Thông tin sách

Nghiên Cứu Sự Sống Sách 1 Cô-Rin-Tô

Tác giả: Witness Lee
Dịch từ bản tiếng Anh: Nghiên cứu sự sống sách 1 Cô-rin-tô
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 2

Untitled Document

NGHIÊN CỨU SỰ SỐNG 1 CÔ-RIN-TÔ

BÀI HAI

PHẦN GIỚI THIỆU (2)

Kinh Thánh: 1 Cô. 1:1-9

Trong bài này chúng ta sẽ xem xét sâu xa hơn về lời giới thiệu của Phao-lô trong 1:1-9.

Câu 2 nói: “Gởi cho Hội thánh của Đức Chúa Trời tại Cô-rin-tô, cho những người được thánh hóa trong Christ Jesus, là các thánh đồ được kêu gọi”.Theo văn phạm, “gởi cho Hội thánh của Đức Chúa Trời” là đồng vị ngữ của nhóm chữ “cho những người được thánh hóa trong Christ Jesus”. Điều này cho thấy “Gởi cho Hội thánh của Đức Chúa Trời” tương đương với “cho những người được thánh hóa trong Christ Jesus”. Điều này bày tỏ cách mạnh mẽ rằng Hội thánh là một cơ cấu tổng hợp bao gồm các thánh đồ và các thánh đồ là thành phần cấu tạo nên Hội thánh. Hai điều này không nên xem là hai thực thể riêng biệt. Về mặt cá nhân, chúng ta là các thánh đồ; về mặt tập thể, chúng ta là Hội thánh. Như vậy, Hội thánh không chỉ được cấu tạo bằng Đức Chúa Trời nhưng cũng được tạo thành bởi các thánh đồ.

Được thánh hóa là được làm cho thánh khiết, biệt riêng cho Đức Chúa Trời để hoàn thành mục đích của Ngài. Các thánh đồ là những người được biệt riêng, những người được dành riêng cho Đức Chúa Trời.

Trong câu này Phao-lô nói chúng ta đã được “thánh hóa trong Christ Jesus”. Chúng ta đã được thánh hóa trong yếu tố và phạm vi của Đấng Christ. Đấng Christ là yếu tố và phạm vi biệt riêng chúng ta, làm cho chúng ta thánh khiết cho Đức Chúa Trời khi chúng ta tin Ngài, tức là lúc chúng ta được đem vào trong sự liên hiệp hữu cơ với Ngài nhờ đức tin của chúng ta trong Ngài.

Cách diễn đạt “thánh đồ được kêu gọi” cho thấy các tín đồ trong Đấng Christ là những thánh đồ được kêu gọi; họ không được kêu gọi để trở nên các thánh đồ (như trong bản Kinh Thánh Anh ngữ King James). Đây là vấn đề vị trí, sự thánh hóa trong vị trí với cái nhìn về sự thánh hoá trong bản tính.

Nhiều người đọc sách 1 Cô-rin-tô cảm thấy khó nhìn nhận những tín đồ tại Cô-rin-tô là các thánh đồ. Theo định nghĩa của giáo hội Công giáo, chắc chắn họ không phải là thánh đồ. Theo giáo hội Công giáo, chỉ có một số người nào đó, chẳng hạn như bà Theresa hay ông Francis mới đúng được gọi là các thánh đồ. Có lẽ chúng ta thắc mắc vì sao những tín đồ xác thịt tại Cô-rin-tô lại có thể được gọi là các thánh đồ. Tuy nhiên, trong Lời Chúa, Phao-lô mô tả họ là những người được thánh hóa trong Christ Jesus và là những thánh đồ được kêu gọi.

Anh em có dạn dĩ nói rằng mình thánh khiết không? Có lẽ một vài người sẽ đáp: “Tôi không thể tranh luận với lời của Phao-lô trong 1 Cô-rin-tô 1:2.Theo lời ấy, tôi đã được thánh hóa. Nhưng tôi vẫn không cảm thấy mình thánh khiết”. Về điều này, chúng ta không nên nhìn chính mình. Phao-lô không nói người Cô-rin-tô được thánh hóa trong chính họ; ông tuyên bố rằng họ được thánh hóa trong Christ Jesus. Chúng ta cần quên chính mình đi và thấy rằng trong Đấng Christ chúng ta được thánh hóa.

Về vấn đề được thánh hóa trong Christ Jesus, anh em không nên bị ảnh hưởng do ý kiến tiêu cực của vợ mình nghĩ về mình. Mỗi một anh em đều thánh khiết theo cái nhìn của người khác, nhưng không thánh khiết theo cái nhìn của vợ mình. Người vợ luôn luôn biết những khuyết điểm của chồng mình. Người vợ biết tường tận về những khuyết điểm của chồng. Điều này làm cho tất cả những người vợ đều khó thừa nhận rằng chồng mình là thánh khiết. Nhưng cho dầu một anh em không được thánh hóa theo cái nhìn của vợ, anh ấy vẫn được thánh hóa trong Christ Jesus.

Đức Chúa Trời không nhìn chúng ta như chúng ta ở trong chính mình; trái lại, Ngài nhìn chúng ta trong Đấng Christ. Điều này có thể được minh họa bằng những lời tiên tri Ba-la-am nói về con dân Israel. Rõ ràng dân Israel đầy dẫy những điều xấu xa. Nhưng khi Ba-la-am nói tiên tri về họ, ông tuyên bố: “Ngài không thấy tội lỗi nơi Gia-cốp, cũng chẳng thấy sự tà vạy trong Israel” (Dân. 23:21). Cũng vậy, Phao-lô biết tất cả những điều xấu xa trong Hội thánh tại Cô-rin-tô. Tuy nhiên, trong lời mở đầu, ông tuyên bố họ là những người được thánh hóa trong Christ Jesus, và ông gọi họ là các thánh đồ.

Trong câu 2, bằng cách sử dụng đồng vị ngữ, Phao-lô nói những người được thánh hóa trong Christ Jesus là những thánh đồ được kêu gọi. Đối với chúng ta, điều này dường như cứ được lặp đi lặp lại. Nhưng không lặp đi lặp lại như vậy, chúng ta sẽ không có ấn tượng mạnh mẽ về sự kiện các tín đồ tại Cô-rin-tô thật sự là các thánh đồ, thậm chí, họ còn là những thánh đồ được kêu gọi.

Mỗi người được cứu đều là một người được kêu gọi. Được kêu gọi nghĩa là được cứu. Khi Chúa Jesus nói với Phi-e-rơ: “Hãy theo Ta”, đó là Ngài kêu gọi Phi-e-rơ. Là những người được cứu, chúng ta đều được kêu gọi. Một khi được kêu gọi, chúng ta trở nên các thánh đồ.

Đừng nghĩ rằng chỉ có những người như bà Theresa hay ông Francis mới được gọi là các thánh. Anh em và tôi cũng là các thánh nữa. Anh em có dạn dĩ tuyên bố mình là thánh đồ không? Một vài người trong chúng ta chỉ có đủ lòng tin để nói mình là tín đồ, nhưng không dám chắc mình là thánh đồ. Có lẽ vài người sẽ nói: “Tôi là một tội nhân được cứu nhờ ân điển và tôi là một tín đồ trong Đấng Christ. Nhưng tôi không dám nói mình là một thánh đồ”. Lý do không dám chắc mình là thánh đồ là do ảnh hưởng xấu của giáo hội Công giáo vẫn còn để lại trong sự hiểu biết của chúng ta. Những người khác, do nhận biết các sự thất bại của mình, chẳng hạn như nổi nóng hoặc cãi nhau với vợ hay chồng mình, có thể không dám tin chắc để có thể nói mình là thánh đồ.Nhưng anh em có là thánh đồ hay không thì không tùy thuộc vào việc anh em có nổi nóng hay cãi nhau hay không, mà tùy thuộc vào việc anh em có được kêu gọi hay không.

Thay vì nói “thánh đồ được kêu gọi”, bản Kinh Thánh King James dịch “được kêu gọi để trở nên thánh đồ”. Theo bản dịch này, làm một thánh đồ là một điều sẽ xảy ra, chứ không phải là một sự thật đã hoàn thành. Nhưng Phao-lô không nói chúng ta được kêu gọi để trở nên thánh đồ; ông nói chúng ta là những thánh đồ được kêu gọi. Nếu chúng ta quay khỏi chính mình và nhìn vào Đấng Christ, chúng ta sẽ có thể tuyên bố mình là thánh đồ. Chúng ta sẽ thấy một thánh đồ chỉ là một người được kêu gọi.

Được Đức Chúa Trời kêu gọi là được dành riêng cho Ngài. Chẳng hạn như những người được kêu gọi để phục vụ trong quân đội là những người được tách ra khỏi đời sống dân sự và được gọi nhập ngũ. Điều này minh họa sự kêu gọi của Đức Chúa Trời. Khi chúng ta được Đức Chúa Trời kêu gọi, chúng ta được Ngài tuyển mộ, để riêng ra. Kết quả là chúng ta được thánh hóa; tức là chúng ta được dành riêng cho một mục đích nào đó. Vì tất cả chúng ta đều đã được Đức Chúa Trời kêu gọi cho mục đích của Ngài, chúng ta là những thánh đồ được kêu gọi.

2. Cùng Với Tất Cả Những Người Kêu Cầu Danh Chúa Ở Khắp Mọi Nơi

Trong câu 2, Phao-lô cũng nói: “Cùng tất cả mọi người ở khắp mọi nơi kêu cầu danh Chúa Jesus Christ chúng ta, là [Chúa] của họ và của chúng ta”. Chúng ta cần lưu ý ông không nói: “và tất cả mọi người”, nhưng ông nói “cùng với tất cả mọi người”. Điều này cho thấy một Hội thánh địa phương, như Hội thánh tại Cô-rin-tô chỉ bao hàm các tín đồ tại địa phương ấy, chứ không bao gồm tất cả những tín đồ ở khắp mọi nơi. Câu này cũng nói lên rằng thư tín này không những viết cho các tín đồ tại một Hội thánh ở Cô-rin-tô, nhưng cho tất cả các tín đồ ở mọi nơi. Thư 1 Cô-rin-tô dành cho tất cả các tín đồ ở mọi nơi, mọi lúc.

Nếu tôi là người viết thư tín này, có lẽ tôi đã dùng chữ “và” thay vì chữ “cùng”. Lời Phao-lô viết ở đây rất quan trọng. Như chúng ta đã thấy, câu này cho thấy một Hội thánh địa phương chỉ bao gồm những ai ở trong địa phương ấy, chứ không phải mọi thánh đồ trên đất. Phao-lô viết thư tín này cho Hội thánh tại Cô-rin-tô cùng với tất cả các thánh đồ trên đất. Chỉ có các thánh đồ tại một địa phương là những phần tử của một Hội thánh cụ thể. Các thánh đồ tại những địa phương khác không phải là những phần tử của Hội thánh ấy. Tuy nhiên, lời chào này cho thấy tác phẩm đầy hình ảnh minh họa ấy được viết không những chỉ cho các thánh đồ tại Cô-rin-tô, mà cho tất cả các thánh đồ dầu họ ở bất cứ nơi nào.

Khi nói đến các thánh đồ địa phương tại Cô-rin-tô, Phao-lô mô tả họ là “những thánh đồ được kêu gọi”. Nhưng khi ông nói về tất cả các thánh đồ trên đất, ông mô tả cách khác: “tất cả những người kêu cầu danh Chúa Jesus Christ ở khắp mọi nơi”. Trong câu này chúng ta thấy hai sự kêu gọi: trước hết, chúng ta là những thánh đồ được kêu gọi; thứ hai, chúng ta kêu cầu danh Chúa. Điều này cho thấy là những tín đồ, những thánh đồ, chúng ta đã được Đức Chúa Trời kêu gọi để kêu cầu danh Chúa. Chúng ta đã được kêu gọi để kêu cầu! Được kêu gọi là vấn đề một lần đủ cả nhưng kêu cầu danh Chúa là vấn đề kéo dài suốt cuộc đời chúng ta. Chúng ta cần kêu cầu danh Chúa liên tục.

Kêu cầu danh Chúa ngụ ý tin vào Ngài (La. 10:14). Tất cả các tín đồ trong Chúa nên làm những người kêu cầu Ngài (Công. 9:14, 21; 22:16). Chúng ta đã được kêu gọi để kêu cầu, được Đức Chúa Trời kêu gọi để kêu cầu danh Chúa Jesus.

Trong những câu mở đầu của Thư tín này, Phao-lô cho chúng ta định nghĩa của sứ đồ, Hội thánh và các thánh đồ. Trước hết, thánh đồ là người được Đức Chúa Trời kêu gọi cho Ngài. Thứ hai, thánh đồ là người kêu cầu danh Chúa Jesus.

Kêu cầu danh Chúa Jesus không phải là vấn đề im lặng cầu nguyện, mà là kêu cầu Chúa thành tiếng. Các Cơ Đốc nhân thường yên lặng cầu nguyện hay cầu nguyện với một giọng rất nhỏ. Nhưng nếu chúng ta muốn kêu cầu danh Chúa Jesus, chúng ta cần kêu cầu Ngài thành tiếng. Tôi có thể làm chứng rằng việc kêu cầu như vậy đem lại nhiều sự thay đổi lớn lao.

Khi kêu cầu Chúa theo cách này, anh em sẽ là người đầu tiên nghe lời cầu nguyện của mình. Nếu anh em không nghe lời cầu nguyện của mình, làm sao anh em mong Chúa nghe được? Nhưng nếu anh em nghe lời cầu nguyện của mình thì bảo đảm Chúa cũng nghe lời ấy nữa.

Là thánh đồ trong Chúa Jesus, chúng ta không phải là những cái máy. Vì vậy, chúng ta không nên cầu nguyện một cách máy móc. Khi kêu cầu Chúa Jesus, cả bản thể chúng ta được khuấy động. Cả con người bên trong của chúng ta được vận dụng.

Chúng ta đã nêu lên rằng thánh đồ là người được Đức Chúa Trời kêu gọi và là người kêu cầu danh Chúa Jesus. Tuy nhiên, một vài Cơ Đốc nhân chống đối dữ dội việc kêu cầu danh Chúa. Nhưng kêu cầu danh Chúa Jesus không những chỉ phù hợp với Kinh Thánh mà còn cần thiết cho đời sống hằng ngày của chúng ta. Là Cơ Đốc nhân, chúng ta không nên câm nín. Chúng ta không nên đến buổi nhóm và ngồi im lặng như những hình tượng câm. Chúng ta nên kêu cầu danh Chúa Jesus lớn tiếng. Đôi khi chúng ta cần kêu cầu Ngài ngay cả ở những nơi công cộng. Có lẽ anh em nghĩ điều đó sẽ làm mình mất thể diện.Thật ra, thay vì bị xấu hổ, anh em sẽ được “nâng lên trong Chúa.

Anh em đã được Chúa kêu gọi, nhưng anh em có đang kêu cầu Ngài không? Tôi e ngại rằng ngay cả giữa vòng chúng ta có một vài người không kêu cầu danh Chúa. Họ còn đang sợ mất thể diện. Càng kêu cầu danh Chúa Jesus, chúng ta càng được giải thoát và càng được nâng lên. Hơn nữa, sự kêu cầu này chứng tỏ rằng chúng ta là những thánh đồ được kêu gọi.

Trong câu 2, Phao-lô nói Chúa Jesus Christ “của họ và của chúng ta”. Đấng Christ là Đấng tổng-bao-hàm thuộc về mọi tín đồ. Ngài là phần mà Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta (Côl. 1:12). Vị sứ đồ thêm nhóm chữ đặc biệt này vào cuối câu để nhấn mạnh sự kiện rất quan trọng về Đấng Christ là trung tâm có một không hai của tất cả các tín đồ ở bất cứ nơi nào hay bất cứ tình huống nào. Trong Thư tín này, vị sứ đồ có ý định giải quyết các nan đề tồn tại giữa vòng các thánh đồ tại Cô-rin-tô. Trong tất cả những nan đề ấy, đặc biệt là nan đề chia rẽ, cách giải quyết duy nhất là Đấng Christ tổng-bao-hàm. Tất cả chúng ta đều đã được kêu gọi vào trong sự tương giao, vào sự dự phần trong Ngài (c. 9). Tất cả các tín đồ nên tập trung vào Ngài, không để một con người có ân tứ nào, một sự nhấn mạnh quá mức nào về giáo lý, hay một sự thực hành đặc biệt nào làm chúng ta bị lệch hướng.

II. LỜI CHÀO

Trong câu 3 chúng ta có lời chào của Phao-lô dành cho người Cô-rin-tô: “Nguyện anh em được ân điển và bình an từ Đức Chúa Trời là Cha chúng ta và từ Chúa Jesus Christ”. Ân điển là Đức Chúa Trời như là sự vui thỏa của chúng ta (Gi. 1:17; 1 Cô. 15:10), và sự bình an là một tình trạng do ân điển mà ra, phát xuất từ sự vui hưởng Đức Chúa Trời là Cha chúng ta.

III. NHỮNG ÂN TỨ BAN ĐẦU

A. Được Ban Cho Do Ân Điển Của Đức Chúa Trời Trong Đấng Christ

Trong câu 4 Phao-lô nói: “Tôi luôn vì anh em mà cảm tạ Đức Chúa Trời tôi dựa trên ân điển của Đức Chúa Trời đã ban cho anh em trong Christ Jesus”. Lời cảm tạ vị sứ đồ dâng lên Đức Chúa Trời về các tín đồ ở Cô-rin-tô dựa trên ân điển Ngài ban cho họ trong Đấng Christ, không dựa trên tình trạng của chính họ.

B. Được Trở Nên Phong Phú Trong Đấng Christ Trong Mọi Sự

Trong câu 5 Phao-lô tiếp tục: “Rằng trong mọi sự anh em được trở nên phong phú trong Ngài, trong mọi lời diễn đạt và mọi tri thức”. Từ ngữ “lời diễn đạt” trong Hi văn là lo¬gos, tức từ ngữ diễn tả tư tưởng hình thành trong tâm trí. Lời phúc-âm mà vị sứ đồ rao giảng truyền đạt tư tưởng của Đức Chúa Trời cho trí hiểu biết của chúng ta. Vậy, lời là sự diễn đạt của tư tưởng thần thượng. Tri thức là sự hiểu biết, là nhận thức về những gì được truyền đạt và diễn tả trong lời. Các tín đồ Cô-rin-tô nhờ ân điển của Đức Chúa Trời được giàu có trong mọi lời diễn đạt tư tưởng thần thượng về Đấng Christ và trong mọi sự hiểu biết và nhận thức về Đấng Christ.

C. Được Xác Quyết Nhờ Chứng Cớ Của Đấng Christ Trong Anh Em

Trong câu 6 Phao-lô tiếp tục nói: “Ngay cả chứng cớ của Đấng Christ đã được xác quyết trong anh em”. Chứng cớ của Đấng Christ là sự rao giảng về Đấng Christ của vị sứ đồ, không chỉ với những giáo lý khách quan, nhưng với những kinh nghiệm chủ quan, như một nhân chứng làm chứng sống động về Đấng Christ. Một chứng cớ như vậy về Đấng Christ được xác quyết bên trong và giữa vòng các tín đồ Cô-rin-tô nhờ họ được giàu có trong Đấng Christ, như đã được đề cập trong các câu 4 và 5.

D. Không Thiếu Một Ân Tứ Nào

Trong nhiều năm, tôi đã bối rối vì các câu từ 4 đến 7, đặc biệt vì ý nghĩa của chữ ân tứ trong câu 7. Tôi thắc mắc vì sao Phao-lô lại có thể dâng lời cảm tạ cho Hội thánh tại Cô-rin-tô trong khi các thánh đồ ở trong một tình trạng tồi tệ, chia rẽ và rối loạn như vậy. Tôi cũng không hiểu cách đúng đắn về ânđiển. Cách đây bốn mươi năm, tôi không biết ân điển là gì. Do đó tôi không hiểu câu 4. Còn về câu 5, tôi không biết vì sao các tín đồ tại Cô-rin-tô lại có thể phong phú trong Đấng Christ. Cũng vậy, tôi không biết chứng cớ của Đấng Christ được xác quyết trong họ và họ không thiếu một ân tứ nào nghĩa là gì. Thậm chí tôi có thể giảng vài bài về câu 7 và nói một vài điều như sau: “Qua thư 1 Cô-rin-tô, chúng ta thấy các ân tứ không hiệu quả. Qua câu 7 chúng ta hiểu rằng anh em có thể có tất cả các loại ân tứ mà vẫn còn là trẻ con”. Lúc ấy, tôi nghĩ rằng hiểu biết như vậy là đúng đắn. Nhưng sâu thẳm trong lòng, tôi không có sự bình an về những câu này. Cuối cùng, tôi bắt đầu nhìn thấy trong câu 7 chúng ta có điều mà có thể gọi là những ân tứ ban đầu, là các ân tứ phát xuất từ ân điển mà chúng ta nhận được khi tin nhận Chúa Jesus.

Trong câu 7, ân tứ chỉ về những ân tứ bên trong, phát xuất từ ân điển, chẳng hạn ân tứ về sự sống đời đời được ban cho một cách nhưng không (La. 6:23) và ân tứ [chính là] Thánh Linh (Công. 2:38) là ân tứ thiên thượng (Hê. 6:4), không phải là những ân tứ đầy phép lạ bên ngoài, chẳng hạn như chữa bệnh hay nói các thứ tiếng [lạ] trong các chương 12 và 14. Tất cả những ân tứ bên trong là các phần của ân điển. Đó là những điều đầu tiên thuộc sự sống thần thượng nhận được từ ân điển. Tất cả những điều này cần phải tăng trưởng (3:6-7) đến mức trọn vẹn và trưởng thành. Các tín đồ Cô-rin-tô không thiếu những ân tứ ban đầu trong sự sống, nhưng họ đã thiếu sự tăng trưởng trong sự sống vô cùng. Vì vậy, mặc dầu lúc đầu họ rất giàu có trong ân điển, họ vẫn là con trẻ trong Đấng Christ, thuộc hồn, thuộc xác thịt và thậm chí là xác thịt (2:14; 3:1, 3).

Sau nhiều năm, bây giờ tôi mới dạn dĩ nói rằng ân tứ trong 1:7 khác với các ân tứ được đề cập đến trong các chương 12 và 14. Trong hai chương này có một vài ân tứ thuộc phép lạ, còn những ân tứ khác thuộc về sự trưởng thành. (Chúng ta sẽ xem xét điều này đầy đủ hơn khi bàn đến phần này của sách 1 Cô-rin-tô). Như chúng tôi đã nêu rõ, ân tứ trong câu 7 chỉ về các ân tứ ban đầu, xuất phát từ ân điển, gọi là sự sống đời đời và ân tứ Thánh Linh. Khi được tái sinh, chúng ta nhận được sự sống đời đời là ân tứ của Đức Chúa Trời. Theo Công vụ các Sứ đồ 2:38, Thánh Linh cũng là một ân tứ. Gọi nhữngân tứ này là các ân tứ ban đầu ngụ ý rằng những ân tứ này chưa được phát triển, chưa tăng trưởng đến mức độ trưởng thành.

Một cây con lớn lên từ một hạt giống đến khi trở nên một cây trưởng thành minh họa sự tăng trưởng và phát triển của các ân tứ ban đầu. Trước hết, một hạt giống được gieo vào lòng đất. Hạt giống này là một cây con trong giai đoạn khởi đầu. Khi hạt giống mọc lên, nó phát triển cho đến khi đạt đến mức trưởng thành. Tất cả các tín đồ Cô-rin-tô đều có những ân tứ ban đầu; tất cả đều có sự sống thần thượng và Thánh Linh như những hạt giống được gieo vào trong họ. Nếu chúng ta hiểu các câu này không những theo mạch văn nhưng theo ánh sáng của kinh nghiệm mình và kinh nghiệm của các tín đồ khác, chúng ta sẽ thấy ở đây, Phao-lô nói với người Cô-rin-tô như vầy: “Anh em tín đồ tại Cô-rin-tô ơi, anh em đã tiếp nhận Chúa Jesus. Khi tin Ngài, anh em đã nhận được những ân tứ ban đầu là sự sống thần thượng và Thánh Linh. Nan đề là anh em đã không để cho những ân tứ này lớn lên và phát triển”. Vì lý do đó, trong chương ba, Phao-lô vạch rõ rằng người Cô-rin-tô cần phải lớn lên. Ông nói: “Tôi đã trồng, A-bô-lô đã tưới, nhưng Đức Chúa Trời đã làm cho lớn lên” (3:6). Về phương diện những ân tứ ban đầu, người Cô-rin-tô vẫn còn là con trẻ, họ cần được lớn lên vô cùng.

Một đứa bé có sự sống và cũng có các chức năng của sự sống, nhưng chưa có sự tăng trưởng hay phát triển của sự sống. Vì vậy mà nó không thể làm gì cả. Càng lớn lên, đứa bé càng có thể làm việc nhiều. Chẳng hạn như đứa cháu nội mười một tuổi của tôi có thể làm nhiều điều mà đứa em trai bảy tuổi của nó không thể làm được. Cách nhau bốn tuổi mà mức độ phát triển trong hai đứa bé khác nhau rất nhiều. Không phải đứa nhỏ không có sự sống. Nó có sự sống, nhưng sự sống ấy chưa phát triển bằng sự sống của anh nó. Cũng vậy, mặc dầu người Cô-rin-tô đã nhận được các ân tứ ban đầu và được phong phú trong Đấng Christ về mọi sự diễn đạt và mọi tri thức, họ vẫn còn là con trẻ. Các ân tứ ban đầu này chưa phát triển.

Thư 1 Cô-rin-tô được viết cho những con người đầy triết lý. Tuy nhiên, chúng ta không nên nghĩ rằng người Hi Lạp cổ xưa triết lý hơn chúng ta ngày nay. Tất cả chúng ta đều rất triết lý. Giống như người Cô-rin-tô, những con người triết lý chúng ta rất giàu hiểu biết về những điều thuộc linh. Chúng ta có thể có kiến thức về những điều này, dầu vậy, vẫn còn là trẻ con trong Đấng Christ.

Do sự giáo dục, nhiều thánh đồ có thể hiểu được những cách diễn tả dùng để diễn giải những điều thuộc linh. Họ có thể nắm được tư tưởng mà không có được thực tại. Đó là tình trạng của các tín đồ Cô-rin-tô. Vì họ có văn hóa, có giáo dục và rất triết lý, họ có thể hiểu các từ ngữ truyền đạt tư tưởng của chức vụ Phao-lô. Nhưng họ không có thực tại của tư tưởng này. Ngày nay các sinh viên tốt nghiệp đại học rất có thể hiểu chức vụ của tôi theo chữ nghĩa suông. Họ có thể hiểu được ý tưởng truyền đạt qua văn tự nhưng có lẽ họ thiếu thực tại của những gì tư tưởng tôi muốn bày tỏ.

Thực tại này là chính Đấng Christ. Cũng giống như các tín đồ Cô-rin-tô, họ rất giàu có về lời diễn đạt, về tri thức và trong sự hiểu biết những điều thuộc linh nhưng có thể họ không có được bao nhiêu thực tại của những điều này.

E. Trông Đợi sự Hiển Hiện Của Chúa

Trong câu 7 Phao-lô cũng nói về việc “trông đợi sự hiển hiện của Chúa Jesus Christ chúng ta”. Sự hiển hiện này chỉ về sự hiện ra của Chúa, là sự tái lâm của Ngài. Chờ đợi sự hiện ra của Chúa là dấu hiệu bình thường của những tín đồ thật.

F. Được Vững Chắc Đến Cuối Cùng

Trong câu 8, Phao-lô nói: “Đấng sẽ làm cho anh em vững chắc đến cuối cùng, để anh em không chỗ trách được trong ngày của Chúa Jesus Christ chúng ta”. Đại danh từ liên hệ “Đấng” trong câu này chỉ về Đức Chúa Trời trong câu 4. Chính Đức Chúa Trời là Đấng đã ban ân điển cho chúng ta từ ban đầu cũng sẽ làm cho chúng ta vững chắc đến cuối cùng. Từ ngữ vững chắc chỉ về nhu cầu lớn lên sau khi nhận được ân điển ban đầu.