Thông tin sách

Nghiên Cứu Sự Sống Sách 1 Cô-Rin-Tô

Tác giả: Witness Lee
Dịch từ bản tiếng Anh: Nghiên cứu sự sống sách 1 Cô-rin-tô
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 1

Untitled Document

NGHIÊN CỨU SỰ SỐNG 1 CÔ-RIN-TÔ

BÀI MỘT

PHẦN GIỚI THIỆU (1)

Kinh Thánh: 1 Cô. 1:1-9

Chúa đã thật sự sắp đặt các sách trong Kinh Thánh theo quyền tể trị tối cao của Ngài. Chẳng hạn như Khải Thị không phải là sách đầu tiên và Sáng Thế Ký không phải là sách cuối cùng. Ngay cả ví dụ này cũng đủ chứng tỏ các sách trong Kinh Thánh đã được sắp đặt theo quyền tể trị tối cao của Đức Chúa Trời.

Trong Tân Ước, bốn sách phúc âm ghi lại cuộc đời của Chúa Jesus và cho thấy Ngài đã hoàn thành sự cứu chuộc nhờ sự đóng đinh của Ngài. Qua các sách phúc âm, chúng ta cũng được biết về sự phục sinh và thăng thiên của Đấng Christ. Trong sách Công vụ các Sứ đồ, chúng ta có sự chuyển động của Chúa trên các từng trời và trong sự phục sinh qua Thân thể của Ngài trên đất. Trong sách này, chúng ta không chỉ có các công tác của các sứ đồ và môn đồ nhưng còn có công tác của Đấng Christ phục sinh và thăng thiên.

Sau sách Công vụ các Sứ đồ, chúng ta có thư tín đầu tiên của Tân Ước, là sách La Mã. Sách La Mã cho chúng ta một bản tóm tắt đầy đủ và trọn vẹn về cả đời sống Cơ Đốc nhân lẫn nếp sống Hội thánh. Trong sách La Mã, chúng ta không chỉ có những sự dạy dỗ về đời sống Cơ Đốc nhân và nếp sống Hội thánh mà còn có các nguyên tắc nữa.

Ngay sau sách La Mã, chúng ta có thư 1 Cô-rin-tô. Thư 1 Cô-rin-tô cho chúng ta một bức tranh minh họa về đời sống Cơ Đốc nhân, nếp sống Hội thánh và sự sống Thân thể. Mỗi một nếp sống này được minh họa cách đầy đủ trong I Cô-rin-tô. Tuy nhiên, không bao nhiêu giáo sư Cơ Đốc nhận biết rằng những gì được bày tỏ trong La Mã cách đại cương thì được minh họa cách đầy đủ trong thư 1 Cô-rin-tô. Tôi xin nhắc lại, trong thư La Mã, chúng ta có một bản phác họa về đời sống Cơ Đốc nhân và nếp sống Hội thánh, nhưng trong thư 1 Cô-rin-tô, chúng ta có một bức tranh minh họa về đời sống Cơ Đốc nhân, nếp sống Hội thánh và sự sống Thân thể.

Giữa vòng giáo phái Anh Em và Ngũ Tuần hay phong trào linh ân, các giáo sư đã viết nhiều sách về thư 1 Cô-rin-tô. Một vài giáo sư thuộc giáo phái Anh Em nói rằng thư 1 Cô-rin-tô được viết ra để giải quyết nhiều nan đề nghiêm trọng trong Hội thánh. Những người xuất thân từ giáo phái Ngũ Tuần hay phong trào linh ân có thể nhấn mạnh những gì được mệnh danh là các ân tứ trong thư 1 Cô-rin-tô, đặc biệt là ơn nói tiếng lạ và chữa bệnh. Tuy nhiên, sách 1 Cô-rin-tô không chủ yếu bàn đến những ân tứ thuộc linh hay các phép lạ. Xin anh em hãy ghi khắc sâu xa rằng sách này cho chúng ta một bức tranh minh họa về đời sống Cơ Đốc nhân, nếp sống Hội thánh và sự sống Thân thể.

Hầu hết các độc giả của sách 1 Cô-rin-tô đều có một ấn tượng tiêu cực về Hội thánh tại Cô-rin-tô. Anh em có thích Hội thánh này không? Nếu thành thật, anh em sẽ thừa nhận rằng mình không đánh giá cao Hội thánh này. Nhiều năm về trước, tôi không quan tâm lắm về Hội thánh tại Cô-rin-tô. Nhưng bây giờ tôi quý trọng Hội thánh địa phương này. Đối với tôi, sách 1 Cô-rin-tô rất ngọt ngào và thích thú. Tôi thích quyển sách này không phải vì sách này giải quyết các nan đề hay bàn đến vấn đề ân tứ nhưng vì sự minh họa về đời sống Cơ Đốc nhân, nếp sống Hội thánh và sự sống Thân thể.

Vài người có thể tranh luận một cách mạnh mẽ rằng thư 1 Cô-rin-tô là một sự minh họa về đời sống Cơ Đốc nhân chúng ta. Có lẽ họ sẽ đặt câu hỏi: “Chúng ta có phải bước theo những Cơ Đốc nhân tại Cô-rin-tô không? Chúng ta có cần phải có đời sống Cơ-đốc được mô tả trong sách này không? Chúng ta có phải theo gương Hội thánh tại Cô-rin-tô và có loại nếp sống Hội thánh mà họ có không? Chúng ta nên có loại sự sống Thân thể giống như những gì chúng ta thấy ở Cô-rin-tô không? Mọi điều trong Hội thánh tại Cô-rin-tô đều đáng thương. Đời sống Cơ Đốc nhân, nếp sống Hội thánh và sự sống Thân thể đều đáng thương thay!” Tuy nhiên, sự việc người Cô-rin-tô có đáng thương hay không trong các vấn đề này thì chỉ là điều phụ. Điều quan trọng ở đây là theo một ý nghĩa đích thực, người Cô-rin-tô minh họa một cách bình thường hay tiêu biểu về đời sống Cơ Đốc nhân, nếp sống Hội thánh và sự sống Thân thể. Thật ra, đời sống thông thường của Cơ Đốc nhân rất giống người Cô-rin-tô. Điều này cũng đúng khi nói về nếp sống Hội thánh và sự sống Thân thể điển hình.

Hãy xem xét đời sống Cơ-đốc của chính anh em, nếp sống Hội thánh, sự sống Thân thể. Đời sống Cơ-đốc của anh em có tốt hơn người Cô-rin-tô không? Nếp sống Hội thánh và sự sống Thân thể của anh em có hơn họ không? Nếu thành thật, anh em sẽ trả lời rằng mình không hơn gì người Cô-rin-tô trong những vấn đề này.

Mỗi Hội thánh địa phương là một Cô-rin-tô. Đừng khoe khoang về Hội thánh tại địa phương mình và nghĩ rằng Hội thánh mình đặc biệt, hơn hẳn Hội thánh tại Cô-rin-tô. Anh em có tin chắc khi nói rằng đời sống Cơ Đốc nhân của mình tốt hơn đời sống của người Cô-rin-tô không, hay nếp sống Hội thánh và sự sống Thân thể của anh em tốt hơn họ không? Đừng cho rằng Hội thánh tại địa phương anh em tốt hơn Hội thánh tại Cô-rin-tô. Nếp sống Hội thánh tại Cô-rin-tô là một sự minh họa chính xác về Hội thánh tại mỗi địa phương.

Kinh nghiệm của anh em về nếp sống Thân thể như thế nào? Có lẽ một vài người quý trọng nếp sống Thân thể tại một nơi nào đó và cảm thấy nơi ấy thật tuyệt vời. Nhưng nếp sống Thân thể tại đó có tốt hơn điều được minh họa trong sách I Cô-rin-tô không? Chắc chắn là không. Tất cả chúng ta đều giống các tín đồ tại Cô-rin-tô trong từng đường gân thớ thịt. Chắc chắn theo sự khôn ngoan của Ngài, Đức Chúa Trời đã dùng Hội thánh tại Cô-rin-tô làm một bức tranh minh họa đầy đủ về đời sống Cơ Đốc nhân, nếp sống Hội thánh và sự sống Thân thể được tìm thấy tại mỗi địa phương.

Chúng ta đã nêu lên rằng một số giáo sư Kinh Thánh, đặc biệt là những người ở giữa vòng giáo phái Anh Em nói rằng sách 1 Cô-rin-tô đối phó với các nan đề nghiêm trọng trong Hội thánh. Sách I Cô-rin-tô thật sự bàn đến nhiều nan đề. Nan đề thứ nhất là vấn đề chia rẽ. Trong 1:11 và 12, Phao-lô nói: “Vì anh em tôi ơi, người nhà Cơ-lô-ê đã cho tôi biết rõ về anh em rằng trong anh em có nhiều sự xung đột. Tôi có ý nói rằng, trong anh em mỗi người nói: tôi thuộc về Phao-lô, tôi thuộc về A-bô-lô, tôi thuộc về Sê-pha và tôi thuộc về Đấng Christ”. Có nhiều sự chia rẽ giữa vòng các thánh đồ tại Cô-rin-tô thế nào thì ngày nay cũng có nhiều sự chia rẽ giữa vòng các tín đồ trong các Hội thánh y như vậy. Hội thánh địa phương nào mà không có sự chia rẽ? Anh em có chắc rằng Hội thánh tại địa phương anh em không có sự chia rẽ chăng? Khi dùng từ ngữ chia rẽ, tôi không có ý nói đến các giáo phái; tôi chỉ nói đến loại chia rẽ mà người Cô-rin-tô minh họa. Họ là những người nói: “Tôi thuộc về Phao-lô và tôi thuộc về A-bô-lô”. Tại một Hội thánh địa phương, không có gì lạ khi có nhiều anh em nói họ ủng hộ điều này hay người này còn các anh em khác thì tuyên bố họ ủng hộ điều nọ hay người kia. Đó là điều tôi muốn nói khi đề cập đến sự chia rẽ. Không ai trong chúng ta dám nói tại Hội thánh địa phương của mình không có loại chia rẽ này.

Thường hay có sự chia rẽ giữa một anh em với vợ mình. Là anh em và chị em trong Đấng Christ, họ cùng đến bàn của Chúa và dự chung một bánh. Tuy nhiên, chị em có thể không thật sự hiệp một với chồng mình. Chẳng hạn như chị có thể nói với anh bằng thái độ chia rẽ, hoặc bắt lỗi anh trong lòng, hoặc không đồng ý với anh mà không nói gì cả. Đó là sự chia rẽ. Chắc chắn không ai trong chúng ta có thể nói không có sự chia rẽ trong nếp sống Hội thánh mình hay trong cuộc sống gia đình mình. Về điều này, chúng ta giống như Hội thánh tại Cô-rin-tô.

Tôi đề cập đến vấn đề chia rẽ không phải để bày tỏ rằng sách 1 Cô-rin-tô là sách bàn đến các nan đề nhưng để nhấn mạnh một sự kiện rằng đây là một cuốn sách minh họa đời sống Cơ-đốc nhân, nếp sống Hội thánh và sự sống Thân thể. Sách này bàn đến cá nhân người Cơ-đốc, Hội thánh và Thân thể. Do đó, sách này minh họa ba loại sự sống thuộc linh: đời sống cá nhân người Cơ-đốc, nếp sống tập thể trong Hội thánh và sự sống hữu cơ trong Thân thể. Điều cốt yếu là chúng ta cần phải có một cái nhìn như vậy khi đọc sách này. Lúc ấy chúng ta sẽ hiểu Cô-rin-tô được viết ra không phải để giải quyết những nan đề hay để nhấn mạnh các ân tứ nhưng để minh họa đời sống Cơ Đốc nhân, nếp sống Hội thánh và sự sống Thân thể thực tiễn và thật sự.

Dường như những sự minh họa trong sách 1 Cô-rin-tô rất tiêu cực. Đúng vậy, chúng tiêu cực, nhưng chúng thực tế. Hơn nữa, cả vào thời Phao-lô lẫn thời đại hiện nay, tình hình thực tế giữa vòng các tín đồ và các Hội thánh có nhiều yếu tố tiêu cực. Chắc chắn khó tìm thấy một Hội thánh nào có tình trạng hoàn toàn thoát khỏi những yếu tố tiêu cực. Một số người thắc mắc về nếp sống Hội thánh được mô tả trong Công vụ các Sứ đồ chương 2 và 4. Nhưng có điều gì tiêu cực hơn trường hợp của A-na-nia và Sa-phi-ra trong Công vụ các Sứ đồ chương 5? Sự phàn nàn trong chương 6 cũng bày tỏ tình trạng tiêu cực đang có tại đó. Ngay cả khi Chúa Jesus ở trên đất với các môn đồ Ngài, cũng có nhiều tình huống tiêu cực xảy ra. Các môn đồ tranh giành nhau xem ai là người lớn nhất. Dĩ nhiên, sách 1 Cô-rin-tô không phải là một sự minh họa về Giê-ru-sa-lem Mới. Trái lại, sách I Cô-rin-tô là một sự minh họa về đời sống Cơ Đốc nhân, nếp sống Hội thánh và sự sống Thân thể trong thời đại này. Vì chúng ta đang sống trong thời đại này, tức thời đại Hội thánh, chúng ta cần lấy sách 1 Cô-rin-tô làm sự minh họa cho mình. Sách này là một bức tranh về Hội thánh tại địa phương chúng ta. Nguyện tất cả chúng ta đều thấy rõ sách 1 Cô-rin-tô là một sự minh họa về chính đời sống Cơ Đốc nhân, nếp sống Hội thánh và sự sống Thân thể của chính chúng ta.

Một mặt, nếp sống Hội thánh của chúng ta được minh họa bằng nếp sống Hội thánh tại Cô-rin-tô; mặt khác, chúng ta cũng giống như người Cô-rin-tô về đời sống Cơ Đốc của cá nhân mình. Qua thư tín này, chúng ta biết các tín đồ Cô-rin-tô ở trong phần hồn và hành động cách xác thịt. Anh em có bao giờ ở trong hồn không? Anh em không bao giờ sống theo xác thịt sao? Nói cách cụ thể, anh em có thể nào nói rằng cả ngày hôm nay mình không sống trong xác thịt không? Nếu trả lời những câu hỏi này cách chân thật, chúng ta sẽ thấy, về mặt thuộc linh, tất cả chúng ta đều là người Cô-rin-tô. Tất cả chúng ta đều thuộc về một chỗ là nơi người ta sống trong hồn và trong xác thịt. Nhưng ngợi khen Chúa vì giống như người Cô-rin-tô, thỉnh thoảng chúng ta cũng sống trong linh.

Điểm chủ yếu thứ hai là sách 1 Cô-rin-tô nhấn mạnh đến Đấng Christ. Trong 2:2, Phao-lô tuyên bố một lời rất mạnh mẽ: “Vì, ở giữa anh em, tôi quyết định không biết bất cứ điều gì ngoài Jesus Christ, và Đấng này chịu đóng đinh”. Ở đây Phao-lô không nói về Đấng Christ phục sinh hay thăng thiên, ông cũng không nói về Đấng Christ ban mọi ân tứ cho chúng ta, nhưng nói về Đấng Christ chịu đóng đinh, một Đấng Christ bị giết chết. Điều Phao-lô nhấn mạnh trong sách này là Đấng Christ, Đấng đã bị xử tử, bị đóng đinh. Trong sách minh họa này, trọng tâm là ở nơi Đấng Christ, nhưng trước hết không phải nhấn mạnh Đấng Christ là Linh ban-sự-sống trong sự phục sinh mà là Đấng Christ bị đóng đinh. Nếu chúng ta nhìn thấy sách 1 Cô-rin-tô là một sách minh họa và nhấn mạnh về Đấng Christ bị đóng đinh, thì chúng ta đã được chuẩn bị để đi sâu vào chi tiết của Thư tín này.

Trong 1 Cô-rin-tô 1:1-9, Phao-lô bàn đến nhiều điều quan trọng. Trước hết, trong những câu ấy, chúng ta có một nhận thức đúng đắn về vị sứ đồ này. Sau đó chúng ta có một cái nhìn sáng tỏ về Hội thánh và các tín đồ là các thánh đồ. Như chúng ta sẽ thấy, sau đó Phao-lô bàn về một số điều mà chúng ta có thể gọi là những ân tứ ban đầu. Nếu muốn hiểu sách 1 Cô-rin-tô, chúng ta phải biết thế nào là những ân tứ ban đầu và những ân tứ được phát triển. Trong chương một, chúng ta không thấy những ân tứ được phát triển, tức những ân tứ ra từ sự tăng trưởng sự sống, nhưng chỉ thấy các ân tứ ban đầu mà thôi. Câu 9 rất quan trọng, ở đây, Phao-lô nói: “Đức Chúa Trời là thành tín, bởi Ngài anh em đã được gọi vào trong sự tương giao của Con Ngài, là Jesus Christ, Chúa chúng ta”. Ở đây Phao-lô nói về mối tương giao của Đấng Christ mà Đức Chúa Trời đã kêu gọi chúng ta bước vào. Như vậy, những điểm chính trong 1:1-9 là các sứ đồ, Hội thánh, những thánh đồ, các ân tứ ban đầu và sự tương giao với Đấng Christ.

I. NGƯỜI VIẾT VÀ NGƯỜI NHẬN

A. Người Viết

1. Phao-lô, Một Sứ Đồ Được Đấng Christ Kêu Gọi

1 Cô-rin-tô 1:1 nói: “Phao-lô, do ý muốn của Đức Chúa Trời, được kêu gọi làm sứ đồ của Christ Jesus, và Sốt-then là anh em”. Sứ đồ là một người được sai đi.

Phao-lô là một người như vậy, không phải ông tự chỉ định mình nhưng được Chúa kêu gọi. Chức vụ sứ đồ của ông là xác thực (9:1-5; 2 Côr. 12:11-12; cũng xem 2 Côr. 11:13; Khải. 2:2), có uy quyền của sự cai trị của Đức Chúa Trời trong thời Tân Ước (2 Côr. 10:8; 13:10). Dựa trên vị trí ấy với uy quyền ấy, vị sứ đồ viết thư này, không những để nuôi dưỡng và xây dựng các thánh đồ tại Cô-rin-tô mà cũng để chỉnh đốn và điều chỉnh Hội thánh tại đó nữa.

Chúng ta đáng phải so sánh cách Phao-lô nói về chức vụ sứ đồ của mình trong thư Ti-mô-thê thứ nhất, thứ nhì và thư gởi Tít với điều ông nói trong thư I Cô-rin-tô. Trong 1 Ti-mô-thê 1:1 Phao-lô nói ông là một sứ đồ của Christ Jesus theo mạng lịnh của Đức Chúa Trời và của Christ Jesus. Trong 2 Ti-mô-thê 1:1 ông nói chính mình là sứ đồ của Christ Jesus do ý muốn của Đức Chúa Trời, theo lời hứa về sự sống trong Christ Jesus. Trong Tít 1:1-2, Phao-lô nói ông là sứ đồ của Chúa Jesus Christ theo đức tin của những người được lựa chọn của Đức Chúa Trời và theo sự hiểu biết đầy đủ về lẽ thật, tức là điều phù hợp với sự bày tỏ Chúa, và trong hi vọng về sự sống đời đời. 1 Cô-rin-tô 1:1 nhấn mạnh hai vấn đề liên quan đến chức vụ sứ đồ của Phao-lô, ấy là Phao-lô là một sứ đồ được kêu gọi của Christ Jesus và ông trở nên sứ đồ do ý muốn của Đức Chúa Trời.

Sự việc Phao-lô là một sứ đồ được kêu gọi cho thấy ông không tự lựa chọn hay chỉ định mình và chức vụ sứ đồ của ông không do ông tự khởi xướng. Từ khi tác phẩm The Normal Christian Church Life (Nếp Sống Bình Thường Của Hội Thánh Cơ-đốc) của Anh Nghê được in ra, nhiều người bắt đầu tự cho mình là sứ đồ. Họ là những người tự chỉ định mình. Trái lại, Phao-lô là một sứ đồ thật, một sứ đồ được kêu gọi. Chắc chắn ông không có ý định làm một người được sai đi của Christ Jesus. Thay vào đó, là một người nhiệt thành với Do Thái giáo, ông định bắt bớ những người kêu cầu danh Chúa. Nhưng một ngày kia, trên đường đến thành Đa-mách, Chúa hiện ra với ông và ông tiếp nhận sự kêu gọi của Ngài. Ông được Đấng Christ thăng thiên kêu gọi làm sứ đồ. Như vậy, chức vụ sứ đồ của ông không bắt đầu từ chính mình nhưng từ Đấng Christ ở trên các từng trời.

Trong 1:1, Phao-lô nói ông là sứ đồ do ý chỉ của Đức Chúa Trời. Ý chỉ của Đức Chúa Trời là sự quyết định thực hiện mục đích của Ngài. Qua ý chỉ này, Phao-lô được kêu gọi làm sứ đồ của Đấng Christ. Sự khẳng định này làm cho vị trí và uy quyền chức vụ sứ đồ của ông được mạnh mẽ. Trong các thư tín khác, Phao-lô cũng bảo chúng ta ông là sứ đồ do ý chỉ của Đức Chúa Trời (2 Côr. 1:1; Êph. 1:1; Côl. 1:1; 2 Tim. 1:1). Ý chỉ của Đức Chúa Trời ở đây có liên quan đến sự quản trị của Đức Chúa Trời, đến sự cai trị của Ngài. Phao-lô được kêu gọi do ý chỉ của Đức Chúa Trời và dưới sự quản trị của Ngài để thực hiện gia tể Tân Ước của Ngài. Đó là một vấn đề có ý nghĩa vô cùng lớn lao. Phao-lô được chỉ định và kêu gọi theo ý chỉ của Đức Chúa Trời để thực hiện sự quản trị của Ngài.

Vì Phao-lô được kêu gọi để làm một sứ đồ theo sự khởi xướng của Đấng Christ và theo ý muốn của Đức Chúa Trời để thực hiện sự quản trị của Ngài, ông có cả địa vị lẫn uy quyền của một người được sai đi. Như vậy, ông có nền tảng để viết Thư tín này. Vì vậy, sách I Cô-rin-tô không chỉ đơn giản là một sách dạy dỗ, mà còn là sách của uy quyền. Chẳng hạn như trong 4:21 Phao-lô hỏi người Cô-rin-tô: “Anh em muốn gì? Tôi nên cầm roi mà đến với anh em hay đến trong tình yêu thương và linh nhu mì?” Là một sứ đồ được kêu gọi theo ý muốn của Đức Chúa Trời, Phao-lô có địa vị và uy quyền của một sứ đồ.

2. Sốt-then Là Anh Em

Trong 1:1 Phao-lô không chỉ nói về chính mình nhưng ông cũng đề cập đến Sốt-then là anh em. Có lẽ Sốt-then này không phải là Sốt-then trong Công vụ các Sứ đồ 18:17. Sốt-then ấy là một người lãnh đạo nhà hội tại Cô-rin-tô khi Phao-lô bị bắt bớ tại đó. Thư tín này được viết ra tại Ê-phê-sô (1 Cô. 16:8) không bao lâu sau khi vị sứ đồ lìa khỏi Cô-rin-tô. Sốt-then này là một anh em trong Chúa, chắc hẳn đã đồng đi với Phao-lô trong chức vụ lưu động của ông. Sự việc Phao-lô đề cập đến Sốt-then ở đây làm vững mạnh chức vụ sứ đồ của ông và cho thấy nguyên tắc Thân thể.

B. Người Nhận

1. Hội Thánh Của Đức Chúa Trời Tại Cô-rin-tô, Những Người Được Thánh Hoá Trong Đấng Christ, Các Thánh Đồ Được Kêu Gọi

Qua 1:2 chúng ta biết những người nhận thư tín này. Thư tín này được viết cho “Hội thánh của Đức Chúa Trời tại Cô-rin-tô, cho những người được thánh hóa trong Christ Jesus, là các thánh đồ được kêu gọi”. Hội thánh của Đức Chúa Trời! Thật là một lối phát biểu lạ lùng! Không phải Hội thánh của Sê-pha, của A-bô-lô, của Phao-lô, cũng không phải của bất cứ một sự thực hành nào hay giáo lý nào nhưng của Đức Chúa Trời. Mặc dầu có mọi sự chia rẽ, tội lỗi, rối loạn, lạm dụng ân tứ và dạy dỗ tà giáo trong Hội thánh tại Cô-rin-tô, vị sứ đồ vẫn gọi đó là Hội thánh của Đức Chúa Trời, vì yếu thể tính thần thượng và thuộc linh làm cho các tín đồ họp lại thành Hội thánh của Đức Chúa Trời vẫn thật sự có tại đó. Lời tuyên bố thuộc linh như vậy dựa trên cái nhìn thuộc linh của vị sứ đồ khi ông nhìn xem Hội thánh trong Đấng Christ. Chỉ một lời nói đơn giản như vậy cũng đủ xóa bỏ mọi sự chia rẽ và rối loạn cả trong sự thực hành lẫn trong giáo lý.

Trong câu 2, Phao-lô nói về “Hội thánh của Đức Chúa Trời tại Cô-rin-tô”. Hội thánh được Đức Chúa Trời của cả vũ trụ thiết lập nhưng hiện hữu tại Cô-rin-tô là một địa phương xác định trên trái đất này. Về bản chất, Hội thánh là phổ thông trong Đức Chúa Trời nhưng về sự thực hành, Hội thánh là địa phương tại một địa điểm xác định. Thế thì, Hội thánh có hai phương diện, đó là phổ thông và địa phương. Thiếu phương diện phổ thông, Hội thánh không có nội dung; thiếu phương diện địa phương, Hội thánh không thể có sự biểu hiện và thực hành. Do đó, Tân Ước cũng nhấn mạnh đến phương diện địa phương của Hội thánh (Công. 8:1; 13:1; Khải. 1:11).

Sự mô tả của Phao-lô về Hội thánh rất kỳ diệu. Tuy nhiên, các Cơ Đốc nhân không chú ý đủ đến vấn đề này. Hội thánh là Hội thánh của Đức Chúa Trời, vì Hội thánh được cấu tạo nên bằng bản chất thần thượng. Lời diễn đạt “Hội thánh của Đức Chúa Trời” cho thấy Hội thánh có bản chất của Đức Chúa Trời, được cấu tạo bằng yếu tố của Đức Chúa Trời. Do đó, Hội thánh thuộc về Đức Chúa Trời. Đó là phương diện phổ thông của Hội thánh. Nhưng Hội thánh thuộc về Đức Chúa Trời cũng là địa phương nữa. Trong trường hợp này, ấy là Hội thánh của Đức Chúa Trời tại Cô-rin-tô.

Trong cùng một câu này, chúng ta thấy cả phương diện phổ thông lẫn phương diện địa phương của Hội thánh. Phương diện phổ thông nói đến cấu tạo, bản chất và nội dung của Hội thánh và phương diện địa phương nói đến sự bày tỏ và tính thực tiễn của Hội thánh. Nếu chúng ta chỉ có phương diện địa phương mà thiếu phương diện Hội thánh là của Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ chỉ có hình thức bên ngoài mà thiếu thực tại bên trong. Nhưng nếu chỉ có phương diện phổ thông, mà thiếu phương diện địa phương của Hội thánh tại một địa phương xác định, chúng ta chỉ có thực tại mà không có tính thực tiễn. Một mặt, Hội thánh được cấu tạo bằng Đức Chúa Trời; mặt khác, Hội thánh được bày tỏ tại một địa phương xác định.

Không bao nhiêu giáo sư Cơ-đốc nhìn thấy hai phương diện này của Hội thánh. Trong các tác phẩm của họ, một số nói về Hội thánh của Đức Chúa Trời và một số khác nói về Hội thánh ở tại Cô-rin-tô. Nhưng chúng ta cần nhận thức sâu xa rằng sự mô tả về Hội thánh trong 1 Cô. 1:2 bao hàm hai phương diện của Hội thánh, phổ thông và địa phương. Chúng ta cũng phải hiểu phương diện phổ thông nói đến bản chất và nội dung của Hội thánh, và phương diện địa phương chỉ về tính thực tiễn và sự bày tỏ của Hội thánh.

Ngày nay chúng ta cần phải có cả hai phương diện. Chúng ta phải là Hội thánh của Đức Chúa Trời tại một địa phương nào đó, chẳng hạn như tạiAnaheim, Vancouver hay Philadelphia. Chúng ta phải vừa có tính cách phổ thông (hay hoàn vũ) và vừa có tính cách địa phương; vừa có tính cách địa phương và vừa có tính cách phổ thông. Tất cả chúng ta phải nói được rằng mình đến từ Hội thánh của Đức Chúa Trời tại một nơi chốn cụ thể nào đó. Khi có ai hỏi anh em thuộc về Hội thánh nào, anh em nên nói rằng mình thuộc về Hội thánh của Đức Chúa Trời tại một địa phương cụ thể. Trong sự khôi phục của Chúa, chúng ta có Hội thánh phổ thông được bày tỏ và thực hành tại các địa phương cụ thể.