Thông tin sách

Tính Cách Công Nhân Của Chúa

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: The character of the Lord's worker
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 6

Untitled Document

CHƯƠNG SÁU

KIỀM CHẾ LỜI NÓI

MỘT

Nhiều người có thể rất hữu dụng trong tay Đức Chúa Trời; họ có thể là một bình chứa đầy quyền năng cho Chúa. Tuy nhiên, đối với Đức Chúa Trời, họ vẫn vô dụng, hay chỉ được Ngài dùng một cách giới hạn. Một trong những lý do chính yếu gây cho họ thất bại là vì thiếu kiềm chế lời nói. Chúng ta phải ghi nhớ rằng những lời nói cẩu thả thường là nguyên nhân gây ra sự thất thoát quyền năng. Lời nói chúng ta giống như những lỗ thủng: Chúng có thể là chỗ thất thoát quyền năng của Đức Chúa Trời, hay có thể làm thất thoát quyền năng của Ngài. Môi miệng chúng ta có thể là nơi mà qua đó quyền năng của Đức Chúa Trời tuôn chảy, hay cũng có thể là chỗ mà qua đó quyền năng thần thượng thất thoát. Thật đáng tiếc, nhiều người làm mất dần quyền năng của Đức Chúa Trời qua lời nói của mình.

Gia-cơ 3:11 nói rằng một mạch nước không thể cùng một lúc “phun ra cả nước ngọt lẫn nước đắng”. Một công tác viên của Chúa cần phải tuôn ra dòng nước dịu ngọt và sống động; người ấy cần phải là người truyền đạt lời Đức Chúa Trời. Một cái xô không thể vừa được dùng xách nước uống và vừa được dùng chứa nước bẩn. Nếu xô chứa nước bẩn lại được dùng để xách nước uống, nó sẽ gây nguy hại cho sức khỏe và cuộc sống. Cũng vậy, nếu môi miệng chúng ta được biệt riêng để nói ra lời Đức Chúa Trời, thì nhiệm vụ nghiêm trọng của chúng ta là phải gìn giữ môi miệng mình chỉ để phục vụ Chúa mà thôi. Nếu dùng môi miệng mình cho những điều khác hơn là lời Đức Chúa Trời, thì chúng ta không thể dùng môi miệng ấy để nói ra lời Đức Chúa Trời. Nhiều người không được Đức Chúa Trời dùng, hay chỉ được Ngài dùng một cách giới hạn, đơn giản là vì mạch nước của họ phun ra hai loại nước, nước ngọt và nước đắng. Họ nói ra lời Đức Chúa Trời bằng miệng của mình, và cũng nói nhiều điều không liên quan gì đến Đức Chúa Trời cả.

Anh chị em ơi, trước mặt Chúa, chúng ta cần phải nhận thức rằng một khi đã biệt riêng môi miệng mình để truyền đạt lời Đức Chúa Trời, thì chúng ta có một trách nhiệm lớn lao phải gánh vác. Việc Đức Chúa Trời giao phó lời Ngài cho chúng ta là một trách nhiệm nghiêm trọng. Trong Dân-số Ký chương 16, chúng ta được biết thể nào Cô-rê và bè đảng của ông họp lại để chống đối Môi-se và A-rôn. Họ đổ đầy lửa vào lư hương của mình và dâng lên cho Chúa. Họ đều bị hủy diệt vì tội của mình, nhưng các lư hương vẫn thánh khiết và được đánh thành những tấm dát mỏng để bọc bàn thờ (cc. 16-18, 33, 38-39). Bất cứ điều gì dâng lên cho Đức Chúa Trời và được Ngài dùng đều biệt riêng cho Ngài và về sau không dùng vào việc tầm thường. Một số anh chị em có ý niệm sai lầm; họ nghĩ rằng giây phút này họ có thể nói ra lời Đức Chúa Trời và giây phút sau nói ra lời Sa-tan (những lời nói dối là của Sa-tan). Anh chị em ơi, chúng ta không thể làm như vậy. Khi một anh em mở miệng mình ra vì Chúa, môi miệng anh em ấy thuộc về Ngài mãi mãi. Nhiều người làm thất thoát quyền năng của mình qua những lời họ nói. Một số anh em lẽ ra có thể rất hữu dụng trong tay Chúa, nhưng vì đã nói nhiều điều không phải vì Đức Chúa Trời, nên quyền năng bên trong đã bị thất thoát qua lời họ nói. Chúng ta phải ghi nhớ rằng một mạch nước chỉ có thể phun ra một loại nước. Nếu miệng chúng ta đã từng nói ra lời Đức Chúa Trời, thì chúng ta phải nhận thức rằng mình không có quyền nói ra bất cứ điều gì khi lại mở miệng ra. Miệng chúng ta đã được thánh hóa, đã được biệt riêng rồi. Một khi điều gì được dâng cho Đức Chúa Trời thì điều đó trở nên vật sở hữu của Đức Chúa Trời mãi mãi; chúng ta không bao giờ có thể lấy lại những gì mình đã dâng cho Ngài. Nếu lấy điều đó lại, chúng ta trở nên như con lừa của Ba-la-am; chúng ta không còn là tiên tri của Đức Chúa Trời nữa. Chúng ta phải nhìn thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa lời Đức Chúa Trời và lời của chúng ta. Miệng chúng ta được biệt riêng; nó thuộc về Đức Chúa Trời, và chỉ có thể nói lời Đức Chúa Trời.

Thật đáng tiếc, nhiều người lẽ ra hữu dụng đã trở nên vô dụng theo cái nhìn của Chúa chỉ vì miệng họ trở thành chỗ thất thoát mà qua đó quyền năng của Đức Chúa Trời bị tiêu biến đi. Một khi môi miệng nào nói những lời sai trật, thì quyền năng sẽ lìa khỏi môi miệng ấy. Nan đề của nhiều người là họ quá nhiều lời. Trong sự nhiều lời, chúng ta nhận ra tiếng nói của một kẻ ngu dại (Truyền. 5:3). Nhiều người mất đi quyền năng của mình do nhiều lời. Họ thích nói điều này điều nọ với người này người kia. Họ luôn luôn có điều gì đó để nói về mọi sự. Không những họ có nhiều lời để nói, mà họ còn thích kể lại chuyện họ đã nghe cho những người khác. Anh chị em ơi, chúng ta phải chú ý canh giữ môi miệng mình. Chúng ta phải canh giữ nó như canh giữ lòng mình. Điều này đặc biệt đúng đối với những người phục vụ với tư cách là phát ngôn viên của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời dùng họ làm môi miệng của Ngài và để truyền đạt lời Ngài. Môi miệng họ được thánh hóa để phục vụ Ngài; họ thánh khiết, và môi miệng họ cần phải được canh giữ một cách chặt chẽ như một người canh giữ lòng mình. Môi miệng không thể [nói năng] bừa bãi.

HAI

Có vài điểm liên quan đến vấn đề nói năng, và chúng ta cần phải chú ý đến những điểm ấy.

Thứ nhất, trước mặt Chúa chúng ta hãy lưu ý loại chuyện mà chúng ta luôn luôn nghe. Loại chuyện chúng ta nghe sẽ xác định chúng ta là loại người nào. Nhiều người sẽ không nói với anh em một số điều vì họ biết anh em không giống họ, và nói điều đó với anh em cũng vô ích. Nếu một người sẵn sàng chia sẻ chuyện gì đó với anh em, người ấy làm như vậy vì biết rằng anh em cũng thuộc hạng người như họ, và những điều như vậy sẽ tác động trên anh em. Anh em có thể biết về chính mình bằng cách lưu ý đến những chuyện người ta luôn luôn nói với anh em.

Thứ hai, chúng ta hãy xem mình sẵn sàng tin loại chuyện nào nhất. Loại chuyện chúng ta dễ chấp nhận bày tỏ bản tính riêng của mình. Loại người nào đó sẽ có khuynh hướng tin loại lời nói nào đó. Chúng ta nghe nhiều điều một cách sai trật và tin nhiều điều một cách nông nổi vì chúng ta mù quáng; chúng ta không ở trong ánh sáng của Đức Chúa Trời. Ngay khi thiếu ánh sáng hay không có ánh sáng thì chúng ta rơi vào sự lầm lẫn. Tai chúng ta hướng về chuyện gì và tính cả tin của chúng ta thường để lộ ra tình trạng bệnh hoạn của mình. Nhiều người tin lời nói của người khác thậm chí trước khi họ nghe người ấy nói. Rồi khi nghe được một chuyện nào đó, họ vui mừng về những gì mình mới nghe. Những lời ấy có thể khó tin và nực cười, nhưng có người vẫn được thuyết phục rằng những lời ấy là đúng. Do đó, loại lời chúng ta tin cho thấy chúng ta thuộc loại người nào.

Thứ ba, sau việc nghe và tin là vấn đề nghe rồi kể lại cho người khác. Trong bản chất, điểm này tương tự với hai điểm trước. Một người có thể nghe và tin những lời nào đó, nhưng nếu người ấy quyết định kể lại cho người khác, thì hành động đó cho thấy người ấy không những là loại người được phô bày qua những lời ấy, tức một người ở trong sự tối tăm, mà người ấy còn sẵn lòng làm cho những người khác trở nên giống mình. Trọn bản thể của người ấy liên quan đến lời người ấy nói. Khi chúng ta nghe, thì những người khác đang nói; khi chúng ta tin, thì những lời nói của người khác được tiếp nhận; và trong khi chúng ta kể lại cho người khác, thì trọn bản thể của chúng ta được đặt vào những lời nói ấy. Nhiều người ham thích nói và thuật lại điều mình nghe [cho người khác]. Do đó, họ mất đi tất cả quyền năng của mình và không còn có thể làm một người cung ứng lời Đức Chúa Trời cách đúng đắn nữa.

Thứ tư, có những lời nói không chính xác. Một số người cực kỳ không chính xác. Lúc đầu họ nói thế này, ngay sau đó họ nói thế khác. Loại người như vậy là “hai lưỡi” (1 Ti. 3:8); họ không thể phục vụ với tư cách là chấp sự. Họ nói thế này với người này và nói thế khác với người kia. Họ nói điều gì đó trước mặt một người và xoay lại nói khác đi sau lưng người ấy. Những người như vậy thì vô dụng trong công việc của Đức Chúa Trời. Anh chị em ơi, nếu chúng ta không thể kiềm giữ lưỡi mình, thì làm sao chúng ta có thể tự chủ và làm sao chúng ta có thể hầu việc Chúa? Một người phải kiềm chế chính mình và đánh đập thân thể mình rồi mới có thể hầu việc Chúa một cách đúng đắn. Chúng ta có một chi thể kinh khủng trong thân thể mình — lưỡi của chúng ta, là chi thể luôn luôn dẫn chúng ta vào những chuyện rắc rối. Không chính xác trong lời nói, hai lưỡi và lập lờ trong lời tuyên bố của mình là các dấu hiệu cho thấy sự yếu đuối trong cá tính của chúng ta. Những người có thói quen như vậy không có lập trường, và họ bất lực trước mặt Đức Chúa Trời. Họ khi thì thế này khi thì thế khác vì quá dễ dãi và không chắc chắn. Cư xử như vậy cho thấy sự yếu đuối cùng cực trong cá tính của một người! Trong công việc Chúa, nói năng không chính xác là một vấn đề rất nghiêm trọng, và chúng ta phải xử lý điều đó.

Thứ năm, có những người cố ý hai lưỡi. Một số người mắc phải tình trạng hai lưỡi nghiêm trọng hơn những người khác; họ tệ hơn những người hai lưỡi vì thiếu hiểu biết; họ cố ý nói hai lưỡi. Vài người mắc phải tình trạng hai lưỡi vì họ thiếu hiểu biết. Lần này họ nói thế này, lần sau họ nói thế khác. Đối với họ, “phải” và “không” hầu như có cùng một ý nghĩa. Họ không có cảm nhận đúng sai, và hoàn toàn ở trong tối tăm. Nếu anh em hỏi họ vật kia màu đen phải không, có thể họ đáp phải. Nếu anh em hỏi họ vật ấy màu trắng phải không, có thể họ cũng lại đáp phải. Họ không sáng tỏ về bất cứ điều gì cả. Đối với họ, trắng và đen dường như giống nhau. Họ sống một cuộc đời cẩu thả và dại dột. Họ là những người hai lưỡi vì thiếu hiểu biết. Còn những người khác thì cố ý nói hai lưỡi. Họ cố ý nói điều này vào dịp này và điều khác vào dịp kia. Đó không những là sự yếu đuối trong cá tính mà còn là sự bại hoại về mặt đạo đức. Ma-thi-ơ 21:23-27 chép về việc các thầy tế lễ cả và trưởng lão của dân chúng đến với Chúa và hỏi Ngài hành động dựa trên uy quyền của ai. Ngài đáp bằng cách hỏi lại như sau: “Báp-têm của Giăng bởi đâu? Bởi trời hay là bởi người ta?” Họ bàn bạc với nhau rằng: “Nếu chúng ta nói: ‘Bởi trời’, thì Người sẽ nói với chúng ta rằng: ‘Vậy sao các ngươi không tin Giăng?’ Còn nếu nói: ‘Bởi người ta’, thì chúng ta lại sợ dân chúng, vì ai nấy đều cho Giăng là tiên tri”. Nên họ trả lời với Chúa rằng: “Chúng tôi không biết”. Câu trả lời của họ là lời nói dối cố ý. Trong Ma-thi-ơ 5:37, Chúa nói: “Song các ngươi nên nói: Phải, phải; Không, không. Còn quá lời ấy đều bởi kẻ ác mà ra”. Nếu điều gì đó là phải, chúng ta nói phải. Nếu điều ấy là không, chúng ta nói không. Đó là bước đi trong ánh sáng và sự chân thật. Nhưng nếu chúng ta dừng lại để suy xét về tác động mà lời nói của chúng ta có thể gây ra cho những người khác và cân nhắc làm thế nào chúng ta có thể nói cách khôn khéo, thì động cơ và thái độ của chúng ta không thích hợp với một công tác viên của Chúa. Nếu lời nói của chúng ta được dàn dựng trong sự xảo quyệt, chúng ta đã biến những lời ấy thành công cụ để lừa dối! Chúng ta thà noi gương của Chúa chúng ta. Khi người ta tìm cách đánh bẫy Ngài bằng những câu hỏi của họ, Ngài sử dụng biện pháp im lặng. Nếu phải nói một điều gì đó, chúng ta thà nói: “Phải, phải; Không, không”. Bất cứ điều gì hơn điều ấy là của kẻ ác. Tại đây không có chỗ cho người khéo léo. Phao-lô cổ vũ người Cô-rin-tô rằng: “Nếu ai trong anh em tưởng mình khôn ngoan trong đời này, khá trở nên ngu dại để được trở nên khôn ngoan” (1 Cô. 3:18). La Mã 16:19 nói: “Tôi muốn anh em... dốt nát về điều ác”. Theo cái nhìn của Đức Chúa Trời, khôn ngoan trong những điều như vậy không đem chúng ta đến đâu cả. Chúng ta có lèo lái cũng vô ích. Sự khôn ngoan của chúng ta ở trong bàn tay của Chúa. Chúng ta không thể có hai lưỡi. Đó là nan đề đối với nhiều người. Người mà lời nói của họ không đáng tin cậy thì không hữu dụng bao nhiêu cho Đức Chúa Trời. Nếu họ dâng mình cho công tác, sớm muộn gì họ cũng thấy mình gặp rắc rối. Nếu một người lần này nói thế này và lần kia nói thế khác, lập lờ giữa đúng và sai, phải và không, và do dự giữa những gì có thể thực hiện và những gì không thể thực hiện, thì đối với công việc của Đức Chúa Trời, người ấy ít hữu dụng. Những người có lời nói thay đổi bất thường và không đáng tin cậy thật vô dụng trong công tác của Đức Chúa Trời.

Thứ sáu, chúng ta phải xử lý chính cách mình nghe. Một người có thể phần nào có ân tứ và tài năng. Nhưng hễ người ấy không chính xác trong lời nói của mình thì có một lỗ hổng lớn trong phẩm cách của người ấy. Chỉ một nhược điểm đó cũng làm cho người ấy phải trả giá bằng tất cả quyền năng của mình. Thật đáng tiếc, nhiều công tác viên của Đức Chúa Trời đã trở nên trung tâm thông tin! Anh chị em ơi, là những công tác viên của Chúa, chúng ta liên tục tiếp xúc với nhiều người và vì vậy có nhiều cơ hội nghe những người khác nói cũng như chính mình nói với họ. Nếu chúng ta không khép mình vào kỷ luật và chịu kiểm chế lời nói của mình, thì trong khi giảng lời Đức Chúa Trời, rất có thể cùng một lúc chúng ta lan truyền những tin đồn và chuyện tầm phào. Nếu lời nói của chúng ta không được xử lý, chúng ta có thể một tay xây dựng công tác của Đức Chúa Trời và một tay phá hoại công tác ấy của Ngài. Vậy nên, chúng ta phải ngưỡng trông Đức Chúa Trời để áp dụng kỷ luật nghiêm ngặt cho đôi tai của mình. Các anh chị em thường muốn kể với chúng ta những câu chuyện riêng tư của họ. Chúng ta nên cố gắng hết sức lắng nghe họ. Chúng ta cần phải là một người biết lắng nghe, và chúng ta cần phải nhận thấy nan đề của họ và giúp đỡ họ cách thích đáng. Khi những người khác nói chuyện với chúng ta, chúng ta cần phải lắng nghe để chăm sóc nhu cầu của họ và giải quyết nan đề cho họ. Nhưng chúng ta phải ngăn họ lại không cho kể thêm chi tiết một khi bên trong chúng ta đã hiểu rõ nhu cầu của họ. Chúng ta nên bảo họ dừng lại. Chúng ta có thể nói: “Như vậy đủ rồi. Anh có thể dừng lại tại đây”. Thật sai trật khi tò mò nghe những gì người khác nói và xem lời kể lể của họ như các câu truyện hay chuyện khó tin. Điều duy nhất chúng ta cần làm là nhận ra nan đề của họ. Ngay khi biết và tin chắc về điều đó, chúng ta nên nói: “Anh ơi, như vậy đủ rồi”. Chúng ta không nên ham nghe tin tức. Loài người thèm khát muốn biết công việc của người khác; họ khao khát muốn nghe. Họ khao khát muốn biết, khao khát muốn nghe. Nhưng chúng ta phải lắng nghe với thái độ cảnh giác. Ngay khi chạm đến ranh giới, thì chúng ta nên dừng lại. Chúng ta nghe với mục đích là để cầu nguyện và giải quyết các nan đề. Chúng ta nên lắng nghe chỉ vì để giải quyết các nan đề của anh chị em mình. Đến một điểm nào đó, chúng ta cần phải ngưng lại không nghe nữa.

Thứ bảy, chúng ta phải chiếm được và duy trì lòng tin cậy của người khác. Nếu có ai chia sẻ nan đề thuộc linh của mình với chúng ta, đó là người ấy đã đặt lòng tin cậy nơi chúng ta. Chúng ta đừng nói về những chuyện riêng tư cần giữ kín ấy một cách khinh suất. Trừ phi cần thiết vì lợi ích của công tác, chúng ta không nên kể lại những điều ấy một cách bừa bãi. Nếu chưa từng được kỷ luật trong lời nói của mình, chúng ta không thể tham dự vào công việc của Đức Chúa Trời. Các đầy tớ của Đức Chúa Trời được giao phó cho nhiều điều. Chúng ta cần xem những chuyện riêng tư cần giữ kín ấy là sự phó thác thiêng liêng và giữ gìn một cách trung tín. Những lời ấy được phó thác cho chúng ta; đó không phải là điều chúng ta sở hữu mà là những điều được phó thác cho chúng ta trong chức vụ và sự phục vụ thần thượng của mình. Chúng ta không được tùy tiện nói những điều đó ra. Chúng ta phải học tập giữ gìn và bảo vệ mỗi một chuyện thuộc linh riêng tư cần giữ kín mà các anh chị em đã ủy thác cho mình. Chúng ta không thể làm lan truyền những điều ấy một cách vô trách nhiệm. Nếu trách nhiệm của chúng ta, hay công tác của Đức Chúa Trời hoặc nhu cầu con người đòi hỏi những điều ấy phải được tiết lộ, thì hoàn toàn lại là một chuyện khác. Trong bất cứ trường hợp nào, lắm lời luôn luôn mang đến mất mát, một sự mất mát to lớn. Những người lắm lời và những người hay nói đi nói lại một cách dễ dãi không thể được giao phó công tác của Đức Chúa Trời. Chúng ta nên nhận lấy lời cảnh cáo từ Chúa. Nguyện Ngài hạn chế lời nói của chúng ta, và nguyện chúng ta không hấp tấp mở miệng mình hay nói một cách không nghiêm túc. Dễ dàng nhận biết một người có kỷ luật hay không qua cách người ấy kiềm chế miệng lưỡi mình. Nếu một người được kỷ luật, miệng lưỡi của người ấy sẽ luôn luôn được kiểm chế. Chúng ta nên đặc biệt chú ý đến vấn đề này.

Thứ tám, chúng ta phải đặc biệt lưu ý đến vấn đề nói dối. Người có hai lưỡi mà chúng tôi đã nói đến là bà con gần của người nói đối. Mọi lời nói ra với ý định tạo nên một hi vọng giả dối hay gây một ấn tượng sai lầm đều rơi vào loại nói dối. Đôi khi một lời nói dối không hàm chứa lời tuyên bố giả dối nào cả, nhưng được nói ra cách khéo léo để người khác có một ấn tượng sai lầm. Trên thực tế, đó là lời nói dối. Chúng ta phải ghi nhớ rằng sự thành thật trong lời nói của mình là vấn đề động cơ, chứ không phải là vấn đề chính xác trong lời nói. Nếu một anh em hỏi một câu mà chúng ta không muốn trả lời hay không thể trả lời, thì chúng ta nên lễ phép từ chối trả lời, nhưng không nên lừa gạt anh em ấy. Lời tuyên bố giả dối là một lời nói dối, và bất cứ điều gì gây cho người khác có ấn tượng sai lầm cũng là một sự nói dối. Chúng ta muốn người ta tin sự thật; vì vậy, chúng ta không dám dùng những lời thật để gây một ấn tượng giả dối. Đối với con cái Đức Chúa Trời luôn luôn cần phải là “Phải, phải; Không, không”. Bất cứ điều gì hơn như vậy đều là của kẻ ác. Lần kia, Chúa nói một cách rất mạnh mẽ với những người Do-thái: “Ngươi ra từ cha các ngươi là ma quỉ, và các ngươi muốn làm theo tư dục của cha các ngươi... Khi nó nói dối, thì tự mình nó nói, vì nó vốn là kẻ nói dối, cũng là cha của sự ấy” (Gi. 8:44). Ma quỉ là tác giả của những lời nói dối. Từ ban đầu, hắn đã là một kẻ nói dối. Thậm chí ngày nay, hắn cũng đầy dẫy những lời dối trá. Hắn là một kẻ nói dối và là cha của sự dối trá. Thật không tưởng tượng được một con cái của Đức Chúa Trời thậm chí một công tác viên của Chúa mà lại nói dối. Tuy nhiên, một vài người thật sự nói dối. Tình trạng như vậy là quá tệ hại. Không căn bệnh nào cơ bản như căn bệnh này. Đó là một nan đề rất nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và thiết thực! Chúng ta phải lưu ý đến vấn đề nói dối. Chúng ta không nên nghĩ rằng mọi điều chúng ta nói thì luôn luôn chính xác. Càng cẩn thận, chúng ta càng nhận thấy khó mà chính xác trong mọi điều mình nói. Đôi khi ý định của chúng ta là nói sự thật, nhưng do một chút bất cẩn, chúng ta nhận thấy mình đã nói chệch đi. Nếu chúng ta có thể rất dễ dàng nói chệch đi khi cố gắng chính xác, thì chúng ta sẽ nói chệch đến đâu nếu không chủ ý cố gắng chính xác. Chúng ta cảnh giác thận trọng mà nói sự thật cũng đã là khó rồi. Khi chúng ta không tự kiềm chế chính mình mà nói sự thật thì còn khó hơn nữa. Vậy nên, chúng ta phải canh giữ chính mình, lưu ý những lời nói của mình, và đừng bao giờ bừa bãi. Nếu không thì chúng ta không thể hầu việc Đức Chúa Trời chúng ta. Đức Chúa Trời không thể dùng một người phút này làm môi miệng của Ngài và phút sau làm môi miệng của Sa-tan. Không, Ngài không bao giờ có thể dùng một người như vậy.

Thứ chín, chúng ta cần phải lưu ý đến một điểm khác là “đừng tranh cạnh hay to tiếng”. Kinh Thánh nói tiên tri về Chúa rằng: “Người sẽ chẳng cãi cọ, chẳng reo la, cũng chẳng ai nghe tiếng Người ngoài đường” (Mat. 12:19; Ês. 42:2). Phao-lô nói: “Đầy tớ của Chúa không nên tranh cạnh” (2 Ti. 2:24). Điều này có nghĩa là không đầy tớ nào của Chúa có thể tranh cạnh hay to tiếng. Làm ồn ào là biểu hiện của sự khiếm nhã. Đầy tớ Chúa cần phải ở dưới sự kiểm chế đến nỗi người ấy “không tranh cạnh hay to tiếng”. Người ấy không nên tranh cãi với bất cứ ai. Nói to tiếng thường bày tỏ tình trạng thiếu quyền năng, ít nhất là thiếu quyền năng tiết chế. Không đầy tớ nào của Chúa được ồn ào đến nỗi người hàng xóm bên cạnh cũng có thể nghe tiếng người ấy. Không ai có thể nghe tiếng của Chúa ngoài đường. Đó là tấm gương Ngài để lại cho chúng ta. Cư xử như vậy còn hơn là khước từ những lời nói dối. Nhiều lời thật sự chính xác và là sự thật, nhưng chúng ta không muốn tranh cạnh hay to tiếng. “Đầy tớ của Chúa không nên tranh cạnh”. Chúng ta có thể ngậm miệng lại đối với nhiều điều. Một anh chị em phải cực kỳ phóng túng mới có thể lớn tiếng với người khác. Người ấy phải sống một cuộc sống vô kỷ luật trong nhiều năm nên mới có thể la mắng mà không dè dặt. Chúng ta nên tự kiềm chế chính mình và “xử lý” giọng nói của mình; giống như Chúa, giọng nói của Ngài không được nghe trên đường phố. Chúng ta hãy tập khóa miệng mình đừng làm ồn ào, reo la, kêu réo và la hét mà không có lý do chính đáng. Điều này không có nghĩa là chúng ta nên cố gắng giả bộ nghiêm túc và im lặng. Chúng ta phải tự nhiên, và khi gặp người khác, chúng ta phải nói chuyện với họ một cách tự nhiên và chín chắn. Nhưng sự thật vẫn là những người chưa từng được kỷ luật trong lời nói của mình sẽ gặp phải nhiều lúc khó khăn trong công tác. Chúng tôi hi vọng rằng mọi công tác viên của Chúa sẽ học tập để trở nên tinh tế hơn và mềm mỏng hơn, và không người nào được thô bạo và cục cằn. Chúa chúng ta rất tế nhị và mềm mỏng. Ngài không cãi cọ hay to tiếng, và không ai nghe tiếng Ngài trên đường phố. Các đầy tớ của Đức Chúa Trời cần phải gây cho người khác một ấn tượng rằng mình là những người tế nhị và mềm mại trước mặt Chúa.

Thứ mười, chúng ta cần lưu ý đến vấn đề động cơ và sự kiện. Những gì chúng ta nói là một điều, nhưng động cơ của chúng ta là một điều khác. Con cái Đức Chúa Trời không những nên lưu ý đến lời lẽ chính xác mà còn cần phải lưu ý đến sự chính xác về các sự kiện. Chúng ta thà chính xác về các sự kiện hơn là chỉ chính xác về lời lẽ. Nhiều người chỉ chú ý đến sự chính xác trong lời nói của mình; họ không quan tâm đến sự chính xác về những sự kiện. Thật ra, thậm chí khi rất thận trọng và chính xác về những gì chúng ta nói, chúng ta vẫn có thể lầm lẫn. Trước mặt Chúa, chúng ta phải lưu ý đến sự chính xác về những sự kiện. Nếu không lưu ý đến sự chính xác về những sự kiện, chúng ta sẽ không mấy hữu dụng cho Chúa dầu lời nói của chúng ta chính xác. Một vài anh chị em lưu ý nhiều đến lời nói của mình, nhưng chúng ta không thể tin cậy họ, vì tuy chúng ta chưa bao giờ tìm thấy một lỗi lầm nào trong lời nói của họ, nhưng chúng ta biết họ chỉ quan tâm đến sự chính xác của lời nói; họ không quan tâm về sự chính xác của những sự kiện. Giả sử, anh em ghét một anh em kia trong lòng. Đó là một sự kiện. Nói về mặt sự kiện, anh em ghét anh em ấy. Nhưng khi nhìn thấy anh ấy trên đường, anh em gật đầu chào anh ấy như không có chuyện gì xảy ra. Khi anh ấy đến thăm, anh em dọn thức ăn cho anh ấy, và khi anh ấy bị bệnh, anh em đến thăm. Khi anh ấy thiếu thốn, anh em cho anh ấy tiền bạc và áo quần. Có thể một anh em khác đến hỏi anh em rằng: “Đối với anh em ấy, anh cảm thấy thế nào?” Tuy trong lòng, anh em không yêu thương anh ấy, nhưng anh em vẫn đáp rằng: “Tôi không gật đầu chào anh ấy sao? Tôi không đến thăm khi anh ấy bị bệnh sao? Tôi không giúp đỡ khi anh ấy nghèo túng sao?” Đúng, anh em có lý. Luật pháp có thể đứng về phía anh em, và mọi lời nói của anh em có thể chính xác. Nhưng anh em vẫn nói dối vì những gì anh em nói không phản ảnh sự thật. Một số anh chị em lưu ý nhiều đến các thủ tục. Anh em không thể tìm thấy sai lầm nào trong các thủ tục của họ cả, nhưng lòng họ lại nói điều gì đó hoàn toàn khác biệt. Điều này thật sai lầm. Chính xác trong lời nói nhưng thiếu chính xác về sự thật là điều sai trật. Khi nói với người khác, chúng ta không nên chỉ lưu ý đến sự chính xác về thủ tục mà cho rằng chúng ta đang nói sự thật; thay vào đó, chúng ta cần phải lưu ý đến động cơ của mình trước mặt Chúa. Điều này liên quan đến vấn đề cơ bản đằng sau lời nói của chúng ta. Đừng nghĩ rằng dùng những lời chính xác là đủ rồi. Đừng nghĩ rằng tử tế và thân mật với những người khác là đủ rồi. Anh em không thể nói rằng chỉ vì mình có những điều ấy, nên anh em không ghét anh em mình. Chúng ta phải xét đến sự kiện. Bằng chứng không phải ở những lời anh em nói. Chúng ta nên nói sự thật, những sự kiện thực sự. Nếu những sự kiện sai trật, chúng ta vẫn nói dối dầu đã sử dụng tất cả những lời nói đúng đắn. Thật đáng tiếc, đó là cách nhiều người sống. Trong khi nói, chúng ta không nên chỉ quan tâm đến những lời nói mà cần phải đi sâu hơn vào động cơ của mình và quan tâm đến những sự kiện.

Thứ mười một, chúng ta không nên nói lời tầm phào nào cả. “Vì do sự đầy dẫy trong lòng mà miệng mới nói ra... mọi lời tầm phào mà người ta nói ra đều phải khai trình trong ngày xét đoán” (Mat. 12:34-36). Tiếp theo lời ấy, Chúa nói: “Vì bởi lời nói mà ngươi được xưng công nghĩa [cd. xưng công chính], cũng bởi lời nói mà ngươi bị định tội” (c. 37). Khi con cái Đức Chúa Trời đến với nhau, họ cần phải loại bỏ mọi lời tầm phào. Điều này không có nghĩa là chúng ta không nên chào hỏi lẫn nhau hoặc nói chuyện về thời tiết hay vườn tược. Những lời chào hỏi thì liên quan đến việc duy trì mối liên hệ con người, và chào hỏi trong khi chúng ta trò chuyện là điều đúng đắn. Nhưng lời tầm phào là nhiều chuyện về gia đình này và gia đình kia; chúng không trực tiếp liên hệ gì đến chúng ta. Những lời ấy không cần thiết. Chúa Giê-su nói: “Mọi lời tầm phào mà người ta nói ra đều phải khai trình trong ngày xét đoán”. Những lời tầm phào sẽ không được nói một lần mà hai lần. Hôm nay, những lời tầm phào được nói ra một lần, và khi ngày phán xét đến, những lời ấy sẽ lại được nói ra một lần nữa. Mọi lời tầm phào đều sẽ được lặp lại; vào ngày đoán xét một người sẽ phải khai trình những lời mình đã nói. Đến một ngày, chúng ta sẽ khám phá ra nhiều lời tầm phào mình đã nói, và Đức Chúa Trời sẽ xưng công chính hay định tội chúng ta căn cứ trên những lời ấy. Đó là lý do tại sao chúng ta không nói bất cứ điều gì một cách khinh suất.

Nhiều chuyện đùa, chuyện không nghiêm túc và giễu cợt phải được loại bỏ. Tuy nhiên, thỉnh thoảng một số anh chị em nêu lên vài nhận xét tài tình hay khi họ nói với con cháu của mình một vài lời dí dỏm là một chuyện khác. Phao-lô nói đến việc “dùng lời tục tỉu, hoặc nói tầm phào, hoặc giễu cợt” trong Thư của ông gởi cho người Ê-phê-sô (5:4). Đó là những lời phù phiếm. Chúng ta nên khước từ và xoay khỏi chúng.

Hơn nữa, đừng có lời chế giễu nào giữa vòng chúng ta. Lúc Chúa ở trên thập tự giá, người ta chế giễu Ngài rằng: “Cứ để vậy, coi thử Ê-li có đến đem hắn xuống chăng” (Mác 15:36). Đó là lời chế giễu. Những người không tin sự tái lâm của Chúa chế giễu rằng: “Chớ nào lời hứa về sự hiển hiện của Chúa ở đâu? Vì từ khi tổ phụ đã ngủ đến nay, muôn vật vẫn cứ như lúc bắt đầu cuộc sáng tạo” (2 Phi. 3:4). Những người khác có thể chế giễu và đùa cợt mọi cách, nhưng con cái Đức Chúa Trời không nên để những lời ấy ra từ môi miệng mình.

Có nhiều loại lời nói không thích hợp khác như: những lời nói sau lưng người khác hay những lời chỉ trích. Về những lời chửi rủa, chúng là tội và cần phải khước từ (Tít 3:10); dứt khoát chúng không được ra từ môi miệng của một Cơ-đốc-nhân. Chúng ta phải cảnh giác về những cách nói năng như vậy và kiềm chế để không nói ra những lời ấy.

BA

Một công tác viên của Chúa phải nói những lời chính xác; người ấy không được khinh suất đối với miệng lưỡi của mình. Người ấy chỉ có thể làm một người truyền đạt lời Đức Chúa Trời. Nếu miệng lưỡi người ấy được khép vào kỷ luật, người ấy sẽ thoát khỏi bất cứ những điều rắc rối nào. Lòng chúng ta đau đớn khi nghĩ đến việc thiếu kiểm chế lời nói giữa vòng các công tác viên của Chúa. Các anh chị em có thể được tiêu khiển bởi những lời nói tầm phào và những mẫu chuyện thú vị của chúng ta, nhưng chúng ta sẽ không làm cho họ kính trọng khi chúng ta nói cho Chúa. Đừng nghĩ rằng nói đùa và giỡn cợt với các anh chị em của chúng ta thì không sao. Có thể có nhiều điều thích thú trong việc nói đùa và giễu cợt, nhưng khi chúng ta quay qua nói lời Đức Chúa Trời, họ sẽ xem những lời ấy cùng một giá trị với những câu chuyện của chúng ta, và những lời nói của chúng ta sẽ mất “trọng lượng”. Một số anh em có thể thu hút sự chú ý của người khác khi họ nói điều gì đó, trong khi những người khác có thể nói cùng một điều nhưng không làm cho ai chú ý cả. Chúng ta nên xem xét lý do tại sao một số người nói có người nghe trong khi những người khác thì không. Lời nói của họ có thể như nhau. Lời của Đức Chúa Trời tất nhiên là như nhau, nhưng cách họ nói lúc bình thường lại khác biệt. Chúng ta hãy lưu ý đến vấn đề này. Khi nói ra lời Đức Chúa Trời, chúng ta có thể như nhau, nhưng nếu chúng ta khác nhau trong những lúc nói năng về những điều khác thì chúng ta cũng sẽ khác nhau khi đến với quyền năng ở đằng sau lời Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta quen với những lời nói bừa bãi và luôn luôn buông mình trong những cuộc chuyện trò phóng túng, thì tác dụng lời chúng ta nói cho Chúa trên người nghe cũng sẽ giống như khi chúng ta nói năng cách bừa bãi. Sẽ có rất ít tác dụng. Anh chị em ơi, chúng ta hãy ghi nhớ rằng cùng một mạch nước không thể phun ra nước ngọt lẫn nước đắng. Nó không thể cung ứng nước ngọt khi này và nước đắng khi khác. Nước đắng luôn luôn đắng. Đôi khi chất đắng của nó có thể giảm bớt, nhưng nó vẫn đắng. Khi nước sạch và nước bẩn pha trộn với nhau, nước bẩn không trở thành sạch được; ngược lại, nước sạch trở thành dơ. Nhiều anh em rao giảng không gây tác động, không phải vì họ sai trật trong những lời mình giảng, mà vì họ sai trật trong những lần chuyện trò khác, tức những cuộc nói chuyện thông thường ngoài bục giảng. Khi họ rao giảng lời Đức Chúa Trời, không ai lắng nghe cả. Chúng ta phải ghi nhớ rằng những lời chúng ta giảng trên bục bị chi phối bởi những lời chúng ta nói ở ngoài bục giảng. Nếu chúng ta nói năng cách dại dột ở ngoài bục giảng, thì những lời chúng ta nói trên bục giảng sẽ hoàn toàn hư hỏng. Nước ngọt sẽ trở nên đắng. Trước khi giảng, chúng ta không cần phải chuẩn bị một cách khó nhọc, nhưng cần phải liên tục cảnh giác trong cuộc chuyện trò thông thường hằng ngày. Nếu không kiểm chế trong cuộc sống hằng ngày của mình, chúng ta không thể mong có quyền năng trong sự hầu việc Chúa. Nếu chúng ta bừa bãi và không chính xác trong lời nói của mình, lẫn lộn sự thật và điều giả dối, luôn luôn đùa giỡn và giễu cợt, và thậm chí nói dối, thì chúng ta không thể có quyền năng trong sự phục vụ. Chúng ta phải bắt đầu bằng cách kiểm chế miệng lưỡi của mình để có thể rao giảng lời Đức Chúa Trời.

Lời nói chính xác liên quan mật thiết đến việc một người đọc Kinh Thánh. Kinh Thánh là quyển sách chính xác nhất thế giới. Lời Đức Chúa Trời là lời chính xác duy nhất trên thế giới. Nếu không có thói quen nói năng một cách chính xác, chúng ta không thể đọc Kinh Thánh, nói gì đến việc giảng Kinh Thánh. Trong tình trạng hiện tại của mình, một số anh em không thể đọc Kinh Thánh. Để làm một người rao giảng phúc-âm phải cần đến một đức tính nhất định nào đó. Để đọc Kinh Thánh cũng cần đến một đức tính nhất định nào đó. Một người cẩu thả không thể đọc Kinh Thánh vì lời Đức Chúa Trời thật chính xác. Một người cẩu thả sẽ bỏ sót mọi sự trong lời Đức Chúa Trời. Thật ra, người ấy sẽ hiểu Kinh Thánh một cách sai trật.

Chúng tôi xin đưa một ví dụ để cho thấy ý nghĩa của sự chính xác. Theo Ma-thi-ơ chương 22, người Sa-đu-sê không tin ở sự phục sinh. Một ngày kia, họ đến với Chúa và nêu lên một câu hỏi rằng: “Thưa Thầy, Môi-se có truyền: Nếu người nào qua đời mà không con, thì em của người ấy phải cưới vợ góa người để nối giống cho anh. Số là trong chúng tôi có bảy anh em; anh cưới vợ, rồi qua đời, và vì không con nối, nên để vợ lại cho em. Người thứ hai, thứ ba, cho đến thứ bảy cũng vậy. Rốt lại, đờn bà ấy cũng qua đời, thế thì, lúc sống lại, trong bảy anh em kia, nàng sẽ là vợ của ai? Vì cả thảy đều đã lấy nàng” (cc. 24-28). Đối với họ, sự phục sinh là điều không tưởng. Họ nghĩ rằng không có sự phục sinh thì tốt hơn vì sự phục sinh sẽ làm cho nhiều điều trở nên phức tạp. Họ thích tin là không có sự phục sinh. Họ đến lý luận với Chúa, đưa ra một nan đề có vẻ như không thể giải quyết được. Giê-su đáp: “Các ngươi lầm vì không biết Kinh Thánh, cũng không biết quyền năng của Đức Chúa Trời. Vì lúc sống lại người ta không cưới, không gả, song như thiên sứ ở trên trời vậy. Còn đến như sự sống lại của kẻ chết, thì các ngươi há chưa đọc lời Đức Chúa Trời phán cùng các ngươi rằng: Ta là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, Đức Chúa Trời của Gia-cốp, hay sao? Đức Chúa Trời chẳng phải là Đức Chúa Trời của kẻ chết đâu, bèn là của kẻ sống” (cc. 29-32). Người Sa-đu-sê chắc chắn đã đọc Kinh Thánh, nhưng Chúa lại nói họ không biết Kinh Thánh. Họ nói một cách rất cẩu thả đến nỗi họ không thể tán thưởng sự chính xác tuyệt đối của lời Đức Chúa Trời. Chúa chúng ta chỉ trích dẫn một câu ngắn trong Xuất Ê-díp-tô Ký chương 3 để chứng minh sự phục sinh — Đức Chúa Trời tự xưng là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham và Đức Chúa Trời của Y-sác và Đức Chúa Trời của Gia-cốp. Làm thế nào lời ngắn ngủi ấy có thể chứng minh sự phục sinh? Chúa giải thích tiếp rằng: “Đức Chúa Trời chẳng phải là Đức Chúa Trời của kẻ chết đâu, bèn là của kẻ sống”. Đối với người Sa-đu-sê, Áp-ra-ham đã chết, Y-sác đã chết, và Gia-cốp đã chết; cả ba đều đã chết. Điều này không làm cho Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp thành Đức Chúa Trời của kẻ chết sao? Nhưng Đức Chúa Trời không phải là Đức Chúa Trời của kẻ chết. Làm sao có thể như vậy được? Vì Đức Chúa Trời không phải là Đức Chúa Trời của kẻ chết, Áp-ra-ham chắc chắn không chết mãi mãi. Đối với Y-sác và Gia-cốp cũng vậy. Nhưng làm sao những người đã chết lại không còn chết nữa? Họ phải được sống lại. Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp đều sẽ sống lại vì Đức Chúa Trời không phải là Đức Chúa Trời của người chết, mà là của người sống. Chúa Giê-su đã trả lời người Sa-đu-sê như vậy. Chúa chúng ta rất chính xác trong những điều Ngài nói. Điều này phơi bày sự không chính xác của người Sa-đu-sê và sự thiếu hiểu biết Kinh Thánh của họ.

Nếu bất cẩn trong lời nói của mình, chúng ta sẽ không tán thưởng được lời Đức Chúa Trời chính xác như thế nào. Một tính nết cẩu thả không quan tâm đến sự chính xác và không thể chính xác; tính nết ấy không thể giữ lại và chứa đựng lời chính xác của Đức Chúa Trời. Kinh Thánh là quyển sách chính xác nhất; Kinh Thánh chính xác từ cái chấm đến cái nét cuối cùng. Chúa phán: “Một chấm một nét trong luật pháp hẳn không qua đi” (Mat. 5:18). Đức Chúa Trời có mục đích cho mỗi cái chấm và mỗi cái nét; Ngài không bao giờ cẩu thả. Vì Đức Chúa Trời rất chính xác trong lời của Ngài, những đầy tớ của Ngài cũng cần phải chính xác trong lời nói của mình. Anh chị em ơi, Đức Chúa Trời không bao giờ nói năng mơ hồ. Ngài không bao giờ bất cẩn. Những lời Ngài luôn luôn được thiết lập một cách vững bền; mỗi lời của Ngài đều chắc chắn và không thể lay chuyển được. Càng đọc lời Ngài, chúng ta sẽ càng nhận thức rằng không một chữ nào có thể thêm vào hay xóa đi. Chúng ta phải lưu ý đến điểm này; không ai cẩu thả trong lời nói của mình lại có thể làm đầy tớ Đức Chúa Trời được. Một người nói năng cách cẩu thả không có ảnh hưởng giữa vòng các anh em và thậm chí không thể tự mình sử dụng lời Đức Chúa Trời được. Một vài anh em gây đau khổ cho người khác khi họ giảng trên bục. Chỉ cần lắng nghe bài giảng của người như vậy, thì chúng ta sẽ nhận thấy người ấy cẩu thả biết bao. Một người cẩu thả chỉ có thể giảng những lời cẩu thả. Thậm chí khi lời Đức Chúa Trời ở trước mặt mình, người ấy vẫn nói một cách cẩu thả. Nếu người ấy cẩu thả khi rời bục giảng, thì làm thế nào người ấy có thể khác hơn được khi đứng trên bục giảng? Không người cẩu thả nào có thể đọc Kinh Thánh, và không một diễn giả cẩu thả nào có thể rao giảng cho Chúa. Nguyện Đức Chúa Trời thương xót chúng ta. Nguyện chúng ta nhận được sự thương xót để có môi miệng chính xác. Chúng ta cần phải dâng lên Chúa lời cầu nguyện rằng: “Xin ban cho con miệng lưỡi của một người chịu học tập để con sẽ không cẩu thả, bất cẩn hay sai sót trong lời nói. Con không muốn bỏ mất nhiều điều. Con không muốn đánh mất chứng cớ của mình”. Nếu bất cẩn trong lời nói, chúng ta không thể đọc và hiểu lời Đức Chúa Trời. Trong việc nghiên cứu Kinh Thánh, chúng ta phải đào ra những sự kiện. Nhưng một người cẩu thả không thể tìm thấy sự kiện nào cả. Chúng ta phải tập nói năng một cách cẩn thận và thận trọng rồi mới có thể tán thưởng sự chính xác của mỗi một lời của Đức Chúa Trời.

BỐN

Mỗi công tác viên của Chúa đều có đặc điểm của mình. Trước mặt Chúa, người ấy có phần đặc biệt của mình, và Đức Chúa Trời dùng người ấy bằng cách làm lộ ra phần đặc biệt của người ấy. Nhưng người ấy cũng cần phải phát triển quân bình trong những lãnh vực khác. Sự phát triển quân bình sẽ loại ra bất cứ lỗ hổng hay khiếm khuyết nào trong chức vụ của người ấy. Nếu một anh em tài giỏi trong khía cạnh đặc biệt của mình, nhưng thất bại ở những lãnh vực khác, chức vụ của người ấy sẽ bị tổn hại do những chỗ rò rỉ. Trong những chương trước, chúng tôi bàn về các đức tính khác nhau như biết lắng nghe người khác, có tình yêu dành cho mọi người, có tâm trí sẵn sàng chịu khổ, đánh đập thân thể và siêng năng. Đó là những điều kiện cơ bản chúng ta cần phải có. Mọi đầy tớ của Đức Chúa Trời không nên thiếu những đức tính này. Điểm được bàn đến trong chương này ấy là kiềm chế lời nói của mình là một điều kiện cơ bản khác. Một người nói cẩu thả không thể truyền đạt lời Đức Chúa Trời một cách chính xác. Nhiều anh em lẽ ra phải có một tương lai rất xán lạn và đầy hứa hẹn nếu miệng lưỡi của họ không quá cẩu thả; họ mất đi tất cả sức mạnh của mình trước mặt Đức Chúa Trời.

Bằng mọi cách, chúng ta phải bảo vệ giá trị thuộc linh, “trọng lượng” thuộc linh và sự hữu dụng thuộc linh của mình trước mặt Chúa. Chúng ta không thể phung phí phần đặc biệt Đức Chúa Trời đã ban cho mình. Chúng ta không nên làm kiệt quệ điều đó, một ít ở đây và một ít ở kia. Để bảo tồn chức vụ của mình, chúng ta phải đóng kín mọi chỗ thất thoát lại. Việc bảo tồn chức vụ cần phải là một mối quan tâm hàng đầu của một công tác viên Cơ-đốc. Nếu chúng ta không bảo tồn chức vụ của mình, tất cả những điều và trách nhiệm Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta mỗi ngày sẽ mất đi một ít, và sau cùng chúng sẽ không còn gì cả. Chúng ta không thể bất cẩn dầu chỉ trong một lời mình nói ra. Chúng ta phải tiếp nhận những sự xử lý, khiển trách và đoán xét từ Chúa. Anh chị em ơi, chỉ tiếp nhận những điều tích cực không cũng chưa đủ. Chúng ta cũng phải lưu ý đến việc bảo tồn những điều tích cực để chúng không bị mai một. Nếu không xử lý lời nói của mình, chúng ta chắc chắn sẽ mất đi những điều tích cực mình đã có.

Khi đứng trước ngai phán xét, chúng ta có thể khám phá ra rằng sự tổn hại bởi lời nói phù phiếm, cẩu thả vượt quá sự tổn hại do nhiều điều khác gây ra, vì loại tổn hại ấy không dừng lại nơi chúng ta. Nó cũng tàn phá dữ dội trong cuộc sống những người khác nữa. Lời nói không dừng lại nơi chúng ta. Một khi lời nói đã được thốt ra thì nó tiếp tục lan truyền. Giả sử, vài anh em nói điều gì đó không đúng đắn. Một khi những lời nói ấy thoát ra khỏi môi miệng họ thì không thể rút lại được. Chúng ta có thể ăn năn về sự ngu xuẩn của mình, và có thể xin được tha thứ. Thậm chí chúng ta có thể tự vùi mình trong tro bụi mà ăn năn rằng: “Chúa ơi, con đã nói điều sai lầm”. Huyết của Chúa rửa sạch chúng ta, nhưng sẽ không cất đi những lời đã được thốt ra. Những lời ấy sẽ tiếp tục tồn tại trên đất. Chúng ta có thể xưng nhận tội lỗi của mình với Chúa và các anh em, và cả Chúa lẫn các anh em đều tha thứ cho chúng ta, nhưng những lời chúng ta đã thốt ra sẽ lưu lại và tiếp tục lan truyền. Vài công tác viên có thể thiếu tâm trí sẵn sàng chịu khổ. Những người khác có thể có nan đề trong việc lắng nghe người khác hay có nhược điểm là biếng nhác. Nhưng nan đề không kiềm chế lời nói có thể nghiêm trọng hơn so với sự biếng nhác, không biết lắng nghe hay thiếu tâm trí sẵn sàng chịu khổ. Những lời bất cẩn tuôn ra một dòng suối chết chóc, tiếp tục tuôn chảy và làm lan tràn sự chết ở bất cứ nơi nào nó đến.

Anh chị em ơi, đương đầu với những sự kiện nghiêm trọng như vậy, chúng ta cần cẩn thận trong lời nói của mình. Trước mặt Chúa, chúng ta cần phải ăn năn về những lời nói thốt ra từ môi miệng mình. Những lời ấy không sinh ra trái tốt. Thật ra, những lời ấy gây tổn hại trên nhiều phương diện cụ thể. Nhiều lời chúng ta thốt ra trước kia là “những lời tầm phào”, nhưng chúng không còn “tầm phào” nữa; chúng đang lan truyền trên khắp đất. Vào lúc chúng ta thốt ra những lời ấy, chúng là những lời tầm phào [nói ra lúc nhàn rỗi], nhưng không lâu sau đó, chúng trở nên rất bận rộn và tàn phá dữ dội. Chúng ta cần tìm kiếm sự thương xót của Đức Chúa Trời để được rửa sạch quá khứ của mình, và trong hiện tại, chúng ta cần cầu xin Ngài triệt để xử lý chúng ta và nung đốt chúng ta bằng than hừng cháy (Thi. 120:3-4). Nếu Ngài xử lý chúng ta và đốt cháy miệng lưỡi chúng ta để chúng ta không còn mở miệng ra một cách hấp tấp nữa, thì trong tương lai, chúng ta sẽ được cứu khỏi nhiều điều hối tiếc. Nhiều lỗi lầm một khi phạm phải thì không thể sửa chữa được. Lót có thể ăn năn và trở lại địa vị trước kia của ông, nhưng Mô-áp và Am-môn vẫn ở với chúng ta ngày nay. Áp-ra-ham có thể sinh ra Y-sác sau khi ông ăn năn, nhưng khi ấy Y-sác đã có một kẻ thù. Áp-ra-ham có thể đuổi A-ga đi, nhưng sự phiền phức ông gây nên vẫn còn đó. Một khi những lời nói của chúng ta được thốt ra thì chúng sẽ không dừng lại, và sự rắc rối chúng gây nên sẽ không ngưng lại. Chúng ta phải cầu nguyện Chúa nung đốt miệng lưỡi của chúng ta bằng than hừng cháy để chúng ta không thốt ra những lời tầm phào hay lời nói dối và không còn lơi lỏng nữa. Chúng ta cần phải cầu nguyện để miệng lưỡi mình trở nên miệng lưỡi của người đã được dạy dỗ. Chỉ khi nào Chúa kiểm soát môi miệng chúng ta một cách nghiêm ngặt và miệng chúng ta không còn nói năng một cách cẩu thả nữa thì chúng ta mới có thể trông mong Ngài dùng mình làm môi miệng của Ngài. Nếu không thì một mạch nước không bao giờ có thể phun ra hai loại nước. Chúng ta không thể phục vụ những người khác bằng nước ngọt lẫn nước đắng. Chúng ta có thể nói rằng mình có gánh nặng hầu việc Đức Chúa Trời và tham gia công tác của Ngài, nhưng chúng ta không thể khi này thì nói ra lời Đức Chúa Trời và khi khác thì nói ra lời ma quỉ. Chúng ta phải ngưỡng trông Chúa để Ngài ban cho chúng ta ân điển hầu kết liễu “lịch sử” cái miệng “nông nổi” của mình. Chúng ta nên thưa với Chúa rằng: “Xin làm cho mọi lời nói của con được Ngài chấp nhận, cũng như lòng con được Ngài chấp nhận”. Nguyện Chúa thương xót chúng ta!

Chúa Giê-su nói: “Con vì họ tự biệt ra thánh” (Gi. 17:19). Mọi đầy tớ của Đức Chúa Trời ao ước hầu việc Ngài đều phải tập tự biệt mình ra thánh ở mọi nơi. Để phục vụ những người khác, chúng ta phải tự biệt riêng ra thánh trong lời nói của mình. Nói là một cám dỗ lớn. Khi ba, năm, tám hay mười người nói chuyện với nhau, hòa mình và tham gia với họ là một cám dỗ lớn. Chúng ta phải tập tự biệt mình ra thánh, tự tách chúng ta khỏi những người khác và không hòa mình với họ. Chúng ta không nên nói năng một cách khinh suất. Chúng ta phải có lời nói, miệng lưỡi của người đã được dạy dỗ. Miệng lưỡi chúng ta phải trải qua lửa. Chúng ta đừng bao giờ tự phơi bày mình cho sự cám dỗ. Khi các anh chị em khác chuyện trò cách không đúng đắn, điều đầu tiên chúng ta cần làm là tự tách biệt mình ra khỏi họ. Hễ hòa mình và hiệp một với họ thì chúng ta sẽ sa ngã. Chúng ta phải tự tách mình ra khỏi họ và biệt riêng mình ra khỏi vòng họ. Mỗi khi tình huống như vậy xảy ra, chúng ta đừng chiều theo cám dỗ và đừng kết giao với những người như thế. Chúng ta phải luôn luôn tự biệt riêng mình ra. Tôi tin Đức Chúa Trời sẽ thương xót chúng ta và xây dựng chúng ta bằng ân điển từng chút một.