiền bạc không nên là vấn đề đối với một công tác viên khi người ấy bắt tay vào công tác của mình. Về sau Chúa hỏi: “Khi Ta đã sai các ngươi đi không đem túi bạc, bị, dép chi hết, các ngươi có thiếu gì không? Họ thưa rằng: Không” (22:35). Sau đó, Chúa nói: “Nhưng bây giờ, ai có túi bạc, hãy lấy đi, ai có bị, cũng vậy; ai không có gươm, hãy bán áo ngoài đi mà mua” (c. 36). Đó là vì thời đại đã thay đổi. Lúc bấy giờ, Chúa Giê-su bị khước từ. Trong khi có cơ hội để dân Y-sơ-ra-ên tiếp nhận Chúa thì những điều ấy không cần. Điểm được nhấn mạnh ở đây là trong khi thi hành sứ mạng cho Chúa, một công tác viên không nên quan tâm đến túi tiền của mình. Trọn bản thể của người ấy cần phải tận hiến cho sứ điệp chứ không phải cho túi tiền của mình. Chúng ta ra đi làm chứng rằng Giê-su người Na-xa-rét được Đức Chúa Trời chỉ định làm Chúa. Bản thể chúng ta ở trong bài giảng chứ không ở trong túi tiền. Nói cách khác, chúng ta chỉ hội đủ điều kiện để công tác khi nào chúng ta hoàn toàn thoát khỏi tiền bạc. Nếu đến mỗi một thành phố và làng mạc để rao giảng phúc-âm về vương quốc, chúng ta đừng như một con lạc đà. Chúng ta không thể làm một con lạc đà, bị kẹt ở lỗ kim mà không vào vương quốc được, trong khi lại bảo người khác cần bước vào vương quốc bằng bạo lực (Mat. 11:12). Điều này không thể được.

Nhóm chữ đừng đem có nghĩa gì? Những từ ngữ ấy bày tỏ cho chúng ta rằng nguyên tắc “phúc-âm” trái ngược với nguyên tắc “túi tiền và hai áo trong”. Khi một người bắt tay vào việc rao giảng phúc-âm, người ấy không thể đặt tâm trí mình vào những điều đó. Đối với cuộc hành trình thông thường, một người cần cái bị để đựng tiền, một cây gậy để bước đi và hai áo trong để mặc thay đổi. Tất cả những vật dụng ấy đều cần thiết. Đó là lý do Chúa bảo các môn đồ đem chúng theo trong Lu-ca chương 22. Tại sao Ngài bảo những vật dụng đó không cần thiết khi Ngài sai phái mười hai môn đồ trong chương chín và bảy mươi môn đồ trong chương mười? Ngài cấm đem theo những vật dụng đó vì một người rao giảng phúc-âm không nên đặt tâm trí mình vào những điều ấy. Khi được sai phái, người ấy cần phải ra đi. Người ấy cần phải ra đi dầu có hai áo trong, và người ấy cần phải ra đi dầu chỉ có một áo trong. Có gậy hay không, có tiền hay không, và có túi đựng tiền hay không, người ấy vẫn phải ra đi. Đó là ý nghĩa của việc làm một người rao giảng phúc-âm. Đó là điều cơ bản mà Chúa đã huấn luyện các môn đồ khi Ngài sai mười hai và bảy mươi người ra đi công tác. Anh chị em ơi, chúng ta phải biết rõ rằng nếu tấm lòng của một người dành cho phúc-âm thì đối với người ấy những điều nhỏ mọn đó hoàn toàn không phải là vấn đề. Nếu những điều ấy trở thành vấn đề đối với người ấy thì tốt hơn là người ấy đừng ra đi làm gì. Để rao giảng phúc-âm, chúng ta đừng để áo, túi và gậy làm cho mình bận tâm. Nếu chúng là điều chúng ta quan tâm thì chúng ta không thể rao giảng phúc-âm. Phúc-âm đòi hỏi chúng ta tuyệt đối tập trung vào phúc-âm; nó đòi hỏi sự chú ý của chúng ta nhiều đến nỗi đối với chúng ta những điều kia không quan trọng. Phúc-âm cần phải là điều duy nhất chiếm hữu lòng chúng ta. Khi bắt tay vào công tác của mình, dầu có được tiếp đón hay không chúng ta vẫn cần phải vui vẻ. Chúng ta phải đứng về phía Đức Chúa Trời, và cần phải mang chứng cớ vinh hiển cho Chúa. Đó là lý do tại sao Chúa nói: “Hễ các ngươi vào nhà nào, trước hết hãy nói: Chúc bình an cho nhà này!” (10:5). Điều này cao quí biết bao. Một công tác viên là người ban phát sự bình an cho người khác. Người ấy cần phải tôn trọng địa vị của chính mình trước mặt Chúa. Có thể người ấy nghèo, nhưng không bao giờ để mất phẩm cách cao trọng của mình. Không công tác viên nào có thể sai trật đến nỗi bỏ đi phẩm cách cao trọng của mình. Nếu chúng ta đi đến một nơi kia và những người tại đó không tiếp đón mình thì chúng ta nên làm gì? Chúa nói: “Hễ ai không tiếp đãi các ngươi, thì khi ra khỏi thành đó, hãy phủi bụi chơn các ngươi để làm chứng nghịch cùng họ” (9:5). Anh em có nhìn thấy phẩm cách cao trọng của những đầy tớ Đức Chúa Trời không? Khi bị chối từ, họ không cảm thấy nhục nhã và không than phiền mà nói rằng: “Thật là xui xẻo. Chúng ta đến nhầm nhà”. Thay vào đó, họ phủi bụi khỏi chân mình. Thậm chí họ không lấy một hạt bụi của thành phố ấy. Những đầy tớ của Đức Chúa Trời phải duy trì phẩm cách cao trọng của mình. Có thể họ nghèo, nhưng không thể bỏ mất phẩm cách cao trọng của mình. Nếu tâm trí của chúng ta chưa hoàn toàn giải quyết điều này, chúng ta không thể tham dự vào công tác của Đức Chúa Trời. Là công tác viên, chúng ta phải giải quyết với Chúa một cách thích đáng về vấn đề tiền bạc. Nếu không thì chúng ta không thể chạm đến công việc của Đức Chúa Trời, vì ma-môn là một vấn đề trọng yếu.

Chúng ta có thể thấy thêm về việc Chúa huấn luyện các môn đồ Ngài khi cho năm ngàn người ăn rồi về sau cho bốn ngàn người ăn. Có một lần trong những dịp ấy, Ngài đem các môn đồ theo Ngài và giảng cho một đoàn dân đông đảo gồm năm ngàn người, không kể đàn bà và trẻ em. Lúc xế chiều, các môn đồ đến với Ngài và nói rằng: “Chỗ này vắng vẻ, và bóng đã tàn, xin cho quần chúng đi, để họ vào các làng mua đồ ăn. Nhưng Giê-su phán rằng: Họ không cần phải đi; các ngươi hãy cho họ ăn” (Mat. 14:15-16). Các môn đồ hi vọng Chúa cho quần chúng đi tự kiếm thức ăn cho mình. Nhưng Chúa lại nói: “Các ngươi hãy cho họ ăn”. Khi nghe như vậy, các môn đồ sửng sốt và đáp: “Hai trăm quan tiền bánh không đủ cho họ mỗi người một ít” (Gi. 6:7). Trong khi họ đang đếm hai trăm quan tiền, Chúa hỏi: “Các ngươi có bao nhiêu bánh? Hãy đi xem thử” (Mác 6:38). Khi họ đem đến cho Ngài năm ổ bánh và hai con cá, Chúa làm phép lạ và cho tất cả mọi người ăn. Anh chị em ơi, tất cả những người đang đếm hai trăm quan tiền của mình không hội đủ điều kiện làm công tác cho Chúa. Nếu tiền bạc có ý nghĩa quá lớn đối với chúng ta thì chúng ta không thể chạm đến công việc của Đức Chúa Trời. Chúa cho chúng ta thấy trong các câu trên rằng mỗi công tác viên cần phải vui vẻ phân phát những gì mình có. Nếu đối với chúng ta tiền bạc có ý nghĩa quá lớn thì chúng ta sẽ luôn luôn tính toán lợi lộc. Một công tác viên cần phải được giải cứu khỏi quyền lực của ma-môn. Đừng để tiền bạc sử dụng quyền lực hay ảnh hưởng trên một công tác viên Cơ-đốc. Trong ba năm rưỡi Chúa ở với mười hai môn đồ, Ngài trao cho họ chính Ngài. Đó là cách Ngài huấn luyện mười hai môn đồ. Ngài cho họ thấy những gì cần phải được tiêu dùng thì phải được tiêu dùng. Công việc của Đức Chúa Trời không liên quan gì đến lợi lộc. Xem công việc của Đức Chúa Trời với cái nhìn kinh doanh là điều sai trật. Những người luôn luôn đếm tiền bạc của mình không phải là nô lệ của Đức Chúa Trời, mà là nô lệ của ma-môn. Chúng ta phải học tập tự cứu mình khỏi quyền lực của ma-môn.

Các môn đồ đã không học được bài học này vào lúc đó. Trong Ma-thi-ơ chương 15, chúng ta thấy một dịp khác với bốn ngàn người, không kể đàn bà và trẻ em. Lần này tình trạng nghiêm trọng hơn. Quần chúng đã ở đó ba ngày rồi. Trong tình cảnh như vậy, các môn đồ có thể làm gì? Chúa bảo họ rằng: “Ta động lòng thương xót quần chúng này, vì họ đã cứ ở với Ta ba ngày rồi, mà [Hi-văn: và] không có chi ăn hết” (c. 32). Chữ “và” có nghĩa là chính Chúa cũng không có đồ ăn trong ba ngày ấy. Ngài nói tiếp: “Ta không muốn cho họ nhịn đói mà về, e phải luỗi dọc đường chăng”. Nhưng các môn đồ chưa học được bài học. Họ tự nhủ làm sao mình có đủ thức ăn để cung cấp cho quần chúng. Mối quan tâm của con người luôn luôn là thức ăn sẽ đến từ đâu. Nhưng Chúa hỏi họ: “Các ngươi có bao nhiêu bánh? Họ thưa rằng: Bảy ổ, và ít con cá nhỏ” (c. 34). Họ mang cho Ngài bảy ổ bánh cùng một vài con cá, và Chúa thực hiện một phép lạ khác mà cho bốn ngàn người ăn.

Chúa lặp lại phép lạ này vì mười hai môn đồ cần được huấn luyện hai lần. Nếu Chúa không cho năm ngàn người và bốn ngàn người ăn thì có lẽ các môn đồ đã không thể xử trí tình cảnh vào ngày lễ Ngũ-tuần. Nếu một người chưa từng kinh nghiệm việc cho năm ngàn và bốn ngàn người ăn trong các sách Phúc-âm thì người ấy không bao giờ có thể biết chăm sóc ba ngàn và năm ngàn người trong sách Công-vụ. Những người bỏ chạy khi thấy bóng dáng của gấu và sư tử thì chắc chắn sẽ bỏ chạy khi trông thấy Gô-li-át. Những người không thể chăn chiên thì chắc chắn không có khả năng chăn dắt dân Y-sơ-ra-ên. Ở đây là một nhóm người đã học được bài học cho năm ngàn và bốn ngàn người ăn. Kết quả là vào ngày lễ Ngũ-tuần họ không gặp trở ngại gì khi được kêu gọi chăm sóc những người nghèo. Anh chị em ơi, chúng ta phải trải qua một sự huấn luyện giống như vậy. Lòng chúng ta phải được mở rộng. Chúng ta có thể giữ lại những gì chúng ta cần tiêu xài, nhưng Đức Chúa Trời không muốn chúng ta giữ lại những phép lạ của Ngài. Nhiều người quá bận tâm về tiền bạc. Họ không tạo cho người khác ấn tượng mình là đầy tớ của Đức Chúa Trời. Họ không giống những người đã được Đức Chúa Trời huấn luyện. Một người đã được huấn luyện sẽ không lấy tiền bạc làm vấn đề; người ấy sẽ không quan tâm về tiền bạc trong tay mình. Anh chị em ơi, càng tính toán thì chúng ta càng lệch khỏi trọng tâm của Đức Chúa Trời và càng trở nên nghèo nàn hơn. Đó không phải là nguyên tắc của Đức Chúa Trời đối với tiền bạc. Chúng ta cần sự huấn luyện mà mười hai môn đồ và bảy mươi môn đồ đã trải qua. Sau cùng, một trong mười hai môn đồ trở nên một tên trộm, một tên cướp; ông đã ăn cắp tiền. Ông không học được bài học của mình, và tiền bạc trở nên một vấn đề lớn đối với ông. Khi nhìn thấy Ma-ri đổ trên Chúa dầu thơm tinh khiết từ chiếc bình bằng thạch cao tuyết hoa, ông cho đó là phí. Ông nói: “Sao không bán dầu thơm đó lấy ba trăm quan tiền để giúp cho kẻ nghèo?” (Gi. 12:5). Đối với một người tính toán, một bình dầu thơm có thể bán lấy ba trăm quan tiền và cho kẻ nghèo. Nhưng Chúa thì không đồng ý với sự tính toán ấy. Thay vào đó, Ngài nói: “Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, khắp thế gian hễ nơi nào có rao giảng tin-lành nầy, thì cũng thuật lại việc nàng đã làm để kỷ niệm nàng” (Mat. 26:13). Kết quả tuyệt hảo của phúc-âm là đập vỡ chiếc bình bằng thạch cao tuyết hoa và xức cho Chúa Giê-su bằng dầu trị giá ba trăm quan tiền. Nói cách khác, khi một người tiếp nhận phúc-âm và vì cớ Chúa không kể gì đến tốn kém khi phung phí mọi sự cho Chúa, thì theo cái nhìn của Ngài ấy là một điều tốt đẹp. Đó là điều đúng đắn thậm chí khi người ấy “phung phí” chính mình cho Chúa. Những người không hiểu biết phúc-âm luôn luôn đếm tiền của mình, nhưng những người hiểu biết phúc-âm đều nhận thức rằng phung phí chính mình cho Ngài là điều đúng đắn và thích hợp. Việc Chúa nhận được sự hi sinh “hoang phí” của chúng ta là điều đúng đắn. Ai là người xem điều đó là hoang phí? Chính Giu-đa. Ông là một người chưa bao giờ học được bài học của mình. Lời nói của ông rất hợp lý. Đối với con người, tiêu xài ba trăm quan tiền như vậy là không lợi lộc gì cả! Đối với Giu-đa, ba trăm quan tiền cũng đủ để phản một người — ông bán Chúa Giê-su với giá là ba trăm quan tiền. Tuy nhiên, đối với ông, đổ dầu thơm ra như vậy là phung phí, và ông đã đau lòng về điều đó. Ông muốn được lợi gì từ bình dầu ấy; ông là một người rất tính toán. Nhưng những người chân thành tiếp nhận phúc-âm và tuyệt đối vì Chúa sẽ hi sinh mọi sự. Dầu theo cái nhìn của người khác sự hi sinh ấy quá lớn, nhưng sự hi sinh ấy được thực hiện cho phúc-âm của Chúa. Nơi nào phúc-âm được loan báo thì không người nào nên mặc cả với Chúa. Ngài nói: “Các ngươi có kẻ nghèo ở với mình luôn luôn, song không có Ta luôn luôn” (c. 11). Chúa nói rằng chăm sóc kẻ nghèo thì không có gì sai trật cả, nhưng chúng ta không thể giữ lại bất cứ điều gì khi phải hi sinh cho Chúa. Dầu chúng ta có [dâng hiến] thái quá và đi đến chỗ cực đoan, thì vẫn không phải là phí quá cho Chúa. Có lần một anh em nói: “Nếu một người mới tin Chúa mà cố gắng đi con đường chừng mực thì người ấy sẽ không có tương lai thuộc linh gì cả”. Anh chị em ơi, có thể hoãn lại mười hay hai mươi năm sau hãy tính đến chuyện chừng mực, nhưng khi một người vừa mới tin Chúa, người ấy nên phung phí chính mình cho Ngài. Nếu là một tín đồ mới, anh em nên dâng lên mọi sự mình có cho Ngài. Chúng ta cần phải đổ ra trên Chúa cả bình dầu thơm bằng thạch cao tuyết hoa. Anh em phải hi sinh mọi sự như vậy rồi mới có đường tiến lên. Đó là sự huấn luyện mà các môn đồ đã nhận được. Chúng ta phải học tập tự mình chịu thêm một ít đau khổ và phung phí cho Chúa và cho những người khác hơn nữa. Là đầy tớ của Đức Chúa Trời, chúng ta cần phải rất rộng rãi trong [vấn đề] tiền bạc. Có tiền bạc hay không, chúng ta cũng phải tiến lên. Những người luôn luôn đếm tiền của mình không phải là những người thích hợp cho công việc.

Trong Công-vụ 3:6, Phi-e-rơ nói với người què rằng: “Bạc vàng ta chẳng có”. Chúa đã đem Phi-e-rơ và Giăng đến chỗ có thể tuyên bố: “Bạc vàng ta chẳng có”. Tuy chúng ta thấy nhiều tiền bạc được quản lý trong chương hai, nhưng chúng ta tìm thấy một lời chứng trong chương ba: “Bạc vàng ta chẳng có”. Phi-e-rơ đã nói gì với người tàn tật ấy? “Song điều ta có thì ta cho ngươi, nhơn danh Giê-su Christ Người Na-xa-rét, hãy đi!” Họ được huấn luyện kỹ đến nỗi mặc dầu có rất nhiều tiền đã qua tay họ, họ vẫn có thể nói: “Bạc vàng ta chẳng có”. Anh chị em ơi, nếu chính chúng ta có tham gia chút nào vào công việc [Chúa], chúng ta phải cương quyết đối với tiền bạc. Một khi chúng ta yếu đuối trong vấn đề này thì cũng sẽ yếu đuối trong các vấn đề khác nữa. Một nhân tố cơ bản tạo nên những công tác viên mạnh mẽ và kiên định là tính đáng tin cậy của chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời về vấn đề tiền bạc. Đức Chúa Trời có thể giao phó cho những người như vậy.

BA

Chúng ta hãy bàn đến điểm thứ ba, ấy là thái độ của Phao-lô đối với tiền bạc. Ông nói rất rõ ràng về vấn đề này. Trong Công-vụ chương 20, ông nói với người Ê-phê-sô rằng: “Tôi chẳng từng tham lam bạc, vàng, hay là áo quần của ai hết” (c. 33). Đây là vấn đề động cơ. Ông không tham lam bất cứ điều gì. Khi công tác cho Chúa, ông có thể khoe khoang rằng mình chưa bao giờ tham lam tài sản của bất cứ ai. Ông không nghĩ gì đến vàng, bạc hay áo quần của người nào cả. Đó là lời tuyên bố thứ nhất. Sau đó ông nói: “Chính anh em biết rằng hai bàn tay này đã tự cung cấp sự cần dùng của tôi và của đồng bạn tôi” (c. 34). Đó cần phải là thái độ chung của mọi đầy tớ Đức Chúa Trời. Chúng ta đừng tham lam vàng, bạc hay áo quần của người nào. Vật sở hữu của người khác là của họ, và chúng ta không thèm muốn chúng. Họ có thể giữ lại những gì mình có. Đồng thời, chúng ta làm việc để cung ứng nhu cầu của chính mình và những người đồng công với mình. Điều này không có nghĩa là một công tác viên Cơ-đốc không có quyền sử dụng quyền hạn của mình trong phúc-âm (1 Cô. 9:18). Nhưng điều này có nghĩa là một công tác viên Cơ-đốc cần phải xem phúc-âm là một trách nhiệm nghiêm trọng và có tầm quan trọng rất lớn đến nỗi người ấy thà dâng bàn tay và tiền bạc của mình cho công tác. Đây cần phải là nỗi ao ước của người ấy trước mặt Chúa. Nếu có thể được thì đôi tay của người ấy cần phải làm việc. Tất nhiên, Phao-lô nhận được quà tặng từ người khác, nhưng điều đó liên quan đến một vấn đề khác là trách nhiệm của người cho. Chúng ta sẽ đến điểm ấy ngay sau đây.

Lời Phao-lô nói với người Cô-rin-tô rất ngọt ngào. Trong 2 Cô-rin-tô 11:7, ông nói: “Hay là khi tôi đã giảng Tin-lành của Đức Chúa Trời cho anh em cách nhưng-không, tự hạ mình xuống cho anh em được nhắc lên, thì điều đó tôi há phạm tội chăng?” Ông tiếp tục từ câu 9 đến câu 12 rằng: “Khi tôi ở cùng anh em, gặp phải lúc thiếu thốn, thì không lụy đến ai cả, vì các anh em ở Ma-xê-đoan đến đã bù lại đầy đủ cho sự thiếu thốn của tôi. Không cứ việc gì, tôi đều đã giữ mình cho khỏi lụy đến anh em, tôi lại cũng sẽ cứ giữ mình như vậy luôn. Tôi chỉ sự chân thật của Christ ở trong tôi mà quyết rằng, trong các miền A-chai không ai bịt miệng tôi khoe khoang điều này được. Sao vậy? Vì tôi không thương yêu anh em sao? Đã có Đức Chúa Trời biết! Song điều tôi đương làm, tôi còn làm nữa, để cắt đứt cơ hội của kẻ tìm cơ hội, hầu cho điều họ khoe khoang đó chẳng hơn gì chúng tôi”. Phao-lô đã không dứt khoát từ chối mọi quà tặng, nhưng [trường hợp] tại A-chai liên quan đến vấn đề chứng cớ. Một số người chỉ trích, tìm kiếm cơ hội, và khoe khoang như thể họ khác với những người khác. Phao-lô không muốn cho họ cơ hội để chỉ trích. Ông nói rằng ông loan báo phúc-âm của Đức Chúa Trời cho họ cách nhưng-không, để ông không làm gánh nặng cho họ, ngay cả khi ông thiếu thốn. Ông giữ mình không làm gánh nặng cho họ, và muốn tiếp tục giữ mình như vậy. Ông không muốn mình trở nên một gánh nặng cho họ. Điều này không có nghĩa là ông không yêu thương họ, vì những gì ông đã làm, ông vẫn tiếp tục làm. Nhưng ông hành động như vậy để cất đi cơ hội của những người ham muốn [tìm] cơ hội, và để bịt miệng họ lại. Đó là thái độ của một công tác viên đối với tiền bạc. Dầu đi đến đâu, ngay khi cảm nhận được bất cứ sự miễn cưỡng nào thì chúng ta cần phải cắt đứt mọi cơ hội mà người ta có thể dùng để chỉ trích. Con cái Đức Chúa Trời phải duy trì phẩm cách cao trọng của họ trong công việc của Ngài. Một người càng yêu mến tiền bạc thì chúng ta càng nên giảng phúc-âm cho người ấy cách nhưng-không. Một người càng giữ chặt đồng tiền của mình thì chúng ta càng không nên nhận bất cứ quà cáp nào từ người ấy. Chúng ta cần phải nhận thức địa vị của mình là đầy tớ của Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta thấy ai giống như người A-chai, là những người miễn cưỡng và tìm kiếm cơ hội để chỉ trích, thì chúng ta cần phải nói với họ như Phao-lô, ông dường như muốn nói rằng: “Tôi sẽ không làm một gánh nặng cho ai trong anh em. Nếu anh em muốn gởi gì cho những người nghèo tại Giê-ru-sa-lem, tôi có thể mang quà ấy đến cho họ. Nếu Ti-mô-thê đến, anh em có thể đưa anh ấy lên đường bình an. Nhưng còn phần tôi, là một công tác viên Cơ-đốc tôi phải duy trì phẩm cách cao trọng của mình”. Nếu bị chỉ trích vì nhận quà cáp của người nào, thì chúng ta đã hoàn toàn bỏ mất phẩm cách cao trọng của mình là những đầy tớ của Chúa. Chúng ta phải duy trì phẩm cách cao trọng của mình như những đầy tớ của Đức Chúa Trời. Trong sự hầu việc Chúa, chúng ta không thể khinh suất đối với tiền bạc. Chúng ta phải rất nghiêm khắc trong vấn đề này; bằng không chúng ta không thể công tác cho Đức Chúa Trời bao nhiêu.

Phao-lô cho chúng ta biết không những ông đã duy trì tính chính trực của mình thế nào, mà còn làm việc bằng đôi bàn tay mình để cung ứng nhu cầu của những người đồng công với ông ra sao. Điều này cho chúng ta thấy nguyên tắc ban cho. Phao-lô nói: “Hai bàn tay này đã tự cung cấp nhu cầu của tôi và của đồng bạn tôi” (Công. 20:34). Không công tác viên nào trở nên cạn kiệt vì đã ban cho. Nếu chúng ta giữ lại tất cả những gì mình nhận được và chỉ lo chu cấp cho mình, thì chúng ta chưa biết ý nghĩa công tác của một người phụng sự. Nếu có ít của dâng hiến ra từ ví tiền những người đồng công thì có điều gì đó sai trật. Nếu một công tác viên chỉ có thể tiếp nhận, tức đức tin của người ấy chỉ vận dụng đến mức tiếp nhận mà không nới rộng đến mức ban cho, thì chức năng của người ấy sẽ bị giới hạn. Anh chị em ơi, tương lai thuộc linh của chúng ta liên quan mật thiết đến thái độ của mình đối với tiền bạc. Thái độ tệ hại nhất chúng ta có thể có là chỉ thu góp cho chính mình và làm mọi sự cho chính mình. Dường như yêu cầu người Lê-vi dâng hiến là một nhiệm vụ khó khăn. Nhưng người Lê-vi có trách nhiệm dâng hiến một phần mười như bất cứ ai khác. Đúng là người Lê-vi không có cơ nghiệp trong tất cả những thành phố; họ kiều ngụ giữa vòng mười hai chi phái và sống nhờ bàn thờ. Có lẽ một số người Lê-vi bị cám dỗ nói rằng: “Tôi sống nhờ bàn thờ. Tôi lấy gì mà ban cho?” Nhưng Đức Chúa Trời phán rằng mọi người Lê-vi nên nhận lấy phần mười và cũng nên dâng lên phần mười. Lời ấy ngăn tất cả những đầy tớ của Đức Chúa Trời nói rằng: “Tôi đã từ bỏ mọi sự. Tôi vẫn phải dâng hiến từ số tiền ít ỏi mà tôi nhận được sao?” Nếu mắt của chúng ta luôn luôn hướng về những nhu cầu riêng của mình, cuối cùng thế nào chúng ta cũng sẽ bị túng thiếu tiền bạc và không thể cung ứng nhu cầu cho những người đồng công của mình. Chúng ta phải tập ban cho. Chúng ta phải có khả năng cung cấp cho tất cả các anh chị em mình. Nếu chúng ta giữ lại tiền bạc trong tay mình, dầu ít ỏi thế nào đi nữa, mà đồng thời lại trông đợi Đức Chúa Trời liên tục hành động trên các anh chị em khác, thì chúng ta sẽ khám phá ra rằng Đức Chúa Trời chỉ làm trái ngược lại điều ấy. Ngài sẽ không phó thác tiền bạc của Ngài vào tay chúng ta.

Những lời của Phao-lô trong 2 Cô-rin-tô 6:10 thật tuyệt diệu: “Nào như nghèo ngặt, mà lại làm cho nhiều người được giàu có”. Đây là một anh em thật sự biết Đức Chúa Trời. Dường như ông nghèo ngặt, nhưng thật đáng kinh ngạc là ông làm cho nhiều người được giàu có. Anh chị em ơi, đó là con đường của chúng ta. Khi chúng ta thi hành công tác tại một nơi nào đó và các anh chị em nơi ấy nói ra nói vào về chúng ta, và nếu họ có một thái độ sai trật đối với chúng ta, thì những công tác viên như chúng ta cần phải duy trì phẩm cách cao trọng của mình. Chúng ta đừng bao giờ nhận quà cáp của họ. Thay vào đó, chúng ta nên nói thẳng với họ rằng: “Tôi không thể nhận tiền bạc của anh em. Tôi là một đầy tớ của Đức Chúa Trời. Anh em nói ra nói vào về tôi, và tôi không thể sử dụng tiền bạc của anh em. Là một đầy tớ của Chúa, tôi phải duy trì vinh quang của Đức Chúa Trời. Tôi không thể dùng tiền bạc của anh em”. Ngay cả trong tình trạng cực kỳ nghèo túng, chúng ta cũng phải tập ban cho. Nếu muốn nhận thêm thì chúng ta phải cho thêm. Càng có thể ban cho thì chúng ta càng có thể tiếp nhận. Đây là một nguyên tắc thuộc linh. Thông thường, khi thiếu thốn, chúng ta nên ban cho thêm, vì ngay khi tiền của chúng ta thoát ra thì nguồn cung ứng của Chúa sẽ đến. Một số anh chị em có nhiều kinh nghiệm như vậy. Họ có thể làm chứng rằng càng ban cho thì họ càng nhận lãnh. Chúng ta không nên đếm xem trong tay mình còn lại bao nhiêu. Chúa phán: “Hãy cho, thì các ngươi sẽ được cho lại” (Lu. 6:38). Đó là qui luật của Đức Chúa Trời. Chúng ta không thể hủy bỏ qui luật của Đức Chúa Trời. Cách quản lý của Cơ-đốc-nhân khác với cách của thế gian. Thế gian có được bằng cách dành dụm; chúng ta có được bằng cách ban cho. Có thể chúng ta nghèo nàn, nhưng lại có thể làm cho người khác được giàu có.

Trong 2 Cô-rin-tô 12:14, Phao-lô nói: “Này là lần thứ ba tôi sẵn sàng đến cùng anh em, và tôi sẽ chẳng làm lụy cho anh em đâu”. Đó là thái độ của Phao-lô. Ông nghiêm khắc đối với chính mình biết bao! Một số người nói chống lại Phao-lô và có nan đề với Phao-lô. Vì vậy, khi Phao-lô sẵn sàng đến với họ lần thứ ba, ông không làm gánh nặng cho họ. Trong câu 14, ông nói tiếp: “Vì tôi không cầu của cải anh em, bèn là cầu chính anh em vậy”. Ông hẹp hòi và hèn kém chăng? Không. Ông nói tiếp cũng trong câu ấy rằng: “Bởi chưng chẳng phải con cái nên dành chứa cho cha mẹ đâu, bèn là cha mẹ nên dành chứa cho con cái thôi”. Anh chị em ơi, anh chị em có nhận thấy thái độ của Phao-lô trước mặt Đức Chúa Trời ngọt ngào thế nào không? Người Cô-rin-tô nghe nhiều tin đồn và nói nhiều điều về Phao-lô. Vì vậy, Phao-lô bắt buộc phải khước từ quà cáp của họ, nhưng dầu khước từ quà cáp của họ, ông không lùi lại trước trách nhiệm dạy dỗ họ về vấn đề tiền bạc. Có lẽ Thư Cô-rin-tô thứ hai là sách đụng chạm đến vấn đề tiền bạc nhiều nhất. Nếu Phao-lô kiềm chế không nói gì về tiền bạc cả thì một số người đã có thể lý giải rằng Phao-lô bị vấn đề ấy xúc phạm. Nhưng ông không bị xúc phạm, vì tiền bạc rất ít ảnh hưởng trên ông. Ông tiếp tục dạy dỗ người Cô-rin-tô về vấn đề tiền bạc. Ông bảo họ gởi tiền cho Giê-ru-sa-lem. Ông đã không khuyên họ đừng gởi tiền đi. Ông vượt lên trên tiền bạc; nhờ vậy, ông đã vượt lên trên thái độ của người Cô-rin-tô đối với bản thân ông. Ông khước từ quà cáp của họ vì ông muốn duy trì phẩm cách cao trọng của mình. Tuy nhiên, ông khoe khoang với người Ma-xê-đoan rằng người Cô-rin-tô đã chuẩn bị chu đáo. Đồng thời ông khẩn nài các anh em hãy chuẩn bị trước phước hạnh họ đã hứa, vì sợ rằng họ sẽ bị xấu hổ vì thiếu chuẩn bị khi những người Ma-xê-đoan đến với họ (9:2, 4-5). Những cảm giác riêng tư của ông đều hoàn toàn được gạt sang một bên. Đầy tớ của Đức Chúa Trời phải được giải cứu khỏi ảnh hưởng của tiền bạc. Nếu Phao-lô không được giải cứu khỏi tiền bạc thì người Cô-rin-tô đã không thể nghe một sứ điệp như vậy. Có lẽ Phao-lô vẫn dạy dỗ người Ê-phê-sô hay người Phi-líp, nhưng chắc ông không dạy dỗ người Cô-rin-tô. Nhưng Phao-lô vẫn theo đuổi người Cô-rin-tô; ông không từ bỏ. Ông tiếp tục nói với người Cô-rin-tô về vấn đề tiền bạc. Ông cho họ thấy rằng Đức Chúa Trời có thể sử dụng tiền bạc của họ, nhưng chính ông thì không; ông không ham muốn bất cứ điều gì từ họ. Về vấn đề này, ông không trở thành gánh nặng cho họ. Tuy nhiên, ông vẫn mong họ biết cách tiến lên trong vấn đề này.

Anh chị em ơi, chúng ta có thể phân biệt giữa họ và những gì của họ mỗi khi chúng ta thông công với người khác trong hội-thánh không? Khi nhìn thấy các anh em, chúng ta theo đuổi họ hay những gì của họ? Nếu họ có nan đề với chúng ta và chúng ta không thể chinh phục lòng họ, thì chúng ta có vẫn nâng đỡ, gây dựng và cầu nguyện cho họ tăng trưởng không? Phao-lô có nhiều lý do để bỏ mặc người Cô-rin-tô, nhưng ông cứ đến với họ, thậm chí đến lần thứ ba. Tuy nhiên, ông không theo đuổi tài sản của họ. Điều này là một cám dỗ lớn đối với những đầy tớ của Đức Chúa Trời. Chúng ta phải học tập làm điều người anh của chúng ta là Phao-lô đã làm.

Trong 2 Cô-rin-tô 12:15-18, ông nói tiếp rằng: “Tôi cũng rất vui vì linh hồn [Hi-văn: hồn] anh em mà phí của hao sức. Nếu tôi thương yêu anh em càng dồi dào như vậy, mà anh em há lại thương yêu tôi kém hơn sao? Nhưng có kẻ nói, đành rằng tôi đã không làm lụy, song tôi là kẻ quỉ quyệt dùng chước mà lung lạc anh em. Vậy, chớ tôi há có nhờ một ai trong những kẻ tôi sai đến cùng anh em để thủ lợi anh em chăng? Tôi đã khuyên Tít, và sai anh em kia đi với người: Tít há có thủ lợi anh em chăng? Chúng tôi há chẳng bước theo đồng một linh, đồng một dấu chơn sao?” Anh chị em ơi, hãy nghĩ đến thái độ của Phao-lô: Ông vô cùng sung sướng được phí của hao sức vì họ. Trong công việc rao giảng phúc-âm, chúng ta chỉ hao sức thôi cũng chưa đủ. Chúng ta phải phí của nữa; chúng ta phải cho mọi điều mình có. Nhận tiền bạc để đổi lấy việc chúng ta rao giảng phúc-âm thì luôn luôn là sai trật. Ngược lại, chúng ta phải sẵn sàng vui lòng tiêu xài tiền bạc của mình vì phúc-âm. Nếu tiền bạc của chúng ta không chi tiêu cho việc rao giảng của mình, thì có điều gì đó sai trật. Nếu tiền bạc của chúng ta tiêu xài cho công việc rao giảng của mình, chúng ta làm điều đúng đắn và sử dụng tiền bạc của mình vào mục tiêu chính đáng. Đó là điều Phao-lô đã làm. Ông sẵn lòng bị hao phí, và cũng sẵn lòng tiêu xài. Ông sẵn lòng phí của và hao sức vì hồn của họ. Khi ở giữa vòng họ, ông không làm gánh nặng cho ai cả. Tít hay anh em khác cũng không làm lụy ai. Ông không muốn lợi dụng ai. Phúc-âm là sự thật, đó là lý do tại sao chúng ta có thể tiêu dùng tiền bạc của mình vì phúc-âm. Anh chị em ơi, chúng ta phải như Phao-lô là người anh của chúng ta. Chúng ta đừng làm gánh nặng cho ai cả. Ngược lại, chúng ta phải hao sức cùng cực vì cớ phúc-âm. Vì phúc-âm là sự thật nên việc chúng ta phí của và hao sức đến cùng cực là điều thích đáng. Phúc-âm của chúng ta phải lấy đi tiền bạc của chúng ta. Đó là con đường đúng đắn để bước theo.

Mặc dầu chúng tôi đã bàn như vậy, Phao-lô nhận quà tặng của người Ma-xê-đoan và Phi-líp. Trong hoàn cảnh bình thường, một người rao giảng phúc-âm mà nhận quà tặng là điều chính đáng. Phao-lô nhận quà tặng từ một vài nơi và khước từ quà tặng từ những nơi khác. Ông không bị ràng buộc trong việc nhận quà tặng. Ông nhận quà tặng từ người Ma-xê-đoan. Nhưng khi một số người chỉ trích ông và tìm kiếm cơ hội để xuyên tạc ông tại A-chai và Cô-rin-tô, ông khước từ quà tặng của họ. Đó là đường lối của Phao-lô. Ngày nay chúng ta cũng nên làm như vậy. Chúng ta có thể nhận quà tặng từ một số nơi như Ma-xê-đoan, và nên khước từ những nơi khác, là nơi nói ra nói vào về chúng ta. Anh chị em ơi, chúng ta phải duy trì lập trường này trước mặt Chúa. Chúng ta đừng nghĩ rằng mình có thể nhận bất cứ loại tiền bạc nào. Nếu người nào đó nói sau lưng chúng ta hay nếu người nào đó tìm kiếm cơ hội để chỉ trích chúng ta, chúng ta đừng nhận quà tặng của họ. Chúng ta có thể nhận quà tặng tại những nơi khác, chứ đừng nhận tại chỗ ấy.

Chúng ta hãy quay sang thư của Phao-lô gửi cho người Phi-líp để nhìn thấy thái độ của ông trong việc nhận những của dâng từ các thánh đồ tại đó. Phi-líp 4:15-17 nói: “Hỡi người Phi-líp, chính anh em cũng biết rằng lúc khởi đầu Tin-lành, khi tôi lìa Ma-xê-đoan, về việc cung cấp và nhận lãnh, thì ngoài anh em ra chẳng có hội-thánh nào khác dự phần với tôi; vì tại Tê-sa-lô-ni-ca anh em cũng đã một hai lần gởi cung cấp sự cần dùng cho tôi. Ấy không phải tôi cầu của tặng đâu, nhưng cầu bông trái thêm lên trong số của anh em”. Đó là thái độ của Phao-lô. Dường như người Phi-líp là những người duy nhất tiếp tế cho ông. Khi ông ở tại Cô-rin-tô và Tê-sa-lô-ni-ca, ấy là người Phi-líp cung ứng cho ông. Nhưng ông nói với người Phi-líp rằng: “Ấy không phải tôi cầu của tặng đâu, nhưng cầu bông trái thêm lên trong số của anh em”. Ông biết rằng Đức Chúa Trời đã điền vào trương mục của người Phi-líp vì số tiền họ đã chi tiêu. Đức Chúa Trời lưu ý đến tiền bạc của người Phi-líp. Đó là lý do tại sao ông không xin tiền của họ. Bấy giờ chỉ có người Phi-líp tiếp tế cho Phao-lô, vậy mà ông lại có thái độ ấy đối với họ. Ông không tìm kiếm quà tặng, mà tìm kiếm kết quả thêm lên cho trương mục của họ. Người Ma-xê-đoan đã tặng nhiều lần. Nhưng mắt của Phao-lô không đặt nơi tiền bạc. Chúng ta có thể không nhận một số quà cáp, nhưng thậm chí khi nhận, chúng ta nên nói như Phao-lô đã nói với người Phi-líp. Chúng ta cần phải cầu nguyện cho bông trái của họ thêm lên cho trương mục của họ. Đầy tớ của Đức Chúa Trời mà bị tiền bạc trói buộc thì hoàn toàn sai trật. Chúng ta phải được giải cứu khỏi tiền bạc.

Chúng ta hãy tiếp tục xem xét điều Phao-lô nói trong câu 18: “Nhưng tôi có mọi sự, và đương dư dật; tôi đầy đủ rồi”. Đó không phải là một bản báo cáo tài chính thông thường. Một bản báo cáo thông thường hay làm nổi bật sự thiếu thốn để những người khác được thúc đẩy mà dâng hiến. Nhưng đối với hội-thánh duy nhất đang trợ cấp cho ông, người anh của chúng ta là Phao-lô nói: “Tôi có mọi sự, và đương dư dật; tôi đầy đủ rồi”. Lời của Phao-lô rất ít khi lặp lại, nhưng ở đây ông nói: “Tôi có mọi sự, và đương dư dật; tôi đầy đủ rồi”. Anh chị em ơi, xin lưu ý đến thái độ của người anh chúng ta. Ông nói với hội-thánh duy nhất đang trợ giúp mình là ông có đủ, là ông đang dư dật, và ông được đầy đủ rồi. Ông đã có đủ; hi vọng duy nhất của ông là quà tặng của họ trở nên “một thức hương có mùi thơm, một tế vật được nhận và đẹp lòng Đức Chúa Trời” (c. 18). Đây là người có một linh tuyệt đẹp. Ông không có ý thức gì về tiền bạc cả. Tiền bạc hoàn toàn không chạm đến ông.

Chúng ta hãy tiếp tục đến với câu 19, là một câu rất quí báu: “Đức Chúa Trời tôi sẽ làm cho đầy đủ mọi sự cần dùng của anh em y theo sự giàu có của Ngài ở nơi vinh hiển trong Christ Giê-su”. Ông biết ơn đối với sự trợ cấp của họ, nhưng ông không bỏ mất phẩm cách cao trọng của mình. Họ dâng tiền bạc lên như một sinh tế cho Đức Chúa Trời; điều đó không dành riêng cho bản thân Phao-lô, và không liên hệ gì đến ông cả. Đồng thời, ông chúc phước cho họ rằng: “Đức Chúa Trời tôi sẽ làm cho đầy đủ mọi sự cần dùng của anh em y theo sự giàu có của Ngài ở nơi vinh hiển trong Christ Giê-su”. Chúng ta không thể không nói: “Nguyện sự vinh hiển về nơi Đức Chúa Trời là Cha chúng ta cho đến đời đời vô cùng! A-men”.

BỐN

Cuối cùng, chúng ta hãy xem xét thái độ của Phao-lô trong mối liên hệ với ngân quỹ mà hội-thánh đã chuyển giao qua tay ông và những người khác muốn ông quản lý. Trong 2 Cô-rin-tô 8:1-4, ông viết: “Anh em ơi, chúng tôi tỏ cho anh em biết về ơn của Đức Chúa Trời đã ban cho các hội-thánh ở Ma-xê-đoan, thể nào khi họ ở trong cơn hoạn nạn mà chịu thử nghiệm lớn, thì sự vui mừng quá đỗi và sự nghèo khó đáo để của họ lại tuôn tràn ra lòng rộng rãi dồi dào. Vì tôi làm chứng rằng họ đã theo sức mình, mà cũng quá sức nữa, tự ý lạc quyên, và tái tam khẩn cầu chúng tôi để cho họ được thông công trong ơn phục sự các thánh đồ ấy”. Con cái Đức Chúa Trời phải nghiêm khắc đối với vấn đề này. Khi một công tác viên đến một nơi để công tác cho Chúa, người ấy cần phải có thái độ như vậy mỗi khi đụng đến tiền bạc. Các anh em tại Ma-xê-đoan dâng hiến tài chính giúp đỡ cho các anh em đang chịu nạn đói tại Giê-ru-sa-lem. Trước hết, Phao-lô cho họ biết về tai ương ấy. Sau khi nghe điều đó, họ vượt quá khả năng của mình trong sự nghèo nàn cùng cực và khốn đốn để chăm sóc cho các anh em tại Giê-ru-sa-lem. Họ đã làm gì? Phao-lô nói rằng với sự khẩn cầu tha thiết, họ tìm kiếm ân điển cùng sự thông công trong ơn phục sự các thánh đồ. Đó là thái độ của người Ma-xê-đoan trong việc tiếp trợ tài chính để chăm sóc nhu cầu của các thánh đồ. Họ muốn có phần trong ân điển này. Họ không quan tâm đến việc chính mình cũng đang ở trong tình trạng nghèo nàn và khốn đốn; họ vẫn muốn góp phần trong công tác ấy. Do đó, họ khẩn nài Phao-lô nhiều lần. Nói cách khác, lần thứ nhất Phao-lô không cho phép họ dâng tặng. Điều này cho thấy một thái độ đúng đắn. Một công tác viên Cơ-đốc không nên đơn giản nhận bất cứ đồng tiền nào đem đến trước mặt mình, thậm chí khi số tiền ấy không phải để người ấy dùng. Đúng là các anh em tại Giê-ru-sa-lem đang ở trong tình trạng thiếu thốn, nhưng vấn đề không đơn giản là nhận tiền và gởi đến cho các thánh đồ ấy. Chính các anh em tại Ma-xê-đoan cũng đang ở trong một tình trạng thiếu thốn kinh khủng, và Phao-lô bảo họ lấy lại tiền dâng hiến của mình. Nhưng họ đến nài xin Phao-lô nhiều lần, với sự nài nỉ tha thiết, để được góp phần trong ân điển của sự phục vụ các thánh đồ. Cả hai bên đều cư xử một cách tuyệt diệu. Đó là đường lối Cơ-đốc đúng đắn. Một mặt, người dâng nói: “Dầu tôi nghèo và đang ở trình trạng thiếu thốn, tôi vẫn dâng hiến. Dầu điều đó vượt quá khả năng dâng hiến của tôi, tôi vẫn dâng hiến”. Mặt khác, công tác viên nói: “Anh em không nên dâng hiến”. Điều này thật đẹp đẽ! Sau cùng, công tác viên nói: “Nếu anh em thật sự muốn dâng hiến, tôi không có cách nào ngăn cản anh em”. Đó là thái độ đúng đắn của một công tác viên. Phao-lô đang giải quyết những công việc của hội-thánh. Mặc dầu ông nhìn thấy nhu cầu tại Giê-ru-sa-lem và muốn giải quyết nhu cầu của các anh em, thái độ của ông khác với thái độ của nhiều công tác viên ngày nay. Ông chỉ cho phép các hội-thánh Ma-xê-đoan dự phần vào ân điển của sự phục vụ các thánh đồ sau khi họ nài xin ông nhiều lần.

Trong 2 Cô-rin-tô 8:16-22, Phao-lô nói: “Tạ ơn Đức Chúa Trời, Ngài đã cảm động lòng của Tít ân cần đối với anh em cũng như tôi vậy. Vì thật người đã nhận lời khuyên lơn của tôi, mà hơn nữa, cũng vì chính người rất sốt sắng, nên tình nguyện đi đến cùng anh em. Chúng tôi đã sai một anh em cùng đi với người, là kẻ ở trong Tin-lành được tiếng khen khắp cả các hội-thánh. Chẳng những thế thôi, người ấy cũng được các hội-thánh chọn để đi với chúng tôi trong việc từ huệ mà chúng tôi đương dự liệu đây, để làm vinh hiển cho Chúa, và tỏ lạc ý của chúng tôi; hầu khỏi ai trách móc chúng tôi điều gì đối với khoản từ huệ rộng rãi mà chúng tôi dự liệu đây. Vì chúng tôi chăm lo điều liêm chánh, chẳng những trước mặt Chúa, mà cũng trước mặt người ta nữa. Chúng tôi lại sai một anh em nữa đi với họ...” Ở đây, chúng ta nhìn thấy sự sắp đặt của Phao-lô. Trong việc gởi tiền của những người khác đến Giê-ru-sa-lem, ông rất ngay thẳng [khi tiến hành] thủ tục của mình. Không đầy tớ nào của Đức Chúa Trời có thể khinh suất trong vấn đề tiền bạc. Phao-lô đã nói gì? Ông nói: “hầu khỏi ai trách móc chúng tôi điều gì đối với khoản từ huệ rộng rãi mà chúng tôi dự liệu đây”. Phao-lô yêu cầu một, hai, ngay cả ba anh em quản lý tiền bạc; ông đã không quản lý tiền bạc một mình. Ba anh em đã làm gì? Ông nói: “Vì chúng tôi chăm lo điều liêm chánh, chẳng những trước mặt Chúa, mà cũng trước mặt người ta nữa”. Trong việc quản lý ngân quỹ, cách duy nhất để tránh nan đề là để hai ba người đảm trách.

Vì tiền bạc là một vấn đề nghiêm trọng như vậy, Phao-lô viết cho cả Ti-mô-thê lẫn Tít mà tuyên bố rằng người tham lam không nên được phép giữ địa vị trưởng lão (1 Ti. 3:3; Tít 1:7). Trong 1 Ti-mô-thê 3:8, cùng một qui định như vậy cũng được áp dụng cho chức vụ chấp sự. Người nào chưa đắc thắng tiền bạc thì không đủ điều kiện làm trưởng lão hay chấp sự. Điều kiện cơ bản để làm một trưởng lão hay chấp sự là không tham lam tiền bạc. Chúng ta phải xử lý vấn đề tiền bạc một cách nghiêm chỉnh. Phi-e-rơ cũng viết theo cùng một chiều hướng như Phao-lô. Ông nói: “Hãy chăn bầy của Đức Chúa Trời ở giữa anh em... chẳng phải vì lợi đê hèn, bèn là vì sẵn lòng” (1 Phi. 5:2). Không người nào tham lam có thể chăn bầy của Đức Chúa Trời.

Nguyện Chúa đầy ân điển đối với chúng ta để chúng ta xử lý vấn đề tiền bạc một cách thông suốt. Trừ phi giải quyết vấn đề tham lam, sớm muộn gì chúng ta cũng sẽ thấy mình [bị vây hãm] trong những nan đề. Thật vậy, chúng ta sẽ trở nên vô dụng trên bước đường [thuộc linh]. Nếu không giải quyết vấn đề này, chúng ta không thể giải quyết những vấn đề khác, và chắc chắn chúng ta sẽ đối diện với những nan đề và rắc rối trên bước đường [công tác]. Chúng ta tuyệt đối đừng để tiền bạc ảnh hưởng mình. Mỗi khi nghe người nào chỉ trích mình, chúng ta phải tập khước từ quà tặng của họ. Đồng thời, chúng ta phải học tập mang gánh nặng của người khác. Chúng ta không nên chỉ chăm lo nhu cầu riêng của mình và các anh em đồng công của mình, mà cũng cần phải chăm lo nhu cầu của tất cả các anh chị em nữa. Nếu có thể xử trí vấn đề tiền bạc một cách đúng đắn, chúng ta đã thực hiện được một điều to tát. Những người chưa giải quyết vấn đề cơ bản về tiền bạc không bao giờ có thể công tác một cách tốt đẹp.