Thông tin sách

Tính Cách Công Nhân Của Chúa

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: The character of the Lord's worker
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 2

Untitled Document

CHƯƠNG HAI

YÊU NHÂN LOẠI

MỘT

Mỗi công tác viên của Chúa không những phải yêu các anh em mà còn phải yêu tất cả mọi người. Sa-lô-môn từng nói rằng: “Ai nhạo báng người bần cùng sỉ nhục Đấng Tạo Hóa mình” (Châm. 17:5). Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa của mọi người; vì vậy, mọi người đều đáng được chúng ta yêu. Một đầy tớ hay công tác viên của Chúa không xứng đáng hầu việc Ngài nếu người ấy thiếu tình yêu anh em hay nếu người ấy chỉ có tình yêu anh em mà thiếu tình yêu nhân loại. Trước khi một người có thể hầu việc Chúa, người ấy phải có tình yêu đối với mọi người, một sự yêu thương thật dành cho nhân loại. Tất cả những ai thấy loài người là chán ngắt, phiền phức và đáng khinh đều không đủ tư cách làm đầy tớ của Đức Chúa Trời. Chúng ta phải nhận thấy rằng dưới mắt của Đức Chúa Trời, con người vốn được Ngài dựng nên. Tất nhiên con người đã sa ngã, nhưng con người đã trở nên đối tượng cứu chuộc của Chúa. Tuy bản chất con người là ngoan cố, nhưng Thánh Linh đã chọn lựa và chạm đến con người. Thậm chí Chúa Giê-su trở nên một con người khi Ngài đến trên đất — một con người như bao nhiêu người khác, dần dần tăng trưởng từ trẻ thơ đến khi trưởng thành trọn vẹn. Ý định của Đức Chúa Trời là muốn lập nên một con người “tiêu chuẩn”, một con người đại diện, mà trong người đó mọi kế hoạch của Đức Chúa Trời được trở thành hiện thực. Sau khi Chúa Giê-su thăng thiên, hội-thánh được hình thành, tức là “một người mới”. Toàn bộ kế hoạch cứu chuộc đều liên quan đến việc nâng cao và vinh hóa con người. Khi thật sự hiểu Lời Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ nhận thức rằng từ ngữ con cái Đức Chúa Trời không có “trọng lượng” bằng từ ngữ con người, và chúng ta cũng sẽ nhận thức rằng kế hoạch, sự tuyển chọn và sự tiền định của Đức Chúa Trời có đối tượng là một con người được vinh hóa. Khi chúng ta thấy vị trí con người nằm trong mục đích của Đức Chúa Trời, khi chúng ta thấy con người là tiêu điểm trong mọi kế hoạch của Ngài, và khi chúng ta thấy thế nào Chúa tự hạ mình để trở nên một con người, chúng ta sẽ học tập quí trọng mọi người. Khi Chúa chúng ta ở trên đất, Ngài phán: “Vì Con [Loài] Người đã đến không phải để được người ta phục vụ, bèn để phục vụ người ta, và phó mạng sống mình làm giá chuộc nhiều người” (Mác 10:45). Lời Chúa thật rõ ràng. Con Loài Người đến để phục vụ nhiều người. Nhiều người không phải chỉ về hội-thánh hay con cái Đức Chúa Trời, mà chỉ về mọi người. Hơn nữa, Ngài không nói rằng Con Đức Chúa Trời đến để phục vụ, mà Con Loài Người đến để phục vụ. Tại đây chúng ta thấy thái độ của Chúa đối với con người.

Một nan đề nghiêm trọng đối với nhiều người tham dự vào công tác của Đức Chúa Trời là họ hoàn toàn thiếu tình yêu và lòng tôn trọng đối với con người, và hoàn toàn thất bại trong việc nhận thức giá trị của con người theo cái nhìn của Đức Chúa Trời. Ngày nay, chúng ta cảm thấy như mình đã đạt đến những đỉnh rất cao khi chúng ta bắt đầu yêu mến con cái Đức Chúa Trời. Trước kia, chúng ta không yêu ai cả. Bây giờ, vì có thể yêu các anh em một chút ít, nên chúng ta cảm thấy như mình đã hoàn thành được một việc to tát. Tuy nhiên, anh chị em ơi, như vậy chưa đủ. Chúng ta cần được Chúa mở rộng; chúng ta cần nhìn thấy rằng mọi người đều quí báu đối với Đức Chúa Trời. Chúng ta có gây dựng được một công tác thuộc linh tốt lành hay không tùy thuộc vào mức độ chúng ta yêu thương con người và mức độ chúng ta quan tâm đến con người. Điều tôi muốn biết không phải là chúng ta có quan tâm đến một vài người thông minh đặc biệt nào đó hay không, vài người thật nổi bật không mặt này thì mặt khác, nhưng tôi muốn biết chúng ta có quan tâm đến con người một cách tổng quát không. Đó là một vấn đề có tầm quan trọng rất lớn. Sự đến của Con Loài Người trước hết ngụ ý Chúa vô cùng quan tâm đến con người; Ngài rất quan tâm đến con người đến nỗi Ngài trở nên một con người. Chúa rất quan tâm đến con người, nhưng chúng ta quan tâm đến mức nào? Có thể chúng ta không suy nghĩ nhiều về cá nhân này hay cá nhân kia. Nhưng Chúa nhìn những con người ấy như thế nào? Chúa nói Con Loài Người đã đến. Điều này có nghĩa rằng Ngài là Con Loài Người đến giữa vòng nhân loại. Điều đó cũng có nghĩa là Ngài quan tâm đến nhân loại, Ngài có cảm tình với nhân loại, và Ngài đánh giá cao nhân loại. Ngài rất quí trọng con người đến nỗi Ngài nhận lấy địa vị của một con người để phục vụ loài người. Điều lạ lùng là nhiều con cái Đức Chúa Trời ít quan tâm đến loài người. Chúng tôi phần nào “phẫn nộ” về sự lãnh đạm ấy. Anh chị em ơi, chúng ta có biết ý nghĩa của nhóm chữ Con [Loài] Người đã đến không phải để được người ta phục vụ, bèn để phục vụ người ta không? Chúng ta nên suy gẫm những lời ấy trước mặt Chúa. Những lời ấy cho chúng ta biết rằng Đấng Christ quan tâm đến con người. Anh chị em ơi, thật là sai lầm hết sức nếu người nào nói: “Tôi ở giữa vòng loài người, nhưng tôi tuyệt nhiên không quan tâm đến họ”.

Lòng quan tâm đến con người là một điều kiện cơ bản cần có trong cuộc sống của mọi công tác viên. Điều này không có nghĩa là một người chọn ra vài cá nhân rồi chỉ gia tăng mối quan tâm đối với những cá nhân ấy. Điều này không có nghĩa là một người có thể chỉ quan tâm và yêu mến riêng những người nào đó. Đây có ý nói về mối quan tâm dành cho mọi người. Chúng ta phải lưu ý đến Chúa Giê-su, mà đặc điểm nổi bật của Ngài là thông cảm và yêu thương mọi người. Ngài rất quan tâm đến con người đến nỗi Ngài có thể nói: “Con [Loài] Người đã đến không phải để được người ta phục vụ, bèn để phục vụ người ta”. Nếu chúng ta đến một nơi nào đó và không đòi người ta phục vụ, nhưng lại phục vụ họ, thì chúng ta không xa cách mấy thái độ chúng tôi đang nói đến. Điều này sẽ đặt chúng ta vào con đường đúng đắn với vị thế đúng đắn. Anh chị em ơi, đầy tớ của Đức Chúa Trời không thể chỉ dành tình yêu cho các anh em của mình. Nếu một công tác viên của Chúa chỉ yêu các anh em của mình một cách ích kỷ, thì người ấy hoàn toàn thất bại. Tình yêu anh em không phải là điều đứng đầu trong bảng liệt kê của chúng ta, nhưng là điều được thêm vào tình yêu của chúng ta dành cho mọi người. Chúng ta phải có tình yêu dành cho mọi người. Giăng 3:16 nói: “Đức Chúa Trời yêu thương thế gian”. Thế gian chỉ về điều gì? Thế gian chỉ về mọi người trên thế giới này, kể cả những người chưa được cứu và không biết gì về Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời yêu thương thế gian; Ngài yêu mọi người trên thế gian này. Đó là ý nghĩa của câu Đức Chúa Trời yêu thương thế gian. Nếu Đức Chúa Trời yêu thương mọi người còn anh em thì không, hay nếu anh em chỉ mở rộng tình yêu của mình cho một người sau khi người ấy trở nên một anh em, thì lòng anh em khác với lòng Chúa, và anh em không đủ tư cách hầu việc Ngài. Lòng anh em phải được mở rộng đến mức độ anh em yêu thương mọi người và quan tâm đến mỗi người. Hễ ai là một con người thì anh em cần phải quan tâm đến người ấy. Đó là cách duy nhất để hầu việc Đức Chúa Trời.

HAI

Chúa Giê-su nói: “Con [Loài] Người đã đến không phải để được người ta phục vụ, bèn để phục vụ người ta” (Mác 10:45). Nói cách khác, Chúa không bao giờ xin loài người bất cứ điều gì. Chúng ta cần phải quan tâm đến con người và phải thấy con người là đáng yêu. Hơn nữa, chúng ta không nên lợi dụng người ta hay để người ta phục vụ mình. Chúng ta không nên làm cho họ xấu hổ hay tổn thương. Thậm chí chúng ta không nên nhận lấy sự phục vụ của họ. Anh chị em ơi, nhiều năm được giáo dục đã tạo cho chúng ta thói quen gọi mọi người là “đồng loại”; tuy nhiên, đây không phải là vấn đề từ ngữ mà là vấn đề cảm nhận. Ví dụ, chúng ta có một cảm nhận nào đó về các anh em mình. Chúng ta cảm thấy những anh em nào đó là anh em của mình và chúng ta “cùng là anh em” với họ. Nhưng tôi xin hỏi: chúng ta có cảm nhận mình là “đồng loại” với tất cả mọi người không? Chúng ta có cảm thấy họ là đồng loại của mình không? Nếu không có một cảm nhận như vậy, chúng ta không thể hầu việc Đức Chúa Trời. Mọi đầy tớ của Đức Chúa Trời cần phải có một tấm lòng mở rộng. Lòng họ cần phải mở rộng đến nỗi có thể bao gồm và chấp nhận mọi người. Họ cần phải có khả năng “ôm” lấy toàn thể nhân loại vào lòng mình. Nan đề lớn nhất giữa nhiều công tác viên là họ thiếu tình yêu như vậy đối với mọi người. Tình yêu của họ dành cho anh em đã không đủ rồi. Tình yêu của họ dành cho tất cả mọi người lại gần như không có. Có lẽ họ có thể chọn được một người trong một trăm hay thậm chí trong mười ngàn người để yêu thương! Nếu đó là tình trạng của chúng ta, thì chúng ta không có tình yêu dành cho mọi người. Chúng ta phải ghi nhớ rằng Đức Chúa Trời là Đấng Sáng Tạo của mình và chúng ta đều là tạo vật cả; chúng ta đều là con người. Chúng ta phải mở rộng sức chứa của lòng mình để yêu thương mỗi người đã được Đức Chúa Trời tạo dựng, mỗi người đồng loại. Chúng ta không nên để họ chịu khổ, không nên lợi dụng họ, và không nên tìm cách để được họ phục vụ. Con Loài Người không đến để được phục vụ, mà để phục vụ.

Anh chị em ơi, chúng ta tuyệt nhiên không nên lợi dụng những người khác. Một Cơ-đốc-nhân cần phải nhận thức rằng lợi dụng đồng loại của mình trong khi sống trên đất thật đáng xấu hổ. Lợi dụng anh chị em là điều sai trật, nhưng lợi dụng bất cứ người nào thì cũng sai trật như vậy. Về việc nhận [sự giúp đỡ] từ người khác, thái độ cơ bản của Chúa chúng ta là Ngài không bao giờ để người ta phục vụ Ngài. Ngài hoàn toàn không có ý định nhận lãnh bất cứ điều gì từ ai cả. Chúng ta phải ghi nhớ đừng bao giờ ích kỷ để người khác phục vụ và cung ứng cho mình trong khi họ phải chịu hi sinh và mất mát.

Con cái Đức Chúa Trời không nên lợi dụng những người khác, không phải chỉ vì Chúa cấm điều đó, mà vì chúng ta là đồng loại. Chúng ta không nên kiếm lợi lộc từ đồng loại của mình. Chúng ta phải nhận thức rằng theo cái nhìn của Đức Chúa Trời, mọi người đều đáng yêu. Nếu chúng ta không quan tâm đến con người, dưới nhãn quan của Đức Chúa Trời, công tác của chúng ta sẽ không có giá trị bao nhiêu, cho dù cái mã bề ngoài có vĩ đại thế nào đi nữa. Đức Chúa Trời muốn nhìn thấy những đầy tớ của Ngài gia tăng khả năng của họ và quan tâm đến mọi người. Đó là cách duy nhất để trở nên một người nhân từ; đó là cách duy nhất để hầu việc Chúa.

BA

Mác 10:45 nói: “Con [Loài] Người đã đến không phải để được người ta phục vụ, bèn để phục vụ người ta, và phó mạng sống mình làm giá chuộc nhiều người”. Lu-ca 19:10 nói: “Bởi Con [Loài] Người đã đến tìm và cứu kẻ hư mất”. Giăng 10:10 nói: “Ta đã đến hầu cho chiên được sự sống, và được [sự sống] dư dật”. Chúa Giê-su đã đến thế gian vì con người. Theo Mác chương 10, Ngài đến phục vụ loài người thậm chí đến mức phó mạng sống mình làm giá chuộc. Mục đích Ngài đến là để phục vụ loài người. Để phục vụ loài người, Ngài cần phải phó mạng sống mình làm giá chuộc, và đó là điều Ngài đã làm. Ngài trở nên một giá chuộc là hành động chung cuộc và cao cả nhất trong những gì Ngài làm để phục vụ loài người. Chúa đã không nói rằng Con Loài Người đến chỉ để làm giá chuộc. Ngài phán Con Loài Người đến “để phục vụ”. Mục tiêu là phục vụ. Ngài đã quan tâm đến loài người, và Ngài xem loài người là quí báu và đáng được yêu thương và phục vụ. Ngài phục vụ loài người đến mức độ đáp ứng nhu cầu của họ bằng cách trở nên Đấng Cứu Rỗi của họ. Đó là lý do tại sao Ngài phó mạng sống mình làm giá chuộc. Nếu chúng ta rao giảng phúc-âm về việc Chúa hi sinh mạng sống mình làm giá chuộc mà không có tấm lòng phục vụ của Chúa, thì chúng ta không đủ điều kiện để được gọi là những công tác viên của Ngài. Loài người thật đáng được yêu thương. Vì loài người đáng được yêu thương, nên Chúa đã không nói rằng đó là “Con Đức Chúa Trời” đến để phục vụ, mà [nói] “Con Loài Người” đến. Trước hết Chúa Giê-su yêu thương và phục vụ loài người, sau đó Ngài mới phó mạng sống mình cho họ. Tình yêu đến trước; hi sinh mạng sống theo sau. Khi thi hành công tác giữa vòng loài người, chúng ta không thể rao giảng về sự hi sinh của Chúa mà trước hết không có một tình yêu tương xứng. Chúng ta không nên nghĩ rằng trước hết mình có thể rao giảng về sự hi sinh của Ngài rồi yêu thương người nghe sau khi người ấy tiếp nhận Chúa. Nếu chúng ta không quan tâm đến con người và không thấy người ấy quí báu, và nếu chúng ta không nhận thức rằng chúng ta đều cùng là tạo vật của Đức Chúa Trời, thì chúng ta không thể rao giảng về sự hi sinh. Nếu chúng ta chưa từng được cảm động bởi lời này: Đức Chúa Trời tạo dựng con người, hay rất ít xúc động đối với điều ấy, thì chúng ta không xứng đáng rao giảng về sự hi sinh của Đấng Christ. Anh chị em ơi, trước hết chúng ta phải yêu thương mọi người rồi sau đó mới có thể dẫn dắt họ đến với Chúa. Chúng ta không thể đợi đến khi họ tiếp nhận Đấng Christ hay trở nên anh em của mình rồi mới yêu thương họ. Thật đáng tiếc, đó là một nan đề đối với nhiều người; họ thiếu sót trong vấn đề này. Nhiều người đợi đến khi người khác trở nên một anh em hay chị em rồi mới yêu thương người ấy. Anh chị em ơi, đó không phải là cách Chúa chúng ta hành động. Trước hết Ngài yêu thương, rồi Ngài ban mạng sống mình. Chúng ta là những người rao giảng về sự cứu chuộc của Ngài thì trước hết cũng phải yêu thương rồi rao giảng về sự cứu chuộc. Trước hết Chúa chúng ta phục vụ và bày tỏ sự thương xót đối với những người khác rồi mới ban mạng sống mình làm giá chuộc. Cũng vậy, chúng ta nên quan tâm đến con người, kể họ là đáng được chúng ta yêu thương và thương xót, trước khi chúng ta trình bày sự cứu chuộc của Chúa cho họ.

Nếu Đức Chúa Trời mở lòng chúng ta để thấy mình là đồng loại giữa vòng mọi người, thái độ của chúng ta đối với họ sẽ thay đổi một cách mãnh liệt. Chúng ta sẽ thấy con người thật đáng yêu và quí báu. Anh chị em ơi, chúng ta cần được sáng tỏ rằng dưới cái nhìn của Đức Chúa Trời, con người thật quí báu vì Ngài đã tạo dựng con người theo hình dạng của Ngài. Thậm chí ngày nay, con người vẫn mang hình dạng của Đấng tạo dựng mình. Nếu con người không trở nên đối tượng chúng ta yêu mến thì chúng ta không thể trở nên đầy tớ của con người. Chúng ta phải thấy con người đáng yêu và quí giá trong cái nhìn của Đức Chúa Trời. Nhiều anh chị em có một thái độ, tính khí và cảm nghĩ hoàn toàn sai lầm đối với đồng loại của mình. Họ xem những người ấy là một gánh nặng, sự rắc rối, phiền lòng hay sự quấy rầy. Điều đó hoàn toàn sai trật. Chúng ta phải học tập nhìn thấy con người là tạo vật của Đức Chúa Trời mang hình ảnh của Ngài. Mặc dầu con người đã sa ngã, tương lai của con người vẫn tươi sáng. Nếu xem con người là đáng yêu, chúng ta sẽ không cảm thấy con người là một gánh nặng, sự rắc rối, phiền lòng hay sự quấy rầy đối với mình. Chúa đã đi đến thập tự giá vì con người. Tình yêu của chúng ta có thể nào kém hơn như vậy không? Nếu một người thật sự được Chúa chạm đến, và nếu người ấy thật sự thấy mục tiêu việc Chúa đến trên đất, tự phát người ấy sẽ kết luận là con người thật đáng yêu. Người nào hiểu biết thật sự về Chúa thì không thể khinh thường con người.

Con người đáng được chúng ta yêu. Mọi tội lỗi đều có thể tha thứ; chúng ta có thể thông cảm với mọi yếu đuối và những hành vi của xác thịt. Chúng ta là những tội nhân, và biết tội nhân như thế nào. Nhưng đồng thời, chúng ta cũng biết con người thật quí báu. Anh chị em ơi, không phải Chúa chết cho con người vì có rất nhiều người. Ngài nói rằng Người Chăn Chiên Hiền Lành từ bỏ mọi sự để tìm kiếm một con chiên đi lạc. Ngài không đến tìm kiếm để cứu con chiên đi lạc vì đã có chín mươi chín con chiên. Người chăn chiên tốt đã đến vì cớ một con chiên lạc mất. Nói cách khác, dầu trong cả thế giới chỉ có một người bị hư mất, Chúa vẫn đến trên đất. Tất nhiên, theo lịch sử, mọi người đều cần được cứu. Nhưng nói về tình yêu thương trong lòng Ngài, Ngài sẵn sàng đến vì một người, vì một con chiên đi lạc. Thánh Linh không bắt đầu tìm kiếm vì mười đồng tiền bị mất; Ngài tìm kiếm vì một đồng tiền bị mất. Cha đã không chờ đợi người con hoang đàng của mình vì tất cả những người con của Ngài đều hoang đàng cả; Ngài mở rộng vòng tay đón một người con hoang đàng vừa trở về. Trong các ẩn dụ trong Lu-ca chương 15, chúng ta thấy rằng trong công tác cứu chuộc, Chúa sẵn lòng phó chính mình cách nhưng-không thậm chí để đáp ứng nhu cầu của một linh hồn. Ngài đã không đợi nhu cầu của nhiều người nảy sinh rồi mới hành động. Điều này cho chúng ta thấy tình yêu mãnh liệt Chúa dành cho con người.

Anh chị em ơi, nếu muốn hầu việc Chúa một cách đúng đắn, chúng ta phải nuôi dưỡng lòng quan tâm đối với con người. Nếu không thể nuôi dưỡng lòng quan tâm ấy, chúng ta sẽ không thể thực hiện nhiều [công tác]. Dầu chúng ta làm một điều gì đó, công tác của chúng ta sẽ rất giới hạn. Khi con người chúng ta bị giới hạn, chúng ta sẽ không có khả năng chấp nhận nhiều người. Chúng ta sẽ không hiểu được thấu đáo tầm quan trọng trọn vẹn của sự cứu chuộc cho đến khi chúng ta quan tâm đến con người và lòng chúng ta được mở rộng để thấy giá trị của con người trong nhãn quan và kế hoạch của Đức Chúa Trời. Nếu không được như vậy thì những tạo vật nhỏ bé như chúng ta mà tham dự vào công tác vĩ đại của Đức Chúa Trời thì cũng vô ích. Làm thế nào một người có thể được dùng để cứu các hồn người lại không yêu mến những hồn người ấy? Làm sao một người có thể cố gắng cứu con người mà không yêu mến con người? Nếu sự thiếu sót cơ bản ấy, tức tình trạng thiếu tình yêu đối với loài người, được giải quyết, thì các khó khăn khác liên hệ đến con người cũng sẽ tiêu biến. Chúng tôi nghĩ rằng có một số người quá thiếu hiểu biết và những người khác quá cứng cỏi, nhưng không nên để những nan đề này ngăn trở chúng ta yêu thương họ. Nếu có tình yêu thì sẽ không còn thái độ khinh thường con người, và Đức Chúa Trời sẽ mang chúng ta đến chỗ nhận lấy chỗ đứng của mình là một con người giữa vòng đồng loại.

Khi vài công tác viên Cơ-đốc sống ở thành thị đến nông thôn để công tác giữa vòng các nông dân, họ có thái độ bề trên đối với những người ấy. Đó là một thái độ đáng khinh. Chúa chúng ta đã không nói rằng Con Đức Chúa Trời không để loài người phục vụ. Ngài nói rằng Con Loài Người không để loài người phục vụ. Nếu chúng ta đi đến bất cứ nơi nào để rao giảng phúc-âm, chúng ta phải đi với tư cách là một con người. Tuy nhiên, nhiều khi các công tác viên xem việc công tác giữa vòng một số người nào đó là một việc hạ mình! Tự hạ mình là điều đúng đắn, nhưng thật sai lầm khi tự ý thức rằng chúng ta đang hạ mình bằng cách đi lại giữa vòng một loại người nào đó. Nếu chúng ta cảm thấy mình đang tự hạ mình khi đi lại giữa vòng những người ít học thức hơn, điều đó chứng tỏ là chúng ta chưa khiêm nhường đúng mức. Tính khiêm nhường như vậy là nhân tạo, và không tự nhiên. Khi Chúa chúng ta đến trên đất, người ta chỉ nhận biết Ngài là con của Ma-ri và là anh của Gia-cơ, Giô-sê, Giu-đa và Si-môn. Họ chỉ nhận biết Ngài là con loài người. Anh chị em ơi, chúng ta phải là những con người thật sự. Khi ở giữa vòng đồng loại, chúng ta không nên gây cho họ cái cảm tưởng là chúng ta trổi hơn họ về bất cứ mặt nào cả. Đó không phải là cách một Cơ-đốc-nhân nên cư xử. Khi ở giữa vòng loài người, chúng ta cần phải là một người trong vòng họ. Chúng ta không nên gây cho những người khác một ấn tượng là chúng ta đang hạ cố [đến với họ]. Nếu làm như vậy, chúng ta không đủ tư cách để phục vụ ai cả, và đường lối của chúng ta hoàn toàn sai lầm. Chúng ta chỉ có thể phục vụ con người bằng cách làm một con người. Chúng ta đừng bao giờ gây cho người khác cái ấn tượng là chúng ta luôn luôn tự hạ mình. Chúng ta không nên gây cho những người khác cái ấn tượng là chúng ta khác biệt. Nếu những người khác có ấn tượng như vậy về chúng ta, điều đó chứng tỏ chúng ta không phải là đầy tớ của Đức Chúa Trời. Để hầu việc Chúa, chúng ta phải thật sự trống không bản ngã. Khi chúng ta nói chuyện với những người kém học thức hơn mình và chúng ta tỏ ra không thân thiện, thì chúng ta đang cho họ biết rằng chúng ta không phải là một người trong vòng họ.

Nếu không thể hạ mình đến mức thấp nhất, chúng ta không thể hầu việc Đức Chúa Trời. Chúng ta phải được mang đến chỗ thấp nhất; chúng ta đừng bao giờ cảm thấy mình hơn những người khác. Không anh chị em nào có thể xem thường một người có ít kiến thức. Người như vậy có một địa vị trong cõi sáng tạo của Đức Chúa Trời; người ấy có một chỗ trong sự cứu chuộc và kế hoạch của Đức Chúa Trời cũng như anh em và tôi có. Sự khác biệt duy nhất giữa chúng ta và người chưa được cứu là chúng ta biết Chúa. Anh chị em ơi, chúng ta có thái độ thật sai lầm trong nhiều phương diện. Chúng ta phải bỏ hẳn thái độ ấy. Chúng ta phải nhận thấy rằng dưới cái nhìn của Đức Chúa Trời, mọi người đều bình đẳng. Chúa chúng ta đến trên đất vì mọi người. Vì vậy, chúng ta cũng nên tự hạ mình xuống vì họ nữa. Chúng ta đừng bao giờ phân loại người ta theo trình độ học vấn của họ.

Anh em có thể nói: “Sự thiếu hiểu biết của người ta không thành vấn đề đối với tôi; tôi gặp khó khăn khi phải tiếp xúc với những người dối trá, tội lỗi và ngông cuồng. Đối với họ tôi phải có thái độ nào?” Anh em chỉ cần nhìn lại quá khứ của cuộc đời mình. Trước khi ân điển của Đức Chúa Trời đến với mình, anh em có tốt lành hơn họ bây giờ không? Nếu không nhờ ân điển của Đức Chúa Trời, ngày nay anh em sẽ tốt hơn được bao nhiêu? Ai đã làm cho anh em thánh khiết hơn họ? Khi tự xem xét bản thân ở ngoài lãnh vực ân điển, anh em sẽ không thấy có gì khác biệt giữa mình với họ. Ngoài ân điển ra, điều gì làm cho anh em khác họ? Anh em chỉ có thể sấp mình trước mặt Đức Chúa Trời và nói: “Con cũng giống như họ, không gì hơn là một tội nhân khốn cùng”. Chỉ ân điển mới có thể dạy anh em tự sấp mình xuống trong bụi đất và thưa rằng: “Chúa ơi, Ngài là Đấng đã cứu con”. Ân điển sẽ không bao giờ làm cho anh em tự cao, mà sẽ luôn luôn làm cho anh em thấy rằng mình cũng như những người xấu xa tội lỗi. Đó là ân điển của Đức Chúa Trời chứ không phải tự anh em đã biệt riêng chính mình khỏi họ. Nếu những gì anh em có được là nhờ nhận lãnh, thì có gì để anh em khoe khoang? Nếu ân điển là điều duy nhất làm cho anh em khác biệt, thì anh em không có lý do gì để tự đề cao mình với ân điển như vậy. Anh em cần phải dâng thêm lời cảm tạ vì ân điển; anh em nên dành thêm thì giờ cảm tạ Chúa vì ân điển thay vì qui vinh quang về mình. Anh em cần phải nhận thức rằng dưới mắt của Đức Chúa Trời, anh em cũng như tất cả mọi người khác. Anh em phải yêu thương họ. Tội lỗi của họ làm cho anh em chùn lại, nhưng anh em vẫn cần phải ra đi trong tình yêu đối với họ. Với một tấm lòng mở rộng như vậy, anh em sẽ đem họ đến với Chúa.

BỐN

Trong khi ghi nhớ rằng mọi đầy tớ của Đức Chúa Trời đều có đặc điểm và chức năng đặc biệt đối với Đức Chúa Trời, chúng ta cũng không nên quên rằng dầu chức năng của một người có khác biệt thế nào đi nữa, mọi đầy tớ thật của Đức Chúa Trời đều giống nhau trong phương diện này: Họ quan tâm, quan tâm một cách mãnh liệt đến loài người. Nếu một anh em có tấm lòng mở rộng và quan tâm đến loài người, thì sự hữu dụng của người ấy trong tay Đức Chúa Trời sẽ gia tăng một cách đáng kể. Anh chị em ơi, chúng ta phải quan tâm đến loài người. Nếu thờ ơ và không quan tâm đến loài người, thì làm sao chúng ta có thể rao giảng phúc-âm cho họ? Chúng ta ở đây để tiếp xúc với loài người, chinh phục họ và cứu họ. Nếu không quan tâm đến loài người, thì làm sao chúng ta có thể hoàn thành nhiệm vụ? Không vị bác sĩ nào lảng tránh bệnh nhân, và không một giáo viên nào lảng tránh học trò. Chúng ta là những người rao giảng phúc-âm mà đồng thời lại e ngại gặp người ta thì thật là kỳ lạ! Để làm công tác cho Chúa, chúng ta phải quan tâm đến loài người. Đây không phải là một điều gì ép buộc. Chúng ta phải thích thú khi tiếp xúc với con người, khi trao đổi với họ. Không cần ai bảo chúng ta phải tiếp xúc hay liên lạc với người khác. Một công tác viên cần phải cảm thấy trong lòng mình rằng con người thật đáng yêu và quí báu. Anh chị em ơi, chúng ta phải nhận thức rằng mọi người đều được Đức Chúa Trời tạo dựng và được Ngài yêu thương. Đức Chúa Trời muốn sở hữu họ, và Ngài ban Con độc sanh của Ngài cho họ với lòng mong đợi rằng họ sẽ tiếp nhận sự sống của Ngài do tin Con ấy. Chúng ta chỉ khác với những người vô tín là chúng ta đã tin. Đó là lý do tại sao chúng ta phải giúp họ tin. Chúng ta phải nuôi dưỡng lòng quan tâm lớn lao đối với họ. Nếu làm như vậy, chúng ta sẽ thấy cánh đồng phục vụ vô tận mở ra cho mình, và dưới sự thương xót của Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ trở nên những đầy tớ có giá trị ít nhiều đối với Ngài.

Anh chị em ơi, để hầu việc Chúa một cách đúng đắn, chúng ta phải đi trên con đường thẳng. Xin ghi nhớ rằng dưới cái nhìn của Đức Chúa Trời, mọi người đều có một linh. Về phương diện này, mọi người đều bình đẳng. Mọi người đều ngang hàng vì mọi người đều có một hồn và một linh. Ngay khi chúng ta chạm đến một người có hồn và linh thì chúng ta cần phải yêu mến người ấy và cố gắng phục vụ người ấy. Nếu làm như vậy, chúng ta sẽ có thái độ khác mỗi lần gặp người ta ở ngoài đường. Khi một người được Đức Chúa Trời soi sáng nhìn thấy rằng mình được cùng một Cha sinh ra như các anh em của mình, người ấy sẽ tăng thêm lòng ưa thích đặc biệt đối với họ. Tương tự như vậy, một công tác viên phải được soi sáng để thấy rằng mình cũng như đồng loại được cùng một Đức Chúa Trời dựng nên. Ánh sáng này sẽ làm cho người ấy cảm thấy ưa thích đặc biệt mỗi khi gặp một người nào đó. Giữa vòng các thánh đồ, chúng ta có cảm nhận rằng mình là anh chị em. Bây giờ, chúng ta cần được soi sáng thêm nữa để thấy rằng giữa vòng mọi người, chúng ta đều là đồng loại. Mọi người đều quí báu và đáng yêu, và mọi người đều đáng để chúng ta phục vụ. Nếu có thái độ như vậy, chúng ta sẽ chạm đến những điều thuộc về Đức Chúa Trời trong khi sống trên đất ngày nay, vì sự quan tâm của Đức Chúa Trời luôn luôn hướng về con người. Loài người được Đức Chúa Trời tạo dựng, và từ những người được Đức Chúa Trời tạo dựng ấy, chúng ta có thể giải cứu một số người vào trong hội-thánh của Ngài. Mục tiêu của Đức Chúa Trời là hội-thánh, nhưng mối quan tâm của Đức Chúa Trời vẫn là con người. Ngài muốn có được con người. Không công tác viên nào của Chúa có thể khinh thường bất cứ người nào là những người có hồn và linh. Nếu chúng ta khinh thường người nào qua thái độ hay hành vi của mình, thì chúng ta không đáng được gọi là các đầy tớ của Đức Chúa Trời. Nếu muốn hầu việc Chúa một cách đúng đắn, thì chúng ta không được khinh thường hồn [người] nào cả. Thật ra, chúng ta phải tập làm đầy tớ cho mọi người. Chúng ta phải học tập phục vụ những người khác trong mọi sự và phục vụ họ bằng một tấm lòng tự nguyện.

Nhiều người có thói quen khinh thường những người có vẻ thấp kém hơn họ trong khi tâng bốc những người có vẻ trổi hơn họ. Những thái độ như vậy mà lại tìm thấy giữa vòng các công tác viên của Đức Chúa Trời thì thật đáng xấu hổ. Chúng ta tuyệt đối không nên khinh thường những người có vẻ như thấp kém hơn chúng ta. Chúng ta cần phải xem xét địa vị của một người theo giá trị của Đức Chúa Trời. Nếu không giải quyết vấn đề này, chúng ta không thể hầu việc Đức Chúa Trời. Đối với chúng ta, nhận thức được giá trị của con người là một điều lớn lao và vui mừng. Nếu chúng ta nhìn thấy thế nào Chúa đã chết vì con người, chúng ta sẽ phản ánh chính mỹ đức đã khiến Ngài chịu một cái chết như vậy vì nhân loại; chúng ta sẽ cảm nhận những gì Chúa cảm nhận và kết luận rằng loài người đáng nhận được tất cả tình yêu và lòng quan tâm trọn vẹn của chúng ta. Nếu không thể làm như vậy, chúng ta sẽ không thể đồng cảm với cảm xúc của Chúa, và sẽ không thể công tác cho Ngài.