Thông tin sách

Tính Cách Công Nhân Của Chúa

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: The character of the Lord's worker
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 1

Untitled Document

CHƯƠNG MỘT

MỘT NGƯỜI BIẾT LẮNG NGHE

Đời sống riêng tư của một người công tác cho Chúa liên hệ mật thiết đến công tác của người ấy. Vì vậy, chúng ta phải xem xét vấn đề về cá tính, thói quen và hành vi khi cân nhắc những điều kiện cần thiết để tham gia vào công việc của Đức Chúa Trời. Điều ấy liên hệ đến việc cấu tạo đức tính và hình thành những thói quen. Một người không những phải có một lượng kinh nghiệm thuộc linh nhất định, mà còn phải có một sự cấu tạo nào đó trong bản tính của mình; Chúa phải cấu tạo một loại bản tính nào đó bên trong người ấy. Nhiều điều cần được gây dựng, trau dồi và phát triển thành thói quen bên trong một công tác viên. Những điều ấy liên hệ đến người bề ngoài hơn là người bề trong của chúng ta. Khi những điều ấy uốn nắn người bề ngoài thành một hình dạng đúng đắn, chúng ta sẽ trở nên thích hợp để Chúa sử dụng. Muốn việc ấy được thực hiện thì phải cần đến ân điển và sự thương xót từ Đức Chúa Trời; đức tính không được gây dựng trong một sớm một chiều. Nhưng nếu Chúa ban cho một người đủ ánh sáng và nếu Ngài thường xuyên phán với người ấy đến một mức độ nào đó, thì các yếu tố thiên nhiên và đáng chê trách của người ấy đều sẽ được thiêu hủy; chúng sẽ không được phép tồn tại hay phát triển. Trong sự thương xót của Ngài, Đức Chúa Trời sẽ xây dựng lại một đức tính mới trong người ấy qua sự phục sinh. Bây giờ chúng ta hãy nói đến một vài điều mà mọi đầy tớ dày dạn kinh nghiệm của Chúa đều nhận thức và hiểu rõ. Thiếu bất cứ một đức tính nào cũng sẽ gây sụp đổ trong công tác phục vụ.

MỘT

Điều đầu tiên chúng tôi muốn nói đến là khả năng lắng nghe người khác. Một công tác viên của Chúa phải xây dựng một thói quen lắng nghe người khác trong cuộc sống hằng ngày. Tôi không có ý nói rằng người ấy cần phải lắng nghe những người khác theo ý nghĩa là vâng phục họ. Tôi có ý nói rằng người ấy cần phải lắng nghe những người khác theo ý nghĩa là có thể nghe những gì họ đang nói và hiểu được những gì mình đã nghe. Đặc tính này rất cần được phát triển trong đời sống cá nhân của một công tác viên. Không công tác viên nào của Chúa có thể thực hiện công tác tốt đẹp nếu người ấy chỉ có thể nói với những người khác mà không thể nghe họ. Nếu một công tác viên chỉ có thể nói với những người khác và liên tục nói “bô bô” với những người khác như pháo nổ, thì người ấy không mấy hữu dụng cho Đức Chúa Trời. Không một công tác viên nào của Chúa có thể là một người nói không ngừng. Nếu người ấy chỉ có thể nói với những người khác, mà không thể lắng nghe và nhận biết những nan đề của họ qua cuộc nói chuyện, thì sự hữu dụng của người ấy rất giới hạn. Nếu một Cơ-đốc-nhân đến với một đầy tớ của Đức Chúa Trời để được giúp đỡ, trong khi lắng nghe, công tác viên đó phải có khả năng biện biệt lời nói của anh em ấy theo ba phương diện: những lời được nói ra, những lời được giữ lại, và những lời nằm sâu thẳm trong linh của anh em ấy.

Trước hết, anh em phải hiểu một cách trọn vẹn những gì người ấy thực sự nói ra. Điều này có nghĩa là anh em cần làm một người im lặng trước mặt Chúa. Tâm trí của anh em phải sáng suốt và linh của anh em phải yên tĩnh. Bản thể bề trong của anh em cần phải như một tờ giấy trắng trước mặt Chúa. Anh em không nên có thành kiến, định kiến hay thiên hướng nào cả. Anh em không nên quyết định bất cứ điều gì trong tâm trí của mình hay xét đoán bất cứ điều gì. Anh em cần phải ở trong tình trạng hoàn toàn yên tĩnh trước mặt Chúa. Khi người khác mở miệng kể một câu chuyện, anh em phải học tập lắng nghe. Trong khi im lặng lắng nghe, anh em sẽ biết người ấy đang nói về điều gì.

Lắng nghe không phải là chuyện dễ. Nếu một anh em cố gắng giải thích nan đề của mình, anh em hiểu được bao nhiêu điều anh ấy đang nói? Đôi khi nhiều người đồng nghe cùng một người phát biểu, thế mà có bao nhiêu người nghe thì có bấy nhiêu ấn tượng khác nhau về nan đề của người ấy. Anh em có thể có ấn tượng này, còn người khác lại có thể có một ấn tượng khác. Nhiều ấn tượng được hình thành. Nếu có những ấn tượng khác biệt như vậy đối với vấn đề lẽ thật thì thật là tai hại. Lắng nghe người khác là một điều cơ bản phải luyện tập, và một trong những điều kiện cơ bản để làm một công tác viên là có thể hiểu những người khác đang nói gì. Những người khác mang gánh nặng trên vai đến với anh em; họ cố gắng trao gánh nặng ấy cho anh em và mong [nhận được] sự giúp đỡ nào đó từ anh em. Điều gì sẽ xảy ra nếu anh em hiểu lầm lời nói của họ hay anh em hoàn toàn không nhận thấy nan đề của họ và trao cho họ một câu trả lời dựa vào điều ở trong tâm trí anh em hai ngày trước? Có người cứ suy nghĩ về một đề tài nào đó trong một vài ngày. Khi một anh em bị bệnh đến với họ, họ nói đến vấn đề mình đang suy gẫm vì tâm trí của họ đầy dẫy những ý tưởng về đề tài ấy. Khi một anh em khỏe mạnh đến với họ, họ cũng đưa ra những ý tưởng ấy. Khi một anh em khác đang khốn khổ hay vui mừng đến, họ nói với người ấy cùng một điều đó. Họ không thể im lặng ngồi nghe những gì người khác muốn nói. Nếu một công tác viên của Chúa không thể lắng nghe những gì người khác muốn nói, thì làm sao người ấy có thể hi vọng giúp đỡ người khác được? Khi những người khác nói, chúng ta phải chăm chú lắng nghe. Chúng ta phải hiểu họ đang nói về điều gì. Công việc của chúng ta còn khó hơn công việc của một vị bác sĩ chẩn đoán cho bệnh nhân. Ít nhất, vị bác sĩ có một phòng thí nghiệm mà tại đó ông có thể tiến hành những cuộc xét nghiệm để giúp chẩn đoán những trường hợp khác nhau, trong khi chúng ta phải chẩn đoán mà không có những phương tiện giúp đỡ như vậy. Giả sử, một anh em đến nói chuyện với chúng ta nửa tiếng đồng hồ, kể tất cả những nan đề của anh cho chúng ta. Có thể chúng ta không biết anh sống như thế nào, lai lịch gia đình anh ra sao, hay tình trạng anh trước mặt Chúa thế nào. Mười phút, hai mươi phút hay nửa tiếng đồng hồ là một thời gian dài. Nếu chúng ta không thể nghe những gì anh em ấy nói, làm sao chúng ta có thể hi vọng giúp đỡ anh em ấy một cách thích hợp? Mỗi công tác viên của Chúa đều phải xây dựng một thói quen đúng đắn; chúng ta phải có năng lực và khả năng ngồi xuống để nghe và hiểu những gì người khác nói. Điều này rất quan trọng, và chúng ta phải rất lưu ý luyện tập. Chúng ta phải luyện tập để hiểu những gì người khác nói ngay khi họ mở miệng. Chúng ta phải rất sáng tỏ về tình trạng của họ, và phải chẩn đoán trường hợp của họ một cách sáng suốt. Chúng ta phải biện biệt rõ ràng và có sự tin chắc. Chỉ khi ấy chúng ta mới biết mình có đủ điều kiện để giải quyết nhu cầu ấy không. Đôi khi chúng ta biết rằng tình trạng của anh em ấy vượt quá khả năng giúp đỡ của mình, và chúng ta phải nói thật với anh em ấy rằng chúng ta không phải là người thích hợp để giúp anh ấy. Nhưng ngay khi anh ấy nói thì chúng ta cần phải nhận biết chỗ đứng của anh ấy và chỗ đứng của chúng ta. Đó là điều đầu tiên chúng ta phải làm; chúng ta phải nghe và hiểu điều người khác nói.

Thứ hai, chúng ta phải nghe và hiểu những gì người khác không nói. Chúng ta phải biện biệt trước mặt Chúa điều người khác cố giữ lại không nói. Chúng ta phải biết những gì một người không nói, tức là những điều người ấy nên nói nhưng đã giữ lại. Lẽ tự nhiên, nhận thức một cách rõ ràng về những lời chưa nói ra thì khó hơn so với việc nhận thức những lời được nói ra. Sau khi loại lời thứ nhất được nói ra, chúng ta vẫn phải lắng nghe loại thứ hai, tức loại lời chưa được nói ra. Khi người ta đến nói với một công tác viên về những công việc của họ, thì sẽ không có gì lạ nếu họ chỉ kể nửa câu chuyện và cố giữ lại không tiết lộ nửa câu chuyện kia. Điều này thử nghiệm khả năng của một công tác viên. Một Cơ-đốc-nhân thiếu khả năng sẽ không thể biện biệt điều chưa được nói ra. Thậm chí người ấy có thể suy đoán ra những ý nghĩ chưa từng có trong lòng người nói. Nan đề ấy dấy lên trong tâm trí của người nghe chứ không phải trong tâm trí của người nói. Có thể một vài định kiến đã sẵn có trong tâm trí của người ấy rồi, và người ấy có thể đưa những định kiến ấy vào trong người khác, mặc dầu họ chưa từng nói một điều như vậy, hoặc trong lòng hay trên môi miệng họ. Chúng ta phải vận dụng sự biện biệt rõ ràng trước mặt Chúa để biết được những gì một người đã nói và không nói. Thường thì một người nói ra những chuyện ngoài lề trong khi bỏ sót những điều quan trọng đối với vấn đề. Làm sao có thể biết liệu những lời quan trọng có bị bỏ sót không? Chúng ta chỉ có thể biết sau khi đã trải qua những sự xử lý đầy đủ. Khi một anh em đến nói điều gì đó với chúng ta, chúng ta phải sáng tỏ không những về điều người ấy nói, mà cũng về những gì người ấy chưa nói. Khi người ấy giữ lại lời mình, chúng ta phải biết khái quát là người muốn ám chỉ điều gì. Sau đó, chúng ta sẽ có lòng tin chắc trước mặt Đức Chúa Trời, và biết cách giúp đỡ, khuyến khích hay khiển trách anh em ấy. Nếu trong chính mình, chúng ta không chắc về điều gì cả và không thể nghe những gì người khác nói, mà luôn luôn chờ đợi cơ hội để nói, thì chúng ta sẽ chỉ có gánh nặng nói những gì chúng ta phải nói. Chúng ta sẽ không biết những người khác đang nói gì và không cách nào giúp đỡ họ một cách thích hợp. Sự thật là những người không biết lắng nghe thường là những công tác viên kém hữu dụng. Đó là một nan đề nghiêm trọng đối với nhiều người; đơn giản là họ không thể lắng nghe những người khác. Họ không thể biện biệt những gì người khác chất chứa trong lòng vì họ không nhạy cảm. Không thể nào trông đợi những người như vậy “phân cấp... đồ ăn đúng giờ” (Mat. 24:45).

Thứ ba, chúng ta phải có khả năng nhận ra những gì người khác nói trong linh họ. Ngoài việc nghe những lời một người có thể nói và những lời người ấy cố ý giữ lại không nói, chúng ta còn phải nghe được những điều chúng ta vừa nói đến là những lời mà linh của người ấy đang nói. Khi một người mở miệng phát biểu, thì linh của người ấy cũng nói. Sự kiện người ấy sẵn lòng nói ra cho chúng ta cơ hội chạm đến linh của người ấy. Nếu miệng người ấy ngậm lại, thì linh của người ấy cũng bị kiềm hãm, và [chúng ta] khó biết được linh người ấy đang nói gì. Nhưng khi mở miệng, linh của người ấy sẽ tìm cách thoát ra phần nào, dầu người ấy có cố gắng tự kiềm chế đến đâu đi nữa. Khả năng chúng ta biện biệt những gì linh của người ấy nói tùy thuộc vào mức độ chúng ta luyện tập trong Chúa. Nếu luyện tập, chúng ta sẽ có thể biện biệt những lời người ấy nói ra, những lời người ấy cố giữ lại không nói ra, và thậm chí những lời trong linh của người ấy. Trong khi người ấy nói, chúng ta sẽ biết những lời nào ra từ linh của người ấy. Chúng ta sẽ có thể biện biệt nan đề tâm trí cũng như nan đề thuộc linh mà người ấy đang gặp phải. Chúng ta cũng sẽ đưa ra một giải pháp cụ thể cho trường hợp của người ấy với lòng tin chắc. Nếu không luyện tập đúng mức, chúng ta có thể lắng nghe những nan đề của một anh em trong nửa tiếng đồng hồ mà không nhận biết được cơn bệnh thật của người ấy và cách điều trị cơn bệnh ấy.

Đây thật sự là một nhu cầu cấp thiết cho những người tham gia vào công tác của Chúa. Thật đáng tiếc, rất ít Cơ-đốc-nhân là những người biết lắng nghe. Vài anh em có thể dành trọn một giờ đồng hồ nói chuyện với một tín đồ. Tuy nhiên, cuối cùng, người tín đồ ấy có thể vẫn mờ mịt về vấn đề mình đã trình bày. Khả năng nghe của chúng ta quá tệ. Nếu chúng ta không thể nghe người ta nói, thì làm sao chúng ta có thể nghe Đức Chúa Trời nói? Khi một người ngồi trước mặt chúng ta, lời của người ấy cần phải rõ ràng đối với chúng ta. Nhưng nếu chúng ta không thể hiểu những gì người ấy nói, thì tôi thật sự nghi ngờ khả năng chúng ta có thể hiểu được lời Chúa phán bên trong chính mình. Nếu chúng ta không thể hiểu những lời có thể nghe được từ con người, thì làm thế nào chúng ta có thể hiểu được những lời Đức Chúa Trời phán cho chúng ta trong linh của mình?

Nếu chúng ta không thể chẩn đoán bệnh tình, tình trạng hay nan đề của một anh em là người đang gặp vấn đề, thì chúng ta phải nói với người ấy thế nào? Anh chị em ơi, chúng ta đừng xem đó là một vấn đề nhỏ nhặt. Nếu không giải quyết vấn đề này và học tập lắng nghe, chúng ta sẽ không có thể giúp một anh em đang có nhu cầu cho dầu chúng ta trở nên những người đọc Kinh Thánh thông thạo, những giáo sư Kinh Thánh vĩ đại hay những công tác viên đầy quyền năng. Chúng ta không những phải là những nhà truyền giảng [có thể] giảng dạy được, mà còn cần phải là những người có thể giải quyết nan đề của người khác. Nhưng làm thế nào điều đó có thể xảy ra nếu chúng ta không thể nghe những gì người khác nói? Chúng ta phải nhận thức tính chất nghiêm trọng của vấn đề này. Anh chị em ơi, anh chị em đã dành bao nhiêu thời giờ học tập lắng nghe người khác? Anh chị em có dành đủ thời giờ để học tập bài học này không? Chúng ta phải dành thời giờ học tập lắng nghe người khác, nghe những gì họ nói, những gì họ không nói và những gì ở trong linh họ. Những lời ra từ miệng một người có thể không tương xứng với linh người ấy. Nhiều người miệng thì nói một điều, nhưng linh họ lại làm chứng một điều khác. Cuối cùng thì miệng không thể che đậy linh. Sớm muộn gì linh cũng sẽ được bày tỏ, và khi linh được bày tỏ thì anh em sẽ biết tình trạng thật của người ấy. Nếu không có sự biện biệt như vậy thì khó mà giúp đỡ người khác một cách thích hợp. Có một câu chuyện vui kể về một vị bác sĩ già. Thuốc men của ông chỉ gồm có hai thứ: dầu thầu dầu và ký ninh. Bất kể bệnh nhân của ông có than phiền thế nào đi nữa, ông luôn luôn cho toa thuốc, hoặc vị thuốc này hay vị thuốc kia. Ông dùng hai loại thuốc này trị bách bệnh. Nhiều anh em cũng điều trị “bệnh nhân” của mình như vậy. Họ chỉ có một hay hai đơn thuốc ưa thích nhất, dầu bệnh tình của những người tìm đến họ có khác nhau thế nào đi nữa, họ vẫn nói theo một trong hai chiều hướng đặc biệt này. Những công tác viên như vậy không thể thật sự giúp người khác. Người nào được Đức Chúa Trời tín nhiệm và ủy thác đều sở hữu một khả năng chung — người ấy biết những người khác nói gì ngay khi họ mở miệng. Nếu không có khả năng như vậy, một người không thể chữa trị bệnh tật của người khác.

HAI

Làm thế nào chúng ta có thể có khả năng lắng nghe và hiểu?

Thứ nhất, chúng ta không được chủ quan. Xin ghi nhớ rằng tính chủ quan là một trong những lý do chính làm cho người ta trở thành những người không biết lắng nghe. Người nào chủ quan cũng thấy khó hiểu điều những người khác nói. Nếu chúng ta có những ý kiến và quan niệm riêng của mình về người ta, thì chúng ta khó mà nghe những gì người khác đang nói, vì tâm trí của chúng ta đã đầy ắp rồi. Chúng ta có thể có định kiến đến nỗi ý kiến của những người khác không thể thâm nhập tâm trí chúng ta. Nhiều người ở trong tình trạng chủ quan như vậy. Họ tin tưởng vững chắc về các ý tưởng, ý kiến và quan điểm của mình. Không gì có thể lay chuyển các ý tưởng, ý kiến và quan niệm của họ cả. Họ đã quyết định đưa “dầu thầu dầu” của mình ra cho bất cứ người nào, bất kể nhu cầu có thay đổi thế nào đi nữa. Thuốc trị bách bệnh của họ là “dầu thầu dầu”. Làm sao họ có thể nghe điều người khác nói? Khi các thánh đồ yếu đuối đến với họ, họ không có lòng muốn khám phá ra nan đề của những thánh đồ ấy. Thay vào đó, họ đã định sẵn trong đầu những gì muốn nói, và họ không có gì khác để nói ngoài những lời khuyên bảo mà họ đã nghĩ từ trước. Họ rất tự tin về chính mình, nhưng lại hoàn toàn không biết gì về nan đề của người khác. Làm thế nào những người ấy có thể làm công tác cho Chúa? Chúng ta phải cầu xin Chúa cứu chúng ta khỏi tình trạng chủ quan như vậy. Chúng ta nên cầu nguyện với Chúa rằng: “Chúa ơi, nguyện con không có thành kiến khi nói chuyện với người khác. Nguyện con không áp đặt sự chẩn đoán của mình trên người khác. Con không phải là người xác định bệnh tình của họ. Chúa ơi, Ngài phải cho con thấy bệnh tình của họ”. Chúng ta phải học tập từ bỏ tính chủ quan của mình mà chăm chú lắng nghe, nghe những gì người khác nói và khám phá ra nan đề của họ.

Thứ hai, tâm trí của chúng ta đừng nghĩ ngợi lan man. Nhiều tín đồ chưa từng học những bài học thích hợp trong tâm trí của mình. Ngày đêm những luồng tư tưởng của họ liên tục xoay chuyển. Những ý tưởng của họ không bao giờ tập trung lại được. Họ chỉ để tư tưởng mình đi lang thang khắp nơi. Họ tích lũy quá nhiều điều trong tâm trí đến nỗi không còn chỗ [để tiếp nhận] điều gì khi người khác muốn truyền đạt những ý tưởng của mình cho họ. Nhiều người có tâm trí quá năng động. Họ chỉ có chỗ chứa những ý tưởng của mình mà không có chỗ chứa những ý tưởng của người khác. Kết quả là họ không bao giờ có thể hiểu người khác suy nghĩ như thế nào. Họ không thể tiếp nhận những suy nghĩ của người khác vì họ chưa bao giờ học tập im lặng trong tâm trí của mình. Để chúng ta nghe được điều người khác nói, trước hết tâm trí của chúng ta phải được kỷ luật. Nếu tâm trí của chúng ta luôn luôn xoay chuyển như cái bánh đà thì không gì có thể lưu lại trong đó. Trong việc học tập lắng nghe người khác, một công tác viên của Chúa phải kiên định trong tâm trí của mình. Không những người ấy phải từ bỏ mọi tính chủ quan, mà còn phải học tập làm cho tâm trí mình yên tĩnh. Chúng ta phải học tập suy nghĩ như người khác suy nghĩ và hiểu những gì người khác nói. Chúng ta cũng phải học tập để hiểu thấu ý nghĩa ẩn sau những lời nói của họ. Nếu không thể làm như vậy, chúng ta sẽ không mấy hữu dụng cho Chúa.

Thứ ba, chúng ta phải học tập đồng cảm với những cảm giác của người khác. Một điều kiện cơ bản để hiểu lời nói của người khác là khả năng thông cảm với những cảm xúc của họ. Chúng ta không thể hiểu những gì người khác nói bằng cách chỉ hiểu lời nói của họ; chúng ta phải có khả năng cảm nhận được những gì họ đang cảm xúc. Nếu người nào đó đến với chúng ta trong tình trạng khốn khổ và bối rối sâu xa mà chúng ta vẫn giữ thái độ hớn hở vô tư, không cảm thông với nỗi khổ của người ấy, thì chúng ta sẽ không bao giờ có thể giúp đỡ người ấy, cho dầu chúng ta có lắng nghe người ấy nói bao lâu đi nữa. Nếu chúng ta không thể có cảm xúc phù hợp với cảm xúc của người ấy, chúng ta sẽ không hiểu cảnh ngộ người ấy đang đối diện. Những người chưa từng được xử lý trong tình cảm của mình không bao giờ có thể cảm nhận được điều những người khác đang cảm xúc. Nếu chưa được Đức Chúa Trời xử lý, chúng ta sẽ không thể hát “Ha-lê-lu-gia” khi những người khác bày tỏ niềm vui của họ, và chúng ta sẽ không thể chia sẻ nỗi sầu khổ của họ khi họ bày tỏ sự đau buồn của mình. Chúng ta sẽ không thể đồng cảm với những cảm xúc của họ, và những cảm xúc của họ sẽ không bao giờ cảm động chúng ta. Đó là lý do tại sao chúng ta phải hiểu những lời họ nói.

Làm thế nào chúng ta có thể cảm nhận được những gì người khác đang cảm xúc? Để thực hiện được điều đó, chúng ta phải rất khách quan đối với những cảm nghĩ của mình. Chúng ta có thể cảm thấy điều gì đó, nhưng chúng ta phải khách quan đối với những cảm nghĩ riêng của mình trước khi có thể có khả năng cảm nhận được điều người khác đang cảm xúc. Nhưng nếu quá bận rộn với những cảm giác riêng của mình, chúng ta sẽ không đủ bén nhạy để xem xét cảm xúc của người ấy. Chúng ta phải ghi nhớ rằng mình là những đầy tớ của các thánh đồ vì cớ Đấng Christ. Không những chúng ta cần phải dành thời giờ và sức lực của mình cho họ, mà cũng nên sẵn sàng yêu mến họ nữa. Đó là một vấn đề trọng yếu. Không những chúng ta nên giúp họ giải quyết các nan đề mà cũng nên đáp ứng tình cảm của họ bằng tình cảm của mình nữa. Chúng ta cần phải sẵn sàng chia sẻ nỗi niềm của người khác. Đó là điều Kinh Thánh ngụ ý khi nói rằng Chúa Giê-su, đã chịu cám dỗ trong mọi mặt cũng như chúng ta, thông cảm sự yếu đuối của chúng ta (Hê. 4:15).

Anh chị em ơi, tình cảm của chúng ta phải được Chúa xử lý để có thể trở nên sẵn sàng. Nếu tình cảm của chúng ta quá năng động và chúng ta bận tâm với những cảm xúc riêng của mình, thì chúng ta sẽ không bao giờ có thể đồng cảm với cảm xúc của người khác. Vậy, không những chúng ta phải dành sẵn thời giờ của mình sẵn sàng cho người khác mà tình cảm của chúng ta cũng phải như vậy. Điều này có nghĩa là [khả năng] yêu thương, vui mừng và buồn khổ không nên bị [vấn đề nào] chiếm hữu, mà phải sẵn sàng, khi người khác nói chuyện với chúng ta. Nếu trọn bản thể chúng ta bị một cảm xúc nào đó chiếm hữu, thì bên trong chúng ta sẽ không còn chỗ nào dành cho tình cảm của người khác; chúng ta sẽ không có khả năng đáp ứng nhu cầu của những người khác. Nếu chúng ta không có niềm vui hay nỗi buồn khổ nào riêng của mình, nhưng hoàn toàn sẵn sàng trước mặt Chúa, thì chúng ta sẽ có thể đồng cảm với những cảm xúc của người khác. Nếu liên tục bận rộn với tình cảm riêng của mình, chúng ta sẽ quá bận tâm mà không thể cảm nhận được điều gì nơi người khác khi họ đến với chúng ta.

Đức Chúa Trời có một tiêu chuẩn rất cao đối với những người hầu việc Ngài. Một đầy tớ của Chúa không có thời giờ để cảm thấy vui hay buồn cho chính mình. Nếu chúng ta thỏa thích trong tiếng cười hay nước mắt và trong những cái yêu hay cái ghét của mình, thì chúng ta sẽ không còn chỗ bên trong cho nhu cầu của người khác. Chúng ta phải ghi nhớ rằng một đầy tớ của Chúa phải trống không ở bên trong. Nếu chúng ta bám lấy niềm vui thích và nỗi khổ riêng của mình, bực bội vì phải bỏ qua điều này hay điều kia, chúng ta sẽ quá đầy ắp mà không thể chăm sóc người khác. Chúng ta sẽ như một căn phòng đầy đồ đạc, không còn chỗ chứa thêm vật dụng nào nữa. Nhiều anh chị em không thể thi hành công tác cho Chúa vì họ đã dùng trọn tình yêu của họ cho chính mình và không còn gì dành cho người khác. Chúng ta cần nhận thức rằng hồn lực chúng ta có giới hạn cũng như thể lực chúng ta có giới hạn. Năng lực tình cảm của chúng ta không phải vô tận. Nếu sử dụng cạn kiệt hồn của mình theo một chiều hướng nào đó, thì chúng ta sẽ không còn gì để dâng hiến theo một chiều hướng khác. Do đó, ai yêu một người nào quá mức thì không thể làm đầy tớ của Chúa. Chính Chúa nói: “Nếu ai đến cùng Ta mà không ghét cha mẹ, vợ con, anh em, chị em mình,... thì không thể làm môn đồ Ta” (Lu. 14:26). Đó là vì khi chúng ta yêu mến những người ấy, tình yêu của chúng ta sẽ dốc hết cho họ. Chúng ta phải yêu mến Chúa là Đức Chúa Trời chúng ta bằng trọn tấm lòng, trọn phần hồn, trọn tâm trí và trọn sức mạnh của mình (Mác 12:30). Điều này có nghĩa là chúng ta phải dâng trọn tình yêu của mình lên cho Đức Chúa Trời. Khám phá ra rằng chúng ta bị giới hạn trong nhiều mặt là một điều tốt. Chúng ta phải nhận thức rằng khả năng của mình có giới hạn. Bình chứa của chúng ta có giới hạn. Nếu chúng ta đầy dẫy những điều khác, thì sẽ không còn chỗ trống nữa. Chúng ta bị giới hạn bởi khả năng của mình. Để đồng cảm với cảm xúc của người khác, tình cảm của chúng ta phải được chuẩn bị sẵn sàng. Tâm trí và tình cảm chúng ta phải sẵn sàng thì chúng ta mới có thể cảm thông với những cảm xúc của người khác. Nếu đôi tay của chúng ta đầy ắp nhiệm vụ, chúng ta sẽ không thể đảm nhận thêm bất cứ những gì người khác yêu cầu. Nếu lòng chúng ta nặng trĩu vì những gánh nặng riêng của mình, thì những người khác không thể chia sẻ gánh nặng của họ với chúng ta. Cho nên người nào chuẩn bị chính mình sẵn sàng nhất thì có khả năng tiếp nhận nhiều nhất. Những người yêu chính mình hay gia đình mình quá nhiều thì chỉ còn rất ít tình yêu dành cho các anh em. Khả năng yêu thương của một người chỉ có bấy nhiêu; người ấy phải buông bỏ mọi tình yêu khác thì mới có thể yêu các anh em mình và hiểu ý nghĩa của tình yêu anh em. Khi ấy, người đó mới có thể công tác cho Chúa.

Đòi hỏi cơ bản cho những ai muốn tham gia vào công tác của Chúa là phải biết đến thập tự giá. Một người không biết thập tự giá thì vô dụng trong công tác của Chúa. Nếu không biết đến thập tự giá thì anh em sẽ luôn luôn chủ quan. Những ý tưởng của anh em sẽ lang thang không ngừng, và anh em sẽ liên tục sống trong những cảm xúc riêng của mình. Anh em phải quay về với sự hiểu biết thập tự giá. Không có con đường nào là rẻ mạt hay dễ dàng cả. Anh em phải tiếp nhận những xử lý căn bản từ Chúa. Nếu không có những xử lý ấy, anh em sẽ vô dụng về mặt thuộc linh. Nguyện Chúa thương xót và xử lý chúng ta để chúng ta không cứ mãi tự mãn trong tính chủ quan của mình. Chúng ta không muốn có những ý nghĩ không được kiềm chế, chúng ta cũng không muốn trở nên thiếu bén nhạy trong cảm nhận của mình. Một công tác viên phải mở rộng chính mình để tiếp thu nan đề của những người khác. Nếu làm như vậy, chúng ta sẽ biết người khác nói gì ngay khi họ đến với chúng ta. Chúng ta sẽ biết những lời họ chưa nói ra, cũng như những lời ở trong linh của họ.

BA

Điều đầu tiên một công tác viên của Chúa phải học tập là lắng nghe những người khác. Khi một anh em hoặc chị em phát biểu hay khi một người vô tín phát biểu, chúng ta phải học tập lắng nghe. Chúng ta phải học tập suy nghĩ theo cách người ấy suy nghĩ, và cảm nhận theo cách người ấy cảm nhận. Chúng ta phải biết những gì người ấy không nói và tình trạng của linh người ấy. Nếu luyện tập như vậy, khả năng nghe của chúng ta sẽ tiến một bước dài. Dần dần, chúng ta sẽ hiểu những gì người khác nói. Cuối cùng, những người khác chỉ cần mở miệng ra thì lập tức chúng ta biết họ nói gì. Chúng ta cần ghi nhớ rằng bản thể bề trong của mình phải như một tờ giấy trắng không một vết nhơ trước khi những người khác có thể viết trên đó. Chúng ta phải ở trong trạng thái tĩnh lặng hoàn toàn, không có những ý tưởng riêng, ý kiến chủ quan và tình cảm riêng của mình, rồi mới có thể im lặng lắng nghe những người khác và hiểu họ nói gì. Điều quan trọng nhất liên quan đến một công tác viên không phải là lượng kiến thức nhưng là chính con người của công tác viên ấy. Con người của chúng ta chính là dụng cụ [chẩn đoán] của mình. Đức Chúa Trời dùng chúng ta để đo lường những người khác. Nếu con người chúng ta sai trật thì Đức Chúa Trời không thể sử dụng chúng ta. Không phải chúng ta đo lường những người khác bằng một dụng cụ thuộc thể. Nếu chúng ta có một dụng cụ thuộc thể để đo lường những người khác thì quá dễ dàng. Một cái nhiệt kế có thể đo nhiệt độ của một người. Nhưng trong công tác của Chúa, “nhiệt kế” duy nhất là con người chúng ta. Chúng ta phải tự mình tìm ra tình trạng của người khác. Vì vậy, chúng ta là loại người thế nào là điều rất quan trọng. Nếu con người của chúng ta sai trật thì không điều gì hiệu quả cả. Chúng ta là những bình chứa của Đức Chúa Trời. Nếu một chiếc bình không thi hành chức năng cách đúng đắn, Đức Chúa Trời không thể dùng chiếc bình ấy để xử lý những người khác. Lắng nghe là một vấn đề rất trọng yếu. Nếu chúng ta có thể lắng nghe những người khác, nhận biết tình trạng của họ, và biết được những ý nghĩ cùng tình cảm của họ, chúng ta sẽ có cách giúp đỡ họ.

Giả sử, một người đến với anh em và trút ra nỗi sầu khổ của mình. Nếu chưa từng được Chúa xử lý, anh em chắc chắn sẽ muốn chia sẻ cho người ấy nhiều lời dạy dỗ. Đó là thói quen đặc thù của chúng ta. Khi những người khác đến [nói chuyện], chúng ta lập tức mở miệng chia sẻ cho họ vài lời dạy dỗ, thậm chí trước khi cố gắng nhận biết bệnh tình của họ hay hiểu biết sự đau yếu của họ. Nhiều người thiếu kiên nhẫn đến nỗi không để những người khác nói dứt lời. Họ không thể chờ đợi người khác nói xong rồi mới đưa ra giải pháp của mình. Những người khác chỉ cần nói đôi ba lời là họ đã đưa ra những lời dạy dỗ và điều chỉnh của mình. Kết quả là họ không nhận được sự giúp đỡ thật sự.

Điều này không có nghĩa là chúng ta nên để người ta nói ba đến năm tiếng đồng hồ trong khi chúng ta im lặng ngồi nghe. Vài người muốn những người khác lắng nghe họ năm ba giờ đồng hồ. Họ muốn chúng ta lắng nghe họ. Chúng ta nên ngăn lại đừng để những người ấy nói liên miên. Tuy nhiên, nói chung, chúng ta nên để cho những người khác đủ thời giờ để nói, và cũng nên cho chúng ta đủ thời giờ để nghe. Nếu một người có nhiều năm kinh nghiệm về vấn đề đó và được sáng tỏ ở bên trong, nếu người ấy có thể biện biệt tình trạng của những người khác ngay khi họ nói, và nếu người ấy biết cần phải làm gì, thì người ấy có thể ngăn lại không để người kia nói liên miên. Nếu không làm như vậy được thì người ấy nên dành đủ thời giờ để nghe người kia. Tôi không nói rằng người ấy phải dành ba đến năm tiếng đồng hồ để lắng nghe người khác, nhưng tôi nói rằng người ấy nên dành thời giờ rộng rãi để hiểu tình trạng của họ. Chúng ta phải nhận thức tính chất phức tạp trong công tác của mình; chúng ta đang đối diện với những con người sống, và đang giải quyết những nan đề sống. Chúng ta ở đây giải quyết nan đề của một người trước mặt Chúa. Nếu không thể nhận ra nan đề của người khác, chúng ta sẽ không thể nói được bao nhiêu. Nếu trước hết không hiểu biết đầy đủ những gì liên quan đến nan đề của người khác thì không thể phán đoán điều gì. Chúng ta đang đối diện với những con người sống, vì vậy chúng ta đang đối phó với những nan đề sống. Trong khi giải quyết nan đề của một người trước mặt Chúa, chúng ta cần phải yên tĩnh và im lặng để tiếp nhận điều gì đó từ Chúa. Nếu không thể làm như vậy, chúng ta sẽ gặp phải nan đề trong khi giúp đỡ người ấy. Nhiều người không thể giúp đỡ những người khác vì trước tiên họ không biết cách lắng nghe những người ấy. Chúng ta cần cầu xin ân điển từ Chúa để có thể ngồi nghe những người khác nói. Chúng ta cần im lặng lắng nghe cách sáng suốt và chăm chú cho đến khi hoàn toàn thấu hiểu [vấn đề]. Một khi chúng ta hiểu được họ đang nói gì thì công việc đã được hoàn thành. Chúng ta phải tập lắng nghe, và phải lắng nghe cho đến khi hiểu được. Nói không phải là dễ, mà nghe cũng không kém khó khăn. Nhiều nhà truyền giảng quen nói, nhưng họ thấy khó ngồi xuống mà lắng nghe. Tuy nhiên, chúng ta phải học tập bài học này một cách thông suốt.

Chúng ta cần được soi sáng bên trong. Chúng ta cần dành đủ thời gian học tập lắng nghe và chạm đến cảm xúc của người khác. Nếu không học tập bài học này một cách thông suốt, chúng ta sẽ gặp phải nhiều nan đề trong khi phục vụ. Chúng ta phải cố gắng hết sức lắng nghe. Khi một người phát biểu, chúng ta có thể nghe những gì người ấy nói không? Chúng ta có hiểu lời nói của người ấy không? Không bị khuấy động ở bên ngoài cũng chưa đủ để chúng ta hiểu lời nói của người khác. Chúa phải xử lý chúng ta một cách căn bản. Tính chủ quan, những ý nghĩ và tình cảm của chúng ta phải được xử lý. Chúng ta có thể bỏ qua nhiều điều, nhưng không bao giờ có thể bỏ qua những sự xử lý cơ bản, mà nếu thiếu những sự xử lý ấy thì không ai có thể hầu việc Chúa một cách đúng đắn. Nếu không kinh nghiệm những sự xử lý cơ bản, thậm chí chúng ta không thể đọc Kinh Thánh một cách đúng đắn. Có những điều kiện nhất định trong việc đọc Kinh Thánh. Người đọc không thể chỉ vận dụng tâm trí của mình. Đọc Kinh Thánh còn cần những điều kiện khác hơn là chỉ có một tâm trí khôn ngoan. Những sự xử lý cơ bản thật thiết yếu. Nếu không có những sự xử lý như vậy, bề ngoài một người có thể lắng nghe mọi lời người khác đang nói, nhưng bên trong người ấy vẫn ở trong sự tối tăm hoàn toàn; người ấy sẽ không hiểu gì cả. Một anh em có thể nói chuyện với người ấy trọn một tiếng đồng hồ, nhưng người ấy vẫn không biết người kia đang nói gì. Làm thế nào có thể mong một người như vậy giúp đỡ ai được? Chúng ta là những bình chứa của Đức Chúa Trời. Chúng ta cần phải nhận biết khi một người nóng hay lạnh, khỏe mạnh hay bệnh hoạn. Chúng ta là thước đo. Nhưng khi chúng ta sai trật, chúng ta sẽ đưa ra sự chẩn đoán sai lầm.

Giữa vòng các công tác viên Cơ-đốc có một quan niệm sai lầm đang thịnh hành rằng điều quan trọng nhất là khả năng giảng dạy. Hoàn toàn không phải vậy! Công tác của Chúa liên quan đến linh chúng ta chứ không phải chỉ liên quan đến lời nói của chúng ta. Chúng ta phải nhận ra các nan đề thuộc linh đang quấy rầy các anh chị em, và phải biết cách xử lý các nan đề ấy. Nếu bên trong chúng ta không trong sáng, chúng ta sẽ không hiểu được tình trạng bên trong của họ. Làm thế nào chúng ta có thể giúp đỡ được gì cho họ? Làm sao biết được một tội nhân được cứu hay không khi chúng ta giảng phúc-âm cho người ấy? Có phải chúng ta phán đoán chỉ nhờ lời miệng người ấy nói ra không? Có phải lời nói của người ấy là phương tiện duy nhất để [chúng ta] biện biệt tình trạng người ấy không? Không, chúng ta biết tình trạng người ấy nhờ cảm nhận bề trong của mình. Làm thế nào chúng ta biết được một người có thuộc về Chúa hay không? Phải chăng chúng ta đánh giá người ấy chỉ nhờ một vài lời như: “Tôi tin Giê-su; tôi được cứu”? Có phải chúng ta báp-têm một người chỉ vì người ấy thuộc lòng một công thức? Không, chúng ta phán đoán căn cứ trên cảm nhận bề trong của mình. Chúng ta là thước đo. Chúng ta xét nghiệm người vô tín theo thước đo ấy, và chúng ta cũng xét nghiệm con cái của Đức Chúa Trời theo thước đo ấy. Làm sao chúng ta biết được tình trạng thuộc linh của con cái Đức Chúa Trời có lành mạnh hay không? Nếu bước đi trong ánh sáng của Chúa, chúng ta sẽ biết. Anh chị em ơi, chúng ta phải được Chúa xử lý đến mức chúng ta trở nên thước đo của Ngài. Nếu sai trật ở bên trong, chúng ta sẽ dễ dàng phán đoán sai lầm, và một khi phán đoán sai lầm thì chúng ta sẽ làm tổn hại công tác của Ngài. Đó là lý do tại sao ở bên trong chúng ta phải bước đi trong ánh sáng; chúng ta phải có ánh sáng thật bên trong mình. Thật là một thảm kịch vì nhiều anh chị em không những tối tăm ở bên trong, mà thậm chí họ còn không có khả năng ngồi xuống lắng nghe những người khác. Anh chị em ơi, chúng ta phải học tập trầm tĩnh. Chúng ta phải tập nghe những gì người khác thật sự nói. Chúng ta phải mở chính mình ra và để những vấn đề của người khác có thể đi vào lòng mình. Chúng ta phải có một cảm nhận nhạy bén bên trong chính mình thì mới có thể biện biệt những nan đề thật của người khác. Chỉ khi ấy chúng ta mới có thể giúp người khác một cách thích đáng.