Thông tin sách

Hiểu Biết Sự Sống

Tác giả: Witness Lee
Dịch từ bản tiếng Anh: Hiểu biết sự sống
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 13

Untitled Document

CHƯƠNG MƯỜI BA

LỐI RA CỦA SỰ SỐNG

Bây giờ chúng ta sẽ xem xét điểm chính yếu thứ mười ba liên quan đến vấn đề hiểu biết sự sống: đó là lối ra của sự sống. Nếu muốn biết con đường sự sống và theo đuổi sự tăng trưởng sự sống, chúng ta phải sáng tỏ về lối ra của sự sống, là cách sự sống tuôn tràn ra từ trong chúng ta.

Hầu hết các điểm chính trong chương này đã được đề cập trong những chương trước. Bây giờ chúng ta lại xem xét cụ thể từng điểm một.

I. NƠI Ở CỦA SỰ SỐNG – LINH

Đức Chúa Trời tái sinh chúng ta qua Linh của Ngài nhờ đó sự sống của Ngài được đưa vào trong linh chúng ta; vì vậy linh chúng ta là nơi sự sống cư trú.

Khi sự sống của Đức Chúa Trời ở trong Linh Ngài vào trong linh chúng ta thì cả ba hòa làm một và trở nên điều mà La Mã 8:2 gọi là “Linh sự sống”. Vậy, linh sự sống “ba-trong-một” này trong chúng ta là nơi ở của sự sống.

II. LỐI RA CỦA SỰ SỐNG – TẤM LÒNG

Trong chương Luật Sự Sống, chúng tôi có nói tấm lòng là lối vào và lối ra của sự sống như là “công tắc” của sự sống; vì vậy, tấm lòng có liên quan mật thiết đến sự tăng trưởng ra của sự sống.

Trong Kinh Thánh, Ma-thi-ơ chương 13 nói rất rõ tấm lòng liên quan đến sự tăng trưởng ra ngoài của sự sống. Chúa bảo sự sống là hạt giống, và tấm lòng là mảnh đất; vì vậy tấm lòng là nơi sự sống tăng trưởng ra từ trong chúng ta. Sự sống có thể tăng trưởng ra từ bên trong hay không hoàn toàn tùy thuộc vào tình trạng tấm lòng chúng ta. Nếu tấm lòng đúng đắn và ngay thẳng, sự sống có thể tăng trưởng ra ngoài; nhưng nếu tấm lòng không đúng đắn và cong quẹo, sự sống không thể tăng trưởng ra ngoài. Vì vậy nếu chúng ta muốn sự sống có thể tăng trưởng ra ngoài, chúng ta phải điều chỉnh tấm lòng của mình.

Ma-thi-ơ 5:8 nói: “Phước cho kẻ có lòng thuần khiết vì sẽ thấy được Đức Chúa Trời”. Điều này cho thấy tấm lòng cần phải thuần khiết. Điều chỉnh tấm lòng là làm sao cho lòng mình thuần khiết, tức là khiến lòng ấy ao ước Đức Chúa Trời, yêu Ngài, hướng về Ngài trong sự đơn sơ, không yêu điều gì hay ao ước điều gì ngoài Đức Chúa Trời. Khi lòng chúng ta được điều chỉnh và trở nên thuần khiết, đó là tình trạng đúng đắn và ngay thẳng. Qua đó sự sống có thể tăng trưởng ra ngoài.

III. LỐI DẪN CỦA SỰ SỐNG

Mặc dầu tấm lòng là lối ra của sự sống, là nơi sự sống tăng trưởng ra ngoài, nhưng muốn tăng trưởng ra ngoài, sự sống phải chảy qua lương tâm, tình cảm, tâm trí và ý chí, là bốn phần của tấm lòng. Vì vậy bốn phần này trở nên những nơi mà sự sống chảy qua. Như vậy chúng ta phải xem xét mối quan hệ giữa mỗi phần này với sự tăng trưởng ra bên ngoài của sự sống.

A. Lương Tâm

Khi sự sống tăng trưởng ra từ trong chúng ta, nó chảy qua lương tâm chúng ta. Lương tâm cần không bị cáo trách. Điều chỉnh lương tâm là làm lương tâm khỏi sự cáo trách.

Trước khi được cứu, khi còn là tội nhân, chúng ta thường xúc phạm Đức Chúa Trời và đối xử sai quấy với loài người trong hành vi cử chỉ của mình; lòng chúng ta dơ bẩn và dối trá; vì vậy, lương tâm tối tăm, đầy dẫy sự cáo trách và những chỗ rỉ, và cực kỳ ô uế. Vì lý do này, ngay sau khi được cứu, chúng ta nên điều chỉnh lương tâm. Khi mới được cứu, phần lớn các bài học mà chúng ta học được như bồi thường nợ nần trong quá khứ, làm sạch lối sống cũ, là để khiến chúng ta điều chỉnh lương tâm một cách đúng mức để được tinh sạch và không bị cáo trách ngay từ bước khởi hành trên con đường theo Chúa. Sau đó trong suốt cuộc đời theo Chúa của mình, nhiều lúc chúng ta có thể thất bại và trở nên yếu đuối, do đó rơi vào tội lỗi, xác thịt, bị thế gian tiêm nhiễm và tràn lấn, làm cho lương tâm có nhiều sự cáo trách và có nhiều chỗ rỉ; vì vậy chúng ta phải liên tục điều chỉnh để lương tâm được gìn giữ khỏi mọi sự cáo trách. 1 Ti-mô-thê 1:19 nói: “giữ... một lương tâm tốt. Có mấy kẻ vì đã bỏ lương tâm ấy, nên đức tin họ bị đắm chìm”. Điều này cho thấy việc điều chỉnh lương tâm có liên hệ rất nhiều đến sự tăng trưởng của sự sống. Khi nào chúng ta bỏ qua, không màng gì đến lương tâm, ngay lập tức sự sống bị ngăn chận và tù hãm. Vì vậy, nếu muốn sự sống tăng trưởng, nếu muốn sự sống bên trong có lối ra và có thể tuôn tràn từ lòng mình, bắt buộc chúng ta phải điều chỉnh lương tâm.

Điều chỉnh lương tâm nghĩa là giải quyết mọi sự cáo trách và mọi cảm giác bất an, bứt rứt của lương tâm. Trước mặt Đức Chúa Trời, khi chúng ta trở nên bất chính vì tội lỗi, bất khiết vì một điều gì trong thế gian chiếm chỗ trong lòng mình, hay bứt rứt vì tình trạng không hòa hợp nào khác, lương tâm sẽ lên án chúng ta ở bên trong, khiến chúng ta cảm biết được sự xúc phạm và bứt rứt trước mặt Đức Chúa Trời. Nếu muốn điều chỉnh lương tâm, chúng ta phải lưu ý đến những cảm thức như vậy trong lương tâm. Vì vậy điều chỉnh lương tâm là đối phó với những cảm thức trong lương tâm. Khi chúng ta đã giải quyết một cách thấu đáo, lương tâm sẽ vô cùng tinh sạch và an ninh, không bị cáo trách và không bị buộc tội. Qua đó sự sống sẽ từ trong chúng ta tự nhiên tăng trưởng ra ngoài.

Trong kinh nghiệm thực tế của chúng ta, để điều chỉnh lương tâm cho thật hoàn toàn tinh sạch, tình trạng quá đáng thường xảy ra. Điều ấy nghĩa là lương tâm bị điều chỉnh đến nỗi trở nên quá nhạy, và gần như yếu đuối. Trong trường hợp này, người ta không dám hoạt động hay hành động gì cả; làm gì cũng cảm thấy bị cáo trách và bất an. Đây dường như là một trường hợp đi quá xa; tuy nhiên điều chỉnh lương tâm vẫn là điều cần thiết trong giai đoạn học tập đầu tiên.

Giai đoạn tôi điều chỉnh lương tâm nghiêm ngặt nhất là vào năm 1935. Vào lúc ấy, trông tôi có vẻ như bị bệnh tâm thần. Chẳng hạn như, khi đến nhà người nào, nếu không ai ra mở cửa, tôi sẽ không dám mở cửa mà bước vào. Một khi đã vào phòng khách, nếu không ai mời, tôi không dám ngồi vì nếu ngồi, tôi cảm thấy mình xâm phạm quyền làm chủ của người khác. Nếu có tờ báo trước mặt mà không ai mời, tôi cũng không dám đọc: nếu đọc, tôi sẽ cảm thấy mình xâm phạm quyền làm chủ của người khác. Vào lúc ấy, khi viết thư, tôi phải viết đi viết lại ba bốn lần. Lần đầu, cảm thấy có vài chữ không chính xác nên tôi xé đi và viết lại. Sau khi viết lần thứ hai, cảm thấy một vài chữ không thích hợp, tôi lại xé và viết lần thứ ba. Tôi không dám nói chuyện với người khác vì nếu nói, tôi cảm thấy mình có lỗi lầm: hoặc do tôi nói không chính xác, hoặc do tôi nói quá nhiều; và nếu không giải quyết, tôi không thể bình an.

Tôi từng sống với một anh em nọ trong một căn phòng nhỏ tại Thượng Hải. Mỗi khi muốn rửa mặt, chúng tôi phải đem nước vào. Căn phòng ấy chật đến nỗi nếu không cẩn thận, chúng tôi không thể không làm văng một vài giọt nước trên giường người kia. Thời gian ấy, tôi thường làm văng nước lên giường anh ấy. Mặc dầu sau một lúc, nước khô đi; và nói một cách nghiêm túc, điều này không phải là tội. Tuy nhiên lương tâm tôi bứt rứt và tôi cảm thấy mình bị cáo trách. Tôi chỉ có thể thú nhận với anh và xin lỗi: “Xin anh tha lỗi cho tôi vì tôi đã làm văng nhiều giọt nước lên giường anh”. Khi xưng ra như vậy, tôi lại bứt rứt. Rõ ràng chỉ có ba giọt nước; sao tôi nói “nhiều giọt nước?” Tôi lại phải xưng ra một lần nữa. Vào buổi chiều, tôi hơi cẩu thả: tôi đạp lên giày anh để dưới giường, và lương tâm tôi không để tôi yên. Tôi lại xưng tội. Ngày nào cũng vậy, từ sáng đến tối, tôi cứ xử lý những loại tội lỗi như vậy. Cuối cùng anh ấy trở nên thiếu kiên nhẫn và tôi thì ngại ngùng khi xưng nhận thêm các lỗi khác. Tuy nhiên, nếu không xưng ra, tôi không yên lòng. Một ngày kia, tôi phạm một lỗi khác; nếu xưng ra, tôi e rằng anh ấy sẽ nổi nóng; còn nếu không xưng ra, tôi cứ bị bứt rứt. Đêm đến, sau giờ cơm, anh ấy muốn đi dạo, tôi tỏ ý muốn đi cùng. Tôi tìm cơ hội và thưa với anh: “Tôi lại lầm lỗi, xin anh tha thứ cho”. Anh đáp: “Người xấu nhất là người làm lỗi mà không xưng nhận lỗi ấy. Người tốt nhất là người không phạm lỗi và không xưng ra lỗi lầm. Người không tốt mà cũng không xấu là người làm lỗi và lại xưng lỗi lầm ấy ra”. Sau khi nghe điều đó, tôi nói trong lòng: “Chúa ôi, xin thương xót con, con không muốn làm người xấu nhất; con cũng không thể làm người tốt nhất; con chỉ có thể làm người không tốt cũng không xấu”.

Đó là thời gian tôi điều chỉnh lương tâm một cách quá đáng. Tuy nhiên, bây giờ khi nhìn lại, tôi vẫn thấy đó là điều cần thiết. Thật vậy, ai muốn thật sự tăng trưởng trong sự sống phải trải qua một giai đoạn điều chỉnh lương tâm một cách nghiêm khắc như vậy. Nếu lương tâm không được điều chỉnh đầy đủ, sự sống không thể phát triển đúng mức.

Khi lương tâm chúng ta đã trải qua những sự điều chỉnh nghiêm khắc và triệt để như vậy, cảm thức của lương tâm càng ngày càng nhạy bén. Giống như một tấm kính cửa sổ, khi bị bụi đất bám vào, ánh sáng không thể chiếu xuyên qua được; nhưng nếu chúng ta lau nó một chút, nó sẽ trong trẻo hơn. Chúng ta càng lau, nó càng trong suốt, và ánh sáng chiếu qua càng nhiều. Việc điều chỉnh lương tâm cũng giống như vậy. Càng được điều chỉnh, lương tâm càng trong sáng và cảm thức càng nhạy bén.

Lương tâm càng nhạy bén, tấm lòng càng mềm mại, vì lương tâm của những tấm lòng mềm mại là lương tâm nhạy bén hơn hết. Khi có một cảm thức nhỏ nhặt nào, lương tâm liền nhận biết. Chúng ta có thể nói một lương tâm nhạy bén chắc chắn thuộc về một tấm lòng mềm mại. Tất cả những tấm lòng cứng cỏi đều có một lương tâm chai lì. Lương tâm càng cứng cỏi, tấm lòng càng chai lì. Vì vậy, khi Thánh Linh muốn làm cho lòng chúng ta mềm mại, Ngài sẽ lay động lương tâm của chúng ta trước hết. Khi rao giảng phúc âm, chúng ta luôn luôn nói về tội lỗi; vì chúng ta có ý định lay động lương tâm người ta để họ thấy mình có nhiều điều sai quấy và lỗi lầm. Khi lương tâm một người đã được lay động, lòng người ấy cũng mềm mại; lúc đó người ấy sẽ muốn tiếp nhận sự cứu rỗi của Chúa.

Vì một lương tâm nhạy bén, tức là một lương tâm không bị cáo trách, có thể làm cho tấm lòng mềm mại, nên tự nhiên lương tâm ấy sẽ để cho sự sống tăng trưởng ra từ chúng ta. Như vậy, lương tâm là chỗ đầu tiên mà sự sống phải đi qua khi tăng trưởng ra bên ngoài, hay là phần đầu của lối ra để sự sống có thể tăng trưởng ra bên ngoài.

B. Tình Cảm

Khi tăng trưởng ra từ bên trong, nơi thứ hai sự sống phải đi qua là tình cảm của lòng chúng ta. Đối với tình cảm của tấm lòng, đây là vấn đề tình yêu. Xử lý tình cảm là làm cho tình cảm của chúng ta yêu Chúa nhiệt thành.

Chúng ta biết dầu một người có làm bất cứ điều gì chăng nữa, điều quan trọng hơn hết là người ấy có thích điều đó không. Nếu thích, người ấy sẽ sẵn lòng và vui mừng làm điều đó. Nếu không, người ấy sẽ không bằng lòng mà cũng không vui vẻ làm điều ấy. Nếu muốn để sự sống của Chúa bên trong chúng ta tăng trưởng ra ngoài một cách tự do, điều ấy đòi hỏi chúng ta phải vui mừng cộng tác với Ngài và bằng lòng để Ngài tự do hành động. Vì vậy khi Đức Chúa Trời muốn hành động qua chúng ta, Ngài thường lay động tình cảm chúng ta trước để chúng ta bằng lòng cộng tác với Ngài. Nhiều chỗ trong Kinh Thánh nói về lòng yêu Chúa. Tất cả đều được nhắc đến với ý định lay chuyển tình cảm của chúng ta. Chẳng hạn như trong Giăng 21, Chúa nói với Phi-e-rơ: “Ngươi yêu ta hơn những kẻ này chăng?” Nghĩa là Chúa muốn lay động tình cảm của Phi-e-rơ; Ngài muốn Phi-e-rơ yêu Ngài hết lòng để sự sống của Ngài có lối ra từ trong ông. Một lần nữa, trong La Mã 12:1-2, sứ đồ Phao-lô nói: “Tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời mà nài khuyên anh em hãy dâng thân thể của anh em làm sinh tế sống và thánh... để thử nghiệm ý chỉ... của Đức Chúa Trời”. Khi nói về sự thương xót của Đức Chúa Trời, ông cũng muốn lay động tình cảm của chúng ta, để làm cho chúng ta yêu Chúa, muốn Chúa, tìm kiếm Chúa và dâng chính mình cho Chúa; khi ấy chúng ta mới có thể hiểu được những gì thuộc về Đức Chúa Trời. Những ví dụ này cho chúng ta thấy nếu muốn sự sống của Đức Chúa Trời có thể tuôn ra từ lòng chúng ta, ngoài một lương tâm không bị cáo trách, chúng ta còn cần yêu Ngài một cách nhiệt thành.

Tình cảm nồng nàn dành cho Chúa có liên quan mật thiết đến tấm lòng và lương tâm. 1 Ti-mô-thê 1:5 nói: “Tổng kết của mạng lịnh, ấy là sự yêu thương do lòng thuần khiết và một lương tâm tốt...” Phần Kinh Thánh này cùng nói về tình cảm, tấm lòng và lương tâm. Ở đây Phao-lô có ý định nói với Ti-mô-thê rằng loài người có nói nhiều đến đâu chăng nữa cũng không đáng kể, nhưng tình yêu thương và chỉ tình yêu thương mà thôi là kết cuộc của mọi sự. Vậy, tình yêu này đến từ đâu? Từ một tấm lòng thuần khiết và một lương tâm tốt. Như vậy, chúng ta cần có lòng thuần khiết và lương tâm tốt trước khi tình yêu có thể tuôn ra. Vì lý do này, khi giúp đỡ người khác, chúng ta phải giúp họ điều chỉnh tấm lòng và lương tâm trước. Khi tấm lòng và lương tâm đã được điều chỉnh, tình cảm có thể dễ dàng yêu Chúa và muốn Ngài. Khi tình cảm của chúng ta chứa đựng tình yêu, sự sống của Đức Chúa Trời có lối ra từ linh chúng ta. Như vậy, tình cảm là nơi thứ hai mà sự tăng trưởng ra ngoài của sự sống có thể chảy qua, hay là phần thứ hai của lối ra để sự sống có thể tăng trưởng ra ngoài.

C. Tâm Trí

Phần thứ ba mà sự sống tăng trưởng ra ngoài phải chảy qua là tâm trí. Tâm trí cần được đổi mới. Xử lý tâm trí nghĩa là phải có một tâm trí đổi mới và được giải cứu khỏi mọi tư tưởng cũ. La Mã 12:2 chép: “Đừng rập khuôn theo đời này, nhưng hãy biến hóa bởi sự đổi mới tâm trí của anh em, để thử nghiệm ý chỉ tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của Đức Chúa Trời là thể nào”. Điều này cho thấy chỉ khi nào có một tâm trí biến hóa và đổi mới, chúng ta mới có thể hiểu được ý muốn của Đức Chúa Trời, để sự sống Ngài chảy qua và tuôn ra một cách tự nhiên. Như vậy, tâm trí cũng liên hệ mật thiết đến sự việc tăng trưởng sự sống ra bên ngoài.

Mọi công tác đổi mới của cả con người đều do Thánh Linh thực hiện (Tít 3:5). Vì vậy, khi nói đến sự đổi mới tâm trí, chúng ta vẫn phải bắt đầu với công tác của Thánh Linh. Chúng ta biết, công tác đầu tiên của Thánh Linh làm ở trong chúng ta là tái sinh chúng ta. Sau đó, phần lớn công tác tiếp theo của Ngài trong chúng ta là đổi mới chúng ta. Thánh Linh tái sinh chúng ta khiến chúng ta nhận được sự sống của Đức Chúa Trời và có được bản chất của Đức Chúa Trời. Thánh Linh đổi mới chúng ta khiến chúng ta nhận biết Đức Chúa Trời, hoặc hiểu được ý muốn của Ngài và có tâm trí của Ngài.

Các phần bên trong chúng ta mà Thánh Linh làm việc trong công tác đổi mới của Ngài là linh và tâm trí. Trong chương mang tựa đề Tri Thức Bề Trong, chúng tôi đã làm sáng tỏ rằng chúng ta hiểu biết Đức Chúa Trời là nhờ linh và tâm trí. Trước hết, chúng ta có được sự nhận biết của trực giác trong linh, sau đó chúng ta nhận được sự thông hiểu trong tâm trí; qua đó, chúng ta hiểu ý chỉ của Đức Chúa Trời và được biết Ngài. Vậy có thể nói linh và tâm trí là hai cơ quan đi đôi với nhau mà nhờ đó chúng ta nhận biết Đức Chúa Trời. Chỉ có linh thôi thì chưa đủ; chỉ có tâm trí thôi cũng không đủ. Chúng ta phải vừa có linh vừa có tâm trí. Giống như một bóng đèn chiếu sáng do ánh điện; chỉ có sợi dây tóc kim loại mỏng trong bóng đèn cũng không đủ. Cả hai phải hợp tác với nhau. Vì mục đích công tác đổi mới của Thánh Linh là để chúng ta được biết Đức Chúa Trời, tự nhiên Ngài sẽ đổi mới những cơ quan dành cho sự hiểu biết Đức Chúa Trời, tức là linh và trí của chúng ta.

Ê-phê-sô 4:22-23 nói: “Vậy, anh em phải lột bỏ người cũ về cách ăn ở trước kia,... lại phải đổi mới trong linh của tâm trí mình”. Khi nói đến vấn đề đổi mới, phân đoạn Kinh Thánh này kết hợp linh và tâm trí với nhau và gọi linh là “linh của tâm trí”. Trong sự hiểu biết ý chỉ Đức Chúa Trời, dù đó là vấn đề thuộc tâm trí nhưng riêng tâm trí cũng không thể nào tiếp xúc trực tiếp và hiểu biết Ngài được. Để hiểu ý chỉ của Đức Chúa Trời, trước hết chúng ta phải dùng linh để đụng chạm và cảm nhận Ngài; sau đó chúng ta phải dùng tâm trí để thông hiểu ý nghĩa của trực giác trong linh. Như vậy, trong việc hiểu biết ý chỉ của Đức Chúa Trời, về phía tâm trí, thì tâm trí phải hiệp tác với linh, còn về phía linh, thì linh phải kết hợp với tâm trí và thuộc tâm trí. Cũng như dây tóc trong bóng đèn được kết hợp với bóng đèn và thuộc về bóng đèn. Như vậy, trong phân đoạn này, Kinh Thánh gọi linh của chúng ta “là linh của tâm trí”. Khi Thánh Linh đổi mới “linh của tâm trí chúng ta”, Ngài đổi mới linh và tâm trí của chúng ta. Thánh Linh đổi mới linh chúng ta vì trong vấn đề hiểu biết Đức Chúa Trời linh thuộc về tâm trí; vậy nên, sự đổi mới thật của tâm trí luôn luôn bắt đầu bằng sự đổi mới linh. Trước hết Thánh Linh đổi mới linh chúng ta, sau đó Ngài đổi mới tâm trí chúng ta; như vậy linh của tâm trí được đổi mới.

Thế thì khi linh của tâm trí được đổi mới bởi Thánh Linh, linh chúng ta trở nên sống động và nhạy bén. Mỗi khi Thánh Linh hành động và xức dầu, linh này có thể cảm nhận và nhận biết. Đồng thời tâm trí chúng ta cũng sáng suốt và thông thạo, có thể thông giải ý nghĩa của trực giác trong linh ngay lập tức. Bằng cách này, chúng ta có thể biết ý muốn của Đức Chúa Trời. Khi ấy, bất cứ điều gì tâm trí suy nghĩ và cân nhắc cũng sẽ đứng về phía linh; không còn nhường chỗ cho xác thịt và bị xác thịt sử dụng nữa. Khi ấy tâm trí chúng ta không còn đặt vào xác thịt nữa, nhưng đặt vào linh. La Mã 8:6 gọi tâm trí ấy là “tâm trí của linh”. Vì thường xuyên đặt vào linh và quan tâm đến linh, tâm trí của linh cho phép sự sống của Đức Chúa Trời liên tục tăng trưởng ra ngoài từ linh chúng ta.

Tóm lại, có ba điều liên quan đến sự đổi mới tâm trí: Trước hết, La Mã 12 nói rằng tâm trí cần phải được đổi mới và lột bỏ những tư tưởng cũ; thứ hai, Ê-phê-sô chương bốn nói tâm trí cần linh hợp tác, kết hợp làm một với tâm trí để linh có thể trở thành “linh của tâm trí”; thứ ba, La Mã chương 8 nói tâm trí cần phải đứng về phía linh, đầu phục linh, thuộc về linh, thường xuyên đặt vào linh, quan tâm đến linh và lắng nghe chuyển động và cảm thức của linh, qua đó trở thành “tâm trí của linh”. Vậy khi tâm trí được đổi mới, được linh hợp tác, và đứng về phía linh, tâm trí có thể để cho sự sống chảy qua và tăng trưởng ra ngoài một cách thông suốt không bị ngăn trở. Như vậy, tâm trí là nơi thứ ba mà sự tăng trưởng ra ngoài của sự sống chảy qua, hay là phần thứ ba của lối ra để sự sống tăng trưởng ra ngoài.

D. Ý Chí

Thứ tư, sự tăng trưởng ra ngoài của sự sống đi qua ý chí. Chúng ta đã thấy tấm lòng cần phải thuần khiết, lương tâm cần không chỗ trách được, tình cảm cần đầy tình yêu, và tâm trí cần được đổi mới. Thế thì, ý chí cần gì? Theo Kinh Thánh, chúng ta thấy ý chí cần trở nên dễ uốn nắn. Nói đến ý chí, chúng ta muốn nói đến tình trạng dễ uốn nắn. Xử lý ý chí là làm cho ý chí trở nên dễ uốn nắn.

Ý chí là cơ quan dự định và quyết định. Chúng ta muốn hay không, quyết định hay không, tất cả đều là chức năng của ý chí. Khi chúng ta nói: “Tôi muốn”, hay “Tôi quyết định” nghĩa là ý chí của chúng ta muốn, ý chí của chúng ta quyết định. Như vậy, ý chí là phần cốt yếu hơn hết của toàn thể con người chúng ta; nó quyết định các hành động và chuyển động của chúng ta. Có thể nói ý chí là bánh lái của cả con người chúng ta. Một chiếc thuyền xoay chuyển tùy theo bánh lái thể nào, thì một con người tiến hay thoái là tùy thuộc vào ý chí của mình thế ấy.

Ý chí của con người hoàn toàn độc lập, hoàn toàn tự do. Không ai có thể ép buộc hay cưỡng bức ý chí làm những điều nó chống đối hoặc không chấp thuận. Đây là cách ý chí hành động đối với loài người và cũng là cách ý chí hành động với Đức Chúa Trời. Vì vậy, sự sống của Đức Chúa Trời có thể tăng trưởng ra ngoài từ trong chúng ta hay không liên hệ rất nhiều đến vấn đề ý chí của chúng ta có dễ uốn nắn và đầu phục không. Nếu ý chí chúng ta cứng cỏi, cố chấp, chống nghịch và hành động theo ý riêng trong mọi việc, sự sống của Đức Chúa Trời không có cách nào có thể tăng trưởng ra ngoài được. Nếu ý chí của chúng ta mềm mại, dễ uốn nắn và sẵn sàng hành động theo sự vận hành của sự sống, sự sống của Đức Chúa Trời mới có thể tăng trưởng ra ngoài. Thế thì, ý chí của chúng ta là nơi thứ tư mà sự sống tăng trưởng ra ngoài chảy qua, hay là phần thứ tư của lối ra để sự sống tăng trưởng ra ngoài.

Chúng ta cần lưu ý bất cứ khi nào đề cập đến tấm lòng, chúng ta nói đến những phần khác nhau này, hoặc lương tâm của tấm lòng, hoặc tình cảm của tấm lòng, hoặc tâm trí của tấm lòng, hoặc ý chí của tấm lòng. Khi nói lòng không thuần khiết, chúng ta muốn nói đến tấm lòng một cách tổng quát. Khi nói đến tấm lòng không bị cáo trách (không bị lên án), chúng ta chỉ về lương tâm. Khi nói đến lòng yêu Chúa, chúng ta chỉ về tình cảm. Khi nói đến tấm lòng không hiểu biết, chúng ta chỉ về tâm trí. Khi nói đến một tấm lòng cứng cỏi, ương ngạnh, chúng ta chỉ về ý chí. Khi nói đến điều chỉnh tấm lòng, chúng ta chỉ về việc giải quyết năm khía cạnh trên của tấm lòng.

Nếu điều chỉnh tấm lòng mình đến mức thuần khiết, không bị cáo trách, yêu Chúa, sáng suốt, thành thạo, và dễ uốn nắn, khi ấy chúng ta mới có một tấm lòng hữu ích cho sự sống của Đức Chúa Trời, và mới có thể cho phép sự sống của Đức Chúa Trời có một lối ra thông suốt từ bên trong chúng ta.

LỜI KẾT

Sau khi đã thấy sự sống cư trú ở đâu, lối ra của sự sống, đường dẫn của sự sống, chúng ta biết nếu muốn sự sống của Đức Chúa Trời có cách tăng trưởng ra ngoài từ trong mình, chúng ta phải điều chỉnh linh, tấm lòng, lương tâm, tình cảm, tâm trí và ý chí đến khi không còn nan đề gì trong những phần này. Lý do là sự sống của Đức Chúa Trời lấy linh chúng ta làm nơi ở và lấy lòng, lương tâm, tình cảm, tâm trí và ý chí chúng ta làm lối ra. Nếu một trong sáu cơ quan này có vấn đề trở ngại, sự sống của Đức Chúa Trời bị ngăn trở và không thể biểu lộ ra được. Vì vậy nếu chúng ta ao ước tìm kiếm sự tăng trưởng trong sự sống thì điều này thật sự cũng không phải là đơn giản. Không những chúng ta cần đụng chạm linh, và nhận biết linh; chúng ta cũng nên điều chỉnh mỗi một phần của tấm lòng. Nếu thiếu sót bất cứ một phương diện nào, chúng ta sẽ không thành công. Vì lý do này, ngày nay số anh chị em tăng trưởng trong sự sống thật là ít ỏi, và họ cũng tăng trưởng một cách chậm chạp!

Đôi lúc chúng ta thấy có một anh em không thể nói là không yêu Chúa; thật ra anh khá tốt về mọi phương diện. Nhưng vì tâm trí anh kỳ dị, toàn cả tương lai thuộc linh của anh bị tê liệt. Có những chị em đã điều chỉnh lương tâm của mình, và không có vấn đề gì về tâm trí, nhưng vì họ thiếu hụt trong tình cảm, ngoài Chúa ra họ còn yêu những điều khác, nên họ không tăng trưởng bao nhiêu trong sự sống. Nhiều anh em có ý chí ương ngạnh trong mọi điều; tâm trí họ khăng khăng với quyết định của mình; họ không muốn bị sửa sai, và họ không thể đầu phục sự soi sáng; do đó, sự sống không thể tuôn tràn ra ngoài được. Vì vậy, giải quyết đúng mức mọi phần này trong đời sống thực tế của chúng ta không phải là một việc dễ dàng. Nếu anh chị em nào không có nan đề gì trong những điều này thì đó thật là một phép lạ. Nguyện Đức Chúa Trời thương xót chúng ta!