Thông tin sách

Tính Cách Công Nhân Của Chúa

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: The character of the Lord's worker
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 5

Untitled Document

CHƯƠNG NĂM

SIÊNG NĂNG

Thông thường, nếp sống hằng ngày của một công tác viên Cơ-đốc quyết định người ấy có hội đủ điều kiện để công tác cho Chúa hay không. Một số thanh niên biểu lộ những phẩm chất làm cho anh em chắc chắn có hi vọng rằng họ sẽ trở thành những đầy tớ hữu dụng của Đấng Christ. Ngay từ đầu, họ tạo cho những người khác một ấn tượng rằng họ là những hạt giống tốt và họ sẽ đơm hoa kết trái. Có những người khác rất tự tin và tự đánh giá mình thật cao, nhưng chẳng bao lâu, họ sa ngã bên đường. Không những họ vô dụng, mà còn làm nhơ nhuốc danh Chúa; họ chọn một con đường rộng rãi thênh thang. Những người khác thì ban đầu không có gì nổi bật cả; tuy nhiên, trong những năm về sau họ chứng tỏ giá trị của mình trước mặt Chúa. Anh em có thể hỏi làm sao chúng ta có thể giải thích những khác biệt lớn ấy. Tôi xin thẳng thắn trả lời rằng những đặc tính cơ bản nào đó trong sự cấu tạo và cá tính của mỗi người giải thích nguyên nhân người ấy hữu dụng và nếu thiếu những điều đó thì không ai có thể hữu dụng trong sự hầu việc Chúa. Một thanh niên có thể đầy hứa hẹn về nhiều mặt, nhưng nếu thiếu những đức tính cơ bản thì người ấy không thể thi hành công tác cho Chúa, dầu người ấy thật lòng khao khát hầu việc Chúa và dầu người ấy đã chuẩn bị sẵn sàng cho công việc ấy. Người ấy không bao giờ có thể thi hành một công tác thích đáng cho Chúa. Chúng tôi chưa từng gặp ai không thể kiểm chế thân thể mình mà có thể làm một công tác viên tốt cho Chúa. Tôi không biết trong những nghề nghiệp khác thì họ như thế nào, nhưng tôi chưa từng thấy một người không thể kiểm chế và cai trị thân thể mình lại tỏ ra là một đầy tớ hữu dụng của Chúa. Tôi cũng chưa từng thấy người nào không có tâm trí sẵn sàng chịu khổ mà có thể hầu việc Chúa. Tôi chưa bao giờ thấy ai thất bại trong việc lắng nghe người khác lại phục vụ một cách tốt đẹp. Mọi đầy tớ của Chúa phải có những đức tính cơ bản nhất định. Nói cách khác, họ phải hội đủ những điều kiện như vậy; họ phải nhận lấy sự thương xót từ nơi Chúa để có được những phẩm chất ấy rồi mới có thể hầu việc Chúa một cách đúng đắn. Hầu việc Chúa không đơn giản. Quá trình phá đổ và xây dựng cần thiết cho người bề ngoài. Nếu sai trật, phóng túng và vô kỷ luật trong nhiều điều, thì anh em không hội đủ điều kiện để làm công việc Chúa. Nhiều người không hội đủ điều kiện để làm công việc Chúa vì những nhược điểm trong cá tính và nhân cách của mình, chứ không phải vì thiếu phương pháp, kiến thức hay giáo lý. Trở ngại ấy đã trì hoãn công tác của Chúa trong nhiều trường hợp. Chúng ta phải tập lắng nghe các anh em, tự hạ mình trước mặt Chúa, tìm kiếm Ngài, tiếp xúc với Ngài trong nhiều phương diện. Chúng ta đừng bao giờ xem thường việc rèn luyện đức tính của mình. Nếu cá tính và bản chất của chúng ta chưa trải qua công tác cấu tạo nghiêm ngặt của Linh, chúng ta không thể trông mong công tác của mình kết quả nhiều. Cá tính của chúng ta không thể bỏ qua sự rèn luyện cơ bản nào. Nếu các đức tính được trau dồi, chúng ta có thể thi hành công tác cho Chúa. Thiếu một đức tính như vậy, chúng ta không thể thi hành công tác cho Ngài. Chúng ta hãy dành thời giờ trước mặt Ngài để bàn đến những vấn đề [liên quan đến] các đức tính ấy từng điểm một.

Trong chương này, chúng ta bàn đến một đức tính khác, ấy là sự siêng năng.

MỘT

Ma-thi-ơ 25:18, 24-28, 30 chép: “Duy kẻ nhận một, thì đi đào đất mà giấu bạc của chủ... Kẻ đã nhận một ta-lâng cũng đến mà trình rằng: Thưa chủ, tôi biết chủ là người cứng, gặt trong chỗ không gieo, lượm trong chỗ không rải; nên tôi sợ mà đi giấu ta-lâng của chủ dưới đất, và này, của chủ còn đây. Song chủ đáp rằng: Ớ đầy tớ gian ác và biếng nhác kia! Ngươi biết ta gặt trong chỗ không gieo, lượm trong chỗ không rải; vậy, đáng lẽ ngươi phải đưa bạc ta cho hàng buôn bạc, để khi ta trở về thì thâu được cả vốn lẫn lời. Vậy, hãy lấy ta-lâng nó đi mà cho kẻ có mười ta-lâng... Còn tên đầy tớ vô ích này, hãy quăng nó ra nơi tối tăm ở ngoài”. Phân đoạn này cho chúng ta thấy rằng một trong những đòi hỏi cơ bản cho một công tác viên của Chúa là siêng năng. Đoạn này rõ ràng mô tả nan đề căn bản trong cuộc sống của một người đầy tớ. Nan đề ấy có hai phương diện: Người ấy vừa “gian ác” vừa “biếng nhác”. Sự gian ác của người ấy được biểu lộ trong việc người ấy gọi chủ mình là “người cứng, gặt trong chỗ không gieo, lượm trong chỗ không rải”. Chúng tôi sẽ không nhấn mạnh về phương diện này trong cá tính của người đầy tớ, nhưng sẽ bàn đến khía cạnh kia, tức tính biếng nhác của người ấy. Người ấy giấu ta-lâng của mình dưới đất vì lòng gian ác và đôi tay biếng nhác. Trong lòng, người ấy có những ý nghĩ về chủ mình. Những ý nghĩ ấy thật gian ác. Đồng thời, người ấy không làm điều lẽ ra nên làm, thay vào đó lại giấu ta-lâng của mình dưới đất. Sự kiện này đơn giản [bày tỏ] tính biếng nhác. Chúng tôi muốn chú ý đến phương diện này trong cá tính của người ấy. Tính biếng nhác là nhược điểm lớn nhất giữa vòng nhiều người.

Những người biếng nhác không bao giờ tìm việc để làm. Nếu công việc đến với họ, họ tìm cách lẩn trốn. Nhiều Cơ-đốc-nhân cũng chấp nhận thái độ như vậy; họ xem những vấn đề lớn là nhỏ nhặt, và những vấn đề nhỏ thì không ra gì cả. Họ cố gắng biến một công tác lớn thành một công tác nhỏ, và làm cho một công tác nhỏ trở nên chẳng ra gì. Thái độ của họ luôn luôn là như vậy. Dựa vào kinh nghiệm, chúng ta có thể nói rằng chỉ có một loại người hữu dụng, đó là những người siêng năng. Một người biếng nhác thật đáng ghét. Có lần một anh em nói rằng thậm chí Sa-tan cũng không làm được gì với một người biếng nhác. Châm-ngôn 19:24 nói: “Kẻ biếng nhác thò tay mình trong dĩa, rồi không thèm đem nó lên miệng mình nữa”. Bất cứ điều gì đối với một kẻ biếng nhác đều khó khăn cả. Khó khăn là vì người ấy sợ bị mệt. Người ấy đặt tay mình vào dĩa, và thậm chí không thể đem nó lên miệng. Người ấy phải ăn, nhưng muốn những người khác múc thức ăn trong dĩa đưa tận miệng mình. Nếu từng có một người vô dụng trên thế giới này thì người ấy phải là người biếng nhác. Đức Chúa Trời sẽ không dùng một người biếng nhác. Anh chị em ơi, có bao giờ anh chị em nghe nói về một công tác viên Cơ-đốc có hiệu quả mà lại biếng nhác không? Mọi người từng được Đức Chúa Trời dùng đều siêng năng lao khổ và làm việc trong khi phục vụ Ngài. Người ấy luôn luôn cảnh giác vì sợ phung phí thời giờ và sức lực. Những người luôn luôn tìm cơ hội để nghỉ ngơi và giải trí không xứng đáng được gọi là đầy tớ của Đức Chúa Trời. Các đầy tớ của Đức Chúa Trời không thể chấp nhận một cuộc sống biếng nhác. Họ tìm cách tận dụng mọi cơ hội mở ra cho mình.

Hãy xem các sứ đồ trong Tân Ước, từ Phi-e-rơ đến Phao-lô. Chúng ta có thấy “khúc xương lười biếng” nào trong họ không? Họ không có chút dấu vết lười biếng nào cả. Họ không có ý tưởng lãng phí thời giờ của mình. Tất cả đều siêng năng lao khổ và tìm mọi cơ hội để hầu việc Chúa. Phao-lô nói: “Hãy giảng đạo, chuyên trì bất luận gặp thời hay không gặp thời, dùng đủ thứ kiên nhẫn, dạy dỗ mà thuyết phục, bẻ trách khuyên lơn” (2 Ti. 4:2). Cần phải công bố lời [Chúa] dù gặp thời hay không. Dầu gặp thời hay không, một người phải siêng năng lao khổ. Gặp thời hay không, một công tác viên của Chúa phải công tác. Điều này có nghĩa là người ấy phải rất siêng năng. Tất cả các sứ đồ đều vô cùng siêng năng. Hãy nghĩ đến lượng công tác lớn lao mà Phao-lô đã hoàn thành. Có lẽ mãi đến tám mươi tuổi chúng ta mới có thể thực hiện được một phần mười những gì Phao-lô đã làm. Chúng ta phải nhận thức rằng mọi đầy tớ của Chúa đều siêng năng. Xem xét công việc của Phao-lô, chúng ta có thể thấy ông thật sự siêng năng. Trong ông hoàn toàn không có sự biếng nhác. Ông đi đây đó rao giảng phúc-âm tại bất cứ nơi nào ông đến, hoặc bận rộn biện luận với các cá nhân và dạy dỗ họ. Ngay cả khi ở trong tù, ông vẫn viết các Thư-tín của mình. Các Thư-tín ấy chạm tới đỉnh cao của khải thị thuộc linh đều được ông viết trong nhà giam. Tuy ông bị giam cầm bên trong những bức tường của nhà tù, nhưng lời của Đức Chúa Trời không bị giam cầm. Phao-lô thật sự là một người siêng năng. Ông giống như Chủ của mình, là Đấng không bao giờ biếng nhác.

Trong nguyên ngữ của Tân Ước có ba chữ Hi-lạp được dùng cho tính biếng nhác. Thứ nhất là argos, thứ hai là nothros, và thứ ba là okneros. Cả ba chữ ấy đều có nghĩa là biếng nhác. Chúng được dịch khác nhau trong Tân Ước (1 Ti. 5:13; La. 12:11; Hê. 5:11; 6:12; Mat. 12:36; 20:3, 6; 2 Phi. 1:8; Phil. 3:1; Tít 1:12). Dầu những chữ ấy được dịch là ở dưng, biếng nhác, chậm lụt, nản hay làm biếng, chúng đều có nghĩa là khước từ hay miễn cưỡng thi hành công tác hoặc miễn cưỡng làm việc. Biếng nhác có nghĩa là bỏ qua công việc hay giảm bớt công việc cho đến khi nó không còn là công việc nữa. Có một chuyện vui về một người giữ cửa. Ông ta có trách nhiệm mở cửa mỗi khi khách đến thăm rung chuông. Ngày kia, chuông kêu leng keng, nhưng ông không chịu mở cửa. Khi được hỏi tại sao không mở cửa, ông ta trả lời: “Tôi hi vọng cái chuông sẽ ngừng kêu!” Khách đến thăm đang chờ bước vào, nhưng ông ta lại hi vọng cái chuông ngừng kêu. Anh chị em ơi, đó là loại người thế nào? Thật đáng tiếc, đó là cách nhiều người cư xử trong công tác của Đức Chúa Trời. Họ hi vọng công việc sẽ biến mất. Thậm chí khi công việc không biến mất, họ hi vọng nó sẽ không trở nên một gánh nặng cho mình. Trong tâm trí, họ nói: “Tôi sẽ cảm tạ Chúa dường nào nếu những việc này biến mất và tôi không phải giải quyết chúng!” Đó là gì? Đó là tính biếng nhác!

Tính biếng nhác là gì? Ấy là trì hoãn, kéo lê càng lâu càng tốt, và làm một công việc gì đó một cách từ từ. Có lẽ một việc nào đó có thể làm xong trong một ngày, nhưng người ấy kéo lê việc ấy đến mười ngày. Hay một việc nào đó có thể hoàn thành trong một tháng, nhưng người ấy kéo lê đến ba tháng. Người ấy tốn nhiều thì giờ mới làm xong công việc đó. Đó là biếng nhác. Trong vài trường hợp, chữ đó được dịch là “ở dưng” (Mat. 20:3, 6). Một người ở dưng là người đi loanh quanh không có mục đích gì cả. Người ấy lưỡng lự giữa việc hoạt động và không hoạt động, và tâm trí người ấy không bao giờ kiên quyết thực hiện điều cần phải làm. Trong Phi-líp 3:1, chữ ấy được dịch là “nản”. Phao-lô nói: “Thật tôi chẳng nản mà viết lại điều này cho anh em, vì ấy là an toàn cho anh em”. Ngay khi anh em đặt một việc gì trên vai vài anh chị em, thì họ miễn cưỡng tiếp nhận điều ấy. Điều đó thật chán nản đối với họ. Họ thở dài và phàn nàn, như thể họ bị yêu cầu gánh vác một nhiệm vụ hầu như không thể thực hiện và một gánh nặng trĩu đã đặt trên vai họ. Nhưng đó không phải là cách Phao-lô hành động. Khi viết các Thư-tín, ông đang ở trong tù. Sống trong hoàn cảnh kinh khủng như ông mà còn viết được thì thật là một sự thử thách. Nhưng trong khi viết cho người Phi-líp, Phao-lô cổ vũ họ hãy vui mừng. “Hãy vui mừng trong Chúa luôn luôn” (4:4). Nhìn vào hoàn cảnh, ông ở trong tình trạng gian khổ nặng nề. Nhưng ông nói: “Thật tôi chẳng nản mà viết lại điều này cho anh em”. Ông đã không biếng nhác. Ông không xem đó là chán nản, mà xem là một điều vui mừng. Ông không biết đến ý nghĩa của sự làm biếng. Trong ông, chúng ta thấy lòng nhiệt thành, là điểm nổi bật giữa vòng tất cả các đầy tớ của Đức Chúa Trời. Họ không biếng nhác và không chán nản khi chấp nhận những thách thức đối với mình.

Nhiều anh chị em đã trở nên vô dụng trong công tác của Đức Chúa Trời vì họ e ngại nhận lãnh bất cứ trách nhiệm nào. Điều gì cũng làm họ chán nản. Họ luôn luôn hi vọng được bớt việc. Họ chọn thà ít trách nhiệm còn hơn là nhiều trách nhiệm, và họ vui vẻ chấp nhận không có trách nhiệm gì cả. Họ không có tính siêng năng. Nếu lười biếng, không những chúng ta không hội đủ điều kiện làm công tác của Đức Chúa Trời, mà còn không đủ điều kiện làm công tác của con người nữa. Nhiều anh chị em không thể làm đầy tớ của Chúa vì họ lười biếng. Một số người được mệnh danh là đầy tớ của Chúa thì ngồi trên bệ cao. Dường như không ai điều khiển được họ; không anh chị em nào có thể đụng đến họ, và không ai có thể nói bất cứ điều gì với họ. Họ tự xem mình là đầy tớ duy nhất của Đức Chúa Trời. Nếu họ đổi chủ trong giây lát, họ sẽ lộ ra là thất bại hoàn toàn. Không người chủ nào cho phép họ cẩu thả như vậy. Bản tính và bước đi của chúng ta phải được rèn luyện đến nỗi chúng ta không bao giờ lùi bước trước những nan đề, nhưng thay vào đó thích phục vụ và hi sinh cho dân của Đức Chúa Trời, cả vật chất lẫn thân thể mình. Chúng ta cần phải thích lao khổ và làm việc bằng đôi tay của mình. Nếu đó không phải là lối sống của mình, chúng ta không hội đủ điều kiện để làm đầy tớ của Đức Chúa Trời! Phao-lô nói: “Chính anh em biết rằng hai bàn tay này đã tự cung cấp sự cần dùng của tôi và của đồng bạn của tôi” (Công. 20:34). Ông có đôi tay tốt lành; chúng hoàn toàn không lười biếng. Đôi tay ấy làm việc ngày đêm. Một người như vậy thật sự là một đầy tớ của Đức Chúa Trời.

HAI

Siêng năng là gì? Ấy là trái ngược với biếng nhác. Đó là không né tránh trách nhiệm. Một người siêng năng không cố gắng giảm công tác của mình xuống thành không còn gì. Trái lại, người ấy cố gắng tạo ra công việc từ chỗ không có gì cả. Trong khi phục vụ Chúa, nếu chúng ta không tìm kiếm công việc, rất có thể chúng ta lấy một hai ngày để nghỉ ngơi. Chúng ta không nên làm những người đứng không chờ đợi một điều gì đó xảy ra. Nếu chỉ làm khi có việc thì chúng ta không phải là người siêng năng. Một người siêng năng không bao giờ ở không; người ấy luôn luôn kiếm việc để làm. Người ấy luôn luôn cân nhắc, cầu nguyện, suy gẫm và xem xét trước mặt Đức Chúa Trời về những gì mình nên làm. Nếu không tự luyện tập như vậy, người ấy có thể thấy mình không có gì để làm cả. Nếu chỉ hành động “theo sách vở”, chẳng mấy chốc chúng ta có thể thấy “quyển sách” không để lại [cho chúng ta] bao nhiêu. Chúng ta cần phải trông mong tìm thấy nhiều công tác trong việc phục vụ Đức Chúa Trời. Chúng ta nên khám phá ra nhiều nhu cầu. Chúng ta phải cầu nguyện nhiều với Chúa và luôn luôn ngưỡng trông Ngài. Chúng ta nên mở mắt mình ra, và ngay khi thấy điều gì cần thực hiện thì chúng ta nên làm điều đó. Sau khi hoàn thành công tác ấy, chúng ta nên chờ đợi Chúa và lại ngưỡng trông Ngài. Và ngay khi thấy có thêm [công việc khác] để làm, chúng ta nên dấn thân vào giải quyết công việc ấy. Sau đó, chúng ta nên lại tìm kiếm ý chỉ của Đức Chúa Trời, và nhận lấy một nhiệm vụ khác. Hầu việc Đức Chúa Trời là như vậy. Chúa phán: “Cha Ta làm việc cho đến bây giờ, Ta cũng làm việc như vậy” (Gi. 5:17). Chúng ta đừng bao giờ thay đổi câu này mà đọc: “Cha Ta nghỉ ngơi cho đến bây giờ, Ta cũng nghỉ ngơi như vậy”. Biếng nhác không phải là lối sống của chúng ta; lối sống của chúng ta cần phải là: “Cha Ta làm việc cho đến bây giờ, Ta cũng làm việc như vậy”.

Chúng ta nên hỏi Chúa rằng: “Ngài có công tác gì cho con thực hiện?” Sau khi nói chuyện với người phụ nữ Sa-ma-ri, Chúa hỏi các môn đồ một câu rất lạ lùng: “Các ngươi há chẳng nói rằng: Còn bốn tháng nữa thì tới mùa gặt, sao? Này, Ta nói với các ngươi, hãy ngước mắt lên và ngắm xem đồng ruộng, đã vàng sẵn cho mùa gặt rồi” (4:35). Theo các môn đồ Ngài, bốn tháng sau mùa gặt mới sẵn sàng. Nhưng theo Chúa, mùa gặt đã đến rồi. Theo cái nhìn của con người thì phải đợi bốn tháng, nhưng Chúa phán: “Hãy ngước mắt lên và ngắm xem đồng ruộng, đã vàng sẵn cho mùa gặt rồi”. Ngày nay thiếu những con người ngước mắt mình lên. Mọi người đều muốn đợi bốn tháng nữa mới thi hành công tác. Ngày nay, nhiều người trú ẩn trong nhà thay vì bước đi trên con đường của Đức Chúa Trời. Mắt họ không hướng về những gì Đức Chúa Trời đang làm ngày nay. Trong Giăng 5:17, Chúa phán rằng Ngài luôn luôn làm những gì Cha Ngài sai Ngài làm. Trong Giăng 4:35, Ngài bảo chúng ta hãy ngước mắt lên mà nhìn. Nếu không ngước mắt lên, chúng ta sẽ không thấy gì cả. Vấn đề công tác hoàn toàn liên quan đến tính siêng năng. Điều ấy liên quan đến sự tận tâm của chúng ta. Đó không phải là vấn đề quan tâm đến những việc ở trong tay chúng ta, mà là vấn đề ngước mắt lên tìm việc mà làm. Đức Chúa Trời đang chuyển động và hành động đằng sau nhiều điều, và chúng ta phải ngước mắt lên tìm kiếm để khám phá ra những điều ấy. Chúng ta phải ngước mắt lên nhìn mùa gặt và xem mùa gặt đã chín chưa. Một khi quan sát, chúng ta sẽ tìm thấy công việc để làm. Thật kỳ lạ là có quá nhiều người dường như rất rảnh rỗi; dường như họ không có gì để làm cả!

Những người có ý định làm việc luôn luôn thấy việc để làm. Những người không có ý định làm việc luôn luôn ngại việc sẽ đến với mình. Một người siêng năng luôn luôn chờ đợi Đức Chúa Trời. Hễ rảnh rỗi thì người ấy đến với Chúa và tìm việc để làm. Người ấy luôn luôn tìm cơ hội để làm việc. Có lần một anh em nói: “Anh em kia không làm phận sự của mình. Rất nhiều anh em ở xa đến, mà anh ấy không dành chút thời giờ để tương giao với họ”. Anh em khác hỏi: “Sao anh không bảo anh ấy?” Anh trả lời: “Một việc như vậy mà cũng cần phải nhắc sao?” Điều đó thật đúng. Một đầy tớ của Chúa cần phải luôn luôn chờ đợi Đức Chúa Trời giao cho công việc để làm. Tất nhiên, điều này không có nghĩa là anh em nên đi đây đó và làm ồn ào một cách phô trương, nhưng có nghĩa là đầy tớ của Chúa nên luôn luôn tìm kiếm Đức Chúa Trời và ngưỡng trông Ngài. Người ấy cần phải tạo nên thói quen ngước mắt lên nhìn. Nếu người ấy thật sự bận rộn, Đức Chúa Trời sẽ không bắt phải gánh thêm việc. Nhưng hễ có thời giờ rảnh, người ấy nên hỏi: “Chúa ơi, Ngài muốn con làm gì?” Hễ ngước mắt lên thì chúng ta sẽ thấy nhiều người cần chúng ta phục vụ.

Những người luôn luôn không có gì để làm thì chỉ có một lý do: đó là họ đã quen lười biếng. Họ sống một cuộc sống lười biếng. Họ lười biếng trong bản chất. Khi một điều gì đó đặt vào tay họ, họ cần đến mười ngày để hoàn thành điều mà những người khác có thể làm trong một ngày. Họ không có động cơ thúc đẩy làm việc. Anh chị em ơi, chúng ta phải tích cực tìm kiếm công việc. Nếu chúng ta chưa ngưỡng trông Đức Chúa Trời vì công tác, cầu nguyện cho công tác và tìm thấy công tác, thì chúng ta lười biếng và sẽ không thể hoàn thành nhiều công việc. Dầu được cho [sống] thêm năm hay mười năm, chúng ta vẫn sẽ không tiến xa lắm trong công tác của mình.

Đòi hỏi cơ bản cho một công tác viên của Chúa là phải có đôi mắt nhạy bén. Ngay khi một nhu cầu dấy lên, người ấy nên biết phải làm gì và chuyển động thế nào. Không có đặc tính này, người ấy sẽ không tìm thấy bất cứ công việc nào cả. Linh chúng ta phải nhạy bén cho Chúa. Nếu không nhạy bén, chúng ta sẽ phản ứng chậm đối với những công việc [phải làm]. Chúng ta phải chú ý ngước mắt mình lên. Chúng ta không nên làm theo điều những người khác nói. Chúng ta không nên cho rằng còn bốn tháng mới đến mùa gặt. Chúng ta phải lắng nghe những gì Chúa nói: “Này, Ta nói với các ngươi, hãy ngước mắt lên và ngắm xem đồng ruộng, đã vàng sẵn cho mùa gặt rồi”. Thật kỳ lạ, một số người đi ngang qua cánh đồng mà không chịu nhìn. Họ nghĩ rằng mình còn phải đợi thêm bốn tháng nữa! Mỗi ngày họ đi ngang qua biết bao nhu cầu, nhưng không tìm thấy bất cứ điều gì để làm cả! Bàn tay họ đã chạm đến những việc cần làm rồi, mà họ vẫn nói rằng mình không biết phải làm gì. Thái độ ấy kỳ lạ biết bao! Anh chị em ơi, chúng tôi chưa từng thấy Chúa dùng một người biếng nhác. Những người được Đức Chúa Trời sử dụng là những người bỏ sức lực mình ra, luôn kiếm việc để làm, và không bao giờ lơi lỏng. Họ ra sức bảo vệ từng giây phút trôi qua và không bao giờ trì hoãn đến ngày mai những gì có thể làm hôm nay. Những người lơi lỏng [trong việc quản lý] thời giờ của mình thì không mấy hữu dụng trong bàn tay của Chúa. Một số người không nhúc nhích trừ phi được thúc đẩy. Họ cũng như những đồng hồ treo tường cổ lỗ; người ta phải lên dây thì mới chạy. Nếu không ai thúc đẩy, họ sẽ không tự chuyển động. Những người như vậy không mấy hữu ích cho công tác của Đức Chúa Trời. Bất kể đi đâu, hễ nơi nào chúng ta tìm thấy những anh em lao khổ và siêng năng làm việc thì nơi đó chúng ta thấy nhiều kết quả. Đức Chúa Trời đã thực hiện những công việc vĩ đại tại nhiều nơi vì nhiều người siêng năng lao khổ ở hậu trường. Tại vài nơi, công việc của Đức Chúa Trời bị cản trở vì một số người đã biếng nhác. Chúng tôi chưa từng thấy một người biếng nhác nào được Đức Chúa Trời đại dụng. Thông thường, lý do giải thích sự thất bại trong công tác không gì khác hơn là vì tính biếng nhác.

Chữ siêng năng trong tiếng Hi-lạp là spoude hay spoudazo. Chữ này còn được dịch là sốt sắng, nhiệt thành, hăng hái và nhanh nhẹn (La. 12:8, 11; 2 Cô. 7:11-12; 8:7-8, 16; Hê. 4:11; 6:11; 2 Phi. 1:5, 10; 3:14; Ga. 2:10; 2 Ti. 2:15; 4:9, 21; Tít 3:12; Giu. c 3; 1 Tê. 2:17; Êph. 4:3; 2 Phi. 1:15; Mác 6:25; Lu. 1:39). La Mã 12:11 đặt các chữ siêng năng (sốt sắng) và biếng nhác với nhau. Câu ấy nói: “Hãy siêng năng, chớ biếng nhác; lòng phải sốt sắng”. Nói cách khác, biếng nhác không phải là siêng năng. Trong công tác thuộc linh, một người phải được kể như mười người hay một trăm người. Nếu đầy tớ của Đức Chúa Trời lười biếng thì không công tác gì có thể được hoàn thành cả. Nếu chúng ta biếng nhác, và phải cần đến mười người chúng ta để làm công việc của một người, thì làm sao chúng ta có thể đáp ứng nhu cầu công tác? Anh chị em ơi, chúng ta phải có được đức tính siêng năng. Công tác của chúng ta có ngập đầu hay không là vấn đề thứ yếu. Vấn đề chủ yếu là chúng ta có siêng năng hay không. Chúng ta cần phải là những người hết lòng tìm kiếm công việc trước mặt Chúa. Tất nhiên, điều này không có nghĩa là chúng ta phải giả vờ bận rộn. Giả vờ cũng vô ích. Chúng ta cần phải siêng năng, và điều ấy có nghĩa là chúng ta không nên e ngại trách nhiệm, nên hầu việc Chúa với lòng sốt sắng, và nên nóng cháy trong linh. Chúng ta phải khám phá ra những gì mình có thể làm để phục vụ Đức Chúa Trời. Có thể điều này không biểu lộ qua những hoạt động bên ngoài, nhưng cần phải được biểu lộ qua phẩm chất và bản tính của chúng ta. Nếu bản chất chúng ta là biếng nhác, dầu trải qua nhiều ngày chúng ta có bận rộn mười hai tiếng một ngày đi nữa thì vẫn vô dụng, vì sau cùng chúng ta sẽ trở lại với những thói quen cũ của mình. Chúng ta phải siêng năng và tận tâm thì mới có thể trở nên hữu dụng cho Chúa. Một số người có thể tự ép mình làm việc trong hai tiếng đồng hồ, nhưng trên thực chất, họ vẫn là những người lười biếng; họ vẫn rất sợ trách nhiệm. Ngày đêm họ cầu nguyện để được giảm bớt trách nhiệm và hoàn toàn được thoát khỏi, và họ ao ước một ngày kia mình sẽ không phải chịu trách nhiệm điều gì cả. Đó không phải là cách Chúa chúng ta làm việc. Ngài đã đến thế gian để tìm kiếm loài người, và gánh lấy trách nhiệm. Ngài nói rằng Ngài đến “để tìm kiếm và cứu người hư mất”. Không phải Ngài đến chỉ để tiếp xúc với loài người; Ngài đến để tìm kiếm họ. Chúng ta phải có đức tính ấy rồi mới có thể tiến lên với Chúa.

2 Phi-e-rơ 1:5-7 nói: “Chính vì cớ ấy anh em hãy ân cần mọi bề mà thêm cho đức tin mình đức hạnh, cho đức hạnh tri thức, cho tri thức tiết chế, cho tiết chế nhẫn nại, cho nhẫn nại kỉnh kiền, cho kỉnh kiền tình kính mến anh em, cho tình kính mến anh em lòng thương yêu”. Đây là tính siêng năng. Phao-lô dùng chữ thêm cho sáu lần. Điều này cho thấy rằng một người siêng năng luôn luôn thêm vào những gì mình có; người ấy không tự mãn với những gì mình đã có. Chúng ta cần phải trau dồi đức tính ấy. Chúng ta cần phải luôn thêm vào những gì mình đã có và không bao giờ dừng lại. Phải luôn luôn “thêm cho...”. Chúng ta phải luôn luôn tự thúc đẩy chính mình. Đó là cách duy nhất để nhìn thấy kết quả. Nếu bản chất chúng ta là lười nhác và làm biếng, chúng ta sẽ không đi đến đâu cả. Một số người không cảm thấy trách nhiệm gì trong công việc của Đức Chúa Trời; họ không cảm thấy gánh nặng nào trên vai mình cả. Họ không bao giờ nghĩ đến việc cải thiện hay mở rộng công tác của mình. Họ chưa từng nghĩ đến việc chinh phục thêm người cho Chúa hay truyền bá phúc-âm đến tận cùng trái đất. Họ có thể chịu đựng mọi sự. Làm thế nào Đức Chúa Trời có thể dùng những người như vậy? Nếu hôm nay không thấy một hồn nào được cứu, họ chấp nhận tình trạng đó như là điều tất nhiên. Nếu ngày mai không thấy một hồn nào được cứu, họ cũng không lo lắng. Làm sao những người như vậy có thể công tác cho Đức Chúa Trời? Làm sao mục đích của Đức Chúa Trời có thể đạt được qua những công tác viên như vậy? Đức Chúa Trời cần những công tác viên không chịu thua, luôn luôn tìm cách thêm vào những gì họ có. Chỉ những người như vậy mới có thể tham gia vào công việc Chúa. Xin đọc lại 2 Phi-e-rơ 1:5-8: “Chính vì cớ ấy anh em hãy ân cần mọi bề mà thêm cho đức tin mình đức hạnh, cho đức hạnh tri thức, cho tri thức tiết chế, cho tiết chế nhẫn nại, cho nhẫn nại kỉnh kiền, cho kỉnh kiền tình kính mến anh em, cho tình kính mến anh em lòng thương yêu. Vì nếu các điều đó có đủ trong anh em và thêm lên nữa, ắt khiến anh em không đến nỗi ở dưng hoặc không kết quả đối với sự thông biết Chúa chúng ta là Giê-su Christ đâu”. Phi-e-rơ nói chúng ta nên siêng năng hơn nữa. Làm thế nào chúng ta có thể siêng năng? Chúng ta phải thêm vào những gì mình đã có. Đó là cách thoát khỏi sự nhàn rỗi. Nói cách khác, tính biếng nhác chỉ có thể được cất đi bởi tính siêng năng. Chúng ta trở nên siêng năng bằng cách nào? Chúng ta trở nên siêng năng bằng cách thêm vào những gì mình đã có. Chúng ta nên luôn luôn cảm thấy rằng mình không có đủ, không thỏa mãn với những gì mình có, và không dừng lại cho đến khi chúng ta dư dật và không còn nhàn rỗi hay không kết quả nữa để đạt đến sự hiểu biết trọn vẹn về Chúa Giê-su Christ chúng ta. Anh chị em ơi, chúng ta phải chống lại tính lười biếng của mình bằng “thêm cho...” Chúng ta nên lưu ý đến lời của Phi-e-rơ. Nếu chỉ giảng dạy giáo lý về sự siêng năng, chúng ta chỉ cần cổ vũ những người khác hãy siêng năng, và chỉ cần nói điều ấy một lần. Nhưng Phi-e-rơ lặp lại gương mẫu ấy trong các câu từ 5 đến 7. Ông cho chúng ta thấy rằng một người chỉ có thể siêng năng khi người ấy cứ thêm vào những gì mình đã có cho đến khi có được những điều ấy một cách dư dật. Đó là cách duy nhất để tránh tình trạng lười nhác hoặc không kết quả. Anh chị em ơi, chúng ta cần cầu nguyện để Chúa thay đổi cá tính của mình. Chúng ta không muốn biếng nhác. Chúng ta muốn làm những người vui vẻ, sẵn lòng công tác và luôn luôn tìm cơ hội hầu việc Chúa.

Phi-e-rơ đã không ngừng lại tại đây; ông tiếp tục. Xin đọc câu 15: “Tôi chuyên cần như vậy, hầu cho sau khi tôi qua đi rồi, bất cứ lúc nào anh em cũng có thể nhắc lại những điều ấy”. Tại đây, chữ siêng năng (chuyên cần) lại được dùng một lần nữa. Phi-e-rơ truyền bảo họ chuyên cần ghi nhớ những điều ấy. Có lẽ ông đã nhìn thấy quá nhiều người lười biếng. Đó là lý do tại sao ông đã phải chuyên cần nhắc nhở họ những điều ấy. Anh chị em ơi, chúng ta phải học tập hầu việc Đức Chúa Trời mình một cách siêng năng và tận tâm. Chúng ta cần phải nắm lấy mọi cơ hội để hầu việc Ngài. Chúng ta phải có một phẩm chất và một đức tính là luôn luôn siêng năng. Công tác viên siêng năng là người không những làm việc bằng tay chân mà còn làm việc bằng khối óc và con tim nữa. Nếu không siêng năng, chúng ta sẽ không hữu dụng mấy trong công tác của Chúa. Những người thông thạo giáo lý có thể hoàn toàn vô ích đối với Chúa nếu bản chất họ vốn lười biếng. Tất cả những người e ngại công việc và trách nhiệm, và không khao khát làm gì cả thì không hội đủ điều kiện hầu việc Đức Chúa Trời. Họ không thích hợp cho công tác của Ngài.

Hai Thư gửi cho Ti-mô-thê và Thư gửi cho Tít là những bức thư liên quan đến công việc Chúa. 2 Ti-mô-thê 4:9 chép: “Hãy cố gắng (hoặc dịch: siêng năng) đến cùng ta cho kíp”. Nếu siêng năng, một người sẽ đến cách nhanh chóng. Nhưng nếu biếng nhác, người ấy sẽ đến cách chậm chạp. Phao-lô nói: “Hãy cố gắng (siêng năng) đến cùng ta cho kíp”. Câu 21 nói: “Con hãy cố gắng (siêng năng) đến trước mùa đông”. Tít 3:12 cũng đề cập đến tính siêng năng. Trong các Thư-tín về công tác, tính siêng năng được nhấn mạnh rất nhiều.

Giu-đe cũng nói cùng một điều trong câu 3 rằng: “Kẻ yêu dấu ơi, khi tôi rất ân cần (hoặc dịch: siêng năng) viết cho anh em về sự cứu rỗi chung của chúng ta...”

Phao-lô cũng nói đến tính siêng năng ở những chỗ khác nữa. Trong khi chỉ ra sự ăn năn của người Cô-rin-tô, ông nói: “Kìa thử xem, anh em đã buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời thì sanh ra trong anh em sự ân cần (siêng năng)...” (2 Cô. 7:11). Trong tiếng Hi-lạp, chữ ân cần trong câu này là cùng một chữ được dịch là siêng năng.

Anh chị em ơi, nếu một người muốn học tập hầu việc Chúa, người ấy phải thức tỉnh đối với gánh nặng trách nhiệm của mình, đối với sự cấp bách của nhu cầu chung quanh, và đối với thời gian đang trôi qua vùn vụt! Cuộc sống thật ngắn ngủi. Nếu bên trong có một ý thức như vậy, người ấy sẽ trở nên siêng năng và bền bỉ. Nếu không cảm thấy thời gian đang trôi qua vùn vụt, sự cấp bách của nhu cầu chung quanh, hay gánh nặng trách nhiệm của mình, thì chúng ta sẽ không thể hoàn thành nhiều việc trong công tác của Đức Chúa Trời. Nếu gánh nặng đè trên mình, chúng ta sẽ không còn lựa chọn nào khác hơn là phải công tác, dầu phải mất ăn mất ngủ để đạt được mục tiêu. Đó là cách duy nhất để công tác của mình tiến triển. Nếu xem sự nghỉ ngơi là điều quan trọng nhất trong cuộc sống, chúng ta sẽ không tiến xa trong công tác của mình. Anh chị em ơi, thời giờ của chúng ta gần như sắp hết; nhu cầu vẫn rất cấp thiết, và trách nhiệm của chúng ta vẫn nặng nề như bao giờ. Như những người đang hấp hối với hơi tàn sức mỏn và cơ hội đang qua đi, chúng ta hãy dâng mình trọn vẹn để rao giảng phúc-âm cho những người đang hấp hối chung quanh. Nếu cứ chần chừ, lần lữa và không chịu nhìn thấy những nhu cầu chung quanh, trách nhiệm mình đang gánh vác, và chỉ còn một ít thời gian ngắn ngủi, thì chúng ta sẽ không hoàn thành được nhiều công tác cho Chúa. Ngày nay, mỗi đầy tớ của Đức Chúa Trời phải phục vụ trong tình trạng khẩn cấp nguy kịch. Dưới áp lực như vậy ai có thể biếng nhác? Anh chị em ơi, chúng ta phải chỗi dậy và khép thân thể mình vào kỷ luật để trở nên siêng năng. Như Phao-lô đã nói, chúng ta phải đánh đập thân thể mình và làm cho nó trở nên nô lệ của chúng ta. Chỉ nói suông rằng chúng ta thiết tha hầu việc Chúa cũng chưa đủ. Nếu lười biếng, chúng ta sẽ không thể giải quyết bất cứ nan đề nào trước mặt mình. Đừng nghĩ rằng biếng nhác là một điều nhỏ nhặt. 2 Phi-e-rơ 1:8 nói rằng biếng nhác là lười biếng và nhàn rỗi. Chúng ta không thể lười biếng và nhàn rỗi. Chúng ta phải đánh đập thân thể mình nhiều lần cho đến khi nhận thức rằng một sự hi sinh hoàn toàn, chân thật và thường nhật trong cuộc sống mình là cách duy nhất để có thể công tác và trở nên hữu dụng. Chúng ta không thể tự lừa dối mình. Một vài người nói rằng họ sẵn lòng dâng cuộc đời mình cho Chúa. Nhưng họ sống một cuộc sống biếng nhác. Trong mọi sự, họ cố gắng dành lại chính mình. Nếu cố gắng mang cá tính, thói quen và tính khí vào trong công tác của Chúa, họ sẽ khám phá ra rằng mình đang cản trở công tác của Chúa! Nếu lúc nào Phao-lô cũng phải đợi người Ma-xê-đoan mời rồi mới đến công tác tại đó, thì có lẽ sách Công-vụ chỉ ghi chép được một chuyến đi của Phao-lô đến xứ Ma-xê-đoan. Việc được mời đến xứ Ma-xê-đoan chỉ là một trong nhiều công tác của Phao-lô. Phần còn lại trong công tác của mình, Phao-lô thi hành với gánh nặng ông mang trước mặt Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta phải đợi các anh em đến với mình rồi mới chịu làm công tác, có thể chúng ta đợi chờ suốt đời mà không được gì cả. Chúng ta thi hành công tác vì mình có một gánh nặng, vì chúng ta biết rằng thời giờ ngắn ngủi, nhu cầu thật lớn lao, và sự tấn công của Sa-tan thật mãnh liệt. Chúng ta bắt buộc phải siêng năng. Sự biếng nhác làm cho người lẽ ra hữu dụng lại trở thành vô dụng. Nó có thể biến một người [có tiềm năng] phong phú trở nên một người chỉ công tác tới mức một phần ba, một phần năm hay một phần mười khả năng của người ấy! Bất cứ ai biết Đức Chúa Trời và hữu dụng trong tay Ngài đều siêng năng.

BA

Chúng ta hãy trở lại với phân đoạn trong Ma-thi-ơ 25:18-30. Phân đoạn đó nói gì? Trong ẩn dụ ấy, chúng ta thấy hai lời kết tội mà chúng ta có thể phải đối diện tại ngai phán xét — kết tội về sự “gian ác” và kết tội về sự “biếng nhác”. Người nô lệ ấy gian ác vì đã chất chứa những ý tưởng xấu về Chúa. Có lẽ không có nhiều người gian ác đến mức độ ấy. Nhưng có thể chín trong mười người phải thừa nhận rằng khi đứng trước mặt Chúa, mình là những nô lệ biếng nhác. Khi ấy, chính Chúa sẽ tuyên án rằng: “Còn tên nô lệ vô ích này, hãy quăng nó ra nơi tối tăm ở ngoài” (c. 30). Chúa xem một đầy tớ biếng nhác là một đầy tớ “vô dụng”. Đôi khi chúng ta hỏi tại sao Chúa dùng một anh em nào đó. Ngài dùng anh em ấy vì ngày đêm anh tận hiến chính mình cho điều anh đang làm. Con đường mở ra cho những người siêng năng; không người lười biếng nào có thể nhận lấy con đường ấy. Chúng ta phải hi sinh tất cả rồi mới có thể tiếp nhận con đường này. Anh chị em ơi, nếu không giải quyết vấn đề biếng nhác, chúng ta không thể làm công tác gì cả. Một khi trở nên lười biếng, giá trị của chúng ta bị giảm đi phân nửa. Nếu cho phép chính mình tiếp tục như vậy, cuối cùng chúng ta có thể chỉ còn lại một phần mười giá trị của mình. Ngày nay đã có quá ít người biết đến Chúa. Nếu chúng ta cứ chần chừ, lần lữa và không chịu cố gắng, thì làm thế nào công tác của chúng ta thực hiện được điều gì? Đừng xem nhẹ vấn đề này. Đừng nghĩ tính siêng năng là một điều nhỏ nhặt. Nhiều người trước kia đã trở nên vô dụng và sa ngã dọc đường, họ phung phí đời mình vì tính biếng nhác. Chúng ta hãy tiếp nhận lời cảnh cáo nghiêm trọng này. Ngay từ hôm nay, chúng ta hãy ngưỡng trông Chúa để Ngài làm cho chúng ta có thể hoàn toàn đảo ngược thói quen và bản tính của mình. Nguyện Chúa cất đi tính biếng nhác khỏi chúng ta. Chúng ta không thể biếng nhác và nhàn rỗi. Nếu biếng nhác, công tác của chúng ta sẽ không có tương lai.

Chúng ta cần phải kỷ luật thân thể mình một cách nghiêm khắc đến nỗi nó phải hoàn toàn vâng phục chúng ta. Chúng ta cần phải siêng năng chứ đừng biếng nhác. Căn bệnh thông thường nhất giữa vòng chúng ta là biếng nhác. Có lẽ, mười người hết chín là biếng nhác. Một đầy tớ của Chúa cần phải có nghị lực để luôn luôn thúc đẩy chính mình tiến lên. Kinh Thánh dùng con bò thay vì con ngựa để tượng trưng cho sự phục vụ. Một con bò chậm chạp cần cù làm cùng một công việc hôm nay, ngày mai và ngày kế tiếp; nó không bao giờ bỏ việc. Nếu hôm nay chúng ta làm công tác khi thấy hứng thú và ngày hôm sau lại nghỉ ngơi khi thấy chán nản, hay làm công tác khi thời tiết tốt và nghỉ ngơi khi thời tiết xấu, chúng ta sẽ không bao giờ nhìn thấy kết quả nào trong công tác của mình. Nhưng nếu chúng ta tiến lên từng bước, từng ngày, một cách bền bỉ và đều đặn, thì sớm muộn gì chúng ta cũng nhìn thấy kết quả. Nguyện Chúa giải cứu chúng ta khỏi con đường khinh suất và ngu dại để chúng ta có thể giống như con bò, kiên trì, gắn bó, đều đặn, luôn luôn làm việc cách bền bỉ và siêng năng. Nếu làm như vậy, chúng ta sẽ có cách tiến lên.

Sách Châm-ngôn đề cập đến sự biếng nhác nhiều hơn bất cứ sách nào khác trong Cựu Ước. Sách ấy trình bày một bức tranh rõ ràng về ý nghĩa của sự biếng nhác. Chữ Hê-bơ-rơ atsel được dịch mười bốn lần là biếng nhác hoặc chậm lụt (6:6, 9; 10:26; 13:4; 15:19; 19:24; 20:4; 21:25; 22:13; 24:30; 26:13-16). Một lần chữ ấy được dịch là sự biếng nhác (19:15). Chữ Hê-bơ-rơ remiyah cũng được dịch là biếng nhác hai lần (12:24, 27). Sa-lô-môn làm sáng tỏ ý nghĩa của sự biếng nhác.

Vì sự biếng nhác là một thói quen được tạo nên qua nhiều năm, nên chúng ta không thể hi vọng sửa đổi trong một hai ngày. Nếu chúng ta không xử lý tính ấy một cách nghiêm khắc, có thể nó sẽ ở với chúng ta suốt đời. Đừng tưởng rằng chỉ cần nghe một bài giảng là giải quyết được nan đề. Không đơn giản như vậy. Thói quen ấy được tạo nên sau nhiều năm tháng, và đã trở nên một phần cá tính của chúng ta. Trừ phi chúng ta xử lý nó một cách nghiêm khắc trước mặt Chúa, chúng ta sẽ không thể loại bỏ nó khỏi mình. Chúng tôi hi vọng những người quen lười biếng sẽ hết lòng xử lý tính biếng nhác của mình. Trừ phi giải quyết vấn đề này một cách nghiêm túc, họ không thể tham dự vào công việc của Chúa. Công việc của Đức Chúa Trời không thể chấp nhận những người lười biếng. Không người biếng nhác nào có thể tạo ra một công việc thích đáng, vì bản tính của người lười biếng là luôn luôn cố gắng bỏ qua hay trì hoãn công việc. Khi công việc đến với mình, người ấy hi vọng chúng biến hẳn đi. Nói đến công tác của Đức Chúa Trời thì những người quen lười biếng thật vô vọng. Mỗi đầy tớ của Chúa phải là một người bận rộn. Người ấy cần phải luôn luôn tìm kiếm điều gì đó để bận rộn. Người ấy cần phải đặt chính mình dưới mọi gánh nặng và đào sâu xem xét mọi nan đề; người ấy không nên trốn tránh những rắc rối. Anh chị em ơi, chúng ta phải xử lý thói quen xấu của mình là lẫn tránh công việc, nan đề và nhiệm vụ. Chúng ta phải xử lý tính [xấu] ấy một cách nghiêm khắc. Một người lười biếng không bao giờ có thể hầu việc Đức Chúa Trời.