Thông tin sách

Tính Cách Công Nhân Của Chúa

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: The character of the Lord's worker
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 8

Untitled Document

CHƯƠNG TÁM

KHÔNG CHỦ QUAN

MỘT

Chủ quan là một khuyết điểm khác trong cá tính của một số con cái Đức Chúa Trời, và đặc biệt là trong một số người làm công tác cho Chúa. Nếu một người chủ quan, người ấy không thể thực hiện công tác tốt đẹp.

Chủ quan có nghĩa là gì? Chủ quan là nhất định giữ ý kiến của mình và khước từ ý kiến của những người khác. Điều ấy có nghĩa là có định kiến trước khi lắng nghe người khác và bám lấy ý kiến ấy thậm chí sau khi đã nghe người khác. Chủ quan có nghĩa là miễn cưỡng chấp nhận hay miễn cưỡng chịu sửa sai. Điều ấy có nghĩa là ngay từ ban đầu đã có ý kiến và luôn luôn nhất định giữ ý kiến ấy. Một người chủ quan đã có sự quyết đoán của mình trước khi nghe những gì từ Chúa, trước khi những sự kiện được phô bày, và trước khi những người khác trình bày ý kiến của họ. Người ấy nhất định giữ những sự quyết đoán của mình thậm chí sau khi đã nghe điều gì đó từ Chúa, sau khi những sự kiện đã được phô bày, và sau khi những người khác đã trình bày quan điểm của họ về vấn đề ấy. Ý nghĩa của chủ quan là vậy. Căn nguyên cội rễ của tính chủ quan là bản ngã chưa từng được phá vỡ. Khi bản ngã của một người chưa được phá vỡ, người ấy có quan điểm ương ngạnh về nhiều điều, và những ý kiến ấy thật khó mà phá vỡ và sửa đổi.

HAI

Tính chủ quan gây ra những nan đề nào? Đối với người [chủ quan], tính ấy mang đến những mất mát gì? Nếu một anh em hay chị em chủ quan, người ấy sẽ không thể lắng nghe những người khác. Chúng ta có thể học tập không chủ quan bằng cách lắng nghe người khác. Chúng ta phải được trống không ở bên trong rồi mới có thể tiếp nhận lời Chúa hay lời nói của những người khác. Nếu chủ quan thì chúng ta khó tiếp nhận bất cứ điều gì. Việc mỗi công tác viên Cơ-đốc trau dồi khả năng lắng nghe những gì người khác nói thật là thiết yếu; người ấy phải biết những công việc của người khác và hiểu những nan đề của người khác. Trong phần trước, chúng tôi đã nói rằng nan đề lớn đối với những công tác viên của Đức Chúa Trời là họ không thể lắng nghe người khác. Lý do chủ yếu khiến họ không thể lắng nghe những người khác là tính chủ quan. Khi một người chủ quan, người ấy đầy ắp mọi điều. Những ý kiến của người ấy trở nên đồn lũy không thể lay chuyển được, và những ý tưởng của người ấy không thể thay đổi được. Người ấy luôn luôn đầy dẫy những lý lẽ của mình và bận tâm về nhiều điều. Khi một anh em hay chị em đến và cố gắng chia sẻ với người ấy sự nản lòng hay trao cho người ấy một gánh nặng, người ấy đơn giản không thể hiểu điều họ nói, thậm chí sau khi nghe cả nửa ngày. Người ấy không thể lắng nghe những người khác. Đó là một nan đề đi kèm với tính chủ quan.

BA

Một hậu quả tại hại khác của tính chủ quan là thiếu khả năng học hỏi. Một người chủ quan rất tự tin và sáng tỏ về mọi sự. Người ấy đã quyết định mọi sự rồi. Cái gì người ấy cũng có ý kiến, và tự tin về mọi sự. Người ấy khó mà học được bất cứ điều gì. Khi vài thanh niên mới tham gia vào công tác, chỉ bảo họ còn khó hơn cho trẻ em uống thuốc. Có vẻ gần như phải ép họ nuốt nhiều điều. Họ đầy dẫy ý kiến, đề nghị và phương cách. Họ cho rằng mình biết mọi sự cần phải biết. Tuy họ không dám tuyên bố là thông biết mọi sự, nhưng họ hành động như thể mình thông biết mọi sự. Dạy họ điều gì đó còn khó hơn là cho họ uống thuốc đắng. Nếu một người cần được đút thức ăn vào mỗi bữa cơm, người ấy có thể tồn tại được bao lâu? Khi gặp một số anh em, chúng ta không thể không thở dài: “Anh em của tôi ơi, một người như anh có thể học được bao nhiêu điều từ Chúa?” Đối với một người chủ quan, nan đề lớn nhất là thiếu khả năng học hỏi. Chỉ duy điều này cũng có thể làm cho người ấy phải trả giá quá đắt. Mỗi khi anh em muốn người như vậy học tập một điều gì đó, dường như anh em phải chiến đấu với người ấy. Có thể anh em đánh gục được người ấy, và có thể người ấy học được một ít. Nhưng lần sau, nếu muốn người ấy học điều gì khác, anh em lại phải vật lộn với người ấy một lần nữa. Đó là một sự ngăn trở lớn. Đòi hỏi cơ bản đối với người làm công tác cho Chúa là phải có thể duy trì tính khách quan; người ấy phải rất khách quan đến nỗi có thể sẵn sàng tiếp nhận sự giúp đỡ từ những người khác. Anh chị em ơi, sự giúp đỡ cho chúng ta đến từ mọi nơi. Có rất nhiều điều chúng ta phải học tập. Giả sử chúng ta chỉ học tập mỗi tháng một bài, hay nửa năm một bài, hay mỗi năm một bài. Chúng ta có thể sống bao lâu? Suốt đời mình chúng ta có thể học được bao nhiêu điều? Năm tháng trôi qua, người chủ quan nhận thấy càng ngày mình càng khó học tập. Tính chủ quan của người ấy gia tăng theo thời gian. Thật ra, tính chủ quan là một nan đề lớn giữa vòng chúng ta.

Đúng là công tác viên của Đức Chúa Trời cần phải vững vàng; con đường của người ấy cần phải thẳng tắp và kiên định. Nhưng nếu những ý kiến, quan điểm và sự quyết đoán của người ấy cũng cố định và kiên quyết, người ấy sẽ có rất ít cơ hội để học bất cứ bài học nào, và sự hữu dụng của người ấy sẽ rất giới hạn. Về một mặt, chúng ta cần phải vững vàng và kiên định trước mặt Chúa. Về mặt khác, chúng ta không thể chủ quan. Con cái Đức Chúa Trời nên học tập không chủ quan; họ cần phải tập linh động, mềm mại để Đức Chúa Trời chuyển động. Nếu không thì họ không thể học tập được. Để biết một người có chủ quan hay không, chúng ta chỉ cần tìm hiểu xem người ấy học tập nhanh hay chậm, hay có thể học được chút nào không. Chúng ta có thể nhận ra một người có chủ quan hay không qua số lượng những điều thuộc linh người ấy học được [nhiều hay ít] và họ học được những bài học ấy thường xuyên như thế nào. Trở ngại cho việc học hỏi bất cứ điều gì là tính chủ quan. Tính chủ quan ảnh hưởng đến khả năng học tập của một người, và thậm chí có thể ngăn trở người ấy học tập bất cứ điều gì.

Đòi hỏi cơ bản để tiến bộ về mặt thuộc linh là mở ra cho Đức Chúa Trời. Lòng, tâm trí và linh của chúng ta phải mở rộng cho Ngài. Mở ra cho Ngài có nghĩa là chúng ta không chủ quan. Ý nghĩa chủ yếu của việc mở ra là không chủ quan. Tất nhiên, có những điều kiện sâu xa hơn tính không chủ quan để linh chúng ta có thể mở ra cho Đức Chúa Trời. Nhưng tính không chủ quan là điều kiện đầu tiên. Hễ chúng ta chủ quan thì cánh cổng của mình bị đóng kín. Không chủ quan có nghĩa là chúng ta bén nhạy đối với Đức Chúa Trời, chúng ta có thể học tập, và có thể nhận được những ấn tượng. Nhiều người khó nhận được ấn tượng nào từ Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời phải dùng đến roi vọt hay thậm chí dùng đến búa để đánh những người như vậy rồi họ mới nhận được ấn tượng nào từ Ngài. Chúng ta cần phải học tập để hiểu ý chỉ của Đức Chúa Trời ngay khi mắt Ngài chuyển động. Nhiều người giống như con lừa con la, không hiểu gì cả trừ phi họ được dẫn đi bằng hàm khớp và dây cương. Ý nghĩa của tính chủ quan là vậy. Một người chủ quan không thể nhận được tín hiệu nào từ Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời có thể vật lộn với người ấy và để người ấy đi đến một ngõ hẻm tăm tối hay [va vào] một cánh cửa đóng chặt, nhưng người ấy vẫn tranh luận với Ngài. Người ấy không thể tĩnh tâm lại để học những gì mình cần phải học. Trước mặt Đức Chúa Trời, nhiều người chưa nhu mì và mềm mại đúng mức. Họ quá cứng rắn và bướng bỉnh. Họ trở nên một hòn đá vấp chân cho công tác, vì suốt đời họ không học được hoặc nhận được nhiều sự cung ứng từ Chúa. Họ trở nên nan đề và gây thiệt hại cho công tác.

BỐN

Một nan đề lớn khác đối với một người chủ quan là người ấy không thể nhận được bất cứ sự hướng dẫn nào từ Đức Chúa Trời. Người ấy không cách nào biết được sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời, và hoàn toàn không biết sự dẫn dắt của Ngài. Mọi người chủ quan đều xa cách ý chỉ của Đức Chúa Trời cũng như Bắc Cực cách xa Nam Cực. Người ấy không thể nào biết ý chỉ của Đức Chúa Trời, vì không xứng hợp với những điều kiện của những người bước theo Ngài. Cần có một người mềm mại và siêng năng với đôi tai biết lắng nghe để tiếp nhận sự hướng dẫn từ Đức Chúa Trời. Khi lời Đức Chúa Trời đến với một người như vậy, lập tức người ấy theo đó hành động mà không có quan điểm chủ quan nào của mình cả. Lòng của Ba-la-am lầm lạc vì hướng về sự giàu có. Ông trở nên chủ quan trong sự quyết đoán của mình, và nhất định giữ sự quyết đoán ấy. Đó là lý do tại sao Ba-la-am cầu nguyện với Chúa nhiều lần cho đến khi Đức Chúa Trời truyền ông hãy đi. Khi tâm trí của một người đã cố định, cứng nhắc thì người ấy khó hiểu được ý chỉ của Đức Chúa Trời. Chúng ta phải học tập bước đi trong ý chỉ của Đức Chúa Trời. Chúng ta phải nhận thức rằng ý chỉ của Đức Chúa Trời thường đòi hỏi chúng ta hoặc phải lập tức dừng lại, hoặc phải tiến lên ngay. Chúng ta thường vạch kế hoạch trước cho trọn cuộc hành trình, chỉ để khám phá ra rằng Chúa muốn chúng ta lập tức dừng lại. Chúng ta nên làm gì? Nếu Linh của Chúa bảo dừng lại, chúng ta có sẵn lòng dừng lại không? Một người chủ quan sẽ không dừng lại. Một người đã học tập lắng nghe Đức Chúa Trời sẽ hoàn toàn không chủ quan: Người ấy sẽ tiến lên khi Đức Chúa Trời truyền phải tiến lên, và dừng lại khi Đức Chúa Trời bảo dừng lại. Đừng nghĩ đây là một điều đơn giản. Một người chủ quan không thể sẵn sàng tiến lên khi Đức Chúa Trời bảo tiến lên. Tuy nhiên, một khi người ấy đã có đà thì Đức Chúa Trời khó mà ngăn chặn lại được. Nan đề của chúng ta nằm tại đây. Phải cố gắng lắm mới đẩy những người chủ quan tiến lên được, và một khi họ đã bắt đầu chuyển động thì không ai có thể làm cho họ dừng lại. Đó không phải là đường lối của người đã được dạy dỗ, tức người mềm mại trong bàn tay của Đức Chúa Trời. Khi Đức Chúa Trời bảo họ chuyển động, họ chuyển động. Khi Đức Chúa Trời bảo họ dừng lại, họ dừng lại. Đó là những người duy nhất nhận được sự hướng dẫn từ Đức Chúa Trời. Nhiều người không chịu chuyển động cho đến khi nhận được sự sửa trị nghiêm khắc, và một khi đã chuyển động thì họ không bao giờ chịu ngừng lại. Họ tiếp tục đi theo chiều hướng ấy. Đức Chúa Trời phải ngăn chặn họ một cách quyết liệt bằng bàn tay mạnh mẽ của Ngài rồi họ mới dừng lại. Tính chủ quan ngăn cản họ nhận biết ý chỉ của Đức Chúa Trời, nói gì đến việc thi hành ý chỉ của Ngài.

Trong việc Áp-ra-ham dâng Y-sác, chúng ta có một hình ảnh đẹp đẽ về một người không chủ quan. Nếu Áp-ra-ham là một người chủ quan khi Đức Chúa Trời yêu cầu ông dâng Y-sác, thì ông khó mà vâng phục. Lẽ ra ông đã nói lên nhiều điều, và lý luận như sau: “Trước kia, tôi không có đứa con trai nào. Thậm chí ngay việc có thể có con tôi cũng không bao giờ tưởng đến. Tôi nghĩ rằng có Ê-li-ê-se cũng đủ rồi. Ấy là Đức Chúa Trời muốn tôi có một đứa con trai. Tôi không có ý tưởng có đứa con trai nào và Sa-ra cũng không. Tất cả đều là ý kiến của Đức Chúa Trời. Bây giờ Ngài đã ban cho tôi một đứa con trai thì tại sao Ngài lại muốn tôi dâng nó lên làm một của lễ thiêu?” Anh chị em ơi, một người chủ quan ắt đã có mọi lý do để khước từ đòi hỏi này! Nhưng Áp-ra-ham rất đơn giản. Thậm chí một đòi hỏi như vậy cũng không thành vấn đề đối với ông. Ông tin rằng Đức Chúa Trời có thể làm con mình sống lại từ người chết. Trong khi ông đứng cạnh bàn thờ và giơ dao lên để giết con mình, Đức Chúa Trời chuẩn bị một con chiên đực để ông có thể dâng lên thay thế cho con mình (Sáng. 22:10, 13). Nếu Áp-ra-ham chủ quan thì một đòi hỏi như vậy đã trở nên nan đề cho ông. Ắt hẳn ông đã bối rối và tự nhủ làm thế nào mình có thể được bảo lúc thì làm điều này lúc thì làm điều trái ngược. Nhưng Áp-ra-ham không nghĩ như vậy. Ông không chủ quan. Đối với một số người, khó mà khiến họ lên bàn thờ, và một khi họ đã ở trên bàn thờ rồi thì khó mà khiến họ bước xuống. Họ bỏ ra nhiều năm để bước lên bàn thờ, và một khi đã ở trên đó thì họ nhất định ở đó cho đến chết. Một người chủ quan hành động theo ý muốn riêng của mình, thậm chí khi họ cố gắng vâng phục Đức Chúa Trời. Ngay cả Đức Chúa Trời cũng không thể ngăn chặn người ấy. Một người chủ quan bị bắt buộc phải vâng phục, và nhiều khi sự vâng phục của người ấy là kết quả của nỗ lực riêng. Người ấy không thể quay lại dầu những người khác có cố gắng [thuyết phục] thế nào đi nữa. Ý chỉ và mạng lịnh của Đức Chúa Trời có thể hướng dẫn người ấy lấy lại những gì mình đã dâng lên, nhưng người ấy không thể làm được.

Điều thú vị đáng chú ý là khi chúng ta đồng nhất ý muốn của mình với ý chỉ của Đức Chúa Trời, thì thường đến một thời điểm nào đó ý chỉ của Đức Chúa Trời thay đổi. Nếu ý muốn của chúng ta không thể thay đổi cho phù hợp thì chúng ta sẽ khó đơn sơ hành động theo lời Ngài. Nan đề lớn nhất của chúng ta nằm tại đây. Anh em có biết làm thế nào người ta thuần hóa một con ngựa không? Một con ngựa hoang không chịu để cho ai cưỡi. Khó mà chế ngự một con ngựa. Để chế ngự nó, người cưỡi ngựa đã được huấn luyện nhảy trên lưng nó và để cho nó đá và vùng vẫy cho đến khi hoàn toàn kiệt sức. Người cưỡi ngựa phải dùng sự khéo léo của mình để tiếp tục cỡi trên lưng ngựa. Người ấy phải để con ngựa chạy hàng mấy dặm hay hàng trăm dặm. Khi con ngựa ấy nhận thức rằng nó không thể hất rơi người chủ, nó sẽ tuân theo mạng lệnh của người chủ. Những người huấn luyện ngựa như vậy có thể biến một con ngựa hoang thành một con ngựa biểu diễn đẹp mắt. Nó có thể đi quanh một vòng tròn nhỏ với một sợi dây buộc vào cái cọc ở trung tâm. Nó có thể tự giữ thăng bằng đến nỗi không đi quá xa làm đứt sợi dây và cũng không đi quá gần làm chùng sợi dây. Nó có thể chạy quanh hàng trăm lần, luôn luôn giữ một bán kính nhất định. Huấn luyện viên tập luyện con ngựa cho đến khi nó có thể được điều khiển như vậy. Khi người huấn luyện hoàn tất chương trình tập luyện của mình, con ngựa ấy có thể được hướng dẫn đi đến bất cứ nơi nào. Nó có thể đi qua một lối vào nhỏ hẹp hay một cánh cổng lớn; nó sẽ luôn luôn vâng phục. Anh chị em ơi, chúng ta cũng như những con ngựa hoang, và việc Chúa huấn luyện chúng ta là điều quan trọng. Ngài cần làm nhiều điều rồi chúng ta mới được thuần hóa. Sau khi một con ngựa được huấn luyện, nó sẽ không còn chủ quan nữa. Nó được huấn luyện thuần thạo đến nỗi hễ người cưỡi giật nhẹ dây cương thì nó biết người chủ muốn mình chạy hay đi. Nó sẽ bước đi theo sự điều khiển của chủ mình, không chỉ một lần hay mười lần quanh bãi quây ngựa, mà hàng trăm lần.

Thi-thiên 32:8-9 chép: “Ta sẽ dạy dỗ ngươi, chỉ cho ngươi con đường phải đi; / Mắt Ta sẽ chăm chú ngươi mà khuyên dạy ngươi. / Chớ như con ngựa và con la, là vật vô tri; / Phải dùng hàm khớp và dây cương mới cầm chúng nó được, / Bằng chẳng, chúng nó không đến gần ngươi”. Lời này đầy ý nghĩa. Chúng ta cần phải khác với con ngựa hay con la. Một con la ngu ngốc có thể được huấn luyện rất thuần đến nỗi nó có thể đi bất cứ nơi nào chủ nó điều khiển. Việc dạy dỗ con cái Đức Chúa Trời trong vấn đề [vâng phục] sự hướng dẫn thần thượng cần phải dễ dàng hơn so với việc thuần hóa một con ngựa. Thậm chí sau khi được huấn luyện, một con ngựa vẫn bị Đức Chúa Trời xem là một con vật “vô tri”. Đó là vì nó chỉ biết ý muốn của chủ khi bị đá, đẩy và giựt cương. Đối với chúng ta thì cần phải ngưỡng trông sự khuyên dạy của ánh mắt Chúa. Đó là điều con ngựa và con la không thể làm được. Đa-vít nói trong Thi-thiên ấy rằng: “Mắt Ta sẽ chăm chú ngươi mà khuyên dạy ngươi” (c. 8). Hễ mắt Chúa chuyển động, chúng ta cần phải biết Ngài đang muốn nói gì. Chúng ta cần phải biết thậm chí trước khi bàn tay Ngài chuyển động; chúng ta cần phải biết khi mắt Ngài chỉ hơi chuyển động. Chúng ta hãy lưu ý đến đôi mắt được nói đến trong câu này. Một người chủ quan không có chỗ tại đây. Anh chị em ơi, đừng nghĩ rằng con người và cá tính của chúng ta là những điều nhỏ nhoi. Xin ghi nhớ rằng nếu chủ quan thì chúng ta không thể nào khách quan đối với Đức Chúa Trời. Nếu không được huấn luyện thì chúng ta sẽ chủ quan suốt đời. Chúng ta không thể mong đợi bất chợt nhận biết những gì Đức Chúa Trời muốn mình làm. Có thể chúng ta thỏa mãn khi làm một con ngựa được thuần hóa, nhưng Đức Chúa Trời nói rằng thậm chí sau khi được thuần hóa, một con ngựa và con la vẫn vô tri. Điều này có nghĩa là được thuần hóa cũng chưa đủ. Chúng ta phải chuyển động nhanh như đôi mắt của Đức Chúa Trời chuyển động. Hễ biết được ước muốn của Chủ mình, chúng ta cần phải theo đó hành động. Mỗi khi Ngài ra hiệu, chúng ta phải dừng lại. Nếu chúng ta đầy ắp những ý kiến, quan điểm và ý niệm chủ quan của mình thì sẽ không thể chờ đợi Linh của Chúa, và không thể chuyển động khi Ngài chuyển động, dừng lại khi Ngài dừng lại. Chúa thường muốn chúng ta dừng lại, nhưng chúng ta không dừng. Chúng ta không thể dừng lại vì chính bản ngã của mình đã tham dự vào nỗ lực ấy. Những người tìm kiếm ý chỉ của Đức Chúa Trời phải giữ bản ngã của mình không cho tham dự vào. Những người thực hiện ý chỉ của Đức Chúa Trời cũng phải giữ bản ngã của mình không cho tham dự vào. Chúng ta cần phải chuyển động khi Chúa muốn mình chuyển động, và dừng lại khi Ngài muốn mình dừng lại. Bản ngã của chúng ta cần phải được giữ không cho tham dự vào. Hễ chúng ta trở nên chủ quan thì bản ngã đã tham dự vào, và chúng ta không thể dừng lại khi khi Chúa muốn chúng ta dừng. Đối với nhiều người nan đề này gồm hai mặt: Ban đầu họ không thể chuyển động, và một khi đã khởi sự thì họ không thể dừng lại. Đó là những nan đề nghiêm trọng. Cái rắc rối lớn nhất của chúng ta là tính chủ quan của mình. Đó là điều làm cho ý chỉ của Đức Chúa Trời không được biểu lộ qua chúng ta.

Việc hiểu biết ý chỉ của Đức Chúa Trời không liên quan gì đến các phương pháp; đó là vấn đề cá tính của một người. Một người không thể biết ý chỉ của Đức Chúa Trời chỉ vì người khác đã bày tỏ cho người ấy phương cách nhận biết ý chỉ của Ngài. Điều đó không thể xảy ra. Chỉ một con người đúng đắn được trang bị phương pháp đúng đắn mới có thể nhận biết ý chỉ của Đức Chúa Trời. Nếu con người sai trật thì người ấy sẽ không biết ý chỉ của Đức Chúa Trời cho dầu người ấy có những phương pháp đúng đắn. Hiểu biết ý chỉ của Đức Chúa Trời liên quan đến con người. Chỉ riêng phương pháp không thể giúp chúng ta hiểu biết ý chỉ Ngài. Nói như vậy không có nghĩa là hiểu biết ý chỉ của Ngài không liên quan đến việc sử dụng phương cách. Điều ấy có nghĩa là yếu tố trọng yếu trong việc hiểu biết ý chỉ của Đức Chúa Trời là con người của chúng ta. Nếu con người chúng ta sai trật thì không gì sẽ hiệu nghiệm cho dầu chúng ta có những phương cách đúng. Chúng ta không được chủ quan. Trước khi có thể bắt lấy mỗi chuyển động của Đức Chúa Trời, chúng ta phải được Chúa chạm đến và tính chủ quan của mình phải được xử lý đến mức độ chúng ta mất đi mọi ý kiến riêng của mình. Nếu chúng ta không thể linh động, uyển chuyển để chuyển động và dừng lại phù hợp với ý chỉ Đức Chúa Trời, chúng ta không thể hiểu biết ý chỉ Ngài và không thể làm đầy tớ Ngài. Đầy tớ của Đức Chúa Trời phải mau chóng xoay chuyển theo ý chỉ của Đức Chúa Trời. Chúng ta cần phải bỏ qua những mạng lệnh ồn ào hay những tiếng nói ầm ĩ ở bên ngoài; đó không phải là điều chúng ta quan tâm. Uyển chuyển và cởi mở đối với những sự thay đổi, dừng lại và hướng dẫn của Đức Chúa Trời là những điều kiện cơ bản để làm một công tác viên Cơ-đốc. Đó là cách duy nhất Đức Chúa Trời có thể dẫn dắt chúng ta trên đường lối của Ngài.

NĂM

Về tính chủ quan, một điểm nữa cần phải được chú ý là tính chủ quan của chúng ta phải được Đức Chúa Trời xử lý rồi chúng ta mới xứng đáng xử lý những người khác. Chúng ta được xử lý trước rồi Đức Chúa Trời mới dẫn dắt chúng ta xử lý những người khác. Ngài sẽ không giao thác bất cứ điều gì cho một người chủ quan. Đức Chúa Trời không thể tin cậy một người như vậy. Một người chủ quan không thể thực hiện ý chỉ của Đức Chúa Trời, và người ấy không cách nào hướng dẫn những người khác thực hiện ý chỉ của Ngài. Nếu một người chủ quan được đặt vào công việc Đức Chúa Trời để hướng dẫn những người khác theo đường lối của Đức Chúa Trời, thì ý muốn riêng của người ấy sẽ lộ ra mạnh mẽ gấp mười lần ý chỉ của Đức Chúa Trời. Một người chủ quan muốn mọi người phải lắng nghe mình. Trừ phi một người được đem đến chỗ mất đi mọi ham muốn có được một nhóm người theo mình, người ấy không thể được Chúa dùng. Chúng ta cần phải để chính mình được phá vỡ và đập tan đến độ không còn khao khát người ta nghe mình nữa. Chúng ta không nên can thiệp vào sự tự do, đời tư hay những phán đoán riêng của người khác. Chúng ta không tò mò muốn biết cuộc sống hay công việc của người khác. Là đầy tớ của Chúa, chúng ta phải được Ngài xử lý đến mức độ như vậy. Chỉ khi ấy chúng ta mới có thể được Ngài dùng để phát ngôn với tư cách là uy quyền đại diện của Ngài. Nếu không, sẽ có một sự đe dọa thật sự là chúng ta có thể tiếm đoạt uy quyền của Đức Chúa Trời để thi hành ý muốn riêng của mình, qua đó chúng ta trở thành người cai trị, thầy hay cha của con cái Đức Chúa Trời. Chúa nói: “Các ngươi biết rằng các vua chúa dân Ngoại-bang đều chủ trị họ... Song trong các ngươi thì không phải như vậy đâu” (Mat. 20:25-26). Nếu một người chưa từng được Chúa phá vỡ, nếu người ấy âm thầm nuôi dưỡng những ý kiến, đòi hỏi và sở thích riêng của mình, Đức Chúa Trời không thể dùng người ấy vì người ấy không đáng tin cậy. Nếu Đức Chúa Trời giao phó bầy chiên của Ngài cho một người như vậy, người ấy sẽ dẫn bầy chiên ấy vào nhà riêng của mình. Nhiều người không xứng đáng được Đức Chúa Trời tin cậy; Đức Chúa Trời không thể giao phó bất cứ người nào vào tay họ. Nếu một người chỉ quan tâm đến đường lối riêng của mình, người ấy không thể dẫn dắt những người khác trên con đường của Đức Chúa Trời. Anh Phao-lô của chúng ta rất mềm mại. Ông ở độc thân, và biết ở độc thân tốt hơn lập gia đình. Tuy vậy, không bao giờ ông chỉ trích chuyện hôn nhân. Anh chị em ơi, thật người anh của chúng ta đã được rèn luyện trước mặt Chúa [để không chủ quan]. Nếu một người chủ quan và tính chủ quan của người ấy chưa từng được phá vỡ, người ấy chắc chắn sẽ nhất định đòi hỏi mọi người phải ở đồng trinh và duy trì tình trạng độc thân. Chắc chắn người ấy sẽ lên án mọi cuộc hôn nhân. Một người chủ quan có thể dễ dàng làm như vậy. Nhưng ở đây là một người khác hẳn. Người ấy có thể ủng hộ điều mình đã làm, và biết giá trị điều mình đang làm. Đồng thời, người ấy cho những người khác quyền tự do lựa chọn. Ông ao ước những người khác được cứu khỏi mọi sự đau khổ về xác thịt, nhưng ông thừa nhận rằng những người khác cần phải kết hôn. Ở đây là một người cương quyết trong Chúa, nhưng đồng thời cũng mềm mại và nhẹ nhàng. Trong khi bàn về vấn đề hôn nhân, ông vẫn có thể tuyên bố rằng giáo lý cấm cưới gả là một sự dạy dỗ của các quỉ, mặc dầu ông là một người độc thân.

Anh chị em ơi, chúng ta phải học tập để có được một lập trường như vậy. Chúng ta không bao giờ có thể nhấn mạnh thái quá về một lẽ thật chỉ vì mình cảm thấy như vậy, và cũng không ngậm miệng lại đối với một lẽ thật chỉ vì chúng ta cảm nhận khác. Một khi chúng ta từ bỏ việc cố gắng ảnh hưởng lẽ thật của Đức Chúa Trời theo những cảm xúc của mình, chúng ta hội đủ điều kiện để công tác và hướng dẫn những người khác phù hợp với sự hướng dẫn của Chúa. Để ở trong công tác, điều kiện cơ bản đối với chúng ta là phải được phá vỡ và tính chủ quan của chúng ta phải được xử lý. Nếu tính chủ quan vẫn cai trị mình, chúng ta sẽ đưa công việc Đức Chúa Trời vào con đường lầm lạc ngay khi công việc ấy được đặt vào tay chúng ta. Điều này thật kinh khủng. Một người hành động cách thiếu suy nghĩ và nói năng cách khinh suất là một điều kinh khủng. Chúng ta cần phải học tập đừng can thiệp vào công việc của những người khác. Chúng ta đừng bao giờ ra lệnh điều khiển cuộc sống hay công việc của người khác bằng tính chủ quan của mình. Đức Chúa Trời không can thiệp vào ý chí tự do của con người. Cây kiến thức về thiện và ác được đặt trong vườn Ê-đen. Đức Chúa Trời bảo con người đừng ăn cây ấy, nhưng Ngài không ngăn cản con người đến cây ấy bằng thanh gươm rực lửa. Nếu thanh gươm rực lửa trong chương ba được dùng trong chương hai để bảo vệ cây kiến thức về thiện và ác, con người đã không bao giờ phạm tội. Làm như vậy đối với Đức Chúa Trời thật dễ. Nhưng Ngài không làm như vậy. Thay vào đó, Ngài phán: “Nhưng về cây kiến thức về thiện và ác, thì chớ ăn đến; vì một mai ngươi ăn, chắc sẽ chết” (Sáng. 2:17). Nếu con người cố đòi ăn cây ấy, thì đó là việc riêng của con người.

Chúng ta phải học tập đừng thống trị người khác bằng những suy nghĩ của mình. Khi những người khác không muốn nghe lời chúng ta nói, chúng ta nên quay đi; không nên bắt buộc họ lắng nghe lời ấy. Nếu có gánh nặng trước mặt Chúa, chúng ta nên nói với các anh chị em về điều đó. Nếu họ tiếp nhận lời chia sẻ của chúng ta thì tốt. Nhưng nếu họ không tiếp nhận lời ấy, chúng ta cần phải vui vẻ quay đi. Chúng ta đừng bao giờ áp đặt ý tưởng của mình trên những người khác. Đức Chúa Trời chưa bao giờ làm như vậy, và chúng ta không nên làm như vậy. Nếu một người quyết định nổi loạn chống lại Đức Chúa Trời, Ngài sẽ để người ấy đi con đường của mình. Nếu những người khác không muốn nhận lấy đường lối của chúng ta, tại sao chúng ta phải cố nài ép? Chúng ta phải tập khước từ tính khăng khăng của mình. Chúng ta phải cho phép người khác khước từ lời khuyên của chúng ta. Nếu đã học tập những bài học thích hợp trước mặt Chúa, chúng ta sẽ vui vẻ để người khác đi con đường riêng của họ. Chúng ta không nên bắt buộc người khác lắng nghe mình hay đi đường lối của chúng ta. Chúng ta không nên ép buộc người khác nhận lấy sự giúp đỡ của mình. Có thể chúng ta sáng tỏ về chức năng của mình, nhưng không nên ép buộc người khác chấp nhận chức năng ấy. Đức Chúa Trời không bao giờ ép buộc ai cả, và chúng ta cũng không nên ép buộc bất cứ ai. Không ai trong chúng ta có thể chủ quan trong công tác của Đức Chúa Trời. Đừng có ai trong chúng ta cố gắng làm cho người khác lắng nghe mình. Chúng ta hãy tập cảnh giác và thận trọng trước mặt Ngài. Những người khác càng lắng nghe chúng ta thì trách nhiệm của chúng ta trước mặt Chúa càng lớn. Nếu nói một lời sai trật với người khác, chúng ta phải chịu trách nhiệm nặng nề biết bao! Đừng vui mừng vì người khác tiếp nhận lời nói của chúng ta. Chúng ta phải ghi nhớ trách nhiệm to lớn đang đè nặng trên vai mình. Những người khác lắng nghe chúng ta là một điều quá lớn lao. Nếu người khác lắng nghe chúng ta khi con đường chúng ta cong quẹo và chúng ta không sáng tỏ về ý chỉ của Đức Chúa Trời, thì chúng ta thật sự là người mù dẫn dắt người mù. Không những người mù theo sau chúng ta ngã xuống hố, mà cả hai, tức chính chúng ta và những người theo sau chúng ta, đều ngã xuống hố (Lu. 6:39). Đừng bao giờ nghĩ rằng chỉ những người đi theo ngã xuống, còn những người lãnh đạo có thể tránh khỏi bị ngã. Khi người mù dẫn người mù, cả hai đều sẽ ngã xuống hố. Chúng ta đừng nghĩ rằng phát biểu, giảng dạy và khuyên bảo những người khác là điều dễ dàng. Chúng ta không nên nghĩ rằng khuyên “anh em nên làm điều này” hay “anh em cần phải làm điều kia” là một điều đơn giản. Nếu chúng ta làm thầy cho nhiều người, chỉ dẫn họ làm điều này điều kia, thì có nguy cơ là cả chúng ta lẫn họ cuối cùng rồi cũng nằm dưới hố. Vậy nên, chúng ta phải học tập kính sợ Đức Chúa Trời. Chúng ta cần phải nhận thức rằng những người khác càng lắng nghe chúng ta thì chúng ta càng cần phải lắng nghe lời Đức Chúa Trời trong sự sợ sệt và run rẩy. Thậm chí khi chúng ta tin chắc một trăm hai mươi phần trăm về điều gì đó, chúng ta nên nói điều đó với lòng tin bảy mươi đến tám mươi phần trăm thôi. Chúng ta nên e ngại rằng mình sai lầm. Một người càng dễ dàng nói những lời có “trọng lượng”, người ấy càng có ít “trọng lượng” trước mặt Đức Chúa Trời. Một người càng tự tin thì người ấy càng ít được tin cậy. Chúng ta đừng bao giờ nghĩ rằng hễ những người khác lắng nghe chúng ta thì mọi sự đều ổn thỏa. Khi những người khác lắng nghe chúng ta, mọi sự sẽ không ổn thỏa. Chúng ta sẽ làm gì cho những người vâng phục ấy? Chúng ta sẽ dẫn dắt họ về đâu? Chúng ta phải nhận thức được tính nghiêm trọng của trách nhiệm mình. Đó là lý do tại sao chúng ta phải tập đừng chủ quan. Một nan đề đối với tính chủ quan là ham muốn được người khác nghe mình. Một người chủ quan thích những người khác lắng nghe mình. Họ muốn ý tưởng của mình là nguồn hướng dẫn cho người khác và ý kiến của mình là nguồn ánh sáng cho người khác. Nhưng chúng ta phải nhận thức rằng ý kiến của mình không phải là nguồn ánh sáng và ý tưởng của mình không phải là nguồn hướng dẫn. Chúng ta phải tập đừng cầm tay dẫn dắt người khác, tập đừng ép buộc người khác đi trên con đường của mình, và tập đừng ép buộc người khác vâng phục Đức Chúa Trời. Nếu các anh chị em vui vẻ đồng đi với chúng ta, chúng ta nên cảm tạ Chúa. Nếu họ muốn chọn con đường riêng của mình, hãy để họ tự do chọn lựa. Chúng ta không nên cố gắng lôi kéo người khác theo mình. Chúng ta nên để cho người khác đến và đi tùy ý họ. Đặc tính của một người biết Đức Chúa Trời là ngần ngại không muốn ép buộc người khác nghe mình.

Một người chủ quan không bao giờ có thể làm như vậy. Người ấy không thể lắng nghe điều người khác muốn nói, và không thể tiếp nhận sự hướng dẫn từ nơi Chúa. Người ấy không cảm thấy mình cần phải học hỏi bất cứ điều gì từ bất cứ người nào; vì vậy, Đức Chúa Trời không thể tin cậy người ấy trong bất cứ công việc gì. Nếu đã quyết định mọi sự trước khi đến với Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ không tìm thấy được quyết định của Đức Chúa Trời. Chỉ một người mềm mại mới có thể tìm thấy quyết định của Đức Chúa Trời. Chúng ta phải buông bỏ nhiều điều rồi mới có thể cảm nhận được ý chỉ của Đức Chúa Trời. Nếu một người chưa bao giờ học tập khước từ tính chủ quan của mình, và nếu người ấy đầy dẫy các ý kiến, đường lối, ý tưởng và lý do riêng của mình, thì hội-thánh sẽ bị chia rẽ ngay khi công việc của Đức Chúa Trời được đặt vào tay người ấy. Sự chia rẽ trong hội-thánh là do tính chủ quan của con người. Nhiều người chỉ có thể làm công tác một cách riêng rẽ; họ không thể tham gia vào công tác của hội-thánh. Họ chỉ có thể phục vụ cách cá thể, chứ không có sự phục vụ mang tính cách Thân Thể. Nhiều người chưa bao giờ chạm đến vấn đề uy quyền. Kết quả là họ không bao giờ có thể làm một uy quyền. Ngay từ ngày bắt đầu công tác, nhiều người chưa từng thuận phục ai cả. Chắc chắn Đức Chúa Trời không thể lập họ làm uy quyền trên những người khác. Anh chị em ơi, chúng ta cần phải đặc biệt chú ý đến vấn đề này. Khi một thanh niên tham gia công tác, trước hết chúng ta phải thử nghiệm người ấy. Một người chủ quan luôn luôn tự xem mình là đầu, và luôn luôn muốn nắm quyền lãnh đạo người khác. Người ấy luôn luôn áp đặt ý tưởng của mình trên người khác. Một người đã được Chúa xử lý luôn luôn trung tín và sẵn sàng phát biểu, nhưng người ấy sẽ không bao giờ cố gắng áp đặt ý muốn của mình trên người khác. Người ấy sẽ không bao giờ chinh phục người khác theo ý muốn của mình. Một mặt, người ấy trở nên vững vàng nhờ Đức Chúa Trời. Mặt khác, người ấy không chủ quan và đơn phương áp đặt bất cứ điều gì trên người khác. Ai cũng có quyền tự do vâng phục Đức Chúa Trời hay không vâng phục Ngài. Chúng ta không thể bắt buộc ai làm bất cứ điều gì cả. Mỗi người chịu trách nhiệm trước mặt Đức Chúa Trời. Chúng ta nên luôn luôn để người khác có cơ hội tự lựa chọn. Nguyện tất cả chúng ta đều mềm mại, luôn luôn cho người khác quyền tự do lựa chọn và luôn luôn hỏi những người khác xem họ muốn làm gì. Phần việc của chúng ta là chỉ trình bày trước mặt họ những con đường. Họ chọn thế nào thì tùy ý họ. Trong mọi sự, chúng ta cần phải cho người khác quyền tự do lựa chọn. Chúng ta cần phải cố gắng hết sức đừng lựa chọn thay cho họ.

SÁU

Tính chủ quan có thể được bày tỏ qua những điều nhỏ nhất trong cuộc sống của mình. Đó là một bản chất, một thói quen. Nếu tính chủ quan của một người được Chúa xử lý, người ấy sẽ bày tỏ sự khác biệt rõ ràng qua vô số hành động nhỏ nhặt trong cuộc sống hằng ngày. Một người chủ quan thì chủ quan trong mọi sự. Người ấy thích điều khiển người khác. Người ấy thích đưa ra ý kiến của mình, ra lệnh và bảo người này làm điều này và người kia làm điều kia. Một người chủ quan có giải pháp cho mọi vấn đề. Khi một công tác viên Cơ-đốc trẻ tuổi được đặt chung với một vài anh em khác, lập tức anh em sẽ nhận biết thanh niên ấy có phải là một người chủ quan không. Nếu người ấy ở một mình, anh em không thể nhận ra gì cả. Nhưng hễ có hai người thì anh em sẽ thấy rằng người chủ quan luôn luôn cố gắng đứng trên người khác. Người ấy sẽ muốn có tiếng nói trong việc phải ăn gì và không nên ăn gì, phải mặc thế nào và không nên mặc thế nào, phải ngủ ở đâu và không nên ngủ ở đâu. Người ấy sẽ luôn luôn nhất định đòi hỏi điều này điều kia. Người ấy thông biết mọi sự và có quyền năng tuyệt đối. Khi hai chị em ở chung một phòng, lập tức chúng ta có thể nhận ra người nào trong họ chủ quan. Nếu cả hai đều chủ quan thì họ sẽ hoàn toàn không hòa thuận với nhau. Nếu một người chủ quan, có lẽ họ có thể hòa thuận với nhau. Nếu cả hai đều chủ quan thì không người nào có thể hòa thuận với người nào. Nói như vậy không có nghĩa là từ nay chúng ta cần phải ngậm miệng mình lại. Nếu những khó khăn phát sinh trong công tác hay những nan đề dấy lên giữa vòng các công tác viên, chúng ta phải trung tín. Điều tôi muốn nói là sau khi chúng ta phát biểu và những người khác quyết định không để ý đến lời nói của chúng ta, chúng ta không nên áp đặt bất cứ điều gì trên họ. Chúng ta không nên cảm thấy bị tổn thương khi người khác không tiếp nhận lời mình nói. Nhiều người quá quý trọng ý tưởng riêng của mình. Khi người khác không tiếp nhận lời mình nói, họ thấy bị tổn thương. Đó là phản ứng của một người chủ quan. Để trung tín, chúng ta phải nói nhiều điều. Nhưng chúng ta không nói những điều đó vì thích thú can thiệp vào công việc của người khác. Chúng ta không nói những điều đó vì tính khí hay thói quen của mình buộc chúng ta phải nói. Chúng ta không phải nói mỗi khi có cơ hội. Chúng ta có thể nói khi có nhu cầu, nhưng đừng tạo nên một qui luật là chúng ta phải luôn luôn phát biểu, và cũng đừng nên tập thói quen hay phát biểu. Phát biểu mỗi khi có cơ hội là điều sai trật. Nói với miệng lưỡi chưa được kỷ luật cũng là điều sai trật. Đức Chúa Trời không chỉ định chúng ta làm thầy thiên hạ. Một số người thường xuyên phát biểu và dạy dỗ người khác. Điều này rõ ràng cho thấy rằng họ rất chủ quan. Nếu tính chủ quan của một người chưa được phá vỡ thì người ấy khó công tác cho Chúa.

Một người chủ quan không nhất thiết là một người trung tín. Một người trung tín phát biểu vì phải phát biểu. Người ấy không phát biểu vì thích phát biểu hay vì ham muốn phát biểu. Một người trung tín phát biểu vì không muốn những người khác rơi vào tình trạng sai lầm. Người ấy không phát biểu vì cớ thèm muốn phát biểu. Nếu một người trung tín nhận thấy lời nói của mình bị khước từ, người ấy không cảm thấy chán nản, mà có thể quay đi. Nhưng một người chủ quan thì khác. Người ấy thèm được nói, và nếu không nói thì cảm thấy buồn bã. Người ấy có thói quen mở miệng mỗi khi nhìn thấy điều gì đó. Anh em có thấy sự khác biệt không? Người chủ quan phát biểu vì thích phát biểu; người ấy thích áp đặt ý muốn của mình trên người khác. Họ thích thống trị những người khác bằng ý tưởng của mình và thích người khác lắng nghe mình nói. Một người chủ quan nhận thấy khó chấp nhận [những người khác] khước từ ý muốn của mình. Anh chị em ơi, một người chủ quan hoàn toàn khác với một người trung tín. Chúng ta cần phải trung tín. Nhiều lúc nếu chúng ta không mở miệng thì đó là điều sai trật. Nhưng chúng ta phải phân biệt giữa sự trung tín và tính chủ quan. Một người chủ quan thích can thiệp vào công việc của người khác. Người ấy thích người khác lắng nghe lời mình nói. Người ấy thích điều khiển người khác trong mọi sự. Người ấy ra lệnh cho người này và hướng dẫn người kia. Người ấy xem những phương pháp của mình là hạng nhất và tốt nhất, những cách thức của mình là hoàn hảo nhất. Người ấy muốn mọi người đều phải chấp nhận đường lối của mình. Nhiều người chủ quan không thể chịu được những khác biệt trong người khác. Anh chị em ơi, người chủ quan là loại người hẹp hòi nhất thế giới. Một người chỉ có thể rộng rãi và rộng lượng sau khi đã được Chúa xử lý và tính chủ quan của người ấy được loại bỏ. Chỉ một người rộng rãi mới chịu đựng được những người khác biệt với mình. Tính chủ quan đòi hỏi sự đồng dạng, đòi hỏi sự giống nhau. Nó không thể chịu nổi những khác biệt trong người khác. Nếu hai người chủ quan được đặt chung một phòng thì trong căn phòng ấy sẽ không còn bình an nữa. Người thì muốn làm điều này, kẻ thì muốn làm điều kia, và căn phòng sẽ đầy dẫy lời qua tiếng lại. Một người sẽ nghĩ rằng mình đang vác thập tự giá, và người kia cũng nghĩ rằng mình đang vác thập tự giá. Cả hai đều có vấn đề với nhau, và cả hai đều nghĩ rằng mình đang vác thập tự giá. Đó là điều xảy ra khi hai “cái đầu” chủ quan được đặt chung với nhau. Một người chủ quan luôn luôn cố gắng nắm giữ nhiều điều trong tay mình; người ấy muốn tự lập mình lên làm nhà lãnh đạo giữa vòng dân Đức Chúa Trời. Người ấy quyết định ngay tức khắc cần phải làm nhiều điều như thế nào. Một người chủ quan thích can thiệp vào công việc nhỏ nhặt nhất. Người ấy thích can thiệp, thích kiểm soát. Đó là một vấn đề cơ bản đối với một người chủ quan. Chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời không phó thác công việc cho những người như vậy. Tôi chưa bao giờ thấy Chúa giao thác công việc cho một người chủ quan. Đức Chúa Trời không thể dùng những người như vậy. Tôi chưa từng thấy một người chủ quan nào tiến xa một cách đáng kể trên bước đường thuộc linh. Bản tính người ấy ngăn chặn người ấy tiếp nhận bất cứ sự hướng dẫn nào. Một bản tính từ chối không chịu hướng dẫn là bản tính không thể dạy dỗ được và vô dụng.

Một người chủ quan thích giành quyền kiểm soát và nêu ra những đề nghị. Nếu chủ quan, một người sẽ tạo ra những nan đề trong công việc của Đức Chúa Trời. Không những người ấy chậm hiểu trong việc học tập và không thích hợp với sự ủy nhiệm của Chúa, mà toàn bộ năng lực người ấy đều bị tiêu hao vì tính chủ quan của mình. Kết quả là người ấy không còn sức lực dành cho công việc của Đức Chúa Trời. Khi một người can thiệp vào công việc người khác, người ấy sẽ bỏ bê công việc mình, vì những điều khác hoàn toàn chiếm hữu người ấy. Nếu một người trông nom vườn nho người khác thì vườn nho người ấy chắc chắn sẽ bị bỏ bê. Anh chị em ơi, chúng ta không có thời giờ chìm đắm trong sự chủ quan. Đức Chúa Trời đã giao phó cho chúng ta đủ chức vụ, trách nhiệm và công việc rồi. Chúng ta không có thời giờ can thiệp vào công việc của người khác. Chúng ta phải tập trung thời giờ và năng lực của mình vào công việc chúng ta cần phải làm. Chúng ta đã đủ bận rộn rồi. Chỉ những người lơ là công việc của Đức Chúa Trời và bỏ bê trách nhiệm của mình trước mặt Đức Chúa Trời mới còn sức lực xử lý những công việc linh tinh của các anh chị em khác. Rõ ràng là tất cả những người chủ quan đều đã bỏ bê công việc mà Đức Chúa Trời đã chỉ định cho họ. Họ bỏ mặc công việc của chính mình trong khi bận rộn lo công việc của người khác. Nếu một công tác viên luôn luôn bỏ mặc công tác của mình để chăm sóc công việc của người khác, thì công tác của chính người ấy chắc chắn sẽ tồi tệ. Một người chủ quan không bao giờ có thể có hiệu quả trong công tác của Chúa. Đức Chúa Trời không thể tin cậy người ấy, và dầu Ngài có giao phó bất cứ điều gì cho người ấy, công việc sẽ không được thi hành một cách thích đáng. Thật khó loại bỏ tính chủ quan của một người, vì tính chủ quan của người ấy là vấn đề bản chất. Người ấy chủ quan trong mọi sự, không những trong công việc của Đức Chúa Trời mà còn trong cuộc sống riêng tư của mình nữa. Người ấy chủ quan đối với công việc của người khác. Người chủ quan là một người rất bận rộn trên thế giới này. Người ấy muốn tham dự vào mọi sự. Kết quả là người ấy không thể chạy trên con đường thẳng trước mặt Chúa. Đối với bất cứ điều gì người ấy cũng có ý kiến, quan điểm và phương cách của mình. Tình trạng ấy cho thấy có một nan đề và chướng ngại vật thuộc linh thật sự. Chúng ta phải cầu nguyện rằng: “Chúa ơi, xin đầy ân điển đối với con. Xin làm cho con trở nên một người mềm mại trước mặt Ngài. Con muốn trở nên mềm mại và nhu mì, không những trước mặt Ngài mà còn trước mặt mọi anh chị em”. Phao-lô đã là một người như vậy. Những bức thư của ông có “trọng lượng và mạnh mẽ”. Khi nói đến vấn đề chứng cớ của ông trước mặt Đức Chúa Trời, ông có trọng lượng và mạnh mẽ. Nhưng khi mặt đối mặt với người Cô-rin-tô, ông lại “yếu đuối và lời nói chẳng ra gì” (2 Cô. 10:10). Phao-lô kiên quyết trong chứng cớ ông mang. Đó là lý do tại sao lời của ông có “trọng lượng và mạnh mẽ”. Nhưng khi nói với những người khác, ông nhu mì chứ không khắc nghiệt. Anh chị em ơi, chúng ta phải tập phân biệt giữa hai điều này. Trong chức vụ của mình, chúng ta phải mạnh mẽ và có “trọng lượng”, nhưng trong chính mình chúng ta đừng chủ quan. “Thật có kẻ vì ganh gỗ và cãi lẫy mà rao giảng Đấng Christ, nhưng cũng có người vì lòng tốt mà làm: người này vì lòng thương yêu, biết rằng tôi được lập lên để biện minh Tin-lành; còn kẻ kia rao giảng Đấng Christ là vì phe đảng, không thành thực, tưởng là gây hoạn nạn cho tôi trong vòng xiềng xích tôi. Song có hề gì! Dẫu thế nào đi nữa, hoặc giả bộ, hoặc thành thực, Đấng Christ cũng được rao giảng; về điều ấy tôi vui mừng, phải, cũng sẽ còn vui mừng nữa” (Phil. 1:15-18). Tại đây anh em có nhìn thấy sự quân bình không? Khi những người khác đi cùng một con đường như chúng ta, chúng ta cảm tạ Chúa về điều đó. Nếu người khác không đi cùng đường, mà theo một con đường khác, chúng ta vẫn là anh chị em của họ. Chúng ta không bị điều ấy gây phiền lòng. Chúng ta phải duy trì sự quân bình này. Một mặt, chúng ta phải trung tín đối với chứng cớ của mình. Về mặt khác, chúng ta đừng chủ quan trong chính mình. Một người trung tín không bao giờ chủ quan, và một người chủ quan không nhất thiết là trung tín. Chúng ta phải vạch đường ranh rõ ràng giữa hai điều này.

Tóm lại, tính chủ quan đơn giản là bản ngã chưa được phá vỡ. Anh chị em ơi, chúng ta phải cầu nguyện cho công tác phá vỡ của Đức Chúa Trời, cầu nguyện rằng chúng ta sẽ không chủ quan trong bất cứ phương diện nào, dầu đối với người khác hay đối với công việc riêng của mình. Chúa phải hoàn toàn đập vỡ chúng ta rồi chúng ta mới mềm mại và nhu mì. Nếu không có một sự đập vỡ như vậy thì chúng ta sẽ luôn luôn có phần nào chủ quan. Một số người có thể nhạy bén hơn người khác, nhưng một người chủ quan luôn luôn nhất định giữ ý kiến, đầy dẫy phương thức và sẵn sàng điều khiển người khác. Ít nhất một lần, chúng ta phải để Chúa xử lý mình một cách triệt để hầu chúng ta có thể được đập vỡ hoàn toàn và không bao giờ dấy lên được nữa. Khi một cuộc thử nghiệm khác lại đến, chúng ta sẽ trung tín đối với chứng cớ của mình. Chúng ta sẽ để người khác có quyền tự do lựa chọn bước theo hay không bước theo chúng ta. Chúng ta sẽ không bị thôi thúc phải phát biểu. Chúng ta không phải ở đây để làm thầy dạy dỗ nhiều người. Chúng ta không nên quá thiết tha muốn phát biểu, đề nghị, quyết định, giảng dạy hay điều khiển công việc. Anh chị em ơi, chúng ta cần phải mạnh mẽ trong chức vụ của mình, nhưng đồng thời chúng ta cần phải học tập trở nên nhu mì và không chủ quan trước mặt Chúa.