Thông tin sách

Hiểu Biết Sự Sống

Tác giả: Witness Lee
Dịch từ bản tiếng Anh: Hiểu biết sự sống
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 14

Untitled Document

CHƯƠNG MƯỜI BỐN

SỰ SÁNG VÀ SỰ SỐNG

Bây giờ chúng ta sẽ xem xét điểm chính yếu cuối cùng liên quan đến vấn đề hiểu biết sự sống, đó là ánh sáng và sự sống. Theo Lời Đức Chúa Trời cũng như theo kinh nghiệm của mình, chúng ta thấy ánh sáng đặc biệt liên hệ đến sự sống. Có thể nói chúng ta nhận được sự sống là do được soi sáng. Và mức độ sự sống chúng ta nhận được hoàn toàn tương ứng với mức độ chúng ta được soi sáng. Chỉ có sự chiếu rọi của ánh sáng mới đem lại sự sống và chỉ có ánh sáng chiếu soi mới làm tăng trưởng sự sống. Vì vậy, nếu muốn hiểu biết sự sống, chúng ta cần thấy mối quan hệ giữa sự sáng và sự sống

I. SỰ SỐNG KHÁC VỚI PHẨM HẠNH

Chúng ta đã nhắc đi nhắc lại rằng ý định của Đức Chúa Trời cứu chúng ta không phải để chúng ta trở thành người ác hay người lành mà là trở nên một người có sự sống hay một Thần-nhân. Vì vậy, sau khi được cứu chúng ta không nên chỉ đạt đến tiêu chuẩn đạo đức trong phẩm hạnh của mình và sống-bày-tỏ sự tốt lành của loài người, nhưng chúng ta nên đạt đến tiêu chuẩn sự sống trong đời sống mình và sống-bày-tỏ sự sống của Đức Chúa Trời. Thế thì, con đường chúng ta đi hôm nay không phải là con đường tự cải thiện mà là con đường sự sống. Chúng ta không theo đuổi sự cải thiện phẩm hạnh mình nhưng theo đuổi sự tăng trưởng trong sự sống. Để có thể tiến tới trên con đường sự sống, không lệch qua bên phải hay bên trái, chúng ta phải biết phân biệt sự khác nhau giữa sự sống và phẩm hạnh.

Sự sống và phẩm hạnh thật là khác nhau. Ngay từ đầu, Kinh Thánh đề cập đến hai loại cây trong vườn Ê-đen: một là cây sự sống, hai là cây kiến thức về thiện và ác. Cây sự sống chỉ về sự sống của Đức Chúa Trời, trong khi cây thiện và ác chỉ về phẩm hạnh của thiện và ác. Cây sự sống và cây kiến thức về thiện và ác không phải là một cây, nhưng là hai cây. Điều này cho chúng ta thấy sự sống và phẩm hạnh thuộc hai thể loại thật khác nhau.

Chúng ta cần nhìn thấy sự khác biệt cơ bản giữa sự sống và phẩm hạnh. Nói một cách đơn giản, sự sống là sự tăng trưởng tự nhiên trong khi phẩm hạnh là công việc của loài người. Chẳng hạn, hãy xem một căn nhà và một cái cây. Căn nhà là kết quả của việc làm, sản phẩm của công việc con người, trong khi cây bày tỏ sự sống, sự tăng trưởng tự nhiên. Các cánh cửa của căn nhà đã được gắn vào do công việc loài người trong khi hoa, lá của cây mọc ra do sự tăng trưởng. Căn nhà được dựng nên mô tả một phẩm hạnh nào đó của con người trong khi cây mọc lên tỏ ra một loại sự sống. Điểm khác biệt ở đây rất rõ rệt. Đối với Cơ Đốc nhân chúng ta, điểm khác biệt giữa phẩm hạnh và sự sống cũng giống như vậy. Điều gì sản sinh ra do nỗ lực con người của chúng ta là phẩm hạnh, trong khi chỉ có điều nào phát sinh từ sự tăng trưởng của sự sống Đức Chúa Trời bên trong chúng ta mới là sự sống. Một số anh chị em rất dễ mến, kiên nhẫn, khiêm nhường và nhu mì. Thoạt tiên trông có vẻ như họ thật có sự sống, nhưng thật ra những đức tính ấy chỉ là phẩm hạnh do chính họ tạo ra chứ không phải là sự sống lớn lên và bày tỏ ra từ bên trong. Dù phẩm hạnh của họ được cải thiện rất nhiều, sự sống của họ không tăng trưởng là bao.

Mặc dầu sự sống và phẩm hạnh thật là khác nhau, nhưng bề ngoài thường rất giống nhau và rất khó phân biệt. Làm sao chúng ta có thể phân biệt giữa sự sống và phẩm hạnh được?

Trước hết, chúng ta có thể phân biệt bằng cách “nếm” hay “ngửi”. Một phẩm hạnh có thể rất giống sự sống, nhưng rõ ràng không có hương vị hay mùi sự sống. Chẳng hạn như hai cây có bề ngoài trông giống hệt nhau, nhưng một cây là cây có sự sống thật, trong khi cây kia là cây nhân tạo, không có sự sống. Cây “thật” kết quả nhiều và trên cây “nhân tạo” người ta cũng gắn một ít trái giả. Trái của cả hai cây đều giống nhau về hình dạng và màu sắc. Nhìn bên ngoài thì khó thấy sự khác biệt giữa hai cây nhưng chỉ cần ngửi hay nếm những trái ấy, chúng ta có thể phân biệt được ngay. Trái của cây “thật” thì ngon ngọt trong khi trái của cây “giả” thì vô vị. Trái giả dùng để ngắm thì được, nhưng không thể ăn được. Điều Cơ Đốc nhân chúng ta bày tỏ trong đời sống hằng ngày cũng như vậy. Hình thức và lối sống hằng ngày của một số anh chị em tưởng chừng như có sự sống; nhưng nếu anh em “ngửi” một cách cẩn thận, thì chẳng có mùi sự sống gì cả. Một số chị em bắt chước rất giống cách cầu nguyện và tương giao của Madame Guyon, nhưng mùi vị thì không giống. Một số anh em bắt chước cung cách khiêm nhường của Jesus người Na-xa-rét nhưng dù bên ngoài diễn xuất rất khá, họ không có mùi vị bên trong. Những điều đó là công việc loài người, không phải sự lớn lên của sự sống. Đó chỉ là sự phô diễn một phẩm hạnh, chứ không phải sống-bày-tỏ sự sống. Vì vậy, do hương vị hay mùi vị, chúng ta có thể biết đời sống của một Cơ Đốc nhân phát sinh từ sự sống hay chỉ là một hình thức phẩm hạnh mà thôi. Tất cả những gì sinh ra từ sự sống đều có hương vị hay mùi sự sống, hương vị hay mùi vị của Đức Chúa Trời; nhưng nếu là phẩm hạnh thì chỉ có hương vị và mùi vị của loài người.

Thứ hai, chúng ta có thể phân biệt giữa sự sống và phẩm hạnh qua sự thử nghiệm của những thăng trầm trong hoàn cảnh. Tất cả những gì phát xuất từ sự sống có thể chịu được sự thay đổi của môi trường; mặc dầu đau khổ trong bão tố, hoạn nạn, nhưng sự sống có thể tồn tại. Nhưng phẩm hạnh thì không như vậy. Khi có thử thách, phẩm hạnh sẽ thay đổi bản chất hoặc biến mất. Chẳng hạn như, nếu chúng ta chôn một hạt giống xuống đất, nó sẽ mọc và kết nhiều trái. Nhưng nếu chúng ta chôn một hòn đá xuống đất sẽ không có gì mọc lên cả. Nhiều lúc thật khó phân biệt điều một Cơ Đốc nhân bày tỏ là sự sống hay phẩm hạnh và nhiều lúc phân biệt bằng hương vị hay mùi vị lại càng khó hơn. Khi ấy, chúng ta chỉ có thể để cho sự thay đổi môi trường làm công việc thử nghiệm. Khi Đức Chúa Trời cho phép mọi sự quyến rũ, cám dỗ, khó khăn hay hoạn nạn đến trên một Cơ Đốc nhân trong hoàn cảnh của mình, nếu những gì người ấy có đến từ sự sống của Đức Chúa Trời, những điều ấy không những sẽ tồn tại qua mọi tình cảnh mà còn được biểu lộ nhiều hơn. Lý do là vì sự sống của Đức Chúa Trời chứa đựng quyền năng phục sinh vĩ đại. Sự sống này không sợ hoạn nạn, hủy diệt, hay sự chết, không thể bị chèn ép do bất cứ nghịch cảnh nào; trái lại, sự sống ấy khắc phục tất cả, đắc thắng tất cả, không bao giờ hư hoại mà cứ luôn nẩy nở mãi. Tuy nhiên, nếu những gì người ấy có chỉ là phẩm hạnh của con người, một khi gặp nghịch cảnh, hoạn nạn, sự tàn phá hay thử thách, nó sẽ thay đổi bản chất hoặc biến mất. Vì mọi phẩm hạnh của con người đều ra từ nỗ lực của họ, chúng không chịu nổi hoạn nạn hay sự tàn phá; cũng không thể thắng hơn cám dỗ hoặc thử nghiệm; một khi môi trường thay đổi, chúng thật khó mà không đổi thay.

Có một chị em kia bắt chước Madame Guyon đến mức dù gặp bất cứ chuyện gì đi nữa, chị vẫn không bao giờ bối rối mà luôn luôn bình tĩnh. Không những chị học cách hành xử giống Madame Guyon ở bề ngoài; ngay cả mùi vị lẫn hương vị cũng giống nữa. Nhưng một ngày kia “con trai độc nhất Y-sác” yêu dấu của chị thình lình bị đau. Thế là tất cả những gì chị học được đều biến đi cả và chị còn lo lắng hơn mọi người nữa. Điều này chứng tỏ sự không lo lắng trước kia của chị là nỗ lực của con người nên nó không chịu được sự thử nghiệm.

Như vậy, chúng ta không nên xét đoán tình trạng thuộc linh của anh chị em mình một cách vội vàng, cũng không nên vội khen sự bày tỏ của lối sống họ. Nhận xét và cảm xúc của chúng ta thường không đáng tin cậy. Chỉ có điều gì Đức Chúa Trời minh chứng bằng thời gian thì mới chính xác. Những gì chỉ là phẩm hạnh của con người sẽ sụp đổ theo thời gian, sẽ thay đổi trong bản chất hay sẽ bị hủy diệt. Tuy nhiên, những gì đến từ sự sống của Đức Chúa Trời sẽ tồn tại với thời gian. Sự thử nghiệm của thời gian thuộc về Đức Chúa Trời giúp chúng ta phân biệt được điều nào là sự sống và điều nào là phẩm hạnh.

Tôi xin trưng ra một số vấn đề cá nhân để minh họa sự khác biệt giữa sự sống và phẩm hạnh. Ngay sau khi tin Chúa, tôi nghe nói những người trong chủng viện có một nếp sống rất ngoan đạo. Phẩm hạnh và thái độ của họ rất cung kính đối với Chúa. Khi nghe điều đó, tôi rất ngưỡng mộ họ. Về sau, tôi cũng nghe nói có người sau khi được cứu đã trở nên một con người hoàn toàn khác với trước kia. Khi nghe như vậy, tôi lại càng cảm động. Từ đó, tôi quyết định sống một đời sống ngoan đạo như những sinh viên trong các chủng viện. Tôi cũng muốn trở nên một Cơ Đốc nhân hoàn toàn khác với con người trước kia của mình. Thế rồi hằng ngày, tôi nỗ lực cư xử tốt và học tập. Hành động và sự học tập ấy không đến từ sự sống, nhưng do ảnh hưởng bên ngoài và do sự ngưỡng mộ của lòng tôi. Tôi hết sức cố gắng dùng mọi nỗ lực của mình để bắt chước người khác; vì vậy đó hoàn toàn chỉ là một hình thức của phẩm hạnh mà thôi.

Tôi xin nêu một ví dụ khác. Vào thời ấy, người Trung Hoa ở khắp nơi đều giữ phong tục mừng năm mới. Nhưng vì được Chúa giải cứu, những phong tục như vậy không chiếm hữu lòng tôi. Vào sáng mồng một Tết năm ấy, sau khi thức dậy tôi quì gối như thường lệ để cầu nguyện và đọc Kinh Thánh và được kinh nghiệm sự hiện diện của Chúa một cách trọn vẹn. Cầu nguyện xong, tôi đứng dậy, mẹ tôi bảo tôi mặc chiếc áo mới mà bà đã chuẩn bị sẵn cho tôi. Không suy nghĩ gì cả, tôi cầm lấy, mặc vào và cùng gia đình đi dự tiệc đầu năm. Khi trở về nhà, tôi lại vào phòng, quì gối xuống cầu nguyện, nhưng tôi mất sự hiện diện của Chúa một cách kỳ lạ. Tôi thấy dường như Đức Chúa Trời trong tôi đã lìa khỏi tôi. Sau đó, tôi có một cảm giác sâu xa bên trong là mình không nên mặc chiếc áo mới ấy. Ngay lập tức tôi cởi nó ra và mặc lại chiếc áo cũ. Tôi lại cầu nguyện, lần này tôi đụng chạm được sự hiện diện của Đức Chúa Trời; tôi cảm biết Ngài đã trở lại với tôi.

Các anh chị em ơi, đây là sự sống! Đây không phải là sự khích lệ bề ngoài, một giải pháp hay phẩm hạnh; cũng không phải sự dạy dỗ, thực tập hay bắt chước. Ấy là sự sống của Đức Chúa Trời trong nơi sâu thẳm nhất của tôi đã ban cho tôi một cảm thức nào đó và bày tỏ rằng tôi không nên mặc chiếc áo mới ấy. Cảm thức bên trong này cũng là quyền năng sự sống đã giải cứu tôi. Từ đó về sau phong tục hội hè hoàn toàn rời khỏi tôi. Điều này thật khác với ví dụ trước là trường hợp thán phục và bắt chước. Đây là sự bày tỏ sự sống.

Vào năm 1940, tại Thượng Hải có một buổi huấn luyện dành cho các đồng công và nhiều người đến dự. Một anh em nói với tôi: “Nếu mức độ tăng trưởng sự sống của anh chị em ở đây không đủ, họ phải cố gắng nỗ lực hơn nữa”. Câu nói nầy đầy ý nghĩa, vì trong tình huống ấy, tự nhiên người ta sẽ phải tỏ ra thiêng liêng hơn, thuộc linh hơn. Nhưng mọi hoạt động ấy không phải là sự sống.

Bất cứ khi nào do ảnh hưởng của môi trường, do sự thán phục hay sợ hãi, mà chúng ta có một lối sống nào đó; lối sống ấy chỉ là một sự trình diễn bề ngoài, một hình thức cư xử. Một ngày kia, khi hoàn cảnh thay đổi, điều ấy cũng thay đổi theo. Như vậy, nếp sống của chúng ta không nên chỉ là kết quả của ảnh hưởng môi trường, mà phải do cảm nhận sự sống bên trong. Khi môi trường bên ngoài phù hợp với tôi, tôi sống như vậy. Khi môi trường không phù hợp với tôi, tôi vẫn sống như vậy. Môi trường có thể thay đổi nhưng nếp sống của tôi không thay đổi. Đó là một nếp sống đến từ sự sống.

Bây giờ, khi đã thấy sự khác biệt giữa sự sống và phẩm hạnh, chúng ta nên xem xét chính đời sống mình và kiểm tra từng điểm một. Có bao nhiêu phần của đời sống tôi không phải là sự trình diễn bề ngoài? Bao nhiêu phần không do bắt chước? Bao nhiêu phần bày tỏ sự sống ở bên trong. Một khi xem xét chính mình như vậy, ngay tức khắc chúng ta sẽ thấy phần lớn đời sống chúng ta chỉ là phẩm hạnh, sự bắt chước, sự phục tùng và thích ứng với những lề luật bên ngoài vì chịu ảnh hưởng bề ngoài; rất ít phần là sự bày tỏ sự sống ở bên trong. Điều này chứng tỏ chúng ta không hoàn toàn từ bỏ phẩm hạnh thuộc nỗ lực con người.

Thế thì làm sao chúng ta từ bỏ phẩm hạnh thuộc nỗ lực loài người và sống-bày-tỏ sự sống? Chúng ta cần ý thức phẩm hạnh phát sinh từ sự khuyến khích và dạy dỗ của người khác, hay do sự bắt chước và tập luyện của chính mình, trong khi sự sống phát sinh từ sự soi sáng của Đức Chúa Trời. Phẩm hạnh không đòi hỏi một sự soi sáng nào cả, nhưng được thực hiện do nỗ lực loài người. Tuy nhiên, sự sống chỉ có thể phát sinh do sự soi sáng mà thôi. Vì vậy, nếu muốn được giải cứu khỏi phẩm hạnh của chúng ta và có thể sống-bày-tỏ sự sống, chúng ta phải được soi sáng. Nếu không được soi sáng thì chúng ta chỉ có thể đạt đến phẩm hạnh bề ngoài là cùng; nhưng nếu được soi sáng, chúng ta có thể sống-bày-tỏ sự sống.

II. SỰ SỐNG ĐẾN TỪ SỰ SÁNG

Toàn bộ Kinh Thánh bày tỏ rằng sự sống đến từ sự chiếu rọi của ánh sáng. Khi ánh sáng tràn vào, sự sống sẽ theo sau. Nơi nào có ánh sáng, nơi đó có sự sống. Mức độ sự sống tỷ lệ thuận với mức độ ánh sáng. Sáng thế ký chương 1 và 2 nói rằng trước khi Đức Chúa Trời bắt đầu công tác phục hồi của Ngài, cả trái đất trống không và tối tăm, nghĩa là đầy dẫy sự chết, vì sự tối tăm tượng trưng cho sự chết. Vì vậy, bước đầu trong công tác của Ngài, Đức Chúa Trời truyền lệnh phải có sự sáng. Khi sự sáng đến, sự sáng hủy diệt bóng tối vốn thuộc về sự chết và đem sự sống vào. Như vậy, sự sống theo sau sự sáng, và sự sống bắt đầu từ sự sáng.

Ngày đầu tiên Đức Chúa Trời truyền lệnh cho sự sáng; sau đó sự sống thảo mộc đã phát sinh vào ngày thứ ba. Sự sáng của ngày đầu tiên đủ cho sự sống thảo mộc. Tuy nhiên, cần phải có ánh sáng mạnh hơn cho một sự sống cao hơn. Vì vậy, vào ngày thứ tư Đức Chúa Trời ra lệnh cho mặt trời, mặt trăng, và các ngôi sao phải chiếu sáng. Qua đó, sự sống cao hơn đã phát sinh. Không những có chim, cá, các loài thú và mọi loại sự sống loài vật, mà còn có sự sống của loài người, là loài được dựng nên theo hình ảnh Đức Chúa Trời. Cuối cùng, vào ngày thứ bảy, Đức Chúa Trời, là Đấng mà cây sự sống tượng trưng đã xuất hiện. Đức Chúa Trời là sự sáng cao nhất đã đem đến sự sống cao nhất, là sự sống của Đức Chúa Trời. Tiến trình xuất hiện của các loại sự sống khác nhau cho chúng ta thấy sự sống luôn theo sau sự sáng. Sự sống bắt đầu bằng sự sáng, và sự sống tiếp tục phát triển cao hơn khi sự sáng mạnh mẽ hơn.

Ánh sáng của ngày đầu tiên không đủ mạnh; vì vậy chỉ đem đến sự sống của cây cỏ, là sự sống thấp nhất, một sự sống không có ý thức. Điều này tượng trưng cho sự soi sáng chúng ta nhận được khi mới được cứu (2 Cô. 4:6). Mặc dầu ánh sáng này đem sự sống của Đức Chúa Trời vào trong chúng ta, ánh sáng này chỉ truyền đạt một sự sống ở giai đoạn đầu, một sự sống không có nhiều tố chất và chưa thành hình.

Ánh sáng ngày thứ tư mạnh hơn ánh sáng ngày đầu tiên. Ánh sáng này mạnh mẽ hơn, trong suốt hơn, rõ rệt hơn và cụ thể hơn, vì vậy đem đến một sự sống cao hơn, là sự sống của loài vật. Vì ánh sáng lớn lao hơn và mạnh mẽ hơn, nên sự sống cũng trọng yếu hơn và cao hơn. Ánh sáng phát triển và theo sau ánh sáng, sự sống cũng phát triển. Điều này tượng trưng cho kinh nghiệm của chúng ta: khi chúng ta nhận được ánh sáng mạnh mẽ hơn, trong suốt hơn, rõ ràng hơn, thì sự sống bên trong chúng ta cũng tăng trưởng và xác định hơn về hình thể. Qua đó Đấng Christ thành hình trong chúng ta.

Ánh sáng vào ngày thứ bảy là ánh sáng cao nhất; vì vậy, ánh sáng này đem đến sự sống cao nhất là sự sống của Đức Chúa Trời, được tượng trưng bằng cây sự sống. Khi ánh sáng lên đến cực điểm, thì sự sống cũng đạt đến tột đỉnh. Khi ánh sáng trọn vẹn, sự sống cũng hoàn toàn. Khi ánh sáng chúng ta nhận được bên trong gia tăng đến cực điểm, sự sống thuộc linh của chúng ta cũng trở nên đầy đủ và trưởng thành, và sẽ đạt đến tình trạng hoàn toàn giống Đức Chúa Trời.

Trong Sáng thế ký chương một và hai, Đức Thánh Linh tiếp tục bày tỏ cho chúng ta thấy sự sống theo sau ánh sáng. Ngài bày tỏ ánh sáng được chia làm ba giai đoạn: ngày thứ nhất, ngày thứ tư và ngày thứ bảy; vì vậy, sự sống cũng được chia làm ba giai đoạn. Ánh sáng đánh dấu bước đầu của mỗi giai đoạn. Ánh sáng của giai đoạn nào đem đến sự sống của giai đoạn ấy. Mức độ ánh sáng của một giai đoạn qui định mức độ sự sống giai đoạn ấy đem đến.

Mục đích của Đức Chúa Trời là con người, loài đã được tạo dựng trong ánh sáng của ngày thứ tư, có thể tiếp xúc với cây sự sống, là cây đã được bày tỏ trong ánh sáng của ngày thứ bảy, và qua đó nhận được sự sống bất thọ tạo của Đức Chúa Trời mà cây này tượng trưng. Thật đáng tiếc, trước khi con người nhận được sự sống này, Sa-tan đã đến cám dỗ họ. Hắn thuyết phục con người nhận sự sống của Sa-tan, là sự sống được tượng trưng bởi cây thiện và ác, do đó loài người đã bị hư hoại. Sau đó vì loài người đã hư hoại, Đức Chúa Trời không thể làm gì khác hơn là ngăn chận không cho loài người đụng đến cây sự sống (Sáng. 3:24). Qua đó, sự sống đem đến bởi ánh sáng của ngày thứ bảy bị cất đi. Rồi một ngày kia, chính Đức Chúa Trời đã trở nên xác thịt, đến trên trái đất này để làm sự sáng và sự sống. Giăng nói về Ngài: “Trong Ngài có sự sống, sự sống là sự sáng của loài người” (Gi.1:4). Chính Ngài cũng nói: “Ta là sự sáng của thế gian, người nào theo ta... có ánh sáng của sự sống” (Gi. 8:12). Như vậy, sự kiện Chúa Jesus đến trên đất nghĩa là ánh sáng của ngày thứ bảy kèm với sự sống của ngày thứ bảy một lần nữa được bày tỏ giữa loài người hầu cho tất cả những ai tin và nhận Ngài có thể nhận lãnh sự sống này vào bên trong họ. Qua đó ý định nguyên thủy của Đức Chúa Trời được thành tựu.

Trong Khải Thị chương 21 và 22, thành Giê-ru-sa-lem Mới xuất hiện. Trong thành ấy có ánh sáng của vinh quang Đức Chúa Trời; vì vậy, không còn cần ánh sáng mặt trời và mặt trăng. Ban đêm không còn nữa. Đồng thời ở giữa con đường trong thành phố, có dòng sông nước sự sống, hai bên bờ sông có cây sự sống. Tất cả những người được cứu có thể tự do uống nước sông và ăn cây sự sống. Như vậy, bên trong thành đầy sự sáng và sự sống. Một mặt, ánh sáng đuổi bóng tối đi; mặt khác, sự sống nuốt mất sự chết. Đây là cảnh tượng vinh quang khi sự sống trong ánh sáng của ngày thứ bảy được loài người tiếp nhận và hòa lẫn với loài người. Điều này là sự hoàn thành tối hậu của sự việc Đức Chúa Trời được loài người tiếp nhận như sự sống trong sự sáng.

Tất cả những phân đoạn này cho thấy toàn bộ Kinh Thánh liên tục nói đến sự sống và sự sáng chung với nhau. Nơi nào có sự sáng, nơi đó có sự sống. Đây là một nguyên tắc quan trọng trong Kinh Thánh. Thi Thiên 36:9 nói: “Vì nguồn sự sống ở nơi Chúa; trong ánh sáng Chúa, chúng tôi thấy sự sáng”. Điều này rõ ràng nói đến mối liên hệ giữa sự sống và sự sáng. Sự sống luôn luôn theo sau sự sáng và chỉ có ánh sáng mới có thể đem đến sự sống.

Vì vậy, nếu muốn biết tình trạng sự sống của một người, chúng ta phải biết mức độ người ấy được soi sáng. Chúng ta thường nghĩ khi một người trở nên nhiệt thành hơn, ấy là anh đã tăng trưởng trong sự sống; hoặc nếu anh kỉnh kiền hay thiêng liêng hơn, đó là sự sống của anh có tiến bộ. Những quan niệm ấy hoàn toàn sai lầm. Sự sống không ở trong sự nhiệt thành của con người; cũng không ở trong sự mộ đạo của họ. Chỉ có một lãnh vực và một nguồn của sự sống, đó là sự sáng. Sự sống tùy thuộc vào sự sáng và sự sống đến từ sự sáng. Để quyết định một người có tăng trưởng trong sự sống hay không, chúng ta phải xem tình trạng người ấy được soi sáng bên trong như thế nào.

Như vậy, nếu muốn giúp người khác tăng trưởng trong sự sống, chúng ta cần làm sao cho họ được soi sáng. Nếu người khác nhận được sự soi sáng từ chúng ta, họ có thể tăng trưởng trong sự sống. Chẳng hạn như, trong chức vụ cung ứng lời nếu điều chúng ta nói chỉ là một sự khích lệ hay dạy dỗ, chúng ta chỉ kích động, ảnh hưởng người ta, khiến họ cải tiến về phẩm hạnh chứ không thể có được thành quả cuối cùng là sự sống. Công tác của chúng ta chỉ có kết quả tạm thời không thể lâu bền. Nếu chính chúng ta được soi sáng và sống trong sự chiếu sáng, khi ấy lời chúng ta chia sẻ có thể đem lại sự sáng; qua đó nan đề thật của người ta sẽ được phơi bày ra. (Ê-phê-sô 5:13 bàn đến điều này nói rằng mọi sự khi chịu khiển trách sẽ được tỏ bày bởi sự sáng). Sau khi nghe những lời như vậy, có thể người ta không nhớ rõ giáo lý, dầu vậy sâu thẳm bên trong vẫn còn lại một điều sống động liên tục cảm động họ, đụng chạm họ, và kết quả là đời sống hằng ngày của họ thay đổi. Những sự thay đổi ấy không phải là sự cải thiện bề ngoài do nỗ lực riêng, nhưng là sự bày tỏ sự sống do nhận lãnh sự soi sáng bên trong; vì vậy, kết quả sẽ vững bền và không thay đổi.

Khi rao giảng phúc âm, nguyên tắc cũng y như vậy. Một số người giảng Phúc âm có thể thuyết phục người ta bằng lời nói của mình; tuy nhiên họ không làm cho người ta được tiếp xúc với sự soi sáng của Phúc âm ở bên trong. Vì vậy, dầu môi miệng một người nói rằng mình tin Chúa và ngay cả quyết định tin trong lòng, người ấy không thể nhận được sự sống từ bên trong để được sinh lại và được cứu. Tuy nhiên, có những người rao giảng Phúc âm giảng những lời đầy dẫy sự sáng. Trong khi người ta nghe, ánh sáng Phúc âm chiếu vào lòng họ. Họ có thể lắc đầu liên tục và nói: “Tôi không tin”. Dầu vậy, sau khi trở về nhà, một điều gì đó ở bên trong cứ liên tục nói với họ: “Hãy tin, hãy tin!” Khi ấy, họ không thể không tin. Đây là kết quả của sự soi sáng, làm cho người ta nhận được sự sống từ bên trong, được sinh lại và được cứu. Tất cả những ví dụ này đều bày tỏ sự sống đến từ sự sáng. Sự sống phát sinh từ sự sáng; không có sự sáng, sự sống không thể có được. Sự sống thật sự phát sinh từ sự sáng.

III. ÁNH SÁNG Ở TRONG LỜI ĐỨC CHÚA TRỜI

Vì sự sống tùy thuộc vào sự sáng, sự sáng tùy thuộc vào điều gì? Từ Kinh Thánh, chúng ta biết sự sáng tùy thuộc vào Lời Đức Chúa Trời. Đây cũng là một nguyên tắc quan trọng trong Kinh Thánh. Thi Thiên 119:105 nói: “Lời Chúa là ngọn đèn cho chân tôi, ánh sáng cho đường lối tôi”. Và câu 130 nói: “Sự bày giải lời Chúa soi sáng cho”. Những câu này cho thấy ánh sáng thật tùy thuộc vào Lời Đức Chúa Trời. Vì vậy, nếu muốn nhận được sự sáng, chúng ta phải nhận lấy Lời Đức Chúa Trời. Bất cứ khi nào tiếp nhận Lời Đức Chúa Trời, ấy là chúng ta đã tiếp nhận sự sáng. Lý do chúng ta không có ánh sáng là vì chúng ta thiếu Lời Đức Chúa Trời.

Lời Đức Chúa Trời chúng tôi nói đây không phải là lời văn tự trong Kinh Thánh, mà là lời Thánh Linh phán với chúng ta từ bên trong. Kinh Thánh là Lời thành văn của Đức Chúa Trời, dĩ nhiên rất chính xác. Nhưng Lời ấy được viết ra bằng những mẫu tự cố định, không có quyền năng soi sáng và không thể là sự sáng của chúng ta. Tuy nhiên, khi Thánh Linh bày tỏ lời Kinh Thánh một cách mới mẻ cho chúng ta, Ngài khai mở và làm cho lời ấy trở nên sống động đối với chúng ta, khi ấy Lời có quyền năng soi sáng và có thể là sự sáng cho chúng ta. Nếu chỉ đọc Kinh Thánh, dầu đọc suốt cả Kinh Thánh, và ngay cả có thể học thuộc lòng, những gì chúng ta nhận được chỉ là những giáo lý bằng văn tự. Chúng ta chưa nhận được Lời của Đức Chúa Trời, và như vậy, chúng ta chưa nhận được sự sáng. Chỉ khi nào Thánh Linh ở trong linh chúng ta ban cho sự khải thị, khai mở lời trong Kinh Thánh cho chúng ta, lời ấy mới trở nên Lời hằng sống của Đức Chúa Trời, khiến chúng ta nhận được ánh sáng của Đức Chúa Trời.

Trong Giăng 6:63, Chúa phán: “Những lời ta phán cùng các ngươi đều là linh và sự sống”. Ở đây, Chúa nói về lời, linh và sự sống, ba điều chung với nhau. Vì cả sự sống và linh đều ở trong chúng ta, rõ ràng những lời mà Chúa phán ở đây chắc hẳn cũng liên quan đến những lời được phán bên trong chúng ta, không phải văn tự Kinh Thánh ở bên ngoài. Mọi lời bên ngoài chỉ là kiến thức suông, không phải sự sáng. Chỉ có những lời vào trong linh chúng ta mới là lời sống động, lời soi sáng của Đức Chúa Trời. Khi đọc Kinh Thánh, nếu chúng ta thường xuyên vận dụng linh trong sự tương giao để đọc và mở linh ra nhận lãnh, lời Kinh Thánh sẽ trở nên linh và sự sống cho chúng ta. Những lời ấy có thể vào trong linh chúng ta, trở nên lời hằng sống, đem ánh sáng của sự sống vào.

Vì sự sáng ở trong Lời Đức Chúa Trời, chúng ta phải tôn kính Lời Đức Chúa Trời. Khi Thánh Linh phán với chúng ta ở bên trong, chúng ta nên tuyệt đối vâng phục, không nên hờ hững và bất phục. Ê-sai 66:2 nói Đức Chúa Trời sẽ lưu ý đến những người run rẩy trước Lời Ngài. Và câu 5 nói những ai run rẩy trước Lời Đức Chúa Trời nên lắng nghe Lời Ngài. Nếu không vâng theo Lời Đức Chúa Trời, chúng ta đã từ chối ánh sáng của Đức Chúa Trời. Bất cứ khi nào chúng ta từ chối ánh sáng, ánh sáng sẽ biến mất. Khi ánh sáng biến mất, sự sống cũng ra đi, sự hiện diện của Thánh Linh và Đức Chúa Trời cũng không còn, và mọi sự phong phú và phước hạnh thuộc linh đều mất cả. Đây thật là một sự mất mát lớn lao! Vì vậy, mỗi khi một người thật sự biết Đức Chúa Trời đụng chạm Lời Ngài, người ấy sợ sệt, run rẩy và không dám từ chối hoặc bất tuân.

Nếu Đức Chúa Trời phán với anh em một lần mà anh em không nghe, nếu Ngài phán lần thứ hai mà anh em lại không vâng theo, sau đó nếu Ngài phán với anh em lần thứ ba mà anh em vẫn không chú ý đến, thì anh em sẽ chẳng còn một chút ánh sáng nào ở bên trong, không còn một cánh cửa nào hé mở và sự sống không thể vào được. Nếu anh em vâng lời mỗi khi Ngài phán với mình, kinh nghiệm của anh em sẽ hoàn toàn khác: sự vâng phục đầu tiên đối với Lời Đức Chúa Trời tạo một cánh cửa mở ra bên trong để sự sáng có thể chiếu vào. Khi anh em lại vâng phục Lời Ngài trở lại thì có một cánh cửa khác được mở ra, qua đó thêm ánh sáng sẽ được chiếu vào nhiều hơn. Nếu tiếp tục vâng lời, anh em sẽ giống như bốn sinh vật, đầy những mắt quanh thân mình (Khải. 4:8), trong suốt, đầy dẫy ánh sáng và đầy dẫy sự sống. Vậy chúng ta thấy sự sống ở trong sự sáng, và sự sáng ở trong Lời Đức Chúa Trời.

IV. ÁNH SÁNG LÀ CẢM NHẬN BỀ TRONG

Chúng ta đã thấy ánh sáng ở trong Lời Đức Chúa Trời và Lời Đức Chúa Trời ở đây nói về lời Thánh Linh phán với chúng ta từ bên trong; vì vậy, ánh sáng chúng ta nhận được không phải loại ánh sáng khách quan bề ngoài mà là ánh sáng chủ quan bề trong.

Giăng 1:4 bảo chúng ta rằng sự sống của Đức Chúa Trời ở trong Chúa Jesus, và sự sống này là sự sáng của loài người. Khi chúng ta tiếp nhận Chúa Jesus làm Cứu Chúa, sự sống này vào trong chúng ta và trở nên “sự sáng của sự sống” (Gi. 8:12). Vì vậy, nói một cách nghiêm túc sự sáng này không phải là ánh sáng khách quan chiếu từ bên ngoài mà là ánh sáng chủ quan soi sáng chúng ta từ bên trong.

Ê-phê-sô 1:17-18 nói rằng khi chúng ta nhận được linh của sự khải thị, mắt hiểu biết của chúng ta được soi sáng, cũng có nghĩa là chúng ta nhận được sự chiếu rọi của ánh sáng bên trong. Vì sự khải thị của Thánh Linh là vấn đề chủ quan, ở bên trong nên ánh sáng do sự khải thị đem đến chắc chắn không phải ánh sáng khách quan ở bên ngoài chúng ta, mà là ánh sáng chủ quan ở bên trong chúng ta.

Vì sự sáng ở trong chúng ta, mỗi khi chiếu rọi sự sáng khiến chúng ta có một cảm thức nào đó ở bên trong. Như vậy, chúng ta có thể nói ánh sáng là cảm nhận bên trong của mình. Xin xem lại ví dụ mặc áo mới vào dịp tết của tôi. Khi mặc chiếc áo mới, tôi không cảm thấy bình an bên trong. Cảm giác ấy là sự soi sáng bên trong. Như vậy ánh sáng bên trong là cảm nhận bên trong, và cảm nhận bên trong cũng là ánh sáng bên trong. Cách đây hơn mười năm, chúng ta ít khi nào dùng chữ cảm nhận này. Bây giờ chúng ta rất sáng tỏ, khi nào nói về sự sáng chúng ta không thể tránh nói về một cảm nhận, vì mọi cảm nhận chúng ta có bên trong là sự soi sáng chúng ta nhận được.

Ngày nay, chúng ta ở trong sự sáng hay bóng tối, và được soi sáng nhiều hay ít, tùy thuộc vào tình trạng của cảm thức bên trong mình. Ai không có cảm thức là người ở trong tối tăm và không để cho sự sáng của Đức Chúa Trời chiếu sáng trong mình. Người có cảm thức là người ở trong sự sáng và cho phép sự sáng của Đức Chúa Trời chiếu trong mình. Như vậy, người đầy dẫy cảm thức là người đầy dẫy sự sáng và trong suốt.

Một vài anh chị em có tình trạng như vậy ở trước mặt Chúa. Khi tiếp xúc với họ, người ta cảm thấy họ trong suốt và trong sáng như pha-lê. Tôi được nghe kể về một anh em, mỗi khi anh ấy nói điều gì, người ta cảm thấy anh thật trong sáng. Nhận xét nầy đúng đắn. Có những người khi họ nói, anh em không thấy họ trong suốt. Những người khác thì anh em cảm thấy họ có một chút ánh sáng bên trong, nhưng không thật trong suốt. Còn một số người khác nữa, ngay khi họ đứng lên và nói, họ truyền đạt một cảm nhận là họ hoàn toàn trong suốt. Sở dĩ có tình trạng này là vì họ đầy dẫy cảm nhận bên trong. Luôn luôn một người càng có cảm thức nhiều bao nhiêu, người ấy càng trong suốt bấy nhiêu.

Làm thế nào chúng ta có thể đầy dẫy cảm nhận này và trở nên trong suốt? Điều này tùy thuộc vào cách chúng ta đối xử với Thánh Linh khi Ngài soi sáng và ban cảm thức cho chúng ta. Nếu không vâng theo cảm thức Thánh Linh ban cho mình, chúng ta sẽ không trong suốt ở bên trong và cảm thức của chúng ta sẽ không tránh khỏi tình trạng chậm chạp và lu mờ. Nếu chúng ta tiếp tục không vâng lời nhiều lần, cảm thức trong chúng ta lại càng lu mờ, u ám, cho đến khi hoàn toàn tối tăm, không còn cảm biết gì cả. Nếu chúng ta bằng lòng liên tục vâng theo cảm thức mà Thánh Linh ban cho mình, Ngài sẽ chiếm hữu bên trong chúng ta nhiều hơn và càng có cơ hội hành động; sự soi sáng bên trong sẽ ngày càng sáng tỏ hơn, và cảm thức sẽ càng phong phú hơn và nhạy bén hơn.

V. SỰ SOI SÁNG TÙY THUỘC VÀO SỰ THƯƠNG XÓT CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Làm thế nào chúng ta có thể nhận được sự soi sáng? Sự soi sáng tùy thuộc vào điều gì? Nói từ phía Đức Chúa Trời, sự soi sáng hoàn toàn tùy thuộc vào sự thương xót của Đức Chúa Trời. Ngài sẽ làm ơn cho kẻ Ngài làm ơn, và Ngài thương xót kẻ Ngài thương xót (La. 8:15). Người nhận lãnh sự khải thị là người Đức Chúa Trời ban sự khải thị. Người nhận được sự soi sáng là người mà Đức Chúa Trời soi sáng. Điều này hoàn toàn tùy thuộc vào Đức Chúa Trời, không tùy thuộc vào chúng ta. Vì vậy, không ai có thể đòi hỏi sự sáng và không ai có thể kiểm chế sự sáng. Khi sự sáng đến, thì sự sáng đến, dầu anh em không tìm kiếm. Khi sự sáng không đến, dầu anh em có tìm kiếm, sự sáng cũng vẫn không đến. Giống như mặt trời mọc lên. Khi mặt trời mọc, thì mọc. Có thể anh em không muốn nó mọc, nhưng nó không nghe theo anh em. Khi mặt trời không mọc thì nó không mọc; dầu anh em muốn nó mọc, nó chẳng nghe theo anh em. Cũng vậy, nếu Đức Chúa Trời soi sáng chúng ta thì chúng ta được soi sáng. Nhưng nếu Ngài không soi sáng chúng ta, chúng ta không thể làm được gì cả. Một ngày kia trên đường đến Đa-mách, Sau-lơ, người chống đối Chúa, chẳng có lòng tìm kiếm ánh sáng; nhưng ánh sáng từ trời đến trên ông, làm cho ông ngã nhào xuống đất và được phước vô cùng (Công. 9:3-4). Đức Chúa Trời đã thương xót ông. Như vậy, ánh sáng của Đức Chúa Trời không bị kiểm chế bởi tay người ta, nhưng bởi tay Ngài. Ánh sáng hoàn toàn tùy thuộc vào sự thương xót của Đức Chúa Trời.

Vì vậy nếu muốn được soi sáng, chúng ta chỉ biết trông đợi Đức Chúa Trời, nhìn xem Ngài và tin cậy Ngài; chúng ta không thể làm điều gì khác hơn, dầu chỉ một chút. Đối với những điều khác, chúng ta có thể tự mình quyết định, nhưng chúng ta không thể quyết định rằng mình phải được soi sáng. Chúng ta không thể nói anh em này hay anh em kia biết cách đọc Kinh Thánh và tôi cũng biết cách đọc Kinh Thánh; anh ấy có thể nhận được ánh sáng trong Kinh Thánh và tôi cũng có thể nhận được ánh sáng trong Kinh Thánh. Những người nghĩ như vậy thật khó nhận được ánh sáng.

Có lẽ có người nói rằng mặc dầu chúng ta không thể kiểm chế ánh sáng thiên nhiên, chúng ta có thể tự tạo ánh sáng cho mình nhờ vào điện hoặc thắp đèn dầu hay đèn cầy. Tuy nhiên, chúng ta không thể làm điều này để được soi sáng trong các vấn đề thuộc linh. Chúng ta chỉ có thể trông đợi Đức Chúa Trời soi sáng. Nếu Ngài không soi sáng chúng ta, chắc chắn không nên tự tạo ra ánh sáng hay tự tìm kiếm ánh sáng. Về vấn đề này, Ê-sai 50:10-11 nói: “Trong vòng các ngươi, nào có ai kính sợ Đức Giê-hô-va và nghe tiếng của tôi tớ Ngài? Kẻ nào đi trong tối tăm và không có sự sáng thì hãy trông cậy danh Đức Giê-hô-va, hãy nương nhờ Đức Chúa Trời mình. Kìa, hết thảy các ngươi là kẻ thắp lửa và đốt đuốc vây lấy mình, thì hãy đi giữa ngọn lửa mình và giữa những đuốc mình đã đốt! Ấy là sự tay ta đã làm cho các ngươi, các ngươi sẽ nằm trong sự buồn bực!” Trong cả Kinh Thánh, đây là phân đoạn nói rõ ràng nhất vấn đề được soi sáng. Về một mặt, phần Kinh Thánh này cho chúng ta thấy phương cách đúng đắn: nếu chúng ta kính sợ Đức Chúa Trời, vâng theo tiếng Ngài, và rồi bất ngờ bị rơi vào sự tối tăm, không có ánh sáng; trong trường hợp ấy, chúng ta không nên làm gì cả, cứ tin cậy danh Chúa, nương dựa Đức Chúa Trời, trông đợi sự soi sáng của Ngài. Vì chỉ một mình Đức Chúa Trời là ánh sáng, một mình Ngài là nguồn của sự sáng, và chỉ trong ánh sáng của Ngài chúng ta mới thấy sự sáng. Mặt khác, câu này cảnh cáo chúng ta rằng khi không có ánh sáng, chúng ta không nên tự tìm lối thoát bằng cách đốt lửa hoặc tự tạo ánh sáng. Vì nếu chúng ta không chờ đợi Đức Chúa Trời, nhưng thay vào đó, lại đốt đuốc vây lấy mình, mặc dầu chúng ta có thể đi trong sự sáng của chính mình một thời gian, cuối cùng chúng ta sẽ nằm trong sự buồn bực.

Đồng thời, chúng ta cũng không thể vay mượn ánh sáng của người khác, lấy ánh sáng mà người khác đã nhận được, sử dụng như ánh sáng của mình. Ví dụ, một người nào đó trong một buổi nhóm tương giao đã làm chứng khi anh gặp khó khăn, anh đã chấp nhận sự xử lý của thập tự giá; do đó, anh đã được Đức Chúa Trời ban phước. Một anh em khác, sau khi nghe làm chứng như vậy, có lẽ cảm động rất nhiều, và khi trở về nhà, quyết định từ đó về sau sẽ chấp nhận sự xử lý của thập tự giá. Mặc dầu đây không phải là tự tìm ánh sáng, cũng không phải tự tạo ra ánh sáng, nhưng là vay mượn ánh sáng của người khác; ấy là lấy ánh sáng người khác đã nhận được làm ánh sáng của chính mình. Chẳng bao lâu người làm như vậy chắc chắn sẽ bỏ ánh sáng ấy. Vì vậy, ánh sáng vay mượn không ích lợi gì, nó không thể thay thế cho sự sáng thật.

Giữa vòng chúng ta, ai kính sợ Đức Chúa Trời, lắng nghe tiếng Ngài và gặp sự tối tăm, hãy nhớ đừng làm gì khác hơn là tin cậy Đức Chúa Trời, nương dựa Ngài, hết lòng ngưỡng trông Ngài, yên lặng chờ đợi Ngài và tiếp tục tìm kiếm sự thương xót của Ngài một lần nữa. Khi Đức Chúa Trời đến, khi Ngài ban sự thương xót, ánh sáng của dung mạo Ngài sẽ là ánh sáng của chúng ta, sự hiện ra của Ngài là khải tượng cho chúng ta và sự hiện diện của Ngài là phần thưởng của chúng ta. Chỉ cần đụng chạm Ngài, chúng ta sẽ thấy sự sáng. Giây phút Ngài ẩn mặt khỏi chúng ta, chúng ta liền ở trong tối tăm. Dầu chúng ta có nỗ lực tìm kiếm ánh sáng bao nhiêu đi nữa, cũng chẳng được gì; chúng ta có phấn đấu bao nhiêu cũng vô ích. Không phải vì anh em đã hơi lơ là nên không thấy ánh sáng, và vì tôi hơi thiêng liêng nên ánh sáng đến; hoặc vì anh em hơi biếng nhác, nên không thể thấy ánh sáng, và vì tôi có siêng năng một chút, nên tôi thấy ánh sáng. Sự soi sáng không tùy thuộc vào sự phấn đấu và nỗ lực của chúng ta, nhưng do sự thương xót của Đức Chúa Trời. Than ôi, ngày nay bao nhiêu người tự tạo ánh sáng bằng cách thắp đèn và đốt lửa. Khi bóng tối đến, họ không chịu chờ đến bình minh, đến khi mặt trời mọc; họ tự đốt lửa, tạo ánh sáng riêng. Đức Chúa Trời nói tất cả những ai đốt lửa để tự soi sáng cuối cùng sẽ ở trong sự buồn rầu. Đây là mạng lịnh của Đức Chúa Trời. Vấn đề này nghiêm trọng biết bao! Nguyện chúng ta đầu phục để kính sợ Chúa và trông đợi sự thương xót của Ngài.

VI. LÀM THẾ NÀO ĐỂ ĐƯỢC SOI SÁNG

Vì sự soi sáng nằm trọn trong bàn tay điều động của Đức Chúa Trời và hoàn toàn tùy thuộc vào sự thương xót của Ngài; vậy thì chúng ta có nên chỉ giữ thái độ thụ động và thờ ơ không? Không, không bao giờ. Qua sự dạy dỗ của Kinh Thánh và kinh nghiệm của mình, chúng ta thấy mình vẫn có trách nhiệm. 2 Cô-rin-tô 4:6 nói: “Vì Đức Chúa Trời là Đấng có phán: ‘Sự sáng phải từ sự tối tăm soi ra’, cũng đã soi vào lòng chúng tôi...” Câu này cho chúng ta thấy Đức Chúa Trời đã thương xót chúng ta, đã chiếu sáng chúng ta. Đức Chúa Trời, Đấng đã chiếu sáng vào lòng chúng ta, là ánh sáng của chúng ta. Nếu đã được cứu, chúng ta đã có Đức Chúa Trời ở bên trong và đã có sự sáng rồi. Vì vậy, bây giờ vấn đề không phải là chúng ta xin sự sáng hay tìm kiếm sự sáng bằng cách nào nhưng làm thế nào để nhận được sự soi sáng hay làm thế nào chúng ta có thể để cho sự sáng chiếu rọi. Khi mặt trời đã mọc rồi, chúng ta không cần tìm nó nữa; chúng ta chỉ cần nhận lấy sự chiếu sáng của nó. Chỉ có người khờ dại mới đi tìm mặt trời sau buổi bình minh. Ê-phê-sô 5:14 nói: “Hỡi kẻ đương ngủ kia, hãy thức, hãy vùng dậy khỏi kẻ chết, thì Đấng Christ sẽ chiếu sáng trên ngươi”. Anh em chỉ cần thức dậy thì sẽ được chiếu sáng. Sự soi sáng nầy là vấn đề nhận lãnh, vấn đề chấp nhận; không phải là vấn đề đòi hỏi hay tìm kiếm. Trách nhiệm của chúng ta là cất bỏ các màn che để nhận ánh sáng và trở nên một người được soi sáng. Điều này ít nhất bao hàm những điểm sau đây:

Trước hết, chúng ta phải muốn được soi sáng. Vì ánh sáng không tùy thuộc vào sự yêu cầu hay tìm kiếm của chúng ta, nhưng do sự chấp nhận và nhận lãnh của chúng ta, nên chúng ta có muốn chấp nhận hoặc nhận lãnh hay không là điều kiện đầu tiên để được soi sáng. Mặt trời đã mọc rồi; vì vậy anh em không cần tìm kiếm hay yêu cầu; anh em chỉ cần được ánh sáng chiếu rọi và tiếp nhận sự chiếu rọi của ánh sáng. Nếu anh em không muốn nhận lãnh sự soi sáng, nếu anh em không muốn được chiếu sáng mà cứ tiếp tục che phủ mình, khi ấy dầu hàng ngày có mặt trời, nó vẫn không thể chiếu sáng anh em. Cũng vậy, sự sáng của sự sống đã chiếu sáng bên trong chúng ta. Ngày nay, chúng ta không chờ đợi ánh sáng, nhưng ánh sáng đang chờ đợi chúng ta. Ánh sáng ở trong chúng ta không ngừng chờ đợi chúng ta tiếp nhận sự soi sáng. Vì vậy, nếu chúng ta muốn và chấp nhận sự soi sáng, chúng ta sẽ được soi sáng. Nếu không muốn và cũng không chấp nhận, chúng ta rất khó được soi sáng.

Ngày nay có ít người thật sự muốn được soi sáng. Một số người không muốn vì lòng họ thờ ơ. Những người khác không muốn vì họ quyết định từ chối tiếp nhận ánh sáng. Hàng ngàn điều đã trở nên những bức màn ngăn trở sự sáng trong chúng ta. Nếu không muốn cất những bức màn này đi, chúng ta là những người không muốn được soi sáng và từ chối sự soi sáng. Thế thì đương nhiên chúng ta không thể được soi sáng. Chẳng hạn như vào buổi sáng khi đọc Kinh Thánh và cầu nguyện, nếu chúng ta thật sự muốn được soi sáng, sự sáng chắc chắn sẽ đến. Khi sự sáng đến, chúng ta sẽ thấy điều gì đó bên trong. Sự thấy này là cảm nhận bề trong. Khi nào chúng ta có một cảm thức sâu xa bên trong, đó là bằng cớ ánh sáng đã soi rọi. Bây giờ, vấn đề là chúng ta có vâng theo cảm thức của sự soi sáng này không. Nếu vâng phục cảm thức của sự soi sáng này và có vài sự xử lý nào đó, khi ấy chúng ta sẽ cất bỏ được những bức màn khỏi mình. Như vậy, những ai trong chúng ta chấp nhận và muốn được soi sáng sẽ liên tục được soi rọi. Nếu chúng ta không muốn giải quyết theo cảm nhận của sự soi sáng, nghĩa là chúng ta không muốn cất bỏ những bức màn khỏi mình. Vậy chúng ta là những người không muốn được chiếu sáng, từ chối sự soi sáng và chúng ta không thể được soi sáng.

Thứ hai, chúng ta nên mở lòng mình cho Chúa. Chúa là ánh sáng, nên nếu cả tấm lòng chúng ta quay về Ngài, chúng ta chắc chắn sẽ có ánh sáng; nhưng nếu chúng ta xây khỏi Ngài và hướng về những điều khác, chắc chắn chúng ta không có ánh sáng. 2 Cô-rin-tô 3:16 nói: “Nhưng hễ khi nào lòng đó quay về Chúa, thì bấy giờ màn ấy mới cất khỏi”. Khi tấm lòng không quay về Chúa, cái màn vẫn còn đó; nhưng khi lòng quay về Chúa, màn sẽ được cất đi. Rồi chúng ta được thấy Chúa mặt đối mặt và sẽ thấy ánh sáng. Vì vậy nếu muốn được soi sáng, chúng ta phải mở lòng mình cho Chúa và từ nơi sâu thẳm bên trong chúng ta phải buông mình ra, đặt chính mình trước mặt Chúa, không chút ngần ngại và không giữ mình lại chút nào. Như vậy, nhận lãnh sự sáng là điều rất dễ dàng.

Nhưng nan đề là chúng ta không dễ mở lòng ra cho Chúa. Chúng ta vẫn thường che giấu chính mình; chúng ta vẫn muốn giữ mình lại. Không những chúng ta không dám mở lòng mình ra cho Chúa mà còn không dám cầu nguyện. Giống như một đứa bé thỉnh thoảng không dám nhìn mặt cha mẹ. Khi cha mẹ gọi, nó chỉ trả lời ngoài miệng; nhưng nó không muốn đến, vì nó không muốn khai ra những điều nó đã làm sau lưng cha mẹ. Ôi, tình trạng của nhiều người trước mặt Chúa cũng giống như vậy. Vì họ có nhiều điều và những chuyện không đẹp lòng Chúa, họ giấu mình và giữ mình cách xa Chúa. Họ sợ rằng Chúa sẽ đụng đến những vấn đề và những chuyện ấy, lúc đó, họ sẽ làm gì? Có thể Chúa muốn họ giải quyết những vấn đề ấy hay những chuyện ấy, rồi họ sẽ làm gì? Có thể Chúa muốn họ dâng cho Ngài một điều gì đó họ rất quý báu, rồi họ sẽ làm gì? Vì sợ sự soi sáng của Chúa, họ không dám mở lòng ra cho Ngài. Vì vậy, họ giống như một miếng giấy cuộn chặt, không bao giờ muốn mở ra và cho Chúa viết lên những gì Ngài muốn.

Dầu không muốn mở lòng ra cho Chúa, những người ấy vẫn dùng tâm trí nghe các bài giảng và đọc Kinh Thánh. Những bài giảng họ nghe và Kinh Thánh họ đọc chỉ là sự tham khảo để họ xét đoán người khác, một dụng cụ để phê phán người khác, trong khi chính họ không nhận được chút ánh sáng nào. Tình trạng này giống như một người ở trong phòng vào ban đêm. Nếu căn phòng sáng, anh không thể thấy rõ những gì ở bên ngoài; nhưng nếu căn phòng tối, anh sẽ thấy rất rõ những gì ở bên ngoài. Cũng vậy, những người khép lòng mình với Chúa là những chuyên gia xét đoán và phê bình người khác. Họ rất sáng tỏ về tình trạng của người khác, nhưng họ không biết tí gì về tình trạng của chính mình. Điều này chứng tỏ họ hoàn toàn ở trong tối tăm!

Thậm chí những người không muốn mở lòng cho Chúa vẫn có thể giảng dạy và làm việc cho Ngài. Mặc dầu chính họ không muốn chấp nhận sự sáng, họ thuyết phục người khác tìm kiếm sự sáng. Mặc dầu họ thường hi vọng Chúa sẽ nhân từ đối với họ và ban cho họ sự sống dư dật, trang bị họ và ban các ân tứ cho họ để có thể phục vụ và công tác, nhưng họ sợ sự soi sáng của Chúa và ngay cả từ chối sự soi sáng của Ngài. Do đó lời họ cung ứng và công việc họ làm chỉ là những lời khuyên chết chóc không thể truyền đạt cho người khác sự soi sáng sống động.

Khi người ta không muốn mở lòng cho Chúa, bên trong họ trở nên hoang vu và trống rỗng, tăm tối và không có ánh sáng. Cũng như trong căn hầm, dầu ánh sáng bên ngoài có mạnh mẽ bao nhiêu, vẫn không thể chiếu vào bên trong. Nhưng đối với một người mở lòng cho Chúa thì tình trạng hoàn toàn khác. Người ấy hoàn toàn buông chính mình ra, từ trong ra ngoài, người ấy trải tất cả mọi điều ra trước mặt Chúa và không giữ lại chút nào, để cho ánh sáng của Chúa chiếu sáng. Một người như vậy chắc chắn sẽ thường xuyên được soi sáng. Mặc dầu nghe chia sẻ lời Chúa hay đọc Kinh Thánh, ngay khi nhận được ánh sáng, người ấy khiêm nhường tiếp nhận, một mặt lòng người ấy buồn rầu, mặt khác người ấy thờ phượng Chúa. Người buồn rầu vì tình trạng thảm não và thất bại của mình; người ấy thờ phượng Chúa vì sự thương xót và soi sáng của Ngài. Người ấy ở trong ánh sáng nên không thấy lỗi lầm của người khác, mà chỉ thấy sự thiếu hụt của chính mình. Do đó người ấy không lên án người khác mà chỉ thấy mình là con người đáng thương hại hơn hết, giống như con sâu hay con giòi, không thể ngóc đầu lên trước mặt Chúa thánh. Người ấy cũng ngưỡng trông Chúa để được thương xót, xin Chúa cứu mình, và muốn nhận được sự soi sáng sâu xa hơn. Qua đó ánh sáng của Đức Chúa Trời liên tục soi sáng bên trong và sự sống của Ngài liên tục lớn lên trong người ấy. Khi đó, người ấy trở nên một con người trong suốt, đầy dẫy cảm thức.

Thứ ba, chúng ta nên chấm dứt chính mình. Chấm dứt chính mình là gì? Nghĩa là chấm dứt quan điểm riêng, cách nhìn sự việc [của mình], cảm xúc, ý kiến và lời nói của mình v.v... Chúng ta đều biết “chấm dứt” không phải là chuyện dễ. Rất ít người thật sự chấm dứt như vậy. Tuy nhiên, không thể kết liễu chính mình cũng là một bức màn, một bức màn nghiêm trọng, ngăn cản sự soi sáng của Chúa.

Ví dụ, khi đọc Kinh Thánh, một vài anh em luôn luôn đọc với cảm xúc riêng, ý kiến riêng, và đem tư tưởng riêng vào trong ý nghĩa của Kinh Thánh. Kinh Thánh nói rõ: “Si-môn Phi-e-rơ” nhưng họ đọc thành ra: “Phi-e-rơ Si-môn”. Kinh Thánh nói rõ: “Phao-lô, sứ đồ của Jesus Christ” nhưng họ đọc thành ra: “Phao-lô, sứ đồ của Christ Jesus”. Khi họ không đọc Lời Đức Chúa Trời, ý kiến họ không được rõ ràng, nhưng ngay khi họ đọc Lời Chúa, ý kiến họ liền chỗi dậy. Vì vậy, hễ khi nào đọc Kinh Thánh, không một phần nào mà họ không có ý kiến và cảm xúc; nhưng họ không biết những ý kiến và cảm xúc đó đều là gỗ, cỏ khô và rơm rạ, không có giá trị gì. Một vài anh em giống như vậy trong chức vụ của họ. Khi họ giảng, lời họ bay trên trời, chẳng có trọng tâm hay điểm chính gì cả. Một vài anh chị em trong khi lắng nghe lời dạy của chúng tôi lại bỏ qua tất cả những điểm quan trọng và cần thiết, mặc dầu đã nghe lập lại nhiều lần. Tuy nhiên họ lại nhớ rõ những phần vụn vặt, những lời không cần thiết, là điều mà người ta thường quên đi sau khi nói ra. Lý do là vì họ có nhiều tư tưởng và cảm xúc mà họ không thể dừng lại được. Những anh chị em đó bề ngoài thì vô cùng bận rộn còn bên trong lại buông mình vào những sự tưởng tượng bông lung nên họ không thể ngăn chặn sự hoạt động của bất cứ phần nào trong toàn bộ con người họ. Kết quả là họ không nhận được một chút ánh sáng nào.

Trong Tân Ước có một ví dụ như vậy. Lu-ca chương 10 và Giăng chương 11 đều nói về một con người bận rộn nhất và không ai chận lại được, đó là Ma-thê. Lu-ca chương 10 ghi lại cô bận rộn bên ngoài biết bao nhiêu, trong khi Giăng chương 11 ghi lại cô hết sức hoạt động ở bên trong. Chúng ta có thể nói con người cô ta là cả một sự náo động. Không những cô có nhiều ý kiến và cảm xúc, nhưng cũng lắm lời nữa; không giây phút nào cô dừng lại. Vì vậy, không một lời nào Chúa phán với cô có thể đi vào lòng cô. Khi gặp Chúa, Ngài chưa kịp nói gì thì cô đã mở miệng mình và trách móc Ngài: “Thưa Chúa, nếu Chúa có ở đây thì anh tôi không chết”. Chúa đáp: “Anh ngươi sẽ sống lại”. Cô lập tức có một ý kiến và đáp: “Tôi biết rằng trong cuộc sống lại ngày sau rốt thì người sẽ sống lại”. Cô giải thích lời Chúa một cách rất tài tình rằng sự sống lại sẽ hoãn lại cho đến vài ngàn năm sau. Một lần nữa, Chúa lại phán với cô: “Ta là sự sống lại và sự sống: kẻ nào tin ta, dẫu đã chết, cũng chắc sống; còn hễ ai sống mà tin ta, thì đời đời hẳn chẳng hề chết. Ngươi tin điều đó không?” Cô đáp: “Thưa Chúa, phải, tôi đã tin Ngài là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời...” Câu trả lời của cô không liên quan gì đến câu hỏi của Ngài. Cô không nghe những gì Ngài nói; cô rất nhiều ý kiến và lắm lời. Vừa dứt lời, cô liền bỏ đi, và bí mật gọi Ma-ri, em gái của mình: “Thầy đến kia và gọi em”. Đây hoàn toàn là một sự thêu dệt; cô đề nghị giùm cho Chúa. Những người lắm lời và nhiều ý kiến là những người có thể đề nghị và bày tỏ ý kiến. Những người như vậy không thể dừng lại một chút nào; như vậy, họ hoàn toàn bị che khuất khỏi ánh sáng và không có cách nào cho họ được soi sáng.

Điều khó khăn của việc không thể nào dừng lại hay chấm dứt là ở trong con người. Nhiều người đọc Kinh Thánh nhưng không có ánh sáng và nghe giảng dạy nhưng không nắm được những điểm quan trọng không phải vì họ tội lỗi và thế gian, nhưng vì họ đầy ý kiến, cảm xúc, tư tưởng và lời. Nói cho đúng, tội lỗi và thế gian giống như những mảnh vải cũ không khó vất bỏ, nhưng không dễ gì từ bỏ các ý kiến, cảm xúc, tư tưởng. Đó là lý do vì sao chúng là bức màn trầm trọng nhất trong chúng ta; chúng khiến chúng ta không thể nhận được sự soi sáng của Chúa.

Như vậy, nếu ao ước được soi sáng, chúng ta phải bắt mình yên lặng và bắt mình dừng lại. Không những các sinh hoạt bên ngoài phải dừng, mà cả ý kiến, cảm xúc, ý nghĩ, quan điểm và lời nói bên trong đều phải bị ngừng lại. Khi một người hoàn toàn chịu dừng lại, đến trước mặt Chúa, người ấy trở nên vô cùng đơn sơ và đơn thuần để nhận lãnh lời Chúa. Bất cứ điều gì Ngài nói, người ấy lắng nghe và thông hiểu. Khi đọc Kinh Thánh, người ấy không đọc theo ý kiến của mình mà tự giải thích, trái lại người ấy đọc ý nghĩa trong Kinh Thánh cho mình. Ban đầu, dường như người ấy không hiểu những điều mình đọc. Nhưng khi ánh sáng đến, những điều quan trọng trong Kinh Thánh chiếu sáng trong người ấy và người ấy có sự khải thị. Khi người ấy nghe giảng dạy cũng vậy. Từ trong ra ngoài, cả con người của người ấy yên tịnh chờ đợi trước mặt Chúa, ao ước nghe Ngài nói. Do đó khi lời được ban ra, người ấy có thể nắm được điểm quan trọng của lời chia sẻ và nhận lãnh từ trong lời Chúa. Vì có thể ngừng chính mình lại, nên một người như vậy có khả năng nhận lãnh Lời hằng sống của Đức Chúa Trời không ngừng mà Lời này có nghĩa là ánh sáng của Đức Chúa Trời, vì ánh sáng của Đức Chúa Trời căn cứ trên Lời của Đức Chúa Trời. Do đó, điều kiện thứ ba để được soi sáng là biết ngừng chính mình lại.

Thứ tư, chúng ta không nên tranh luận với ánh sáng. Đây là một đòi hỏi cơ bản khác để được soi sáng. Ngay khi được soi sáng và có cảm nhận bên trong, lập tức chúng ta nên tiếp nhận, đầu phục và đối phó đúng đắn; chúng ta không thể tranh luận. Khi nào chúng ta tranh luận với sự sáng, sự sáng sẽ biến mất.

Khi Thánh Linh thực hiện công tác soi sáng của Ngài trong con người, đây là một hành động rất dịu dàng và tế nhị. Hễ khi nào gặp sự chống đối của con người, Ngài liền rút lui. Làm cho Thánh Linh ra đi bằng cách chống đối Ngài là một điều dễ vô cùng, nhưng xin Ngài trở lại là một điều khá khó khăn. Ngay cả chúng ta có xưng tội, ăn năn và nhận được sự tha thứ của Chúa, Thánh Linh vẫn không trở lại ngay. Chúng ta đọc thấy tình trạng ấy trong sách Nhã Ca. Khi Chúa gõ cửa nhà người Ngài yêu, nàng không mở. Sau đó, khi nàng nhận biết điều mình làm và ra mở cửa, thì không thấy Ngài đâu cả. Khi Chúa ẩn mặt như vậy, đó là một hình phạt cho chúng ta.

Không chỉ Thánh Linh hành động như vậy; cả những người có chức vụ từ Thánh Linh cũng hành động như vậy. Một đầy tớ biết Đức Chúa Trời và được Ngài dùng luôn luôn vui mừng giúp đỡ người khác. Tuy nhiên, nếu anh em phê phán người, cố tình chống trả người, người sẽ không tranh đấu, lý luận hay tranh luận đúng sai với anh em. Người chỉ có một cách là đơn giản rút lui, không còn gì để nói nữa và không giúp anh em được nữa. Như vậy, người thích tranh đấu là ngu dại và sự thiệt hại anh em phải gánh chịu thật nặng nề! Đối với một người có chức vụ từ Thánh Linh chúng ta phải thật cẩn thận! Anh em có thể phê bình người đi ngoài đường một cách tự do, nhưng anh em không nên tự do phê bình cũng không nên cố ý tranh luận với một người có chức vụ từ Thánh Linh. Điều này không có nghĩa lời phê bình của anh em không đúng hay sự tranh luận của anh em không hợp lý; có lẽ mọi lời phê bình của anh em là đúng và mọi sự tranh luận của anh em là hợp lý; nhưng có một điều chắc chắn, đó là ngay khi anh em phê bình và tranh luận với người ấy như vậy, chức vụ của người ấy đối với anh em sẽ chấm dứt. Người ấy có thể giúp đỡ hàng ngàn người, nhưng không thể giúp anh em. Không phải người ấy không giúp anh em mà là không thể giúp anh em được. Ngay cả nếu người ấy muốn giúp anh em, anh em sẽ chẳng nhận được gì. Vấn đề nghiêm trọng biết bao! Chúng ta phải thật cẩn thận!

Như vậy, đối với Thánh Linh là Đấng phán bên trong chúng ta và với những người cung ứng lời Chúa ở bên ngoài, chúng ta không thể phê bình hay tranh luận. Chúng ta không nên phê bình sự soi sáng của Thánh Linh bên trong, vì một khi tranh luận với Ngài, anh em sẽ bị tối tăm ít nhất vài ngày. Giai đoạn tối tăm này vừa là một hình phạt, vừa là một sự nhắc nhở cho anh em. Anh em cho rằng phạm lỗi với Đức Chúa Trời một lần không sao vì anh em có thể xin Ngài tha thứ. Vâng, Ngài có thể tha thứ anh em, nhưng Đức Chúa Trời có sự cai trị của Ngài; anh em không thể thoát khỏi hình phạt Ngài dành cho anh em. Và nếu anh em phạm lỗi với Ngài nhiều lần, chắc chắn kết cuộc của anh em còn bi thảm hơn. Dân Israel trong đồng vắng liên tục tranh luận với Đức Chúa Trời và xúc phạm Ngài. Khi họ đến Ka-đê-ba-nê-a, Đức Chúa Trời đưa bàn tay chủ trị của Ngài ra: khi ấy, họ chỉ còn cách trở lại đi lang thang trong đồng vắng. Mặc dầu họ khóc lóc và ăn năn nhưng tình trạng không thể nào được hồi phục. Vì vậy, dầu đó là sự soi sáng nhận được từ Thánh Linh hay từ những người rao giảng Lời Đức Chúa Trời, chúng ta nên vâng lời và đừng tranh cãi. Đây cũng là một nguyên tắc nghiêm trọng trong khi tìm kiếm những điều thuộc linh.

Khi Thánh Linh soi sáng chúng ta, nếu chúng ta thật sự yếu đuối và không thể vâng phục, điều chúng ta chỉ có thể thưa với Ngài là: “Ôi Đức Chúa Trời, con nên vâng lời trong vấn đề này, nhưng con quá yếu đuối; xin Ngài thương xót con”. Tấm lòng có thái độ như vậy vẫn được Ngài thương xót. Nhưng tốt nhất là khi được soi sáng, chúng ta vâng phục ngay, và đừng tranh luận gì cả. Bằng cách này, chúng ta để cho Đức Chúa Trời soi sáng mình một cách liên tục.

Thứ năm, chúng ta nên liên tục sống trong ánh sáng. Sau khi chúng ta nhận được sự soi sáng và qua đó biết được ý muốn Chúa trong một vấn đề nào đó, chỉ vâng phục Chúa một lần trong trường hợp này cũng không đủ. Trái lại, chúng ta nên học tập liên tục giữ mình trong sự soi sáng mà mình đã nhận được. Điều này có nghĩa là khi anh em nhận sự soi sáng trong một vấn đề nào đó, không những anh em nên đầu phục vào thời điểm đó mà thôi, nhưng anh em nên liên tục đầu phục nguyên tắc của sự soi sáng ấy.

Năm điểm này là phương cách nhận được sự soi sáng. Nếu cẩn thận lưu ý đến năm điểm này trước mặt Chúa, chúng ta sẽ thường xuyên được soi sáng và sống trong sự sáng. Đến giai đoạn này, khi chúng ta cần bất cứ sự dẫn dắt nào ở bên trong, Đức Chúa Trời sẽ ban cho chúng ta sự dẫn dắt ấy; nếu chúng ta cần bất cứ loại ánh sáng nào, Ngài sẽ ban cho chúng ta loại ánh sáng ấy và bất cứ sự tăng trưởng nào mà sự sống chúng ta cần. Bởi sự soi sáng Đức Chúa Trời sẽ làm cho sự sống chúng ta có được sự tăng trưởng ấy. Nguyện Chúa đầy ân điển đối với chúng ta!