Thông tin sách

Hiểu Biết Sự Sống

Tác giả: Witness Lee
Dịch từ bản tiếng Anh: Hiểu biết sự sống
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 11

Untitled Document

CHƯƠNG MƯỜI MỘT

TRI THỨC BỀ TRONG

Bây giờ chúng ta sẽ xem xét đến điểm quan trọng thứ mười một liên quan đến vấn đề sự sống: tri thức bề trong, hoặc sự nhận biết Đức Chúa Trời bởi luật sự sống bề trong và sự dạy dỗ của sự xức dầu. Mức độ chúng ta nhận biết Đức Chúa Trời từ bên trong quyết định mức độ chúng ta có Đức Chúa Trời và kinh nghiệm Ngài là sự sống của mình. Như vậy tri thức bề trong và sự tăng trưởng sự sống có liên quan mật thiết với nhau. Nếu chúng ta muốn biết sự sống để sự sống có thể lớn lên, chúng ta cần xem xét tri thức bề trong một cách chi tiết.

I. TẦM QUAN TRỌNG CỦA SỰ NHẬN BIẾT ĐỨC CHÚA TRỜI

Đức Chúa Trời vui thỏa khi loài người nhận biết Ngài; vì vậy, Ngài muốn loài người “gắng sức nhìn biết Ngài” (Ôs. 6:6, 3). Tất cả những gì Ngài thực hiện trong Tân Ước là để chúng ta có thể biết Ngài (Hê. 8:10-11). Khi chúng ta được tái sinh, Linh của Ngài, hàm chứa sự sống Ngài vào trong chúng ta để chúng ta có khả năng nhận biết Ngài từ bên trong. Về một mặt, sự nhận biết Ngài dần dần gia tăng cùng với sự tăng trưởng của sự sống trong chúng ta, mặt khác sự nhận biết Ngài cũng làm cho chúng ta tăng trưởng trong sự sống. Vì Đức Chúa Trời đã ban sự sống Ngài cho chúng ta, nên chúng ta có thể nhận biết Ngài. Sự sống Ngài càng tăng trưởng trong mình, chúng ta càng nhận biết Ngài. Càng nhận biết Ngài, chúng ta sẽ càng kinh nghiệm Ngài là sự sống của mình, càng vui thỏa với chính Ngài, và để Ngài sống qua chúng ta. Như vậy chúng ta có thể nói tất cả sự tăng trưởng của sự sống thuộc linh tùy thuộc vào sự nhận biết Đức Chúa Trời. Chúng ta hãy cầu xin Đức Chúa Trời ban cho chúng ta linh của sự khôn ngoan và khải thị để có thể biết Ngài (Êph. 1:17) và được “lớn lên nhờ sự thông biết Đức Chúa Trời” (Côl. 1:10, Hi văn).

II. BA GIAI ĐOẠN BIẾT ĐỨC CHÚA TRỜI

Thi Thiên 103:7 nói: “Ngài bày tỏ cho Môi-se đường lối Ngài và cho con dân Israel biết các công việc Ngài”. Câu này cho thấy con dân Israel biết các công việc của Đức Chúa Trời, nhưng Môi-se biết đường lối Ngài. Hê-bơ-rơ 8:10-11 cũng nói: “Ta sẽ đặt luật pháp ta trong tâm trí họ,... vì họ hết thảy, từ kẻ nhỏ cho đến kẻ lớn, đều sẽ biết ta”. Qua câu này chúng ta thấy tất cả những ai nhận lãnh luật bề trong dưới thời Tân Ước đều có thể biết chính Đức Chúa Trời. Hai phân đoạn Kinh Thánh này cho chúng ta thấy việc con người biết Đức Chúa Trời trải qua ba giai đoạn: trước hết biết công việc của Ngài; thứ hai biết đường lối Ngài; và thứ ba biết chính Ngài.

A. Nhận Biết Công Việc Của Đức Chúa Trời

Qua những gì Đức Chúa Trời làm và thực hiện, người ta biết công việc Ngài. Chẳng hạn như, con dân Israel tại Ai Cập thấy mười tai họa Đức Chúa Trời giáng xuống để đánh dân Ai Cập. Tại Biển Đỏ, họ thấy Đức Chúa Trời rẽ nước ra cho họ đi qua. Trong đồng vắng, họ thấy Ngài truyền vầng đá tuôn nước ra để họ được giải khát. Và hằng ngày, Đức Chúa Trời ban ma-na nuôi dưỡng họ. Khi chứng kiến những phép lạ của Ngài, họ biết các công việc Ngài. Một lần nữa, ví dụ như khi các đám đông thấy các phép lạ Chúa Jesus thực hiện, chẳng hạn như khi Ngài nuôi năm ngàn người với năm ổ bánh và hai con cá, làm cho sóng và biển yên tịnh, chữa lành bệnh, đuổi quỉ, gọi người chết sống lại, họ biết các công việc Ngài. Hoặc khi chúng ta đau ốm và được Chúa chữa lành, khi chúng ta gặp nguy hiểm được Ngài giữ gìn, khi chúng ta có nhu cầu và được Ngài đáp ứng, chúng ta được biết các công việc Ngài. Khi chúng ta hiểu biết các công việc của Đức Chúa Trời như vậy, đó là bước thứ nhất của chúng ta trong sự hiểu biết Ngài. Sự hiểu biết ấy nông cạn và ở bên ngoài, vì mãi đến khi thấy công việc Ngài, chúng ta mới biết Ngài đã làm gì.

B. Biết Đường Lối Của Đức Chúa Trời

Biết đường lối của Đức Chúa Trời có liên quan đến sự hiểu biết các nguyên tắc hành động của Ngài. Khi cầu thay cho thành Sô-đôm, Áp-ra-ham biết rằng Đức Chúa Trời là công chính và Ngài không bao giờ hành động trái với sự công chính của Ngài. Vì vậy ông thưa chuyện với Ngài theo sự công chính của Ngài (Sáng. 18:23-32). Nghĩa là ông biết cách thức Đức Chúa Trời hành động. Khi con dân Israel tiếp tục lằm bằm sau sự thiêu hủy Cô-rê và những người cùng phản loạn với ông, Môi-se trông thấy sự hiện diện vinh quang của Đức Giê-hô-va, ông nói với A-rôn; “Hãy cầm lấy lư hương để lửa từ trên bàn thờ vào, bỏ hương lên trên, mau mau đi đến hội chúng và làm lễ chuộc tội cho họ; vì sự thạnh nộ của Đức Giê-hô-va đã nổi lên, và tai vạ đã phát khởi” (Dân. 16:46). Điều này chứng tỏ Môi-se biết cách thức hành động của Đức Chúa Trời. Ông biết Đức Chúa Trời sẽ phản ứng tùy theo cách người ta hành động.

Sa-mu-ên bảo Sau-lơ: “Vả, sự vâng lời tốt hơn của tế lễ, sự nghe theo tốt hơn mỡ chiên đực” (1 Sa. 15:22). Và Đa-vít: “Ta không muốn dâng cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ta những của lễ thiêu không đáng giá chi” (2 Sa. 24:24). Những lời này chứng tỏ họ hiểu biết đường lối của Đức Chúa Trời.

Khi chia sẻ lời Chúa, chúng tôi tin một cách sâu xa rằng Lời Ngài sẽ không vô ích, nhưng sẽ hoàn thành điều Ngài đẹp lòng (Ês. 55:10-11). Cũng vậy nếu gieo trong Linh, chúng ta biết mình sẽ bởi Linh mà gặt sự sống đời đời (Gal. 6:8). Lý do là vì chúng ta biết đường lối của Đức Chúa Trời.

Khi biết cách thức hành động của Đức Chúa Trời, chúng ta đến bước thứ hai trong việc biết Ngài. Sự hiểu biết này cao hơn sự hiểu biết công việc Ngài một bước. Trước khi Đức Chúa Trời thực hiện công việc của Ngài, chúng ta biết Ngài sẽ làm gì và làm như thế nào. Sự hiểu biết này làm cho đức tin chúng ta gia tăng trong sự cầu nguyện, và cũng làm cho chúng ta có thể thương lượng với Ngài. Tuy nhiên, dầu sự hiểu biết này là tốt nhưng vẫn chưa ở bên trong và chưa sâu xa đủ.

C. Biết Chính Đức Chúa Trời

Biết chính Đức Chúa Trời là nhận biết bản chất của Ngài. Ngay khi được tái sinh và nhận được sự sống của Đức Chúa Trời, chúng ta có bản chất của Ngài. Qua sự sống của Ngài bên trong mình, chúng ta có thể đụng chạm bản chất của Ngài. Khi đụng chạm bản chất của Ngài, chúng ta đụng chạm chính Đức Chúa Trời; nói cách khác chúng ta biết chính Đức Chúa Trời. Sự nhận biết này khác với sự hiểu biết công việc Ngài và đường lối Ngài từ bên ngoài. Đây là sự nhận biết Đức Chúa Trời từ bên trong.

Chẳng hạn chúng ta hãy xem trường hợp một anh em mắc một chứng bệnh nan y nhưng đã được Chúa chữa lành. Anh ấy la lên vui mừng: “Cám ơn Đức Chúa Trời, Ngài thật quan tâm đến con!” Qua đó anh biết chút ít về công việc của Đức Chúa Trời. Về sau anh bị bệnh trở lại. Lần này anh biết vì anh đã có một sự vi phạm nào đó, nên Đức Chúa Trời sửa phạt và kỷ luật anh. Vì thế anh phải đối phó với vi phạm của mình. Khi anh đã làm điều này, anh biết Chúa sẽ chữa lành anh (1 Cô. 11:30-32). Kết quả là Đức Chúa Trời thật sự đã chữa lành anh. Nhưng trước khi được chữa lành, anh đã biết Chúa sẽ chữa lành anh, bởi vì anh biết đường lối Ngài. Lần này, mặc dầu sự hiểu biết của anh đã gia tăng từ sự hiểu biết công việc Ngài qua sự hiểu biết đường lối Ngài, nhưng đây vẫn là một sự hiểu biết Ngài một cách khách quan, từ bên ngoài, chưa phải là nhận biết Ngài từ bên trong, một cách chủ quan. Về sau bên trong anh cảm thấy có một vài điều gì đó không phù hợp với bản chất thánh khiết của Đức Chúa Trời nên anh đã xử lý và trừ bỏ chúng. Cảm nhận ấy, sự nhận biết ấy không đến từ bất cứ một điều gì ở bên ngoài nhưng đến từ cảm thức được ban cho anh bởi sự sống của Đức Chúa Trời bên trong anh. Như vậy, lần này anh đi đến chỗ nhận biết Đức Chúa Trời ở bên trong; anh nhận biết Ngài một cách chủ quan.

Chúng ta cũng hãy xem trường hợp của một anh em khác khi mới gặp một nan đề nghiêm trọng, anh cầu nguyện với Đức Chúa Trời và Ngài làm cho anh chịu đựng nổi. Vì vậy, anh hiểu biết công việc của Đức Chúa Trời. Về sau, khi gặp một nan đề khác, anh biết mình nên làm gì để được Đức Chúa Trời làm cho mình chịu đựng nổi. Điều này chứng tỏ anh biết đường lối của Đức Chúa Trời. Cuối cùng, khi anh lại gặp một nan đề khác, anh có một cảm nhận lạ lùng bên trong, anh cảm biết Đức Chúa Trời chắc chắn sẽ làm cho mình chịu nổi. Cảm thức này hay sự nhận biết này không do anh thấy những gì Ngài hành động từ bên ngoài, hay do anh biết những nguyên tắc hành động của Ngài, nhưng do đụng chạm chính Đức Chúa Trời ở bên trong; vì vậy anh có cảm thức này hay sự nhận biết này. Tình trạng nhận biết Đức Chúa Trời như vậy có thể nói là cao nhất, sâu thẳm nhất và tận từ bề trong.

Trong thời Cựu Ước, Đức Chúa Trời chỉ bày tỏ công việc và đường lối Ngài cho loài người. Vì vậy, vào thời ấy con người chỉ có thể đạt đến hai giai đoạn đầu trong sự hiểu biết Ngài. Bây giờ khi thời Tân Ước đã đến, mặc dầu chúng ta vẫn cần biết công việc và đường lối của Đức Chúa Trời, nhưng điều quan trọng nhất và vinh hiển nhất là chính Đức Chúa Trời trong Linh đang ở bên trong chúng ta để trở nên sự sống của chúng ta. Điều này làm cho chúng ta có thể trực tiếp đụng chạm chính Ngài và nhận biết Ngài từ bên trong. Giai đoạn ba trong việc biết Đức Chúa Trời, tức nhận biết chính Ngài, là một phước hạnh đặc biệt dành cho chúng ta là những người được cứu dưới giao ước mới.

III. HAI LOẠI TRI THỨC VỀ ĐỨC CHÚA TRỜI

Mặc dầu chúng ta biết Đức Chúa Trời qua ba giai đoạn, nhưng thật ra chỉ có hai loại tri thức về Ngài: hiểu biết Ngài từ bên ngoài và nhận biết Ngài từ bên trong. Hiểu biết công việc Ngài và hiểu biết đường lối Ngài đều là sự hiểu biết của bản chất bên ngoài. Mặc dầu hai bước này khác nhau về mức độ chiều sâu, nhưng cả hai đều là kiến thức về Đức Chúa Trời do nơi công việc và đường lối Ngài ở bên ngoài chúng ta, vì vậy đây là sự hiểu biết khách quan và bề ngoài. Nhưng nhận biết chính Đức Chúa Trời là loại tri thức bên trong. Loại tri thức này đến khi mà chúng ta đụng chạm chính Đức Chúa Trời bởi sự sống của Ngài ở bên trong và do đó nhận biết Ngài một cách chủ quan và từ bề trong.

Trong nguyên văn Kinh Thánh, có hai từ ngữ khác nhau được dùng để mô tả tri thức bề ngoài và bề trong. Hê-bơ-rơ 8:11 nói về việc biết Chúa của chúng ta. Từ ngữ “biết” được dùng hai lần trong câu này, nhưng trong nguyên văn, hai chữ khác nhau được dùng với hai nghĩa khác nhau. Chữ “biết” thứ nhất liên quan đến sự hiểu biết tổng quát ở bên ngoài chúng ta mà sự hiểu biết này cần sự dạy dỗ của con người. Chữ “biết” thứ hai chỉ về sự nhận biết của cảm nhận bên trong chúng ta. Đối với loại nhận biết này, chúng ta không cần sự dạy dỗ của con người. Điều này cho thấy biết Ngài ở bên ngoài hay từ bên trong là hai điều thật sự khác biệt.

Ví dụ như chúng ta đặt một ít đường trắng mịn bên cạnh một ít muối trắng mịn. Nhìn bên ngoài, cả hai đều trắng và mịn, rất khó phân biệt đâu là đường và đâu là muối. Chúng ta có thể hỏi người khác để họ chỉ cho chúng ta biết, nhưng sự hiểu biết này đến từ sự dạy dỗ của người khác và từ bên ngoài, có tính cách khách quan và chung chung và có thể nhầm lẫn. Tuy nhiên nếu chỉ nếm chúng, ngay lập tức chúng ta biết cái nào ngọt là đường và cái nào mặn là muối. Chúng ta không cần người khác chỉ bảo mình. Sự nhận biết này đến từ cảm nhận bên trong, nên có tính cách chủ quan và thuộc về cảm nhận bên trong.

Bất cứ khi nào nếm biết Đức Chúa Trời từ bên trong, chúng ta rất vui thỏa và nếm biết được những điều mình không thể nhận được do biết Ngài qua các công việc Ngài và đường lối Ngài từ bên ngoài. Thi Thiên 34:8 nói: “Khá nếm thử xem Đức Giê-hô-va tốt lành dường bao”. Cảm tạ Đức Chúa Trời, chúng ta có thể nếm Ngài! Hê-bơ-rơ 6:4-5 cũng nói: “Vì chưng kẻ đã được soi sáng một lần, đã nếm ân tứ trên trời, đã có phần trong Thánh Linh, đã nếm lời tốt lành của Đức Chúa Trời, và các quyền năng của đời tương lai”. Điều này cho thấy không những chúng ta có thể nếm Đức Chúa Trời, mà còn có thể nếm những điều thuộc về Ngài, những điều của Linh. Sự nếm biết này làm cho chúng ta nhận biết từ bên trong. Một khi “nếm” Đức Chúa Trời và những điều của Ngài từ bên trong, tự nhiên chúng ta có một sự nhận biết đúng đắn nào đó đến từ cảm nhận bên trong, và chúng ta không cần người khác dạy mình. Đây thật là phước hạnh vinh quang dưới giao ước mới!

IV. TRI THỨC BỀ TRONG

Trong Tân Ước, có bốn chỗ nói rất rõ về tri thức bề trong. Hai nơi đầu nằm trong Hê-bơ-rơ 8:11 và 1 Giăng 2:27. Cả hai câu này đều nói chúng ta không cần người khác dạy dỗ mình, nhưng chúng ta có thể nhận biết Đức Chúa Trời từ bên trong. Tuy nhiên hai câu này nói một cách khác nhau. Hê-bơ-rơ chương 8 nói luật sự sống của Đức Chúa Trời, tức là chức năng tự nhiên của sự sống Đức Chúa Trời, có thể làm cho chúng ta nhận biết Ngài. Và 1 Giăng chương 2 nói sự dạy dỗ của sự xức dầu, tức là sự chuyển động khải thị của Thánh Linh, có thể làm cho chúng ta nhận biết Đức Chúa Trời. Nhận biết Đức Chúa Trời bởi luật sự sống là nhận biết Ngài bởi sự sống của Ngài. Nhận biết Đức Chúa Trời bởi sự dạy dỗ của sự xức dầu là nhận biết Ngài bởi Linh của Ngài.

Hai chỗ khác nói về sự nhận biết bên trong là Giăng 17:3 và Ê-phê-sô 1:17. Giăng 17:3 nói những ai có sự sống vĩnh cửu của Đức Chúa Trời là những người nhận biết Ngài. Điều này nghĩa là sự sống của Đức Chúa Trời bên trong có thể làm cho chúng ta biết Ngài. Ê-phê-sô 1:17 nói Đức Chúa Trời ban cho chúng ta linh của sự khôn ngoan và sự khải thị để chúng ta biết Ngài. Linh được đề cập đến ở đây là nhân linh của chúng ta có liên quan đến Linh của Đức Chúa Trời. Nghĩa là linh chúng ta và Linh của Đức Chúa Trời có khả năng làm cho chúng ta nhận biết Ngài từ bên trong.

Bốn phân đoạn Kinh Thánh này cho thấy chúng ta nhận biết Đức Chúa Trời bên trong do hai phương tiện: một là luật sự sống đến từ sự sống của Đức Chúa Trời; hai là sự dạy dỗ của sự xức dầu, đến từ Thánh Linh của Đức Chúa Trời. Vì có hai phương cách để nhận biết Đức Chúa Trời từ bên trong, chúng ta nhận biết Ngài theo hai giai đoạn. Luật sự sống cốt yếu làm cho chúng ta biết bản chất của Ngài, tức là có tính chất của sự sống Ngài. Bất cứ khi nào sự sống của Ngài hành động và thi hành chức năng của sự sống trong chúng ta để bày tỏ tính chất của Ngài, sự sống sẽ tự nhiên bày tỏ bản chất của Đức Chúa Trời cho chúng ta và làm cho chúng ta nhận biết bản chất của Ngài. Sự dạy dỗ của sự xức dầu cốt yếu làm cho chúng ta biết chính Đức Chúa Trời. Vì sự xức dầu đến từ Thánh Linh, và Thánh Linh là hiện thân của chính Đức Chúa Trời. Khi Thánh Linh xức dầu và hành động trong chúng ta, Ngài luôn luôn xức chính Đức Chúa Trời vào trong chúng ta, làm cho chúng ta nhận biết chính Đức Chúa Trời. Luật sự sống và sự dạy dỗ của sự xức dầu khiến chúng ta nhận biết bản chất của Đức Chúa Trời và chính Đức Chúa Trời từ bên trong. Đây là điều chúng ta gọi là sự nhận biết bên trong.

V. LUẬT PHÁP VÀ CÁC TIÊN TRI

Chúng ta có thể thấy hình bóng của hai giai đoạn để hiểu biết bản chất của Đức Chúa Trời và chính Ngài trong thời Cựu Ước. Đức Chúa Trời ban luật pháp và các tiên tri để qua đó con dân Israel có thể biết bản chất Ngài và chính Ngài. Sự hiểu biết này từ bên ngoài.

Đặc tính của thời Cựu Ước là luật pháp và các tiên tri. Lý do Đức Chúa Trời ban luật pháp và lập các tiên tri là để làm cho dân Ngài biết Ngài. Như vậy luật pháp và các tiên tri là hai phương cách để Đức Chúa Trời dẫn dắt dân Ngài đến chỗ biết Ngài. Bởi hai cách này, họ hiểu biết Đức Chúa Trời theo hai phương diện.

Đức Chúa Trời ban luật pháp để dẫn dân Israel đến chỗ hiểu biết bản chất của Ngài. Luật pháp đến từ bản chất của Đức Chúa Trời vì nói lên những gì Ngài muốn và những gì Ngài không muốn. Những gì Ngài muốn trong bản chất Ngài thì Ngài bảo họ làm. Những gì bản chất Ngài ghét thì Ngài cấm làm. Ví dụ: Đức Chúa Trời là một Đức Chúa Trời ghen tương; vì vậy Ngài cấm họ thờ lạy hình tượng. Ngài là Đấng yêu thương nên cấm họ giết người. Ngài thánh khiết nên muốn họ thánh khiết. Ngài chân thật nên Ngài muốn họ chân thật. Loại luật pháp được ban cho họ tùy thuộc vào bản chất của Đức Chúa Trời. Như vậy toàn bộ luật pháp bày tỏ cho họ bản chất của Đức Chúa Trời. Một số điều luật nói lên sự sáng của Ngài, những điều luật khác nói lên sự thánh khiết và nhân từ của Ngài, và những luật khác nữa nói lên tình yêu của Ngài. Ngài đã dùng những lệnh truyền và lệnh cấm của từng điều luật để dẫn dân Israel đến chỗ hiểu biết mọi phương diện của bản chất Ngài.

Đức Chúa Trời cũng lập các tiên tri để khiến dân Israel hiểu biết chính Ngài vì các tiên tri trong thời Cựu Ước được Ngài lập lên để đại diện cho chính Ngài, cho Thân vị của Ngài. Lời họ nói ra là sự khải thị và dẫn dắt do Đức Chúa Trời ban ra theo ý muốn Ngài. Ví dụ như Môi-se là một tiên tri do Đức Chúa Trời lập lên (Phục. 18:15). Những lời ông nói với dân Israel về việc xây dựng đền tạm là những gì Đức Chúa Trời khải thị cho họ về vấn đề ấy. Khi ông dẫn họ đi trong đồng vắng, ấy là chính Đức Chúa Trời dẫn dắt họ đi trong đồng vắng. Như vậy, Đức Chúa Trời dùng mọi loại khải thị và dẫn dắt bởi các tiên tri để dẫn dân Israel đến chỗ biết Ngài, biết Thân vị của Ngài.

Vì luật pháp ra từ bản chất của Đức Chúa Trời nên tính chất của luật pháp là cố định và không thể thay đổi. Luật pháp dạy chúng ta phải tôn kính cha mẹ, không được giết người, không được phạm tội tà dâm và không được trộm cắp. Những điều luật này cố định, là luật sắt cứng rắn và không thể thay đổi. Chúng được áp dụng cho người này cũng như cho người kia, cho một người ở Giê-ru-sa-lem cũng như cho một người ở Sa-ma-ri. Chúng không thay đổi theo con người, sự kiện, nơi chốn, thời gian hay không gian. Nếu dân Israel bằng lòng chấp nhận tiêu chuẩn của những điều luật này, không những họ được biết bản chất đời đời không thay đổi của Đức Chúa Trời, mà cả lối sống, tính chất và kinh nghiệm cuộc sống của họ cũng sẽ phù hợp với bản chất ấy.

Về một mặt khác, vì các tiên tri đại diện cho chính Đức Chúa Trời và nói ra ý muốn của Ngài ở một thời điểm đặc biệt nào đó, hoạt động của họ rất uyển chuyển và có thể thay đổi chứ không giới hạn và cố định vì Đức Chúa Trời làm mọi sự theo ý muốn của riêng Ngài, và chính Ngài linh động và không thể bị giới hạn. Vào một thời điểm các tiên tri có thể cho dân Israel biết loại khải thị này và vào thời điểm khác, họ có thể bày tỏ một loại khải thị khác. Tại đây họ có thể dẫn dắt theo cách này và tại đó họ có thể dẫn dắt theo cách khác. Như vậy tiêu chuẩn luật pháp ban cho con người là cố định và giới hạn nhưng sự khải thị và dẫn dắt mà các tiên tri truyền cho họ thì linh động và vô hạn. Nếu dân Israel bằng lòng vâng theo sự khải thị và dẫn dắt của các tiên tri thì bởi đó họ có thể biết Đức Chúa Trời trong chính Thân vị của Ngài và biết được ý muốn của Ngài tại chính thời điểm đó. Họ cũng có thể làm cho mình phù hợp với chính Ngài và với ý muốn của Ngài trong khi hành động hay an nghỉ, trong lúc làm việc hay đánh trận.

VI. LUẬT SỰ SỐNG VÀ SỰ DẠY DỖ CỦA SỰ XỨC DẦU

Mặc dầu luật pháp và các tiên tri của thời Cựu Ước có thể làm cho dân Israel biết Đức Chúa Trời, đó chỉ là một sự hiểu biết bên ngoài, không phải từ bên trong. Vì vậy trong thời Tân Ước, Đức Chúa Trời đặt Linh Ngài cùng với sự sống của Ngài bên trong chúng ta, làm cho chúng ta có thể hiểu biết Ngài từ bên trong. Luật sự sống, là luật đến từ sự sống của Ngài thay thế cho luật pháp thời Cựu Ước và làm cho chúng ta có khả năng nhận biết bản chất của Ngài từ bên trong. Sự dạy dỗ của sự xức dầu thay thế các tiên tri thời Cựu Ước, và làm cho chúng ta có khả năng nhận biết chính Đức Chúa Trời và ý muốn của Ngài từ bên trong.

A. Luật Sự Sống

Luật sự sống là tính chất và chức năng tự nhiên của sự sống, và tính chất của sự sống này là bản chất của sự sống. Vì vậy khi luật sự sống của Đức Chúa Trời trong chúng ta bày tỏ chức năng và điều chỉnh chúng ta, thì luôn luôn cũng bày tỏ cho chúng ta biết bản chất của Đức Chúa Trời. Do đó luật sự sống làm cho chúng ta biết bản chất của Đức Chúa Trời. Sự nhận biết ấy không đòi hỏi sự dạy dỗ hay tri thức bên ngoài, cũng không cần luật thành văn hay các mạnh lịnh bên ngoài, nhưng bởi cảm thức tự nhiên được ban cho chúng ta do luật bề trong của sự sống. Chẳng hạn như nếu chúng ta cho một em bé nếm giấm, nó sẽ nhả ra ngay. Nhưng nếu chúng ta cho bé ăn đường, nó sẽ chịu nuốt. Khả năng phân biệt chất chua và ngọt của đứa bé không dựa trên sự dạy dỗ nào, nhưng do chức năng tự nhiên của sự sống. Cũng vậy một người vừa mới được cứu và nhận lãnh sự sống của Đức Chúa Trời không muốn phạm tội. Không phải vì người ấy sợ hình phạt của tội lỗi, mà vì bản chất thánh khiết của sự sống Đức Chúa Trời ở trong người ấy tự nhiên ghê tởm, gớm ghiếc và có cảm thức không chịu được tội lỗi. Cảm thức ấy sâu hơn sự định tội của lương tâm. Do cảm thức gớm ghiếc tội lỗi này mà chúng ta nhận biết bản chất thánh khiết của Đức Chúa Trời.

Phao-lô nói với các thánh đồ ở Ê-phê-sô “chúng tôi chịu lao khổ, dùng chính tay mình làm việc, khi bị mắng nhiếc thì chúng tôi chúc phước; khi bị bắt bớ thì chúng tôi nhịn chịu; khi bị phỉ báng thì chúng tôi khuyên lơn” (1 Cô. 4:12-13). Phao-lô có thể cư xử như vậy không chỉ vì sự sống của Đức Chúa Trời trong ông làm cho ông được như vậy, mà còn vì bản chất của sự sống Đức Chúa Trời trong ông là như vậy. Khi sống theo sự sống của Đức Chúa Trời, ông đụng chạm được bản chất của Ngài; nói cách khác ông nhận biết bản chất của Ngài.

Bản chất của sự sống Đức Chúa Trời, như thánh khiết, yêu thương, chân thật, trong sáng v.v... không bao giờ thay đổi từ đời đời đến đời đời, bất chấp những thay đổi của không gian và thời gian. Vì vậy, đặc tính của luật sự sống cũng cố định và không thay đổi. Bất kể thời gian và không gian, khi nào luật sự sống của Đức Chúa Trời hành động, bản chất của Ngài mà luật sự sống làm cho chúng ta có thể đụng chạm được thì luôn luôn cố định và không thay đổi.

Khi luật sự sống hành động trong chúng ta, làm cho chúng ta có khả năng biết được bản chất của Đức Chúa Trời thì kết quả là luật này làm cho cung cách, tính chất và sở thích của toàn bộ cuộc sống chúng ta đều phù hợp với bản chất của Đức Chúa Trời. Không như luật văn tự của thời Cựu Ước, vốn chỉ là những luật lệ bên ngoài, đòi hỏi cuộc sống bên ngoài của con người phải phù hợp với bản chất của Đức Chúa Trời. Đây là luật của Tân Ước, bởi sự hành động của sự sống bên trong, hòa lẫn bản chất của Đức Chúa Trời vào bản chất của chúng ta. Như vậy, làm cho bản chất của chúng ta chứa đựng yếu tố của bản chất Đức Chúa Trời và dần dần trở nên giống như bản chất của Ngài. Bất cứ điều gì bản chất của Ngài yêu hay ghét, bản chất của chúng ta cũng yêu hay ghét y như vậy. Bây giờ, hễ khi nào chúng ta làm hay ngay cả chúng ta muốn làm những điều tối tăm hay ô uế của quá khứ, luật sự sống bên trong sẽ làm cho chúng ta cảm thấy khó chịu, bất thường và bất an. Trái lại chúng ta càng làm những điều trong sáng, thánh khiết, phù hợp với bản chất của Đức Chúa Trời, chúng ta càng cảm thấy sự sống và bình an bên trong chúng ta. Bằng cách này cuộc sống của chúng ta tự nhiên thay đổi để phù hợp với bản chất của Đức Chúa Trời từ bên trong.

B. Sự Dạy Dỗ Của Sự Xức Dầu

Trong Kinh Thánh, chỉ có 1 Giăng 2:27 nói về “sự dạy dỗ của sự xức dầu”. Chúng ta đều biết sự xức dầu (trong tiếng Anh là anointing) là một danh động từ nói đến hành động xức dầu, sự chuyển động và hành động của dầu. Theo biểu tượng của Cựu Ước và sự ứng nghiệm của Tân Ước, dầu trong Kinh Thánh chỉ về Thánh Linh (Ês. 61:1; Lu. 4:18). Vì dầu nói về Thánh Linh, sự xức dầu chắc chắn chỉ về sự hành động của Thánh Linh. Sự hành động của Thánh Linh trong chúng ta giống như sự xức dầu; vì vậy Kinh Thánh gọi điều này là “sự xức dầu”.

Vì sự xức dầu là sự hành động của Thánh Linh trong chúng ta, nên tự nhiên sự xức dầu khiến chúng ta có một cảm nhận bên trong để có thể nhận biết Đức Chúa Trời và ý muốn của Ngài. Khi sự xức dầu khiến chúng ta nhận biết Đức Chúa Trời và ý muốn của Ngài theo phương cách này thì sự xức dầu dạy dỗ chúng ta từ bên trong. Như vậy Kinh Thánh gọi sự xức dầu này là “sự dạy dỗ của sự xức dầu”.

Vì sự xức dầu là sự hành động của Thánh Linh trong chúng ta, và Thánh Linh là hiện thân của chính Đức Chúa Trời bên trong chúng ta, nên sự xức dầu cũng là chính Đức Chúa Trời hành động trong chúng ta. Đức Chúa Trời là Đấng vô hạn; nên tính chất của sự dạy dỗ do sự hành động và xức dầu của Ngài bên trong chúng ta cũng không thể nào bị giới hạn. Đôi khi Ngài ban cho chúng ta sự dạy dỗ này; đôi khi Ngài ban cho chúng ta sự dạy dỗ khác. Điều này không giống như luật sự sống của Ngài, là luật có tính chất cố định và không thay đổi. Luật của sự sống Ngài ra từ bản chất cố định của sự sống Ngài và khiến chúng ta đụng chạm được bản chất cố định của sự sống ấy; vì vậy chức năng của luật này bên trong chúng ta là cố định. Nhưng sự hành động của Thánh Linh Ngài đến từ bản thể vô hạn của Ngài, và làm cho chúng ta đụng chạm bản thể vô hạn của chính Ngài. Vì vậy sự dạy dỗ ra từ sự hành động của Ngài bên trong chúng ta cũng vô hạn, khiến chúng ta nhận được sự khải thị và sự dẫn dắt của Ngài, bởi đó làm cho chúng ta biết bản thể vô hạn và ý muốn vô hạn của Ngài.

Vì sự dạy dỗ của sự xức dầu ban cho chúng ta sự khải thị và dẫn dắt từ chính bản thể vô hạn của Đức Chúa Trời, nên sự dạy dỗ ấy có thể làm cho mọi hành vi cử chỉ, hành động và sự chọn lựa của chúng ta phù hợp với ý muốn của Đức Chúa Trời. Điều này không giống như các tiên tri thời Cựu Ước là những người dạy dỗ người khác từ bên ngoài và đòi hỏi hành động của họ phải phù hợp với ý muốn của Đức Chúa Trời. Đây là Thánh Linh như dầu bên trong chúng ta, xức vào chúng ta yếu tố của chính Đức Chúa Trời và làm cho chúng ta có thể hiểu ý muốn Đức Chúa Trời từ bên trong vì chúng ta đụng chạm được chính Đức Chúa Trời. Kết quả là không những hành động của chúng ta mà toàn con người chúng ta được đầy dẫy yếu tố của Đức Chúa Trời và phù hợp với ý muốn Ngài.

Như vậy, luật sự sống làm cho chúng ta đụng chạm được bản chất của sự sống Đức Chúa Trời, điều khiển từ bên trong chúng ta theo bản chất của sự sống Ngài. Sự xức dầu khiến chúng ta đụng chạm Đức Chúa Trời, đụng chạm Thân vị của Ngài và xức vào trong chúng ta chính yếu thể tính của Ngài. Vì có luật sự sống và sự xức dầu liên tục hành động và dạy dỗ bên trong, chúng ta có thể nhận biết Đức Chúa Trời trong mọi sự mà không cần người khác dạy dỗ mình. Bất cứ khi nào chúng ta gặp một vấn đề về cách sống hay sở thích của cuộc sống, luật sự sống sẽ bày tỏ cho chúng ta biết bản chất của Đức Chúa Trời trong những vấn đề này. Và khi chúng ta gặp một vấn đề về hành động hay lựa chọn thì sự dạy dỗ của sự xức dầu sẽ khiến chúng ta hiểu được Đức Chúa Trời xem Ngài cảm thấy thế nào về những vấn đề này.

Ví dụ như chúng ta muốn mua một ít bộ y phục. Chúng ta có nên mua hay không là vấn đề về sự dẫn dắt bởi Thánh Linh trong hành động. Khi ấy sự xức dầu sẽ dạy dỗ và hướng dẫn chúng ta. Khi chúng ta đến tiệm bán y phục, kiểu và màu sắc y phục mà chúng ta chọn lựa có liên quan đến sở thích của bản chất của Đức Chúa Trời. Luật sự sống sẽ làm cho chúng ta cảm thấy được kiểu nào và màu nào là phù hợp với bản chất của Đức Chúa Trời. Sự dẫn dắt về việc chúng ta có nên đi đến tiệm để mua y phục hay không là điều không cố định. Có thể lần này chúng ta nên đi, và lần tới chúng ta không nên. Tuy nhiên sở thích về kiểu nào và màu nào chúng ta nên chọn thì không bao giờ thay đổi; lần nào chúng ta đi cũng đều giống nhau.

Chẳng hạn chúng ta hãy xem xét có hai anh chị kia muốn lập gia đình với nhau. Họ nên thành hôn vào ngày nào là vấn đề cần được dẫn dắt trong hành động; điều ấy không liên quan đến bản chất của Đức Chúa Trời. Không phải ngày một hay ngày mười lăm là phù hợp với bản chất của Đức Chúa Trời, còn tất cả những ngày khác thì không. Vì đây là vấn đề của sự dẫn dắt trong hành động, nên vấn đề ấy được quyết định bởi sự xức dầu hay sự hành động bởi Thánh Linh. Tuy nhiên vào ngày cưới, kiểu y phục, cách tổ chức, buổi nhóm phải được sắp xếp ra sao, tính cách, thẩm mỹ và kiểu cách sao cho phù hợp với Hội thánh và thích hợp với các thánh đồ, đều là những vấn đề liên hệ đến bản chất Đức Chúa Trời. Vì vậy những điều này không được dạy dỗ bởi sự xức dầu nhưng được điều khiển bởi luật sự sống.

C. Mối Liên Hệ Giữa Hai Điều Này

Mặc dầu luật sự sống và sự dạy dỗ của sự xức dầu không giống nhau và có những chức năng khác nhau, nhưng hai điều này liên hệ chặt chẽ với nhau. Mối tương quan nhân quả của hai điều này không thể tách rời.

Luật sự sống bắt nguồn từ sự sống của Đức Chúa Trời, và sự sống của Đức Chúa Trời dựa trên và hàm chứa trong Linh của Đức Chúa Trời. Vì vậy luật này còn được gọi là “luật của Linh sự sống” (La. 8:2), và cũng là luật của Đức Thánh Linh. Mặc dầu luật này ra từ sự sống của Đức Chúa Trời và tùy thuộc vào sự sống ấy, nhưng lại được thực hiện bởi Thánh Linh của Đức Chúa Trời, và sự hành động của Thánh Linh là sự xức dầu. Vì thế, chức năng của luật nhất thiết phải được bày tỏ với sự xức dầu. Khi nào sự xức dầu dừng lại, chức năng của luật này nhất thiết cũng biến mất. Điều này chứng tỏ sự xức dầu và chức năng của luật sự sống thật sự liên kết với nhau và không thể tách rời.

Hơn nữa sự dạy dỗ của sự xức dầu cũng liên quan đến sự am hiểu của chúng ta về luật sự sống. Vì luật sự sống là chức năng tự nhiên của sự sống, sự hành động của luật này trong chúng ta thuộc về cảm nhận sự sống. Do luật của sự sống này, chúng ta chỉ có thể có một cảm nhận trong nơi sâu thẳm nhất của bản thể mình, một cảm nhận làm cho chúng ta cảm thấy được giục giã hay ngăn cấm, ưa thích hay ghét bỏ. Tuy nhiên chúng ta vẫn không thể hiểu được ý nghĩa của cảm nhận ấy. Để hiểu được ý nghĩa của cảm nhận bên trong ấy, chúng ta cần sự dạy dỗ của sự xức dầu. Chỉ khi nào được sự xức dầu dạy dỗ, chúng ta mới hiểu ý nghĩa của sự cảm nhận ban cho chúng ta từ luật sự sống. Chẳng hạn như một đứa bé lần đầu tiên nếm đường và muối có thể do khả năng tự nhiên của sự sống bên trong cảm nhận được sự khác nhau về mùi vị; tuy nhiên nó vẫn không biết hai điều này là gì. Thế nhưng, khi mẹ đứa bé nói cho nó biết loại ngọt gọi là đường và loại mặn gọi là muối, thì không những nó biết vị của hai loại này khác nhau mà còn biết hai vị này là gì nữa.

Cũng vậy khi một anh em được cứu, anh có sự sống của Đức Chúa Trời bên trong. Do đó nếu anh đi coi hát bóng, uống rượu hay hút thuốc là những điều không phù hợp với bản chất của sự sống Đức Chúa Trời trong anh, bản chất của sự sống này sẽ làm cho anh cảm thấy bứt rứt và không bình an cho đến khi anh từ bỏ chúng. Đây là cảm nhận bẩm sinh của sự sống Đức Chúa Trời bày tỏ cho anh. Tuy nhiên dù anh cảm thấy bứt rứt khó chịu khi làm những điều này, anh vẫn không hiểu vì sao mình lại bứt rứt khó chịu. Cho đến khi nhờ sự dạy dỗ của Kinh Thánh, sự xức dầu bày tỏ cho anh biết tất cả những điều này là không phù hợp với bản chất của sự sống thánh khiết của Đức Chúa Trời trong anh, anh mới biết nguyên nhân của sự bứt rứt khó chịu ấy. Vào thời điểm này, không những anh có cảm thức về cảm nhận bẩm sinh của sự sống Đức Chúa Trời đã ban cho anh, mà anh còn có sự dạy dỗ của sự xức dầu làm cho anh hiểu biết nữa. Như vậy không những chức năng của luật sự sống được bày tỏ bởi sự xức dầu, mà ý nghĩa của cảm nhận của luật sự sống cũng được bày tỏ qua sự dạy dỗ của sự xức dầu nữa.

Mặt khác sự hành động của luật sự sống cũng liên quan đến sự am hiểu của chúng ta về sự dạy dỗ của sự xức dầu. Theo kinh nghiệm, chúng ta biết rằng khả năng hiểu được sự dạy dỗ của sự xức dầu tùy thuộc vào sự tăng trưởng của sự sống. Mức độ hiểu biết của chúng ta về sự dạy dỗ của sự xức dầu tùy thuộc vào mức độ tăng trưởng của sự sống chúng ta. Chẳng hạn nếu đứa bé nếm đường và muối khi còn quá nhỏ, dù mẹ nó đã dạy chất ngọt là đường, chất mặn là muối, nó vẫn không thể hiểu rõ được. Nhất thiết phải chờ đợi đến khi nó lớn lên đến một mức độ nào đó, khi ấy nó mới hiểu rõ được. Nguyên tắc này cũng được áp dụng cho việc hiểu biết sự dạy dỗ của sự xức dầu. Sự sống cần phải tăng trưởng một cách đầy đủ. Nếu muốn hiểu rõ hơn về sự dạy dỗ của sự xức dầu, chúng ta phải càng tăng trưởng trong sự sống. Sự sống tăng trưởng là do sự hành động của luật sự sống. Luật sự sống càng hành động, chúng ta sẽ càng tăng trưởng trong sự sống, và chúng ta sẽ càng am hiểu sự dạy dỗ của sự xức dầu. Như vậy sự hành động của luật sự sống có thể làm gia tăng sự hiểu biết của chúng ta về sự xức dầu.

Vì vậy chúng ta cần nhớ rằng luật sự sống và sự xức dầu không những có liên quan với nhau mà còn ảnh hưởng lẫn nhau. Chính mối tương quan và tác động hỗ tương giữa hai điều này làm cho chúng ta càng ngày càng nhận biết Đức Chúa Trời bên trong cho đến khi chúng ta biết Ngài một cách đầy đủ và phong phú.

D. Sự So Sánh Giữa Hai Điều Này

Chúng ta đã thấy luật sự sống và sự dạy dỗ của sự xức dầu khác nhau như thế nào, và hai điều này có liên hệ hỗ tương và bổ sung cho nhau ra sao. Bây giờ chúng ta sẽ so sánh một cách đơn giản và rõ ràng về sự hiểu biết Đức Chúa Trời để xem hai điều này giúp chúng ta hiểu biết Ngài như thế nào. Sự so sánh này sẽ giúp chúng ta thấy rõ hơn.

Vì luật sự sống là chức năng tự nhiên của sự sống Đức Chúa Trời, nên sự hiểu biết Đức Chúa Trời mà luật sự sống ban cho chúng ta chỉ thuộc về một loại mà thôi, đó là làm cho chúng ta nhận biết bản chất của sự sống Đức Chúa Trời.

Tuy nhiên vì sự dạy dỗ của sự xức dầu là do Linh của chính Đức Chúa Trời hành động, nên ít nhất cho chúng ta ba loại hiểu biết về Đức Chúa Trời:

Trước hết, sự dạy dỗ của sự xức dầu làm cho chúng ta nhận biết chính Đức Chúa Trời. Điều này nghĩa là chúng ta đụng chạm chính Ngài, bởi đó kinh nghiệm Ngài và nhận được chính Ngài.

Thứ hai, sự dạy dỗ của sự xức dầu làm cho chúng ta nhận biết ý chỉ của Đức Chúa Trời. Điều này nghĩa là chúng ta hiểu sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời trong hành động của mình. Điều này có thể chia ra làm hai loại: sự dẫn dắt thông thường và sự dẫn dắt đặc biệt. Sự dẫn dắt thông thường dành cho đời sống hằng ngày của chúng ta. Sự dẫn dắt đặc biệt dành cho kế hoạch công tác của Chúa. Như chúng ta đã nói, việc chúng ta nên hay không nên mua một bộ y phục nào đó, hay nên làm đám cưới vào ngày nào,... đều là những ví dụ về sự dẫn dắt trong đời sống thường ngày. Mặt khác, việc Anh Hudson Taylor cảm thấy anh nên đem phúc âm của Chúa đến Trung Hoa nội địa là một sự dẫn dắt đặc biệt trong công tác của Chúa.

Thứ ba, sự dạy dỗ của sự xức dầu làm cho chúng ta nhận biết lẽ thật. Nghĩa là chúng ta nhận được sự khải thị về lẽ thật. Điều này cũng được chia ra làm hai loại thông thường và đặc biệt. Khải thị thông thường liên quan đến cách cư xử giữa con người chúng ta với nhau. Chẳng hạn như tín đồ chúng ta “không mang ách chung với kẻ chẳng tin” (2 Cô. 6:14), hoặc mọi điều chúng ta làm, nên “làm vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời” (1 Cô. 10:31). Mặt khác, sự khải thị đặc biệt liên quan đến chương trình của Đức Chúa Trời, chẳng hạn như sự nhận thấy huyền nhiệm của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ (Côl. 2:2) và chức năng của Hội thánh trong mối liên hệ với Đấng Christ (Êph. 1:23).

Sau khi thấy những điểm này, chúng ta nhận thấy tri thức bề trong được ban cho chúng ta bởi luật sự sống và sự dạy dỗ của sự xức dầu thật là phong phú, bao hàm hầu hết mọi hành động của Đức Chúa Trời bên trong chúng ta, và như vậy làm cho chúng ta có khả năng hiểu biết đầy đủ thấu đáo và phong phú về Đức Chúa Trời.

VII. BẰNG CHỨNG CỦA KINH THÁNH

Cảm nhận bên trong được ban cho chúng ta do luật sự sống và sự dạy dỗ của sự xức dầu làm cho chúng ta có khả năng nhận biết Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, mặc dầu cảm nhận bên trong có thể hoàn toàn đúng và thật, cảm nhận này vẫn cần được chứng minh bằng sự dạy dỗ và những nguyên tắc của Kinh Thánh. Nếu cảm thức chúng ta có bên trong không phù hợp với sự dạy dỗ và những nguyên tắc của Kinh Thánh, chúng ta không nên chấp nhận cảm thức ấy. Bằng cách này chúng ta sẽ được gìn giữ khỏi tình trạng bị lừa dối hoặc đi đến chỗ cực đoan, và vì thế chúng ta sẽ được đúng đắn và vững vàng.

Cho dù cảm thức bên trong đến từ luật sự sống trong linh chúng ta hay đến từ Thánh Linh như sự xức dầu, cũng đều cần phải phù hợp với lẽ thật của Kinh Thánh. Nếu cảm thức bên trong chúng ta không phù hợp với lẽ thật của Kinh Thánh, chắc chắn cảm thức ấy không đến từ luật sự sống hay sự dạy dỗ của sự xức dầu. Mặc dầu cảm thức bên trong có thể sống động, nhưng lẽ thật trong Kinh Thánh là chính xác và an toàn. Nếu chỉ có riêng lẽ thật Kinh Thánh thì sẽ có tính cách chính xác và an toàn nhưng không sống động, còn nếu có riêng cảm nhận bên trong mà thôi thì đôi khi sống động mà không chính xác, hoặc là sống động mà không an toàn. Giống như một chiếc xe lửa đang tiến về phía trước: không những chỉ có sức mạnh bên trong mà thôi, nhưng cần phải có cả đường rầy bên ngoài. Dĩ nhiên nếu chỉ có đường rầy bên ngoài mà không có sức mạnh bên trong thì xe lửa cũng không thể nào chuyển động được. Tuy nhiên nếu chỉ có sức mạnh bên trong mà không có đường rầy bên ngoài, mặc dầu tàu có thể chạy được đấy nhưng chắc chắn nó sẽ gặp tai họa. Vì vậy chúng ta không những chỉ cần cảm nhận sống động bên trong, nhưng cần có lẽ thật chính xác ở bên ngoài. Cảm thức sống động bên trong đến từ luật sự sống và sự dạy dỗ của sự xức dầu, còn lẽ thật chính xác bên ngoài tùy thuộc vào sự dạy dỗ của những lời viết (thành văn) trong Kinh Thánh và ánh sáng của những nguyên tắc Kinh Thánh.

Khi dân Israel bước đi trong đồng vắng, trụ mây dẫn dắt họ ban ngày và trụ lửa dẫn dắt họ ban đêm. Cũng vậy khi tình trạng thuộc linh của chúng ta sáng tỏ như ban ngày, khi người bên trong chúng ta sáng rở như giữa trưa và cảm nhận bên trong của mình rõ ràng và chính xác, chúng ta có thể bước đi trên con đường đúng đắn của Đức Chúa Trời với sự dẫn dắt của Thánh Linh được tượng trưng bằng trụ mây. Nhưng đôi lúc tình trạng thuộc linh bên trong chúng ta tăm tối như bóng đêm; cảm nhận bên trong của chúng ta mù mờ và thiếu ánh sáng. Khi ấy chúng ta cần Kinh Thánh, được tượng trưng bằng trụ lửa, làm ngọn đèn cho chân chúng ta và ánh sáng cho lối đi chúng ta để dẫn dắt chúng ta bước trên con đường ngay thẳng của Đức Chúa Trời.

Vì vậy nếu muốn đi trên con đường an toàn của sự sống và lẽ thật, chúng ta nên kiểm tra và thử nghiệm mọi cảm thức, mọi sự dẫn dắt và khải thị bằng sự dạy dỗ và các nguyên tắc của quyền năng thật và sức mạnh an toàn. Chỉ có tình trạng quân bình như vậy mới làm cho chúng ta tiến tới mà không bị phiến diện.

VIII. “SỰ DẠY DỖ” BỀ NGOÀI

Dầu về một mặt Kinh Thánh nói vì chúng ta có luật sự sống và sự dạy dỗ của sự xức dầu bên trong, chúng ta có thể biết Đức Chúa Trời và không cần người khác dạy dỗ mình, nhưng mặt khác nhiều nơi trong Kinh Thánh nói đến sự dạy dỗ của con người. Chẳng hạn những phân đoạn như 1 Cô-rin-tô 4:17; 14:19; 1 Ti-mô-thê 2:7; 3:2; 2 Ti-mô-thê 2:2, 24 v.v... nói sứ đồ Phao-lô dạy dỗ người ta, và ông muốn những người khác cũng học cách dạy dỗ người khác. Điều này có ba lý do chính yếu.

Trước hết mặc dầu cảm nhận bề trong được ban cho chúng ta từ luật sự sống, và sự dạy dỗ của sự xức dầu là đủ để chúng ta hiểu biết Đức Chúa Trời, và như vậy chúng ta không cần sự dạy dỗ của con người, tuy nhiên chúng ta thường không lắng nghe và chăm chú theo cảm thức ấy. Chúng ta yếu đuối đặc biệt trong việc nghe lời Đức Chúa Trời. Đôi lúc chúng ta không nghe và đôi khi chúng ta không muốn nghe. Những người có tâm trí bệnh hoạn, những người chủ quan, những người khăng khăng theo ý mình, và những người cố ý khép lòng mình lại thường không thể nghe. Và những ai không yêu Chúa, họ không muốn trả giá, không muốn theo Chúa và cũng không muốn nghe. Vì họ không muốn nghe, nên tự nhiên họ không nghe, vì họ không nghe nên họ lại càng không muốn nghe. Vì vậy nhiều khi không phải Chúa không phán, hay sự sống của Ngài không điều chỉnh, hoặc sự xức dầu của Ngài không dạy dỗ, nhưng vì chúng ta không nghe. Gióp 33:14 nói: “Đức Chúa Trời phán một lần, hoặc hai lần; nhưng người ta không để ý đến”. Chúng ta còn có những tình trạng tệ hơn nữa. Ngay cả khi Ngài phán năm, mười hoặc hai mươi lần, chúng ta vẫn không nghe. Nhưng tạ ơn Đức Chúa Trời, Ngài vẫn tha thứ và nhẫn nại. Nếu chúng ta không nghe những gì Ngài phán bên trong, Ngài dùng sự dạy dỗ của con người bên ngoài để lập lại. Ngài đã phán bên trong chúng ta rồi, nhưng vì chúng ta không nghe, nên Ngài dạy chúng ta từ bên ngoài, qua loài người, để lập lại những gì Ngài đã phán ở bên trong.

Dưới thời Tân Ước có nhiều sự dạy dỗ theo nguyên tắc lập lại này. Trong các thư tín, lời này thường được lập lại: “Anh em há chẳng biết rằng...” Điều này nói anh em đã nghe và biết rồi, nhưng anh em không quan tâm và nghe; vì vậy Đức Chúa Trời dùng con người để dạy lại. Cho nên, nhiều lần Đức Chúa Trời dùng lời Kinh Thánh hay các đầy tớ Ngài để dạy dỗ chúng ta. Ngài không làm như vậy để thay thế sự dạy dỗ của Ngài ở bên trong, nhưng để lập lại những gì Ngài đã dạy chúng ta ở bên trong. Mặc dầu sự dẫn dắt bên ngoài và sự dạy dỗ bên trong hỗ trợ cho nhau, nhưng điều bên ngoài không thể thay thế điều ở bên trong mà chỉ là lập lại điều ở bên trong.

Vì vậy, ngày nay khi giúp đỡ người khác trong các vấn đề thuộc linh, chúng ta không nên cho họ mười điều răn để dạy họ phải làm như thế này hoặc thế kia một cách khách quan. Chúng ta chỉ có thể giải thích những gì Đức Chúa Trời đã chỉ định về nguyên tắc để làm chứng cho lời Ngài đã nói ở bên trong và lập lại những gì Ngài đã dạy họ từ bên trong. Chúng ta không nên dạy họ một cách khách quan phải làm như thế này hay thế kia một cách chi tiết. Đây là điều các tiên tri trong thời Cựu Ước đã làm. Trong thời Tân Ước, chỉ có các tiên tri dành cho hội thánh, giải thích những gì Đức Chúa Trời đã chỉ định trên nguyên tắc. Không có tiên tri nào dành cho cá nhân để quyết định các vấn đề một cách chi tiết. Việc giải quyết một cách chi tiết là điều Đức Chúa Trời bày tỏ cho mỗi người từ bên trong bởi luật sự sống và sự dạy dỗ của sự xức dầu. Đây là nguyên tắc của Tân Ước. Như vậy mặc dầu chúng ta nên khiêm nhường nhận lãnh sự dạy dỗ từ người khác, nhưng những gì luật sự sống bên trong điều khiển chúng ta hoặc sự dạy dỗ của sự xức dầu đã dạy chúng ta mới là điều thật sự chỉ đạo chúng ta. Nếu không, điều này không phù hợp với nguyên tắc Tân Ước.

Lý do thứ hai cho sự dạy dỗ của con người trong thời Tân Ước là mặc dầu luật của sự sống và sự xức dầu có thể làm cho chúng ta biết Đức Chúa Trời, nhưng cảm thức và sự dạy dỗ ấy đều ở trong linh mình. Nếu không nhận sự dạy dỗ từ bên ngoài một cách đầy đủ, tâm trí chúng ta sẽ khó có thể hiểu được cảm thức và sự dạy dỗ trong linh mình bởi luật sự sống và sự xức dầu. Để tâm trí chúng ta có thể hiểu được cảm thức và sự dạy dỗ ban cho mình bởi luật sự sống và sự xức dầu từ bên trong, chúng ta cần loài người dạy chúng ta đường lối của Đức Chúa Trời từ bên ngoài. Càng được dạy dỗ từ bên ngoài, tâm trí chúng ta càng hiểu được cảm thức và sự dạy dỗ của luật sự sống và sự xức dầu ở bên trong. Càng nhận được sự dạy dỗ từ bên ngoài, tâm linh chúng ta càng tăng trưởng, do đó chúng ta càng nhường bước và tạo cơ hội cho luật sự sống và sự xức dầu để hai điều này bày tỏ chức năng và cho chúng ta một cảm thức và sự dạy dỗ sâu xa hơn. Vì vậy mặc dầu luật sự sống và sự xức dầu thật ra cho chúng ta cảm thức và sự dạy dỗ từ bên trong, nhưng chúng ta vẫn cần sự dạy dỗ của loài người từ bên ngoài. Tuy nhiên, sự dạy dỗ từ bên ngoài này không thể và không nên thay thế cho cảm thức và sự dạy dỗ của luật sự sống và sự xức dầu từ bên trong. Sự dạy dỗ từ bên ngoài chỉ giúp chúng ta hiểu cảm nhận sự dạy dỗ bên trong và cho luật sự sống và sự xức dầu có cơ hội dạy chúng ta một cảm thức và sự dạy dỗ sâu xa hơn. Sự dạy dỗ của loài người từ bên ngoài luôn luôn cần có một tiếng “a-men” hoặc “một tiếng vang” từ cảm thức và sự dạy dỗ ở bên trong gây ra bởi luật sự sống và sự xức dầu. Đó là điều phù hợp với nguyên tắc của Tân Ước. Sự dạy dỗ và dẫn dắt từ bên trong và bên ngoài không được thay thế cho nhau, nhưng hỗ trợ cho nhau.

Thứ ba, mặc dầu luật sự sống và sự dạy dỗ của sự xức dầu có thể làm cho chúng ta biết Đức Chúa Trời trong mọi sự, tuy nhiên, đối với những lẽ thật thuộc về những điều sâu xa của Đức Chúa Trời và tri thức căn bản về sự sống thuộc linh, chúng ta thường vẫn cần những người khác, là những người có chức vụ lời trong sự khải thị của Đức Chúa Trời để dạy chúng ta hiểu. Chúng ta cần sự nhận biết có tính cách chủ quan, đến từ sự xức dầu và luật sự sống từ bên trong, nhưng thông thường nếu thiếu sự dạy dỗ khách quan của người khác, chúng ta không thể nhận được tri thức chủ quan từ bên trong. Đương nhiên trong thời Tân Ước, sự dạy dỗ khách quan từ bên ngoài không thể thay thế sự nhận biết chủ quan ở bên trong; nhưng thường thì sự nhận biết chủ quan ở bên trong đạt được do sự dạy dỗ khách quan từ bên ngoài.

Vì ba lý do trên, Đức Chúa Trời thường dấy lên những người có tri thức và kinh nghiệm thuộc linh trước mặt Ngài và định cho họ dạy dỗ và hướng dẫn chúng ta. Mong rằng, một mặt chúng ta tôn kính những gì Đức Chúa Trời dạy dỗ chúng ta từ bên trong qua luật sự sống và sự xức dầu, và về mặt khác chúng ta cũng không thờ ơ đối với sự dạy dỗ Đức Chúa Trời ban cho chúng ta qua người khác từ bên ngoài. Chúng ta không nên từ chối sự dạy dỗ của loài người từ bên ngoài chỉ vì chúng ta có luật sự sống và và sự dạy dỗ của sự xức dầu từ bên trong. Chúng ta thật cảm tạ Chúa vì đã ban cho chúng ta luật sự sống và sự dạy dỗ của sự xức dầu, nhưng chúng ta vẫn nên khiêm nhường và làm cho mình trống không để nhận lãnh sự dạy dỗ và sự dẫn dắt Đức Chúa Trời ban cho chúng ta qua loài người. Chúng ta hãy nhớ rằng dưới thời Tân Ước, Đức Chúa Trời không những ban cho chúng ta luật sự sống và sự xức dầu để dạy chúng ta từ bên trong, nhưng Ngài cũng ban cho chúng ta những người dạy dỗ và dẫn dắt từ bên ngoài.

IX. NHẬN BIẾT TRONG LINH VÀ HIỂU BIẾT TRONG TÂM TRÍ

A. Nhận Biết Trong Linh

Vì tri thức bên trong đến từ luật sự sống và từ sự dạy dỗ của Linh Đức Chúa Trời là sự xức dầu, và cả hai đều ở trong linh chúng ta, nên tri thức từ bên trong này chắc chắn được bày tỏ cho chúng ta trong linh mình. Ngoại trừ những câu hỏi đúng, sai được quyết định do phần lương tâm trong linh chúng ta, tri thức trong linh có thể kể là trách nhiệm của phần trực giác của linh chúng ta. Vì vậy nếu muốn hiểu tri thức bên trong, chúng ta cần phải biết trực giác của linh là gì.

Cả thân và hồn con người đều có cảm giác. Như thân thể có thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác và xúc giác, hồn có cảm giác như vui, buồn, mừng, giận... Vậy, linh của con người cũng có cảm nhận của lương tâm và cảm nhận của trực giác. Lương tâm chúng ta sẽ có cảm nhận khi đứng trước vấn đề đúng, sai; trực giác có cảm nhận trực tiếp mà không cần một nguyên nhân nào cả. Kinh Thánh cho chúng ta biết linh có thể “muốn” (Mat. 26:41), có thể “biết” lý luận của lòng con người (Mác 2:8), có thể “thở dài” (Mác 8:12), có thể “định” (Công. 19:21) và có thể “bực tức”, “sốt sắng” và “được làm tươi mới” (Công. 17:16; 18:25; 2 Cô. 7:13). Tất cả những điều này là cảm nhận của trực giác của linh. Chúng ta có thể nói trực giác của linh có nhiều cảm nhận y như hồn.

Tuy nhiên trực giác của linh khác với cảm nhận của hồn. Sự khác biệt chính yếu là cảm nhận của hồn nảy sinh từ một nguyên nhân, nhưng trực giác của linh không có nguyên nhân. Nguyên nhân cảm nhận của hồn không gì khác hơn là từ con người, sự kiện và những điều bên ngoài. Dầu là một người, một sự việc hay một điều gì, cũng có thể tạo trong chúng ta một cảm thức của hồn. Nếu điều đó vui, chúng ta sẽ cảm thấy mừng rỡ, nếu điều ấy buồn, chúng ta sẽ cảm thấy thương hại. Những cảm nhận của hồn do những ảnh hưởng bên ngoài, là những cảm nhận có nguyên nhân. Tuy nhiên trực giác của linh không đến từ một nguyên nhân nào, nghĩa là không có một môi giới, nhưng trực tiếp bày tỏ sâu trong linh; trực giác ấy không những không chịu ảnh hưởng của con người, sự việc hay vật nào ở bên ngoài, mà cũng không chịu ảnh hưởng của cảm nhận của hồn. Thật ra trực giác thường hoạt động trái ngược với cảm nhận của hồn.

Ví dụ như, đôi lúc chúng ta muốn làm một điều nào đó. Chúng ta có lý luận đầy đủ, lòng rất vui mừng, và chúng ta muốn thực hiện điều đó. Tuy nhiên chúng ta không biết vì sao linh mình có một tình trạng không thể diễn tả được. Chúng ta cảm thấy rất nặng nề và chán chường, dường như linh đang chống đối điều tâm trí suy nghĩ, tình cảm yêu thích và ý chí quyết định. Dường như linh chúng ta lên tiếng nhắc chúng ta không nên thực hiện điều mình đã dự định. Một cảm thức như vậy là sự ngăn cấm của trực giác trong linh. Đôi lúc có điều nào đó mà không có lý do gì để hỗ trợ; điều đó cũng trái với sở thích của chúng ta, mà chúng ta không muốn thực hiện. Tuy nhiên mặc dầu không biết tại sao, chúng ta không ngớt cảm thấy trong linh một sự giục giã, thúc đẩy, ước ao chúng ta làm điều đó. Một khi làm theo, chúng ta thật dễ chịu bên trong. Cảm thức ấy là sự giục giã của trực giác trong linh.

Sự ngăn cấm hay giục giã của trực giác trong linh xảy ra không vì một nguyên nhân nào. Đây là một cảm nhận sâu xa hơn do sự hành động của luật sự sống và sự xức dầu. Vì vậy chúng ta có thể trực tiếp đụng chạm Đức Chúa Trời và biết ý muốn của Ngài. Sự nhận biết trong trực giác của linh ấy được Kinh Thánh gọi là “sự khải thị”. Như vậy sự khải thị không gì khác hơn là Thánh Linh trong linh chúng ta bày tỏ cho chúng ta biết thực chất của một sự kiện nào đó để chúng ta có thể hiểu điều ấy một cách rõ ràng. Chúng ta có thể nói sự nhận biết này là sự hiểu biết sâu xa nhất về Đức Chúa Trời trong chúng ta. Đây cũng là sự nhận biết bề trong mà chúng ta đang nói đến.

B. Sự Hiểu Biết Của Tâm trí

Mặc dầu tri thức bề trong nằm trong trực giác của linh chúng ta, nó vẫn phải được tâm trí của hồn hiểu biết. Lý do là vì tâm trí là cơ quan để hiểu biết và thông hiểu. Vì vậy tri thức bề trong không chỉ cần được nhận biết bởi linh, mà còn cần được am tường bởi tâm trí. Nhận biết của trực giác trong linh cần phải có sự hiểu biết của tâm trí kèm theo để có được sự thông hiểu. Hiểu biết của tâm trí là sự thông giải những điều thuộc trực giác của linh bằng tâm trí. Khi nào chúng ta có một cảm thức của trực giác trong linh mình, tâm trí chúng ta cần hiểu và giải thích được cảm thức đó. Điều này có nghĩa là chúng ta đem con người, sự việc hay sự vật có liên hệ mà kiểm tra chúng với cảm thức của trực giác trong linh. Chúng ta kiểm nghiệm cho đến khi linh đồng ý. Khi ấy chúng ta biết ý định của Thánh Linh và có thể hành động phù hợp.

Chẳng hạn như khi đến với Chúa và cảm thấy có gánh nặng trong trực giác sâu thẳm bên trong, chúng ta biết sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời đã đến với mình. Đây là một sự nhận biết trong linh. Tuy nhiên có thể chúng ta không biết chắc Đức Chúa Trời muốn dẫn dắt chúng ta giảng Phúc-âm hay đi thăm một anh em. Nếu là thăm một anh em thì chúng ta nên thăm anh em nào? Tất cả những điều này cần sự hiểu biết của tâm trí. Trong tâm trí mình, chúng ta nên đặt những gì chúng ta cần làm trước mặt Đức Chúa Trời, từng điều một, và kiểm tra bằng trực giác bên trong. Khi dâng trình việc thăm các anh em, nếu có một sự đáp ứng bên trong, chúng ta biết Đức Chúa Trời muốn thăm một vài anh em. Sau đó, trong sự tương giao với Đức Chúa Trời, chúng ta dâng lên thêm nữa, từng anh em một trong số nhiều anh em chúng ta muốn thăm và kiểm tra với trực giác của linh. Khi chúng ta cân nhắc về một anh em đang có nhu cầu, có thể trong linh không có sự đáp ứng. Khi chúng ta cân nhắc về một anh em đang đau ốm, có thể cũng không có sự ưng thuận. Nhưng khi chúng ta cân nhắc về một anh em khác đang gặp rắc rối, trực giác trong linh đáp ứng, và dường như cả con người bên trong chúng ta nói: “A-men!” Nếu ngại mình có thể sai lầm, chúng ta có thể rà soát lại thêm những anh em khác cần được thăm viếng. Nếu linh không đáp ứng người nào cả, chúng ta hiểu người mà Chúa muốn chúng ta thăm là anh em đang gặp rắc rối. Đây là sử dụng tâm trí để hiểu những gì chúng ta nhận biết trong linh, hoặc dùng tâm trí để giải thích cảm thức trong linh.

Một ví dụ khác, chẳng hạn trong khi cầu nguyện, anh em có gánh nặng, cảm thấy Đức Chúa Trời muốn anh em nói một điều gì đó với các anh chị em. Gánh nặng này là sự nhận biết trong trực giác. Tuy nhiên Đức Chúa Trời muốn anh em nói điều gì thì anh em chưa rõ. Việc này đòi hỏi anh em phải lần lượt đem từng sứ điệp mà anh em muốn chia sẻ đến trước mặt Chúa và kiểm tra với gánh nặng trong linh mình. Khi kiểm tra về vấn đề xử lý xác thịt, thì linh đồng ý. Khi ấy anh em hiểu Đức Chúa Trời muốn anh em nói về đề tài này. Sự hiểu biết này là sự thấu hiểu của tâm trí. Như vậy gánh nặng của trực giác trong linh bày tỏ cho anh em hiểu Đức Chúa Trời muốn anh em làm một điều nào đó, và sự hiểu biết của tâm trí trong hồn khiến anh em có khả năng thấu hiểu điều Đức Chúa Trời muốn anh em làm là gì.

Có lẽ vào ngày của Chúa, như thường lệ anh em muốn dâng một số tiền. Nhưng linh anh em có gánh nặng, anh em cảm thấy Chúa muốn mình dâng một số tiền đặc biệt. Nhưng Chúa muốn anh em dâng bao nhiêu, cho vấn đề gì, cho người nào là những điều cần phải hiểu bằng tâm trí. Bằng cách này, không những trực giác của anh em có gánh nặng của Đức Chúa Trời, mà tâm trí anh em còn biết ý định của Ngài nữa. Vậy thì đây là sự nhận biết bên trong.

Cách làm việc như vậy có vẻ luộm thuộm. Tuy nhiên khi một người bắt đầu dùng tâm trí để học cách diễn giải cảm thức của linh, người ấy nên thực hiện theo cách ấy. Về sau khi đã quen thuộc với cách làm việc như vậy và trở nên thành thạo, ngay khi có cảm thức hay sự nhận biết trong linh, tâm trí có thể hiểu ngay lập tức và hiểu biết rõ ràng.

X. PHƯƠNG CÁCH NHẬN ĐƯỢC SỰ NHẬN BIẾT BỀ TRONG

Bây giờ khi đã thấy mỗi một khía cạnh của sự nhận biết bên trong, chúng ta cần thấy cách thực hành hay cách nhận được sự nhận biết bề trong. Để nhận được sự nhận biết bề trong, chúng ta phải vận dụng linh, đổi mới tâm trí và điều chỉnh tấm lòng.

A. Vận Dụng Linh

Vì sự nhận biết bên trong nằm trong trực giác của linh chúng ta nên nếu muốn nhận được sự hiểu biết ấy, chúng ta phải thường xuyên vận dụng và sử dụng linh để linh mình trở nên sống động và mạnh mẽ. Chỉ khi nào linh chúng ta sống động và mạnh mẽ, trực giác của linh mới có cảm thức và nhạy bén, và mới làm cho chúng ta nhận biết Đức Chúa Trời từ bên trong.

Để vận dụng linh, trước hết chúng ta phải học tập quay về linh. Nếu thường xuyên sống trong con người bề ngoài, chúng ta sẽ không có cách nào nhận biết Đức Chúa Trời trong trực giác của linh. Chúng ta phải học tập gạt bỏ những hoạt động bận rộn bề ngoài và những vương vấn sang một bên. Chúng ta phải kiểm chế để không những đừng quá bận rộn ở bên ngoài, mà còn phải giữ tư tưởng mình đừng chạy lung tung. Trái lại chúng ta nên lưu ý đến chuyển động của linh, là cảm thức sâu xa bên trong. Cậu bé Sa-mu-ên phụng sự Chúa, có thể nghe được tiếng Ngài; Ma-ri yên lặng ngồi dưới chân Chúa, có thể hiểu được lời Ngài. Như vậy nếu chúng ta có thể quay về linh để được gần Đức Chúa Trời, chúng ta có thể thật sự đụng chạm đến cảm thức của Đức Chúa Trời trong linh và do đó được nhận biết Ngài.

Chúng ta cũng cần vận dụng và sử dụng linh trong cuộc sống hằng ngày. Dầu cư xử với người khác, điều khiển công việc, hành xử mọi điều hay trong những buổi nhóm phụng sự Chúa và cung ứng lời Đức Chúa Trời; dầu trong khi nói chuyện với người khác hoặc ngay cả trong lúc làm ăn, trong mọi việc chúng ta phải từ chối hồn và để linh dẫn dắt. Chúng ta không được để cho tâm trí, tình cảm hay ý chí hướng dẫn, nhưng trong mọi sự, trước hết hãy cố gắng đụng chạm cảm thức sâu xa trong linh. Tức là, trước hết chúng ta hãy tìm cách hỏi Chúa là Đấng ở trong linh chúng ta muốn nói gì. Nếu chúng ta tiếp tục vận dụng linh như vậy, cảm thức trong linh sẽ chắc chắn trở nên nhạy bén, khi ấy sự hiểu biết bên trong sẽ dễ dàng gia tăng và được sâu nhiệm hơn.

Trong sự vận dụng linh, cách thực hành tốt nhất là cầu nguyện, vì cầu nguyện đòi hỏi chúng ta vận dụng linh hơn bất cứ sinh hoạt nào khác. Chúng ta thường thích nói chuyện phiếm chứ không muốn cầu nguyện hoặc ngợi khen Chúa; vì vậy linh chúng ta thường khô héo. Nếu mỗi ngày chúng ta có thể để ra một giờ hay hơn mà cầu nguyện, không phải để cầu xin, nhưng để thờ phượng, tương giao và ngợi khen Chúa, chẳng bao lâu chắc chắn linh chúng ta sẽ lớn lên và trở nên mạnh mẽ. Tác giả Thi Thiên nói mỗi ngày ông ngợi khen Chúa bảy lần (Thi. 119:164). Nếu những người luyện quyền anh để ra một giờ tập tành mỗi ngày, sau một thời gian những cú đấm của họ sẽ rất mạnh. Cũng vậy nếu vận dụng linh mỗi ngày để cầu nguyện, chắc chắn chúng ta sẽ có một linh mạnh mẽ. Khi linh mạnh mẽ, chắc chắn trực giác sẽ nhạy bén. Với một trực giác nhạy bén, chúng ta sẽ nhận biết Đức Chúa Trời nhiều hơn.

B. Đổi Mới Sự Hiểu Biết

Như chúng ta đã đề cập, sự nhận biết bề trong không những đòi hỏi sự nhận biết trong linh, mà cả sự hiểu biết của tâm trí. Vì vậy nếu muốn nhận được tri thức bên trong, chúng ta cần vận dụng linh và đổi mới sự hiểu biết của tâm trí. Tâm trí là cơ quan để hiểu biết, và hiểu biết là khả năng chính của tâm trí.

La Mã 12:2 cho chúng ta thấy chỉ khi nào tâm trí, vốn chứa đựng sự hiểu biết, được đổi mới và biến đổi, chúng ta mới có thể “thử nghiệm ý chỉ tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của Đức Chúa Trời là thể nào”. Cô-lô-se 1:9 cũng bày tỏ khi có “sự hiểu biết thuộc linh”, chúng ta có thể “được đầy dẫy sự nhận biết ý chỉ của Đức Chúa Trời”. Vì vậy đổi mới sự hiểu biết của tâm trí là một điều thiết yếu trong sự nhận biết Đức Chúa Trời.

Trước khi được cứu, toàn thể con người chúng ta, kể cả tâm trí chúng ta đã sa ngã. Mỗi một sự tưởng tượng thuộc tư tưởng của tấm lòng chúng ta đều là xấu (Sáng. 6:5). Sự suy nghĩ và quan niệm của chúng ta cũng đầy dẫy mùi vị của thế gian. Vì tâm trí chúng ta ở trong tình trạng như vậy, sự hiểu biết của chúng ta bị lu mờ. Vì vậy chúng ta hoàn toàn không thể thấu hiểu những điều thuộc linh. Chúng ta lại càng không hiểu biết ý muốn của Đức Chúa Trời. Khi được cứu, chúng ta được đổi mới bởi Thánh Linh (Tít 3:5). Công tác đổi mới này của Thánh Linh bắt đầu trong linh chúng ta và rồi mở rộng đến hồn để đổi mới sự hiểu biết của tâm trí để chúng ta có thể hiểu biết những điều thuộc về linh. Sự hiểu biết của tâm trí chúng ta càng được đổi mới bởi Thánh Linh, chúng ta càng thấu hiểu những điều thuộc linh và càng hiểu biết ý muốn của Đức Chúa Trời.

Mặc dầu Thánh Linh là Đấng đổi mới sự hiểu biết của tâm trí nhưng chúng ta cần phải có hai trách nhiệm:

Trước hết, chúng ta phải dâng chính mình. Trong La Mã chương 12, trước khi tâm trí được đổi mới và biến đổi, chúng ta được đòi hỏi phải dâng thân thể mình làm sinh tế sống và thánh. Điều này bày tỏ sự hiểu biết của tâm trí chúng ta được đổi mới dựa trên sự dâng mình của mình. Nếu chúng ta thật muốn dâng mình cho Chúa, Thánh Linh mới có thể mở rộng công tác đổi mới của Ngài qua hồn chúng ta và nhờ đó đổi mới sự hiểu biết của tâm trí chúng ta.

Thứ hai, chúng ta phải chấp nhận sự xử lý của thập tự giá để loại bỏ cuộc sống cũ của quá khứ. Ê-phê-sô 4:22-23 cho thấy chỉ khi nào chúng ta từ bỏ con người cũ với lối sống trước kia, thì tâm trí chúng ta, vốn chứa đựng sự hiểu biết mới được đổi mới. Trước khi được cứu, lối sống cũ của chúng ta đã làm sự hiểu biết của tâm trí mình trở nên tăm tối. Sau khi được cứu, bởi sự chết của Chúa trên thập tự giá, chúng ta từ bỏ lối sống cũ của quá khứ, cho phép quyền năng giết chết của thập tự giá xóa bỏ từng điều một và trọn cả lối sống cũ. Chỉ khi ấy sự hiểu biết của tâm trí chúng ta mới được đổi mới. Như vậy, chúng ta phải chấp nhận sự xử lý của thập tự giá để sự hiểu biết của tâm trí mình được đổi mới. Mức độ chúng ta cho phép thập tự giá xóa bỏ lối sống cũ của mình chính là mức độ đổi mới về sự hiểu biết của tâm trí chúng ta.

Ê-phê-sô 4:23 nói: “lại phải đổi mới trong linh của tâm trí mình”. Chúng ta biết tâm trí là phần chính của hồn. Ban đầu tâm trí không liên quan đến linh, nhưng bây giờ linh đã trở nên “linh của tâm trí”; vì vậy, linh được nối kết với tâm trí. Lý do là vì linh đã lan rộng đến tâm trí của phần hồn để chúng ta được đổi mới trong linh tức là tâm trí của chúng ta có thể được đổi mới bởi được liên kết với linh. Vậy sự đổi mới này đã lan rộng từ linh đến tâm trí.

Công tác của Linh bên trong là từ trung tâm mở rộng ra bên ngoài, cũng có nghĩa là từ linh bên trong ra đến hồn ở bên ngoài. Trước hết Linh đổi mới linh chúng ta, là trung tâm của con người bên trong của mình. Sau đó nếu chúng ta dâng mình và chấp nhận sự xử lý của thập tự giá, Ngài sẽ phát triển từ linh qua hồn chúng ta, là phần chung quanh. Điều này sẽ đổi mới mỗi một phần của hồn chúng ta. Điều này nghĩa là khi hồn chúng ta đầu phục sự cai trị của Linh và liên hiệp với linh chúng ta, nó được đổi mới. Vì vậy sự hiểu biết của tâm trí chúng ta cũng được đổi mới.

Sau khi nhận lãnh sự tái sinh của Thánh Linh trong linh mình, nếu chúng ta dâng chính mình cho Đức Chúa Trời và chấp nhận sự xử lý của Thánh Linh qua thập tự giá để tiêu trừ lối sống cũ của chúng ta, khi ấy Thánh Linh mới có thể thực hiện công tác mở rộng của Ngài trong chúng ta và đổi mới sự hiểu biết của tâm trí chúng ta trong hồn. Chỉ có một sự hiểu biết được đổi mới như vậy mới phù hợp với trực giác trong linh. Khi nào Đức Chúa Trời bày tỏ một điều gì cho chúng ta trong trực giác của linh mình, tâm trí chúng ta có thể hiểu ngay. Khi chúng ta có một linh mạnh mẽ cộng với một tâm trí đổi mới, sáng suốt, lúc ấy chúng ta mới có thể có một nhận thức đầy đủ bề trong về bản chất của Đức Chúa Trời và về mọi sự dẫn dắt và mặc khải của Ngài.

C. Điều Chỉnh Tấm Lòng

Tấm lòng là cả con người; vì vậy, nếu tấm lòng có vấn đề, toàn bộ sinh hoạt của linh và sự sống bên trong chúng ta sẽ bị ngăn cản và giới hạn. Dầu linh chúng ta nhạy bén và sự hiểu biết của mình đã đổi mới, nhưng nếu lòng chúng ta có vấn đề, chúng ta vẫn không thể nhận được sự nhận biết bề trong về Đức Chúa Trời. Vì vậy chúng ta cũng cần điều chỉnh tấm lòng để nó được mềm mại, tinh sạch, yêu Đức Chúa Trời, muốn Ngài và vâng phục Ngài.

Trong Ma-thi-ơ 11:25, Chúa giấu những điều thuộc linh khỏi người khôn ngoan, thông sáng và bày tỏ cho con trẻ. Người “khôn ngoan, thông sáng” là những người công-bình-riêng, tự mãn và ngoan cố; vì vậy họ không thể hiểu được những điều thuộc linh của Đức Chúa Trời. “Con trẻ” là những người khiêm nhường và có tấm lòng mềm mại; vì vậy họ có thể nhận được những điều thuộc linh của Đức Chúa Trời. Vì vậy lòng chúng ta cần được điều chỉnh cho đến khi khiêm nhường và mềm mại; chỉ khi nào sự tự mãn và ngoan cố cất đi thì chúng ta mới nhận được sự khải thị và nhận biết bề trong về Đức Chúa Trời.

Trong Ma-thi-ơ 5:8, Chúa nói “phước cho kẻ có lòng thuần khiết vì sẽ thấy được Đức Chúa Trời”. Nếu lòng chúng ta không thuần khiết vì có những xu hướng và ao ước khác hơn Đức Chúa Trời, trong chúng ta sẽ có một cái màn làm cho mình không thấy Chúa rõ ràng. Tuy nhiên khi nào lòng chúng ta xoay về Đức Chúa Trời, cái màn sẽ bị cất đi (2 Cô. 3:16). Như vậy chúng ta phải điều chỉnh lòng mình. Chúng ta phải thuần khiết và không “hai lòng” (Gia. 4:8); khi ấy chúng ta có thể nhận được ánh sáng và sự khải thị trong linh, thấu hiểu trong tâm trí, và như vậy nhận biết Đức Chúa Trời.

Trong Giăng 14:21, Chúa nói “ai thương yêu ta... ta sẽ tỏ chính mình ta cho người”. Vì rất yêu Chúa, Ma-ri Ma-đơ-len đã tìm kiếm Ngài vào buổi sáng phục sinh. Ma-ri đã nhận được sự hiển lộ đầu tiên của Chúa dành cho các môn đồ sau khi Ngài sống lại và là người đầu tiên được biết Đấng Christ phục sinh (Gi. 20). Anh Law­rence nói yêu Chúa là cách duy nhất nếu ta muốn biết Ngài. Lòng chúng ta phải yêu Đức Chúa Trời và tìm kiếm Ngài; khi ấy Đức Chúa Trời sẽ bày tỏ Ngài cho chúng ta, và chúng ta được biết Ngài.

Trong Giăng 7:17, Chúa phán: “Nếu ai muốn làm theo ý chỉ Ngài thì sẽ biết...” Điều này bày tỏ lòng chúng ta phải muốn Đức Chúa Trời và ý muốn của Ngài; khi ấy chúng ta sẽ biết Ngài và ý muốn của Ngài.

Trong Phi-líp 2:13, vị sứ đồ nói chính Đức Chúa Trời hành động trong chúng ta vừa muốn vừa làm. Nếu lòng chúng ta không đầu phục và không muốn đầu phục sự hành động của Ngài trong mình, Đức Chúa Trời không thể hành động trong chúng ta được; như vậy chúng ta sẽ không nhận được cảm thức của sự nhận biết Đức Chúa Trời mà mình sẽ có được khi Ngài hành động trong chúng ta. Vì vậy lòng chúng ta cần được điều chỉnh cho đến khi không những đầu phục Đức Chúa Trời mà còn muốn đầu phục Ngài. Khi ấy chúng ta có thể nhận được cảm thức và sự nhận biết do sự hành động của Đức Chúa Trời trong chúng ta.

Vì vậy, chúng ta phải (1) vận dụng và sử dụng linh cho đến khi linh mạnh mẽ và nhạy bén, (2) để Linh đổi mới sự hiểu biết của chúng ta, (3) điều chỉnh tấm lòng cho đến khi nó trở nên mềm mại và thuần khiết, yêu Chúa, muốn Chúa và đầu phục Chúa; khi ấy chúng ta sẽ có sự nhận thức bên trong về Đức Chúa Trời.

XI. KẾT LUẬN

Vì Đức Chúa Trời muốn con người nhận biết Ngài, nên Ngài đã ban cho họ nhiều phương cách và phương tiện để họ có thể biết Ngài. Trong thời Cựu Ước, Ngài bày tỏ công việc và đường lối Ngài cho con người để họ có thể biết Ngài. Nhưng sự hiểu biết mà con người có được qua công việc và đường lối Ngài chỉ là bề ngoài, khách quan, nông cạn và không đầy đủ. Vì vậy, đến thời Tân Ước, mặc dầu Ngài vẫn dùng công việc và đường lối Ngài để bày tỏ Ngài cho chúng ta, điều quan trọng nhất và vinh hiển nhất là chính Ngài, với tư cách là Linh, đã vào trong chúng ta để trở nên sự sống của chúng ta. Điều này làm cho chúng ta có khả năng nhận biết Ngài ở bề trong một cách chủ quan, sâu xa và đầy đủ.

Khi Đức Chúa Trời ở trong chúng ta như sự sống, Ngài làm cho chúng ta có luật sự sống thần thượng ở bên trong, là luật liên tục điều chỉnh chúng ta từ bên trong, làm cho chúng ta biết bản chất của sự sống Ngài. Vì là một luật, luật sự sống không phải là một thân vị; luật này cố định và không thay đổi. Luật này có tính cách không thay đổi điều chỉnh chúng ta ở bên trong theo bản chất của sự sống Đức Chúa Trời. Kết quả là luật sự sống làm cho cung cách, bản chất và sở thích trong lối sống của chúng ta phù hợp với bản chất của Đức Chúa Trời.

Linh của Đức Chúa Trời cư ngụ trong chúng ta như dầu, xức dầu và dạy dỗ chúng ta để chúng ta được biết chính Ngài. Vì sự xức dầu này là chính Đức Chúa Trời, nên là một thân vị, vô hạn và uyển chuyển. Dầu này ở trong chúng ta, liên tục xức chính Đức Chúa Trời vô hạn vào trong chúng ta. Kết quả là làm cho toàn thể con người, phẩm hạnh, hành vi của chúng ta được đầy dẫy yếu thể tính của Đức Chúa Trời và phù hợp với ý muốn của Ngài.

Đức Chúa Trời, như luật sự sống và sự xức dầu, trước hết bắt đầu trong linh chúng ta, và sau đó chiếm hồn chúng ta để tâm trí chúng ta có thể hiểu biết và thông hiểu Ngài. Vì vậy chúng ta cần vận dụng linh để trực giác của linh trở nên nhạy bén. Chúng ta cũng cần có tâm trí được đổi mới để sự hiểu biết của tâm trí chúng ta được minh mẫn. Hơn nữa chúng ta cần điều chỉnh tấm lòng để nó trở nên mềm mại và thuần khiết, yêu Chúa, muốn Chúa và đầu phục Chúa. Bằng cách này, ngay khi luật sự sống và sự xức dầu hành động trong chúng ta, trực giác trong linh chúng ta liền nhận biết, sự hiểu biết của tâm trí chúng ta liền thông hiểu, và chúng ta có thể có sự nhận biết bề trong về Đức Chúa Trời trong mọi lúc.

Để chúng ta nhận biết bề trong như vậy, Đức Chúa Trời cũng ban cho chúng ta sự dạy dỗ và các nguyên tắc Kinh Thánh từ bên ngoài để kiểm tra và chứng nghiệm rằng chúng ta không lầm lẫn hoặc bị lừa dối. Hơn nữa, qua nhiều đầy tớ của Ngài từ bên ngoài Đức Chúa Trời dạy dỗ hoặc lập lại cảm thức chúng ta có ở bên trong. Có thể Ngài dạy dỗ để chúng ta hiểu cảm thức mình đã có ở bên trong, hay là Ngài làm cho chúng ta sáng tỏ những điều sâu xa của Đức Chúa Trời và sự hiểu biết cơ bản của đời sống thuộc linh.

Vì chúng ta có nhiều phương tiện và phương cách để hiểu biết Đức Chúa Trời ở bên trong lẫn bên ngoài, chúng ta có thể được “đầy dẫy sự nhận biết về ý chỉ của Đức Chúa Trời trong mọi sự khôn ngoan, thông sáng thuộc linh, hầu cho anh em ăn ở cách xứng đáng với Chúa, đẹp lòng Ngài mọi đường, kết quả trong mọi việc lành và càng thêm lên trong sự thông biết Đức Chúa Trời” (Côl. 1:9-10). Khi nhận biết Đức Chúa Trời như vậy, không những chúng ta sẽ hiểu biết ý muốn của Ngài một cách đầy đủ mà còn tăng trưởng và trưởng thành trong sự sống của Đức Chúa Trời. Càng được gia tăng trong sự nhận biết Đức Chúa Trời, chúng ta càng tăng trưởng trong sự sống của Ngài cho đến khi Ngài hoàn toàn chiếm hữu chúng ta. Khi ấy yếu thể tính của Đức Chúa Trời sẽ được ban phát vào trong chúng ta một cách đầy đủ, qua đó làm trọn mục tiêu vinh hiển của Đức Chúa Trời mong muốn ấy là được hiệp một với chúng ta bằng cách hòa lẫn với chúng ta.