Thông tin sách

Hiểu Biết Sự Sống

Tác giả: Witness Lee
Dịch từ bản tiếng Anh: Hiểu biết sự sống
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 10

Untitled Document

CHƯƠNG MƯỜI

LUẬT SỰ SỐNG

Trong chương vừa qua, chúng ta đã thấy có ba sự sống và có bốn loại luật. Bây giờ chúng ta đặc biệt xem xét luật sự sống, cũng là luật của Linh sự sống như được đề cập trong chương trước. Trong bốn loại luật này, chỉ có luật sự sống là khả năng tự nhiên của sự sống Đức Chúa Trời, làm cho chúng ta có thể sống-bày-tỏ sự sống của Đức Chúa Trời một cách thật tự nhiên; vì vậy nếu muốn đụng chạm con đường sự sống, chúng ta phải có tri thức sáng tỏ về luật sự sống.

I. NỀN TẢNG KINH THÁNH

Chúng ta có thể nói trong toàn bộ Kinh Thánh, chỉ có năm phần sau đây đề cập đến luật sự sống một cách trực tiếp hoặc gián tiếp:

A. La Mã 8:2: “luật của Linh sự sống...”

Luật của Linh sự sống được đề cập ở đây là luật sự sống. Linh là nguồn xuất phát của luật này chứa đựng sự sống, hoặc có thể nói Ngài là sự sống; vì vậy luật này là luật của Linh và cũng là luật sự sống.

B. Hê-bơ-rơ 8:10: “Chúa lại phán: Nầy là giao ước ta sẽ lập với nhà Israel sau những ngày đó: Ta sẽ đặt luật pháp ta trong tâm trí họ, ta sẽ viết nó vào lòng họ; Ta sẽ làm Đức Chúa Trời của họ, họ sẽ làm dân ta”.

C. Hê-bơ-rơ 10:16: “Chúa phán: nầy là giao ước ta lập với họ sau những ngày đó, Ta sẽ đặt luật pháp ta trong lòng họ, ta sẽ viết nó vào tâm trí họ”.

Hai phần Kinh Thánh trên trong Hê-bơ-rơ chương 8 và 10 trước hết đề cập đến việc “đặt” và sau đó là “viết”, và cả hai đều nói về tâm trí và tấm lòng; như thế cả hai câu đều nói cùng một ý và đều được trích từ Giê-rê-mi 31:33.

D. Giê-rê-mi 31:33: “Đức Giê-hô-va phán: nầy là giao ước mà ta sẽ lập với Israel sau những ngày đó: Ta sẽ đặt luật pháp ta trong các phần bề trong của họ và ta sẽ viết nó trong lòng họ. Ta sẽ làm Đức Chúa Trời của họ, họ sẽ làm dân ta”.

E. Ê-xê-chi-ên 36:25-28: “Ta sẽ rưới nước trong trên các ngươi và các ngươi sẽ trở nên sạch; ta sẽ làm sạch hết mọi sự ô uế và mọi thần tượng của các ngươi. Ta sẽ ban lòng mới cho các ngươi, và đặt linh mới trong các ngươi. Ta sẽ cất lòng bằng đá khỏi thịt các ngươi, và ban cho các ngươi lòng bằng thịt. Ta sẽ đặt Linh ta trong các ngươi, và khiến các ngươi noi theo luật lệ ta, thì các ngươi sẽ giữ mạng lịnh ta và làm theo... và các ngươi sẽ là dân ta và ta sẽ là Đức Chúa Trời các ngươi”.

Trong vài câu Kinh Thánh trên, có ít nhất năm điều được bàn đến: (1) tẩy sạch bằng nước trong, (2) ban cho chúng ta lòng mới, (3) ban cho chúng ta linh mới, (4) cất lòng bằng đá khỏi chúng ta và ban cho chúng ta lòng bằng thịt, (5) đặt Linh của Đức Chúa Trời trong chúng ta. Năm điều này kết hợp với nhau sẽ đưa đến kết quả là Ngài sẽ làm cho chúng ta bước đi trong điều luật của Đức Chúa Trời, giữ và làm theo các qui định của Ngài. Chúng ta sẽ là dân Ngài và Ngài sẽ là Đức Chúa Trời của chúng ta. Điều này nghĩa là Thánh Linh ở trong chúng ta ban cho chúng ta sức lực mới để thực hiện ý chỉ của Đức Chúa Trời và làm hài lòng Đức Chúa Trời, để Đức Chúa Trời có thể là Đức Chúa Trời của chúng ta và chúng ta làm dân của Đức Chúa Trời. Như vậy, kết quả được đề cập ở đây giống như kết quả được đề cập trong Giê-rê-mi 31:33.

II. KHỞI ĐIỂM CỦA LUẬT SỰ SỐNG – SỰ TÁI SINH

Nếu muốn nói đến khởi điểm của luật sự sống, chúng ta phải bắt đầu từ sự tái sinh, vì tái sinh là tiếp nhận sự sống của Đức Chúa Trời vào trong linh chúng ta. Một khi được tái sinh, chúng ta có sự sống của Đức Chúa Trời trong linh mình, và một khi có sự sống của Đức Chúa Trời, chúng ta tự nhiên có luật sự sống là luật đến từ sự sống của Đức Chúa Trời.

A. Sự Tạo Dựng Loài Người

Khi nói đến sự tái sinh, chúng ta phải bắt đầu với sự tạo dựng loài người. Khi loài người được bàn tay Đức Chúa Trời tạo dựng nên, họ chỉ có sự sống tốt lành và ngay thẳng của sự sống loài người; họ không có sự sống thần thượng và vĩnh cửu của Đức Chúa Trời. Nhưng khi Đức Chúa Trời tạo dựng loài người, mục tiêu chính của Ngài là hòa lẫn sự sống Ngài vào trong loài người, để liên hiệp với loài người, và để đạt đến mục đích của sự hiệp một giữa Đức Chúa Trời và loài người. Vì vậy khi tạo nên loài người, ngoài thân và hồn, Ngài còn tạo một linh cho họ. Linh này là cơ quan mà bởi đó loài người nhận lãnh sự sống của Đức Chúa Trời. Khi chúng ta sử dụng linh này để tiếp xúc với Đức Chúa Trời là Linh, chúng ta nhận được sự sống của Ngài và liên hiệp với Ngài, qua đó hoàn thành mục đích chủ yếu của Ngài.

B. Sự Sa Ngã Của Loài Người

Nhưng loài người đã sa ngã trước khi nhận được sự sống của Đức Chúa Trời. Yếu tố quan trọng nhất khi họ sa ngã thì không phải sự sa ngã ấy chỉ khiến cho họ phạm tội và xúc phạm Đức Chúa Trời, nhưng cũng đã làm chết linh của họ, hay có thể nói sự sa ngã đã đem sự chết đến trên chính cơ quan mà bởi cơ quan ấy họ nhận được sự sống của Đức Chúa Trời. Nói rằng linh bị chết không có nghĩa là linh không tồn tại, mà là linh đã mất chức năng tương giao với Đức Chúa Trời và bị phân cách khỏi Đức Chúa Trời; vì vậy loài người không còn tương giao được với Đức Chúa Trời. Từ đó về sau, họ không thể dùng linh mình để tiếp xúc với Đức Chúa Trời và do đó không nhận sự sống của Ngài được nữa.

Khi ấy, nhu cầu của loài người gồm hai phương diện: một mặt, vì đã sa ngã họ cần Đức Chúa Trời xử lý những tội họ đã phạm; mặt khác, họ cần Đức Chúa Trời hơn nữa để được Ngài tái sinh bằng cách ban sự sống cho linh vốn đã chết của họ để họ có thể nhận được sự sống của Ngài và hoàn thành mục đích chính yếu của Đức Chúa Trời khi Ngài tạo dựng họ.

C. Phương Cách Giải Cứu Của Đức Chúa Trời

Vì những nhu cầu này, phương cách giải cứu của Đức Chúa Trời gồm hai phương diện, tiêu cực và tích cực. Về mặt tiêu cực, nhờ Chúa Jesus đổ huyết trên thập tự giá, sự cứu chuộc đã được hoàn thành và nan đề tội lỗi của loài người được giải quyết. Về mặt tích cực, bởi sự chết của Chúa Jesus, sự sống của Đức Chúa Trời đã tuôn tràn ra; sau đó bởi sự phục sinh của Chúa Jesus, sự sống của Đức Chúa Trời được đặt vào trong Thánh Linh; cuối cùng Thánh Linh đã vào trong chúng ta, làm cho chúng ta nhận được sự sống thần thượng và vĩnh cửu của Đức Chúa Trời.

Như vậy Thánh Linh làm cho chúng ta có khả năng nhận được sự sống của Đức Chúa Trời nghĩa là Ngài tái sinh chúng ta. Nhưng làm thế nào Thánh Linh tái sinh chúng ta? Bởi Lời Đức Chúa Trời. Trước hết Thánh Linh sắp đặt hoàn cảnh để chúng ta có cơ hội nghe lời phúc âm. Kế đến, bởi những lời này, Ngài soi sáng và cảm động chúng ta; Ngài làm cho chúng ta nhìn nhận tội lỗi mình, tự cáo trách, ăn năn và tin, nhờ đó chúng ta tiếp nhận Lời Đức Chúa Trời và tiếp nhận sự sống của Ngài. Sự sống của Đức Chúa Trời ẩn giấu trong Lời Ngài, và Lời Ngài “là sự sống” (Gi. 6:63). Khi chúng ta tiếp nhận Lời Đức Chúa Trời, sự sống của Ngài vào trong chúng ta và tái sinh chúng ta.

Vì vậy sự tái sinh không gì khác hơn là sự kiện con người nhận được sự sống của Đức Chúa Trời thêm vào sự sống của mình. Khi chúng ta nhận được sự sống của Đức Chúa Trời như vậy, chúng ta nhận được uy quyền làm cho chúng ta trở nên con cái của Đức Chúa Trời (Gi. 1:12). Chính uy quyền ấy là sự sống của Đức Chúa Trời; vì vậy khi chúng ta có sự sống này, chúng ta có uy quyền làm con cái của Đức Chúa Trời.

Khi chúng ta có sự sống của Đức Chúa Trời và trở nên con cái của Ngài, tự nhiên chúng ta có bản chất thần thượng (2 Phi. 1:4). Nếu chúng ta sống bởi sự sống này và bởi bản chất của sự sống này, chúng ta có thể trở nên giống Đức Chúa Trời và sống-bày-tỏ hình ảnh của Ngài.

Sự sống của Đức Chúa Trời trong chúng ta hành động như thế nào để làm cho chúng ta giống Ngài? Sự sống này hành động từ trung tâm ra đến vòng ngoài, hay từ linh đến hồn và rồi đến thân thể, hoàn thành sự lan rộng ra bên ngoài. Khi sự sống của Đức Chúa Trời vào trong chúng ta, trước hết là vào linh chúng ta, làm sống động linh đã chết của chúng ta, làm cho linh ấy sống động, tươi mới, mạnh mẽ, đầy sinh lực, có thể tiếp xúc với Đức Chúa Trời, cảm biết Đức Chúa Trời và có mối tương giao ngọt ngào với Ngài. Sau đó sự sống dần dần lan tràn từ linh chúng ta vào trong mỗi một phần của hồn chúng ta và làm cho tư tưởng, tình cảm và các quyết định của chúng ta dần dần trở nên giống như tư tưởng, tình cảm và các quyết định của Đức Chúa Trời, có hương vị của Đức Chúa Trời; ngay cả cơn giận của chúng ta cũng có điều gì đó giống Ngài, có hương vị của Ngài. Thật là một sự thay đổi kỳ diệu biết bao!

Hơn thế nữa, sự sống này sẽ liên tục hành động cho đến khi lan rộng sang thân thể chúng ta, để thân thể chúng ta cũng có yếu tố của sự sống. Đây là điều La Mã 8:11 nói đến: Linh của Đức Chúa Trời ở trong chúng ta làm sống động thân thể hay chết của chúng ta.

Sự sống của Đức Chúa Trời bên trong chúng ta sẽ hành động và lan rộng càng ngày càng hơn cho đến khi làm cho linh, hồn và thân thể chúng ta, hay cả con người chúng ta hoàn toàn đầy dẫy bản chất của Đức Chúa Trời, yếu tố của Ngài, hương vị hay tính chất của Ngài cho đến khi chúng ta được cất lên và biến hình; cho đến khi chúng ta bước vào vinh quang và trở nên hoàn toàn giống Ngài.

Sự sống của Đức Chúa Trời liên tục hành động và lan rộng trong chúng ta nhưng không phải cứ thẳng tiến mà chẳng màng gì đến chúng ta; trái lại sự sống này đòi hỏi xu hướng của tình cảm sự hợp tác của tâm trí và sự đầu phục của ý chí chúng ta. Nếu chúng ta từ chối không muốn sự sống hành động, không theo sát và hợp tác với sự sống, sự sống sẽ không có cách nào bày tỏ quyền năng hay chức năng của mình được. Bởi vì con người là một hữu thể sống có tình cảm, tâm trí và ý chí, nên việc họ có muốn hợp tác và có khả năng hợp tác hay không vẫn là một vấn đề. Vì lý do này, khi Đức Chúa Trời tái sinh chúng ta, không những Ngài ban sự sống cho chúng ta, Ngài còn ban cho chúng ta lòng mới và đặt linh mới trong chúng ta (Êxc. 36:26); để chúng ta vui lòng và có khả năng hợp tác với Ngài.

Tấm lòng liên quan đến sự vui lòng, sự thỏa thuận, trong khi linh là về vấn đề khả năng. Vì đã phản loạn với Đức Chúa Trời, tấm lòng nguyên thủy của chúng ta trở nên cứng cỏi và cũ kỹ; vì vậy, nó được gọi là “lòng bằng đá” hay “lòng cũ”. Tấm lòng cũ kỹ này chống nghịch Đức Chúa Trời, không muốn chính Ngài và không bằng lòng hợp tác với Ngài. Bây giờ Đức Chúa Trời ban cho chúng ta một tấm lòng mới. Không phải Ngài ban cho chúng ta một tấm lòng khác thêm vào tấm lòng cũ, mà qua sự tái sinh bởi Thánh Linh, Ngài làm mềm mại tấm lòng bằng đá để nó trở nên “tấm lòng bằng thịt”, như thế Ngài biến đổi nó thành một tấm lòng mới. Tấm lòng này hướng về Đức Chúa Trời, yêu thích Ngài và những điều thuộc về Ngài. Đây là một cơ quan mới để hướng về Đức Chúa Trời và yêu mến Ngài, làm cho chúng ta muốn cộng tác với Ngài và bằng lòng để sự sống của Ngài lan rộng và hành động một cách tự do từ trong ra ngoài.

Vì phân rẽ với Đức Chúa Trời, linh của chúng ta chết và trở nên cũ kỹ; vì vậy, nó được gọi là “linh cũ”. Vì linh cũ này mất khả năng tương giao và tiếp xúc với Đức Chúa Trời, tự nhiên nó không thể hợp tác với Ngài được. Bây giờ Đức Chúa Trời ban cho chúng ta một “linh mới”. Điều này không có nghĩa Ngài ban cho chúng ta một linh mới thêm vào linh cũ, mà qua sự tái sinh bởi Thánh Linh, Ngài làm cho linh chết của chúng ta trở nên một linh sống động, như vậy Ngài biến đổi nó thành một linh mới. Linh mới này có thể tương giao với Đức Chúa Trời, có khả năng hiểu Ngài và những điều thuộc linh. Đây là cơ quan mới để tiếp xúc với Đức Chúa Trời, làm cho chúng ta có khả năng hợp tác với Ngài, và qua sự tương giao với Ngài, linh này để cho sự sống của Đức Chúa Trời trong chúng ta lan rộng và hành động ra bên ngoài.

Với tấm lòng mới, chúng ta vui lòng hợp tác với Đức Chúa Trời, và với linh mới chúng ta có khả năng hợp tác với Ngài. Tuy nhiên tấm lòng mới và linh mới nhiều lắm thì cũng chỉ làm cho chúng ta có khả năng khao khát Đức Chúa Trời và tiếp xúc Ngài, và như vậy cho phép sự sống của Ngài tự do lan rộng và hành động ra bên ngoài, chứ không thể đáp ứng đòi hỏi vô tận của Đức Chúa Trời đối với chúng ta. Đòi hỏi ấy là chúng ta phải đạt đến tiêu chuẩn thần thượng của chính Đức Chúa Trời. Vì vậy khi Đức Chúa Trời tái sinh chúng ta, Ngài làm thêm một điều vinh hiển, vượt trỗi tất cả: Ngài đặt chính Linh Ngài, là Thánh Linh vào trong linh mới của chúng ta. Thánh Linh là hiện thân của Đấng Christ, và Đấng Christ là hiện thân của Đức Chúa Trời. Như vậy Thánh Linh vào trong chúng ta là Đức Chúa Trời Tam Nhất vào trong chúng ta. Bằng cách này, Đấng Tạo Hóa và loài thọ tạo liên hiệp với nhau. Điều này đáng được chúng ta khen ngợi! Hơn thế nữa, Linh của Đức Chúa Trời, Linh đời đời hay Linh vô tận có những khả năng vô hạn và sức mạnh vượt trên tất cả. Vì vậy khi Ngài cư ngụ trong linh mới của chúng ta, Ngài có thể dùng năng lực vô hạn của Ngài để xức dầu và cung ứng cho chúng ta để hành động và vận hành bên trong chúng ta; như vậy Ngài làm cho chúng ta đáp ứng được đòi hỏi vô hạn của Đức Chúa Trời đối với chúng ta, bởi đó cho phép sự sống của Đức Chúa Trời lan tràn liên tục từ linh qua hồn và vào trong thân thể chúng ta. Cuối cùng Ngài làm cho chúng ta đạt đến giai đoạn vinh hiển, hoàn toàn giống như Đức Chúa Trời! Ha-lê-lu-gia!

Ở đây một điều được bày tỏ rõ ràng cho chúng ta: phương cách giải cứu của Đức Chúa Trời và sự tự cải thiện của loài người trên căn bản đã khác nhau. Sự tự cải thiện của loài người chỉ là một công việc thực hiện dựa trên những gì họ có từ đầu, ấy là hồn và thân thể loài người với những khả năng của chúng. Cho dầu sự cải thiện có thành công chăng nữa, nó vẫn rất giới hạn vì năng lực con người có hạn. Nhưng với sự giải cứu của Đức Chúa Trời, dầu sự sống của Đức Chúa Trời tiến vào từ từ làm mới lại từng phần của hồn và cũng vào thân thể chúng ta, điểm quan trọng là Linh của Đức Chúa Trời đã đem sự sống của Đức Chúa Trời thêm vào linh chúng ta. Với năng lực thần thượng, vô hạn, linh chúng ta có thể đáp ứng mọi đòi hỏi vô hạn của Đức Chúa Trời một cách trọn vẹn. Đây là thêm vào, chứ không phải cải thiện. Nỗ lực cải thiện chỉ là sửa đổi những gì chúng ta đã có, đó là một điều giới hạn; nhưng thêm vào một điều gì của chính Đức Chúa Trời là một điều vô hạn.

Qua những gì chúng tôi vừa trình bày, chúng ta cần phải thấy cách rõ ràng sự tái sinh làm cho chúng ta nhận được sự sống của Đức Chúa Trời. Sự sống này chứa đựng một chức năng tự nhiên, và chức năng tự nhiên của sự sống là “luật sự sống”. Như vậy sự sống của Đức Chúa Trời là nguồn cội của luật sự sống, và sự tái sinh là khởi điểm của luật sự sống này. Mặc dầu luật sự sống ra từ sự sống của Đức Chúa Trời, nhưng nhờ sự tái sinh mà sự sống này vào trong chúng ta.

III. Ý NGHĨA CỦA LUẬT SỰ SỐNG

Nếu muốn biết ý nghĩa của luật sự sống, chúng ta cần phải biết luật là gì. Luật là một qui định thiên nhiên, là một nguyên tắc cố định, không thay đổi. Một luật không nhất thiết phải ra từ một loại sự sống, nhưng một sự sống thì chắc chắn phải có một luật đi kèm. Luật đi kèm theo sự sống được gọi là luật sự sống. Luật của một sự sống nào đó cũng là đặc tính thiên nhiên, chức năng bẩm sinh của sự sống ấy. Chẳng hạn như mèo có khả năng bắt chuột và chó có khả năng giữ nhà ban đêm; hoặc như tai chúng ta có thể nghe, mũi có thể ngửi, lưỡi có thể nếm, bao tử có thể tiêu hóa thức ăn. Tất cả những khả năng này là những đặc tính thiên nhiên và những chức năng bẩm sinh của một loại sự sống. Bất cứ khi nào một loại sự sống nào đó tồn tại và được tự do, nó có thể phát triển đặc tính và biểu lộ khả năng của nó một cách tự nhiên. Nó không cần sự dạy dỗ hay thúc giục của loài người; trái lại nó phát triển một cách rất tự nhiên, không phải cố gắng chút nào. Những đặc tính tự nhiên và những khả năng bẩm sinh của một loại sự sống tạo nên luật của sự sống ấy.

Sự sống của Đức Chúa Trời là sự sống cao cả nhất; đây là sự sống vượt trổi; vì vậy, các đặc tính và khả năng của sự sống này chắc chắn phải cao cả nhất và vượt trỗi mọi sự. Bởi vì những đặc tính cao cả nhất và những khả năng vượt trỗi này tạo nên luật sự sống của Đức Chúa Trời, đương nhiên luật này là luật cao cả nhất và vượt trỗi tất cả. Bởi vì đã nhận được sự sống của Đức Chúa Trời từ khi được tái sinh, chúng ta đương nhiên nhận được luật cao cả nhất và vượt trổi tất cả từ sự sống ấy.

Trong chương thứ nhất, Sự Sống là Gì?, chúng tôi đã nói chỉ có sự sống của Đức Chúa Trời mới là sự sống; vì vậy luật sự sống mà chúng ta đang nói đến đặc biệt chỉ về luật sự sống của Đức Chúa Trời.

Luật sự sống là luật Đức Chúa Trời đặc biệt ban cho chúng ta trong giao ước mới. Luật này rất khác với những luật lệ Đức Chúa Trời ban truyền tại Núi Si-nai. Trong thời Cựu Ước, Đức Chúa Trời ban luật thành văn được viết trên những bảng đá bên ngoài thân thể con người. Đó là luật bên ngoài, luật văn tự. Luật này đòi hỏi loài người những điều bên ngoài, từng điều luật một đòi hỏi họ phải làm điều này và không được làm điều kia. Nhưng không có kết quả gì cả; không người nào có thể giữ được những điều ấy. Mặc dầu luật pháp tốt lành nhưng loài người xấu xa và chết chóc không có năng lực sự sống để đáp ứng những đòi hỏi của luật ấy. Trái lại họ vấp ngã dưới sự định tội của luật ấy. La Mã 8:3 chỉ về điều này khi nói rằng: “Điều luật pháp không làm nổi, vì xác thịt làm cho nó ra yếu đuối...”

Trong thời Tân Ước, khi Đức Chúa Trời tái sinh chúng ta bởi Thánh Linh, Ngài đặt chính sự sống của Ngài, cùng với luật của sự sống này, vào trong chúng ta. Luật sự sống này là luật bên trong, là ân tứ đặc biệt mà Đức Chúa Trời ban cho chúng ta trong thời Tân Ước. Lời hứa của Đức Chúa Trời viết trong Cựu Ước được thành tựu qua điều này: “Ta sẽ đặt luật pháp ta vào những phần bên trong của họ” (Giê. 31:33).

Luật sự sống này được đặt bên trong chúng ta; vì vậy, về mặt vị trí đây là luật bề trong. Không như luật Cựu Ước là luật ở bên ngoài con người và vì vậy là luật bề ngoài. Hơn nữa luật sự sống này ra từ sự sống Đức Chúa Trời và thuộc về sự sống Đức Chúa Trời; vì vậy, theo bản chất đây là luật sự sống; vì lý do này, luật ấy có khả năng cung ứng. Không như luật Cựu Ước, là luật văn tự, chỉ có thể đòi hỏi mà không thể cung ứng. Luật sự sống này trong chúng ta, là luật có những đặc tính và những khả năng tự nhiên của sự sống Đức Chúa Trời, có thể điều khiển từng điều một của toàn bộ những gì chứa đựng trong sự sống Đức Chúa Trời tuôn ra bên ngoài một cách rất tự nhiên. Kết quả là sự điều khiển này thỏa đáp mọi đòi hỏi của luật bề ngoài của Đức Chúa Trời.

Chúng ta hãy dùng hai ví dụ sau để minh họa cách luật sự sống hành động. Hãy xem một cây đào đang héo. Giả sử chúng ta đặt ra vài luật lệ cho nó: “Ngươi phải trổ lá xanh, nở hoa đỏ và ra trái đào”. Chúng ta biết dầu chúng ta có truyền lệnh từ đầu năm đến cuối năm cũng hoàn toàn vô ích, vì cây đào này đã héo, nó không có sức sống để đáp ứng những đòi hỏi của các luật lệ bề ngoài. Tuy nhiên, nếu chúng ta có thể truyền đạt sự sống vào trong nó và làm cho nó sống lại, thì dầu chúng ta không ra lịnh từ bên ngoài, sự sống ấy cũng có khả năng tự nhiên làm cho cây ra lá, hoa và kết quả đúng mùa, ngay cả nó còn có thể kết quả vượt mức yêu cầu của luật bên ngoài ấy. Đây là chức năng của luật sự sống.

Bây giờ giả sử chúng ta đòi hỏi một người chết mà bảo rằng: “Anh nên thở; anh nên ăn; anh nên ngủ; anh nên cử động”. Chúng ta biết những đòi hỏi của các luật lệ bên ngoài không có hiệu lực gì trên người chết này; người ấy sẽ chẳng thực hiện được một điều nào cả. Tuy nhiên nếu chúng ta đặt sự sống phục sinh vào trong anh ta và làm cho anh sống lại, tự nhiên anh sẽ muốn thở, ăn, ngủ và cử động. Điều này tùy thuộc vào chức năng của luật sự sống.

Qua hai ví dụ này, chúng ta có thể thấy một cách rõ ràng, trước mặt Đức Chúa Trời, trọn cuộc sống thuộc linh của chúng ta không thể thực hiện được do nỗ lực riêng hay bởi sự tự cải thiện với tất cả sức cố gắng của chúng ta; trái lại đây là trách nhiệm của sự sống Đức Chúa Trời mà chúng ta đã tiếp nhận vào trong mình. Sự sống của Đức Chúa Trời cùng với luật của sự sống này cư ngụ trong linh chúng ta; nếu chúng ta sống và hành động theo luật sự sống này trong linh chúng ta, (một cách rất tự nhiên và từ bên trong), luật này sẽ điều khiển từng điều một của toàn bộ nội dung của sự sống của Đức Chúa Trời từ bên trong chúng ta tuôn ra ngoài một cách rất tự nhiên. Luật này tương ứng một cách rất tốt đẹp với những đòi hỏi của luật bên ngoài của Đức Chúa Trời, và ngay cả vượt trổi luật bên ngoài mà không có khuyết điểm nào cả. La Mã 8:4 nói về điều này: “Hầu cho sự công chính của luật pháp được thành tựu trong chúng ta, là kẻ chẳng bước theo xác thịt, nhưng theo Linh” (bản Anh ngữ King James Ver­sion).

Luật sự sống viết trên bảng lòng chúng ta được gọi là “luật của Linh sự sống” trong La Mã 8:2. Có nghĩa là luật này không những đến từ sự sống Đức Chúa Trời và thuộc về sự sống Đức Chúa Trời mà còn tùy thuộc vào Linh Đức Chúa Trời và thuộc về Linh Đức Chúa Trời. Lý do là vì sự sống Đức Chúa Trời tùy thuộc vào Linh Đức Chúa Trời, và Linh của Đức Chúa Trời cũng còn được gọi là sự sống Đức Chúa Trời. Khi nói về sự sống của Đức Chúa Trời, chúng ta nhấn mạnh đó chính là sự sống của Ngài; khi nói về Linh của Đức Chúa Trời, chúng ta nhấn mạnh đến Đấng thi hành sự sống của Đức Chúa Trời. Nói cách khác, sự sống của Đức Chúa Trời không phải là một thân vị, nhưng Linh của Ngài là một thân vị. Sự sống này không phải là một thân vị nhưng thuộc về Linh, là một thân vị. Sự sống này cũng không thể tách rời khỏi Linh, là một thân vị. Linh này là một thân vị đem sự sống của Đức Chúa Trời vào trong chúng ta mà sự sống này có một luật đi kèm, tức là luật sự sống hay luật của Linh sự sống. Luật này có nguồn là sự sống vĩnh cửu của Đức Chúa Trời, và luật này có Linh của Đức Chúa Trời tức là một thân vị có quyền năng lớn lao, là Đấng thi hành luật. Vậy thì luật của Linh sự sống có quyền năng đời đời và vô hạn để đáp ứng những đòi hỏi vô hạn của Đức Chúa Trời.

Như vậy chúng ta thấy luật Cựu Ước là luật văn tự viết trên bảng đá. Mặc dầu luật này đòi hỏi loài người rất nhiều, nhưng chẳng được kết quả gì. Luật của Tân Ước là luật sự sống viết trên bảng lòng. Mặc dầu luật này không đòi hỏi gì nơi chúng ta cả, nhưng cuối cùng luật này làm cho mọi sự phong phú của Đức Chúa Trời từ bên trong chúng ta tuôn ra bên ngoài một cách tự nhiên và như thế làm cho chúng ta dễ dàng đáp ứng những đòi hỏi của Đức Chúa Trời. Điều này thật kỳ diệu và đầy vinh quang! Đây là ân điển chính yếu mà Đức Chúa Trời ban cho chúng ta trong Giao Ước Mới! Chúng ta nên cảm tạ và ngợi khen Ngài biết dường nào!

IV. VỊ TRÍ CỦA LUẬT SỰ SỐNG

A. Nơi Luật Sự Sống Hành Động

Sự sống mà luật sự sống phát sinh từ đó là sự sống của Đức Chúa Trời. Khi chúng ta tiếp nhận sự sống này vào thời điểm tái sinh, sự sống này ở trong chúng ta, mặc dầu trọn vẹn về mặt hữu cơ, nhưng sự sống này vẫn chưa tăng trưởng và trưởng thành trong mỗi một phần của con người chúng ta. Sự sống này giống như trái kết trên cây. Khi trái vừa mới mọc ra trên cây, sự sống của trái dầu là trọn vẹn, cũng chỉ trọn vẹn về mặt hữu cơ. Để được trọn vẹn về mọi mặt, cần phải có thời gian để trái tăng trưởng và phát triển hoàn toàn. Cũng vậy, sự sống của Đức Chúa Trời mà chúng ta nhận được khi tái sinh chỉ trọn vẹn về mặt hữu cơ. Để đạt đến mức trưởng thành trọn vẹn, sự sống này phải lớn lên dần dần và trở nên hoàn toàn trong mỗi một phần của cả con người chúng ta. Sự phát triển và trưởng thành của sự sống này là do sự hành động của luật sự sống trong mỗi một phần của toàn con người chúng ta. Điều này bày tỏ mỗi một phần trong con người chúng ta đều là nơi sự sống hành động. Đây là điều Giê-rê-mi 31:33 muốn nói khi đề cập đến “các phần bên trong”.

B. Các Phần Bên Trong Và Các Loại Luật

Các phần bên trong của chúng ta là gì? Đây là các phần của linh, hồn và tấm lòng. Tấm lòng này không phải là trái tim theo sinh vật học, mà là tấm lòng theo tâm lý học. Bên trong con người chúng ta, linh và hồn là những phần độc lập, nhưng tấm lòng có một bản chất kết hợp. Theo những gì được ghi lại trong Kinh Thánh, ít nhất tấm lòng gồm có:

1. Tâm trí. Ví dụ: “Sao các ngươi suy nghĩ điều ác trong lòng vậy?” (Mat. 9:4), và “các tư tưởng của lòng” (Hê. 4:12).

2. Ý chí. Ví dụ: “vững lòng” (Công. 11:23), và “ý định của lòng” (Hê. 4:12).

3. Tình cảm. Ví dụ: “Lòng các ngươi chớ hề bối rối” (Gi. 14:1), “lòng các ngươi sẽ vui mừng” (Gi. 16:22).

4. Lương tâm. Ví dụ: “lòng được rưới sạch khỏi lương tâm xấu” (Hê. 10:22), và “vì nếu lòng chúng ta cáo trách mình” (1 Gi. 3:20).

Những câu Kinh Thánh tham khảo trên cho chúng ta thấy tấm lòng chứa đựng tâm trí, ý chí và tình cảm, là ba phần của hồn và lương tâm, mà lương tâm là một phần của linh. Đây là những thành phần cấu tạo của tấm lòng. Như vậy tấm lòng không những gồm có một phần của linh và tất cả các phần của hồn, mà còn thật sự liên kết linh và hồn với nhau.

Trong những phần khác nhau bên trong của chúng ta, trực giác và phần tương giao là các phần liên quan nhiều hơn đến Đức Chúa Trời và dành cho Đức Chúa Trời; còn phần lương tâm của linh, là phần có năng lực phân biệt điều đúng điều sai, liên quan nhiều hơn đến con người và dành cho con người. Tâm trí, ý chí, tình cảm ở trong hồn, tức là vị trí của nhân cách con người, là phần dành cho con người nhiều hơn và cũng có liên hệ về phía con người hơn. Bởi vì tấm lòng bao hàm tâm trí, tình cảm, ý chí và lương tâm, nên đây là phần tổng hợp, là phần kết hợp các phần bề trong khác nhau của con người lại với nhau. Chúng ta có thể kể tấm lòng là đại diện chính yếu của con người.

Luật sự sống bên trong chúng ta liên tục hoạt động trong những phần bề trong khác nhau này. Hoạt động của luật sự sống tiến đến đâu thì luật sự sống trở nên luật đến đó. Khi hoạt động của luật này tiến đến tâm trí, luật này sẽ trở nên luật của tâm trí. Khi hoạt động của luật này tiến đến ý chí, luật này sẽ trở nên luật của ý chí. Khi hoạt động của luật này tiến đến tình cảm, luật này sẽ trở nên luật của tình cảm. Khi hoạt động của luật này tiến đến lương tâm, luật này sẽ trở nên luật của lương tâm. Bằng cách này luật sự sống trở nên luật của mỗi một phần bên trong con người chúng ta. Như vậy, Hê-bơ-rơ 8:10 và 10:16 gọi luật này là “các luật”. “Các luật” này thật ra cũng chỉ là một luật bề trong, là luật sự sống hay là “luật” mà Đức Chúa Trời nói đến trong Giê-rê-mi 31:33; nhưng luật này được đặt trong những “phần” khác nhau bên trong chúng ta.

Trong Giê-rê-mi, luật sự sống được gọi là “luật”, trong khi trong Hê-bơ-rơ luật này được gọi là “các luật”. Nơi này dùng số ít, nơi kia dùng số nhiều. Bởi vì khi nói về chính luật ấy, thì chỉ có một luật vì thế mà luật này ở thể số ít. Nhưng khi nói đến hiệu lực hoạt động của luật này, vì luật sự sống biểu lộ những khả năng và chức năng khác nhau ở các phần khác nhau trong con người chúng ta, nên luật này là số nhiều. Cho dầu Giê-rê-mi gọi là “luật” [số ít] hay Hê-bơ-rơ gọi là “các luật” [số nhiều], cả hai đều chỉ về một luật mà thôi.

C. Mối Quan Hệ Giữa Tấm Lòng Và Luật Sự Sống

Chúng ta đã thấy các phần khác nhau bên trong chúng ta là nơi luật sự sống hành động. Trong các phần khác biệt này tấm lòng là chính yếu vì tấm lòng kết hợp các phần bên trong con người và là đại diện chính yếu của con người. Vậy nên tấm lòng có liên quan mật thiết với luật sự sống, là luật hành động ở các phần khác nhau bên trong chúng ta và do đó trở nên các luật khác nhau. Vì lý do này, chúng ta nên bàn chi tiết về tình trạng của tấm lòng.

1. Tấm Lòng Là Lối Ra Và Lối Vào Của Sự Sống

Chúng ta đã đề cập tấm lòng nối kết linh và hồn; như vậy tấm lòng ở giữa linh và hồn. Nếu sự sống phải vào trong linh, bắt buộc sự sống phải đi qua tấm lòng; nếu sự sống phải tuôn đổ từ linh, sự sống cũng phải tuôn chảy qua tấm lòng. Như vậy tấm lòng là đường mà sự sống phải đi qua. Có thể nói đây là lối vào và lối ra của sự sống. Chẳng hạn như khi một người nghe phúc âm của Chúa và cảm thấy đau đớn, buồn rầu về tội lỗi hay cảm thấy sự ngọt ngào của tình yêu của Đức Chúa Trời, tình cảm của lòng người ấy được đụng chạm, lương tâm anh buồn rầu, tâm trí anh ăn năn, và ý chí anh quyết định tin. Sau đó lòng anh mở ra cho Chúa, anh tiếp nhận sự cứu rỗi, và sự sống của Đức Chúa Trời vào trong linh anh. Ngược lại, nếu lòng anh không đồng ý và không mở ra, dầu anh em có giảng cho anh bao nhiêu đi nữa sự sống của Đức Chúa Trời vẫn không thể vào linh anh được. Vì lý do này mà ông Spurgeon, nhà truyền giáo vĩ đại người Anh từng nói, để có thể lay chuyển linh một người, chúng ta phải lay chuyển lòng người ấy trước. Câu nói này thật đúng; chỉ khi nào một tấm lòng bị lay chuyển, linh mới nhận được sự sống của Đức Chúa Trời.

Cũng vậy, sau khi một người được cứu, nếu sự sống của Đức Chúa Trời cần phải tuôn ra từ bên trong anh, sự sống ấy phải chảy qua lòng anh và phải được lòng anh cộng tác. Khi tấm lòng đồng ý, sự sống có thể chảy qua được. Nếu tấm lòng không đồng ý, sự sống không thể chảy qua. Đôi khi tấm lòng chỉ đồng ý một phần nào. Có thể chỉ có lương tâm đồng ý, còn các phần khác thì không. Hoặc chỉ có tâm trí của tấm lòng đồng ý, trong khi tình cảm thì không. Trong trường hợp này, sự sống không thể chảy qua. Như vậy, tấm lòng thật là lối vào và lối ra của sự sống. Sự sống được tiếp nhận bắt đầu từ tấm lòng như thế nào thì sự sống cũng được tuôn ra bắt đầu từ tấm lòng thể ấy.

2. Tấm Lòng Là Nút Điều Khiển Của Sự Sống

Tấm lòng là lối vào và lối ra của sự sống; sự vào ra của sự sống đều tùy thuộc vào tấm lòng. Hơn nữa tấm lòng là nút điều khiển sự sống. Nếu tấm lòng đóng lại, sự sống không thể vào cũng không thể ra. Tuy nhiên, nếu tấm lòng mở ra, sự sống có thể vào ra tự do. Bất cứ phần nào của tấm lòng đóng lại, sự sống của Đức Chúa Trời không thể nào điều chỉnh phần đó được. Bất cứ phần nào của lòng mở ra, sự sống của Đức Chúa Trời có thể điều chỉnh phần đó. Như vậy tấm lòng thật là nút điều khiển sự sống. Mặc dầu sự sống có quyền năng lớn lao, sự sống ấy vẫn bị kiểm chế bởi tấm lòng nhỏ bé của chúng ta. Sự sống có thể hành động hay không hoàn toàn tùy thuộc vào sự mở ra của tấm lòng. Cũng giống như điện năng tại một sở điện lực. Dầu rất mạnh mẽ nó vẫn bị kiểm chế bởi một nút điều khiển nhỏ bé nhờ đó cung cấp ánh sáng trong phòng chúng ta, nếu công tắc không mở, điện không thể vào được.

Dĩ nhiên điều này không có nghĩa là một tấm lòng đúng đắn là đã đủ. Tấm lòng chỉ có thể làm cho chúng ta yêu Đức Chúa Trời và hướng về Đức Chúa Trời, chứ không thể làm cho chúng ta tiếp xúc với Ngài và tương giao với Ngài được. Chỉ có linh mới có thể khiến chúng ta tiếp xúc với Đức Chúa Trời và tương giao với Ngài mà thôi. Đây là lý do vì sao nhiều anh chị em dầu rất yêu Chúa, vẫn không thể tiếp xúc với Ngài trong sự cầu nguyện. Họ có tấm lòng nhưng lại không sử dụng linh. Nhiều nhà phục hưng đã thất bại trong công tác cũng vì lý do này. Họ chỉ lay động tình cảm con người, khuấy động ý chí con người và làm cho người ta yêu Chúa, khao khát Chúa, nhưng không hướng dẫn họ vận dụng linh để tương giao với Ngài.

Dĩ nhiên để có thể hiểu được những điều thuộc linh, chúng ta cần sử dụng tâm trí của tấm lòng. Tuy nhiên, trước hết chúng ta phải sử dụng linh để tiếp xúc những điều này, vì linh là cơ quan tiếp xúc với thế giới thuộc linh. Trước hết chúng ta phải tiếp xúc mọi điều thuộc linh bằng linh của mình, rồi thông hiểu và am tường bằng tâm trí của tấm lòng. Cũng giống như nghe âm thanh: chúng ta tiếp xúc với âm thanh bằng tai và rồi hiểu âm thanh bằng tâm trí. Hoặc cũng như chúng ta nhìn một mầu sắc nào đó: chúng ta tiếp xúc bằng mắt và rồi nhận biết bằng tâm trí. Vì vậy, khi rao giảng phúc âm, nếu linh chúng ta suy yếu, chúng ta chỉ có thể dùng lời nói để người ta thông hiểu và am hiểu bằng tâm trí; về sau chúng ta mới dẫn dắt họ tiếp xúc Linh. Tuy nhiên, khi linh mình mạnh mẽ, chúng ta có thể dùng lời phúc âm để trực tiếp đưa sự cứu rỗi vào trong linh người ta. Ngay khi người ta nghe phúc âm, họ đụng chạm linh và được cứu. Sau đó chúng ta sẽ dần dần dẫn tâm trí họ đến chỗ am hiểu tường tận.

Mặc dầu vận dụng linh là chức năng chính yếu trong sự tiếp xúc với Đức Chúa Trời và những điều thuộc linh, nhưng nếu lòng con người thờ ơ, linh sẽ bị giam cầm bên trong và không thể bày tỏ khả năng của mình. Mặc dầu Đức Chúa Trời muốn, Ngài cũng không thể tương giao và tiếp xúc với con người được. Vì vậy, để có thể tiếp xúc Đức Chúa Trời và những điều thuộc linh chúng ta cần vận dụng linh, và chúng ta cũng cần một tấm lòng hướng về Chúa. Linh là cơ quan tiếp xúc sự sống của Đức Chúa Trời, và tấm lòng là bí quyết, là chìa khóa, là vị trí chiến lược cho phép sự sống của Đức Chúa Trời tuôn chảy qua.

3. Tấm Lòng Có Thể Ngăn Cản Sự Hành Động Của Sự Sống

Bởi vì tấm lòng là lối vào và lối ra của sự sống và cũng là “công tắc” của sự sống, tấm lòng có ảnh hưởng lớn lao trên sự sống; một nan đề nhỏ nhất của tấm lòng cũng có thể hoàn toàn ngăn trở sự hành động của sự sống. Khi bất cứ phần nào của tấm lòng có vấn đề, sự sống sẽ bị ngăn cản và lâm vào tình trạng ứ đọng tại đó, và luật sự sống không thể thi hành chức năng điều chỉnh được nữa.

Sự sống của Đức Chúa Trời bên trong chúng ta cần phải được tự do hoạt động và tăng trưởng, làm cho chúng ta hằng ngày nhận được sự khải thị và thường xuyên nhận được ánh sáng. Đây là tình trạng bình thường và đúng đắn. Nhưng thật ra, chúng ta thường không được như vậy. Nhiều anh chị em có sự sống thuộc linh không lớn lên và tình trạng thuộc linh không bình thường. Không phải vì sự sống của Đức Chúa Trời trong họ không thực, cũng không phải vì họ có nan đề gì với sự sống Đức Chúa Trời bên trong nhưng ấy là vì họ có điều rắc rối trong lòng. Tấm lòng họ không hướng về Chúa đúng mức, không yêu Chúa đủ, không tìm kiếm Chúa đủ, không tinh sạch đủ và không mở ra đủ. Điều này bày tỏ tấm lòng có trục trặc, có rắc rối, hoặc có nan đề trong lương tâm; lương tâm cảm biết có sự lên án mà không chịu điều chỉnh; hoặc có vấn đề trong tâm trí, liên hệ đến vài mối lo lắng, quan tâm, tư tưởng gian ác, tranh cãi, nghi ngờ nào đó v.v... hoặc ý chí có vấn đề vì ương ngạnh, cứng cổ, hoặc tình cảm có vấn đề với những ao ước thuộc xác thịt và xu hướng thiên nhiên. Tất cả những vấn đề này trong tấm lòng trở thành một chướng ngại ngăn cản sự sống hành động trong chúng ta, làm cho luật sự sống không thể điều khiển được. Vì vậy, nếu mong muốn tăng trưởng trong sự sống, trước hết chúng ta cần điều chỉnh lòng mình, và sau đó vận dụng linh. Nếu không điều chỉnh tấm lòng, đề cập đến linh chỉ là vô ích. Nan đề của nhiều anh chị em không phải ở linh, mà là ở tấm lòng. Nếu tấm lòng không đúng đắn, sự sống trong linh bị ngăn trở, và luật sự sống không thể hành động tự do. Nếu chúng ta ao ước tìm kiếm sự sống và bước đi trên con đường sự sống, chúng ta cần có một tấm lòng không có vấn đề; khi ấy, luật của sự sống mới có thể hành động tự do và chuyển động mà không bị ngăn trở, bởi đó có thể tiến vào mọi phần của cả con người chúng ta.

4. Làm Thế Nào Để Điều Chỉnh Tấm Lòng

Bởi vì tấm lòng vô cùng quan trọng trong mối liên hệ với sự sống, Đức Chúa Trời không có cách nào khác hơn là phải xử lý tấm lòng chúng ta để sự sống của Ngài có thể từ chúng ta mà tuôn chảy ra ngoài. Đối với Đức Chúa Trời, lòng chúng ta có bốn nan đề lớn: cứng cỏi, bất khiết, không yêu thương, không bình an. Cứng cỏi là vấn đề của ý chí, bất khiết không những là vấn đề tâm trí mà còn là vấn đề tình cảm, không yêu thương là vấn đề tình cảm, và bất an là vấn đề lương tâm. Khi Đức Chúa Trời xử lý tấm lòng của chúng ta, Ngài xử lý bốn phương diện này để lòng chúng ta mềm mại, thuần khiết, yêu thương và bình an.

Trước hết, Đức Chúa Trời muốn lòng chúng ta mềm mại. Mềm mại nghĩa là ý chí của tấm lòng đối với Chúa phải đầu phục và nhượng bộ, không cứng cổ và phản loạn. Khi xử lý lòng chúng ta để nó trở nên mềm mại, Ngài lấy lòng bằng đá khỏi xác thịt chúng ta và ban cho chúng ta lòng bằng thịt (Êxc. 36:26). Nghĩa là Ngài làm mềm mại tấm lòng cứng cỏi bằng đá của chúng ta, để nó trở nên tấm lòng mềm mại bằng thịt.

Khi mới được cứu, lòng chúng ta luôn luôn mềm mại. Nhưng sau một thời gian, lòng chúng ta hơi thối lui và lại cứng cỏi trở lại. Không còn đầu phục Chúa, ngay cả không còn kính sợ Ngài, dần dần lòng chúng ta xa khỏi sự hiện diện của Ngài. Bất cứ khi nào lòng mình cứng cỏi, chúng ta đang có nan đề trước măt Chúa. Nếu chúng ta ao ước một tình trạnh thuộc linh đúng đắn trước mặt Chúa, lòng chúng ta không được cứng cỏi; trái lại nó phải luôn mềm mại. Thật vậy chúng ta không nên sợ điều này điều kia mà chỉ nên sợ mình xúc phạm đến Đức Chúa Trời. Đừng sợ trời, cũng đừng sợ đất; chỉ sợ xúc phạm đến Đức Chúa Trời. Lòng chúng ta cần được điều chỉnh cho đến khi nó mềm mại đến mức như vậy mới là tốt. Thật đáng buồn khi nhiều anh chị em mềm mại trong nhiều điều, nhưng khi đề cập đến Đức Chúa Trời và ý muốn của Đức Chúa Trời thì lòng họ cứng lại. Thậm chí họ còn nói: “Tôi là vậy đó; để xem Đức Chúa Trời phản ứng ra sao”. Thật là kinh khủng! Cũng có những anh chị em cứng cỏi đối với mọi sự nhưng khi đề cập đến Đức Chúa Trời và ý muốn của Ngài, thì lòng họ mềm mại. Đó là những người có lòng mềm mại. Chúng ta nên xin Đức Chúa Trời làm cho lòng chúng ta mềm mại như vậy.

Đức Chúa Trời làm cho lòng chúng ta mềm mại bằng cách nào? Ngài làm sao cho lòng chúng ta mềm mại? Đôi khi Ngài dùng tình yêu để cảm động chúng ta, đôi khi Ngài dùng sự sửa phạt để đánh chúng ta. Đức Chúa Trời thường dùng tình yêu để cảm động chúng ta trước; nếu tình yêu không thể cảm động chúng ta, Ngài sẽ đưa tay ra, dùng hoàn cảnh để đánh đòn chúng ta cho đến khi lòng chúng ta mềm mại. Một khi lòng chúng ta đã mềm mại, sự sống Ngài có thể hành động hay ban phát vào trong chúng ta.

Thứ hai, Ngài muốn lòng chúng ta thuần khiết. Một tấm lòng thuần khiết là một tấm lòng đặt tâm trí của mình đặc biệt trên Đức Chúa Trời. Đây cũng là tấm lòng có tình cảm cực kỳ tinh khiết và đơn thuần hướng về Đức Chúa Trời (Xin xem 2 Cô. 11:3). Tấm lòng này chỉ yêu Chúa và ước muốn Ngài; ngoài Chúa, lòng này chẳng có tình yêu nào, xu hướng nào hay ao ước một điều nào khác. Ma-thi-ơ 5:8 nói: “lòng thuần khiết... sẽ thấy Chúa”. Như vậy, nếu lòng không thuần khiết, chúng ta sẽ không thấy Chúa được. Nếu tư tưởng chúng ta chỉ hướng về những điều ngoài Đức Chúa Trời một chút, hoặc nếu tình cảm của lòng chúng ta chỉ yêu những điều ngoài Đức Chúa Trời một chút, thì lòng chúng ta không còn thuần khiết nữa; sự sống trong linh chúng ta cũng bị cản trở vì những điều này. Vì vậy chúng ta phải tìm kiếm sự “hiệp với kẻ lấy lòng thuần khiết kêu cầu Chúa” (2 Ti. 2:22), và hãy là những người yêu Chúa, muốn Đức Chúa Trời với một tấm lòng thuần khiết; khi ấy chúng ta có thể để sự sống của Đức Chúa Trời hành động tự do trong chúng ta.

Thứ ba, Đức Chúa Trời muốn chúng ta có tấm lòng yêu thương. Một tấm lòng yêu thương là một tấm lòng mà tình cảm của tấm lòng ấy yêu Chúa, muốn Chúa, khao khát Chúa, mong mỏi Ngài, trìu mến Ngài. Trong Kinh Thánh, có một sách đặc biệt nói về tình yêu của các thánh đồ đối với Chúa, đó là sách Nhã Ca trong Cựu Ước. Sách này nói: là con dân của Chúa, chúng ta nên yêu Ngài như một người nữ yêu quí người yêu của mình. Tình yêu này sâu xa, không đổi thay và mạnh hơn sự chết (8:6-7). Bởi vì tác phẩm này đặc biệt nói về tình yêu của chúng ta đối với Chúa, nên cũng đặc biệt bày tỏ sự tăng trưởng của chúng ta trong sự sống của Chúa. Trong Tân Ước, Giăng chương 21, Chúa hỏi Phi-e-rơ ba lần: “Ngươi yêu ta chăng?” nghĩa là Chúa mong muốn hướng dẫn tình cảm của Phi-e-rơ để ông trở nên một người có tấm lòng yêu Chúa. Chúa làm điều này vì Ngài muốn Phi-e-rơ để cho sự sống của Ngài có cơ hội hành động và lớn lên trong ông. Sự kiện này được ghi lại trong sách Phúc âm Giăng, là sách nói về cách chúng ta có thể tiếp nhận Chúa là sự sống và làm thế nào để sống trong sự sống này. Nếu lòng chúng ta có một tình yêu như vậy đối với Chúa, sự sống của Ngài trong chúng ta có thể chuyển động một cách thông suốt và hành động như ý muốn.

Thứ tư, Đức Chúa Trời muốn lòng chúng ta bình an. Tấm lòng bình an là tấm lòng có một lương tâm không kiện cáo (Công. 24:16), không bị định tội hoặc bị quở trách; lương tâm này yên ổn và an toàn. Lương tâm ở trong chúng ta đại diện cho Đức Chúa Trời cai trị chúng ta. Nếu lương tâm định tội chúng ta, Đức Chúa Trời còn lớn hơn lương tâm và Ngài biết tất cả mọi điều (1 Gi. 3:20). Vì thế chúng ta phải giải quyết mọi lầm lỗi, mọi sự định tội hay sự quở trách để “lòng chúng ta sẽ được yên ổn ở trước mặt Ngài” (1 Gi. 3:19). Như vậy khi lòng chúng ta bình an, Đức Chúa Trời có thể xuyên suốt, và luật sự sống của Ngài có thể hành động trong chúng ta.

Nếu lòng chúng ta mềm mại, thuần khiết, yêu thương và bình an, thì ấy là một tấm lòng đúng đắn. Chỉ có một tấm lòng đúng đắn như vậy mới là một đối tượng xứng hợp với luật sự sống. Tấm lòng ấy có thể để cho sự sống của Đức Chúa Trời tuôn chảy tự do từ bên trong chúng ta ra ngoài. Đối với Chúa, lòng chúng ta dường như thường mang bảng hiệu: “Đường không thông”. Vì vậy, chúng ta làm cho Đức Chúa Trời không thể xuyên suốt qua mình được; chúng ta làm cho sự sống của Ngài bị ngăn trở, dừng lại, và rồi sự sống của Ngài không thể hành động và lan tràn từ bên trong ra bên ngoài chúng ta được.

Mặc dầu đây không phải là những lời hùng biện và khôn ngoan, nhưng chúng giúp chúng ta xem xét cẩn thận, mọi tình trạng của tấm lòng mình, giống như đi khám sức khỏe. Chúng ta phải tự hỏi: Ý chí của lòng tôi có thật sự lựa chọn Đức Chúa Trời không? Ý chí của tôi có thuận phục và đầu phục trước mặt Ngài không? Hay nó rất cứng cỏi và phản loạn? Chúng ta cũng nên hỏi: “Tâm trí của lòng tôi có thuần khiết trước mặt Ngài không? Hay nó cong quẹo? Tư tưởng của chúng ta, những mối quan tâm của mình có thuần khiết dành cho chính Ngài không? Ngoài Đức Chúa Trời ra, có một người nào, một vấn đề nào, hay một vật nào mà chúng ta quan tâm đến cách sâu xa và đã chiếm hết tấm lòng của mình không? Kế đến chúng ta cần hỏi: Tình cảm của lòng chúng ta có dành riêng cho Chúa không? Lòng chúng ta có hoàn toàn yêu Chúa và muốn Ngài không? Hay chúng ta có một tình yêu nào khác, một khuynh hướng nào khác, và lòng chúng ta gắn bó với một điều nào ngoài Chúa? Chúng ta cũng nên hỏi: Lương tâm chúng ta trước mặt Chúa ra sao? Có không bị cáo trách chăng? Có yên ổn chăng? Hay đang bị lên án và cáo trách? Chúng ta nên xem xét mọi chi tiết này và giải quyết một cách cẩn thận, để lòng mình trở nên mềm mại, thuần khiết, yêu thương và bình an, nói cách khác ấy là một tấm lòng ngay thẳng. Nếu như vậy, sự sống trong chúng ta chắc chắn sẽ có một lối để tuôn tràn ra và luật sự sống chắc chắn sẽ từ bên trong chúng ta mà phát ra ngoài.

Như vậy, bất cứ phần nào của lòng chúng ta một khi đã được điều chỉnh, tại đó sự sống của Đức Chúa Trời có thể hành động, và luật của linh có thể hoạt động. Khi mọi phần của chúng ta đã được xem xét và xử lý, luật sự sống của Đức Chúa Trời khi ấy sẽ điều chỉnh từ linh chúng ta mà tuôn chảy ra ngoài, qua lòng chúng ta, đến mọi phần của con người mình. Vì lý do này mỗi phần của con người chúng ta có thể bày tỏ khả năng của luật sự sống và được đầy dẫy mọi yếu tố của sự sống Đức Chúa Trời, bởi đó đạt đến sự kết thúc vinh hiển của sự hiệp nhất giữa Đức Chúa Trời và loài người.

V. NHỮNG ĐÒI HỎI CỦA LUẬT SỰ SỐNG

Vì đã thấy vị trí của luật sự sống, chúng ta biết luật này hành động trong những phần khác nhau của cả con người bên trong của chúng ta. Tuy nhiên, trong sự thực hành nếu muốn luật sự sống hành động một cách tự do ở những phần khác nhau bên trong, chúng ta phải thỏa đáp hai điều kiện:

A. Yêu Đức Chúa Trời

Điều kiện thứ nhất là phải yêu Đức Chúa Trời. Phúc âm Giăng đặc biệt nói về sự sống và cũng nhấn mạnh về niềm tin và tình yêu. Tin là nhận sự sống vào, trong khi yêu thương là tuôn sự sống ra. Nếu muốn nhận sự sống, chúng ta phải tin. Nếu muốn sống tuôn tràn sự sống, chúng ta phải yêu thương. Chỉ có niềm tin mới có thể để cho sự sống chảy vào, và chỉ có tình yêu mới cho phép sự sống tuôn ra. Vì vậy tình yêu là điều kiện cần thiết để luật sự sống có khả năng hành động.

Ở một nơi khác, chúng ta thấy Kinh Thánh muốn chúng ta yêu thương Đức Chúa Trời hết lòng, hết cả hồn, hết tâm trí và với trọn cả sức lực của chúng ta (Mác 12:30). Khi chúng ta yêu Đức Chúa Trời đến mức độ để tình yêu của chúng ta đối với Ngài đụng đến mọi phần bên trong mình thì lúc ấy sự sống của Ngài mới có thể bắt đầu hoạt động, qui định và điều chỉnh đúng mức trong những phần này bên trong chúng ta. Như vậy những phần này sẽ dần dần trở nên giống Đức Chúa Trời.

Vì vậy, trước hết Đức Chúa Trời gieo sự sống của Ngài vào trong chúng ta; kế đến Ngài dùng tình yêu của Ngài lay động tình cảm của lòng chúng ta, làm cho lòng chúng ta yêu Ngài, quay về Ngài, trở nên gắn bó với Ngài. Bằng cách này cái màn bên trong chúng ta bị cất khỏi (xin xem 2 Cô. 3:16), và chúng ta có thể thấy ánh sáng, nhận được sự khải thị, nhận biết Đức Chúa Trời và sự sống của Ngài. Hơn nữa, khi chúng ta yêu Đức Chúa Trời với cả tấm lòng, tự nhiên chúng ta muốn đầu phục Ngài và hợp tác với Ngài. Bằng cách này chúng ta để cho luật sự sống của Đức Chúa Trời tự do hành động bên trong chúng ta và cung ứng tất cả sự phong phú của sự sống Đức Chúa Trời cho mỗi một phần của cả con người chúng ta. Phần nào đầy dẫy tình yêu của Đức Chúa Trời, phần ấy có luật của linh sự sống điều chỉnh. Nếu toàn bản thể chúng ta yêu Chúa, luật sự sống của Đức Chúa Trời khi ấy sẽ hành động xuyên suốt cả con người chúng ta. Khi ấy, toàn bản thể chúng ta từ trong ra ngoài sẽ trở nên giống Đức Chúa Trời và được đầy dẫy sự phong phú của sự sống Ngài.

B. Vâng Phục Cảm Nhận Đầu Tiên Của Sự Sống

Đòi hỏi thứ hai là vâng phục cảm nhận đầu tiên của sự sống. Trong chương bảy, Cảm Nhận Của Linh Và Việc Hiểu Biết Linh, chúng ta đã đề cập luật sự sống thuộc về cảm thức, làm cho chúng ta có được cảm nhận. Ngay khi chúng ta được sinh lại và có sự sống của Đức Chúa Trời, luật sự sống bên trong chúng ta chắc chắn làm cho chúng ta có một cảm thức nào đó. Trách nhiệm của chúng ta là vâng phục cảm nhận của luật sự sống, và như vậy để cho luật này tự do hành động trong chúng ta.

Tuy nhiên, lúc đầu cảm thức của chúng ta về luật sự sống có thể tương đối yếu ớt và không thường xuyên. Tuy nhiên nếu chúng ta sẵn lòng vâng phục cảm nhận đầu tiên, mặc dầu cảm nhận này tương đối còn yếu ớt, những cảm thức sau đó sẽ càng ngày càng mạnh mẽ hơn. Chúng ta chỉ phải bắt đầu vâng phục cảm thức yếu ớt đầu tiên này và tiếp tục vâng phục. Bằng cách này luật sự sống sẽ liên tục hành động trong chúng ta cho đến khi đụng đến mọi phần khác nhau của cả con người chúng ta. Như vậy sự sống bên trong chúng ta sẽ có khả năng lan tỏa ra bên ngoài một cách tự nhiên và gia tăng về bề sâu lẫn bề cao.

Có lẽ có anh em sẽ hỏi: Sau khi vâng phục cảm thức đầu tiên, chúng ta phải làm gì tiếp theo? Câu trả lời của chúng tôi là: Trước khi vâng phục cảm nhận đầu tiên, chúng ta đừng bận tâm về những gì mình sẽ làm sau đó. Đức Chúa Trời chỉ ban cho chúng ta từng cảm thức một mà thôi, cũng như Ngài chỉ ban cho chúng ta từng ngày một. Chúng ta sống từng ngày thế nào thì cũng hãy vâng phục từng cảm nhận một y như vậy. Khi Đức Chúa Trời ban cho chúng ta một cảm thức, hãy đơn sơ vâng theo cảm thức ấy. Khi chúng ta đã vâng phục cảm thức đầu tiên, Đức Chúa Trời tự nhiên sẽ ban cho chúng ta cảm thức thứ hai. Khi Đức Chúa Trời gọi Áp-ra-ham, Ngài chỉ phán với ông về bước đầu tiên: “Ngươi hãy ra khỏi quê hương, vòng bà con và nhà cha ngươi”. Sau khi ông ra đi, những gì ông phải làm và nơi nào ông phải đến mới được bày tỏ cho ông. Ngài phán: “Ta sẽ chỉ cho” (Sáng. 12:1). Khi Chúa Jesus ra đời và vua Hê-rốt tìm cách giết Ngài, Đức Chúa Trời chỉ dặn bảo Giô-sép bước đầu tiên, là chạy trốn qua Ai Cập; ông phải ở đó cho đến khi Ngài ban lời cho ông về bước kế tiếp (Mat. 2:13).

Điều này cho chúng ta thấy lý do Đức Chúa Trời chỉ ban cho chúng ta từng cảm thức một là vì Ngài muốn chúng ta ngưỡng trông Ngài từng bước và lệ thuộc Ngài từng giây phút, do đó phải thuận phục Ngài. Như vậy cảm nhận về luật sự sống có cùng nguyên tắc như cây sự sống: nguyên tắc lệ thuộc. Nguyên tắc này làm cho chúng ta lệ thuộc Ngài, nương cậy Ngài là Đấng ban cho chúng ta từng cảm nhận một. Chúng ta không những lệ thuộc Ngài một lần là đủ, mà phải lệ thuộc Ngài liên tục. Trái lại nguyên tắc về cây kiến thức về thiện và ác là độc lập với Đức Chúa Trời. Như vậy những ai muốn sống theo luật sự sống phải xem trọng và vâng phục cảm nhận đầu tiên rồi sau đó cứ tiếp tục vâng phục.

Luật sự sống đôi khi cũng cho chúng ta những cảm giác tiêu cực. Tức là khi chúng ta làm một điều gì nghịch lại Chúa, không phù hợp với sự sống của Ngài, luật sự sống sẽ làm cho chúng ta cảm thấy bất ổn và không an ninh, và cảm nhận sự chết. Đây là cảm biết Đức Chúa Trời “cấm” và “không cho” bên trong chúng ta (Công. 16:6, 7). Bất kể chúng ta muốn làm gì hoặc đang làm gì, ngay khi cảm thấy bị ngăn trở từ bên trong, chúng ta nên dừng lại. Nếu chúng ta biết chuyển động hay dừng lại theo cảm thức về luật sự sống bên trong, khi ấy, luật sự sống có thể hành động trong chúng ta mà không bị ngăn trở; sự sống trong chúng ta có thể tăng trưởng và phát triển không ngừng. Vì vậy, vâng phục cảm thức về luật sự sống, đặc biệt là cảm thức đầu tiên cũng là một điều kiện rất quan trọng để luật sự sống hành động trong chúng ta. Trong Phi-líp chương hai, lý do vị sứ đồ muốn chúng ta vâng phục với lòng run rẩy sợ sệt là để Đức Chúa Trời có thể hành động trong chúng ta (cc. 12-13). Sự hành động của Đức Chúa Trời bên trong chúng ta đòi hỏi chúng ta cộng tác bằng cách vâng phục; vì vậy sự vâng phục của chúng ta là một đòi hỏi bắt buộc để Đức Chúa Trời có thể hành động.

VI. CHỨC NĂNG CỦA LUẬT SỰ SỐNG

Chúng ta đã thấy yêu thương và vâng phục là hai đòi hỏi để luật sự sống có thể hành động. Đây cũng là hai trách nhiệm của chúng ta đối với luật sự sống. Nếu chúng ta có khả năng yêu thương và sẵn lòng vâng lời, luật sự sống có thể tự phát mà hành động trong những phần khác nhau bên trong chúng ta và bày tỏ ra chức năng tự nhiên của luật này.

Luật sự sống có hai loại chức năng. Một là cất bỏ hoặc giết chết, hai là thêm vào hoặc cung ứng. Một mặt, luật sự sống cất bỏ những gì chúng ta không nên có; mặt khác, luật ấy thêm vào những gì chúng ta nên có. Những gì phải cất bỏ là yếu tố của A-đam trong chúng ta, và những gì phải thêm vào là yếu tố của Đấng Christ như là Linh ban-sự-sống. Những gì cũ kỹ phải cất bỏ và những gì tươi mới phải thêm vào. Những gì phải cất bỏ là chết chóc và những gì phải thêm vào là sống động. Khi hành động trong chúng ta, luật sự sống bày tỏ hai loại chức năng: một là loại bỏ dần dần tất cả những gì thuộc cõi sáng tạo cũ của chúng ta, và hai là dần dần cung ứng những gì thuộc cõi sáng tạo mới của Đức Chúa Trời. Bằng cách ấy sự sống trong chúng ta dần dần lớn lên.

Lý do luật sự sống trong chúng ta có thể có hai loại chức năng là vì sự sống mà từ đó luật này phát sinh có hai yếu tố đặc biệt: một là yếu tố của sự chết, hai là yếu tố của sự sống. Yếu tố sự chết là sự chết kỳ diệu của Chúa Jesus trên thập tự giá, sự chết ấy bao hàm tất cả và kết liễu tất cả. Yếu tố sự sống là sự phục sinh của Chúa Jesus hay sự sống của năng quyền phục sinh của Chúa; vì vậy cũng được gọi là yếu tố phục sinh.

Chức năng có khả năng tiêu trừ ở trong luật sự sống thì đến từ yếu tố của sự chết bao-hàm-tất-cả của Chúa, mà yếu tố này được chứa đựng trong sự sống. Vì vậy, như sự chết của Chúa trên thập tự giá tiêu trừ mọi trở ngại mà Đức Chúa Trời tìm thấy trong con người thì tương tự như vậy, ngày nay, qua sự hành động của luật sự sống, sự chết của Ngài cũng đang được thực hiện trong chúng ta. Sự chết này tiêu trừ và lần lượt loại bỏ từng điều một tất cả những gì không phù hợp với Đức Chúa Trời và ở ngoài Ngài, chẳng hạn như những yếu tố của tội lỗi, thế gian, xác thịt, tham dục, yếu tố của cõi sáng tạo cũ và yếu tố ra từ cấu tạo thiên nhiên của con người. Chức năng “có khả năng cộng thêm vào” ở trong luật sự sống thì ra từ yếu tố của sự phục sinh của Chúa được bao hàm trong sự sống. Vì vậy, như sự phục sinh của Chúa đã đem loài người vào trong Đức Chúa Trời khiến họ có khả năng tham dự vào tất cả những gì của chính Ngài, thì cũng như vậy, ngày nay, qua sự hành động của luật sự sống, sự phục sinh của Ngài cũng đang được áp dụng trong chúng ta. Điều này có nghĩa là sự phục sinh của Ngài ban phát và cung ứng cho chúng ta quyền năng của Đức Chúa Trời, sự thánh khiết, tình yêu, sự kiên nhẫn và mọi yếu tố của Đức Chúa Trời hay những yếu tố của cõi sáng tạo mới để chúng ta được đầy dẫy mọi sự đầy đủ của Đức Chúa Trời Tam Nhất.

Điều này tương tự như thuốc men mà chúng ta uống, một vài loại thuốc chứa đựng hai yếu tố: yếu tố hủy diệt vi trùng và yếu tố nuôi dưỡng. Chức năng của yếu tố hủy diệt loại trừ bệnh tật mà chúng ta không nên có còn chức năng của yếu tố nuôi dưỡng cung ứng những yếu tố sự sống mà chúng ta cần.

Cũng giống như máu trong cơ thể chúng ta chứa đựng hai loại yếu tố: hồng huyết cầu và bạch huyết cầu. Bạch huyết cầu có chức năng diệt trùng và hồng huyết cầu có chức năng nuôi dưỡng. Khi máu tuần hoàn và tuôn chảy trong chúng ta, bạch huyết cầu diệt sạch những loại vi trùng xâm chiếm cơ thể chúng ta, trong khi hồng huyết cầu cung ứng chất bổ cần thiết cho từng bộ phận của toàn cơ thể chúng ta. Cũng vậy, khi luật sự sống của Đức Chúa Trời hành động trong chúng ta, hoặc khi sự sống của Đức Chúa Trời hành động bên trong chúng ta, hai yếu tố sự sống và sự chết hàm chứa trong sự sống của Đức Chúa Trời có các chức năng giết chết và cung ứng trong chúng ta: giết chết vi trùng thuộc linh, chẳng hạn như thế gian và xác thịt, và cung ứng chất bổ thuộc linh, gồm mọi sự phong phú của chính Đức Chúa Trời.

Như vậy chúng ta cần nhận biết đây là phương cách đúng đắn để theo đuổi sự tăng trưởng trong sự sống. Ngay khi chúng ta được cứu và có sự sống của Đức Chúa Trời, luật sự sống của Đức Chúa Trời trong chúng ta làm cho mình có một cảm thức nào đó. Nếu muốn được lớn lên trong sự sống, chúng ta phải yêu Đức Chúa Trời và vâng phục cảm thức này để xử lý lương tâm, tình cảm, tư tưởng và ý chí. Qua những sự xử lý như vậy, sự sống của Đức Chúa Trời trong linh chúng ta tiếp tục ban cho chúng ta cảm thức sự sống. Khi chúng ta vâng phục những cảm nhận này, luật sự sống sẽ điều hành trong chúng ta và bày tỏ hai chức năng: loại bỏ những gì bên ngoài Đức Chúa Trời và ban cho tất cả những gì của chính Ngài. Bằng cách này chúng ta có thể dần dần lớn lên và trưởng thành trong sự sống của Đức Chúa Trời. Đây là những kinh nghiệm thật và thực tiễn. Con đường sự sống mà chúng ta đang nói đến nằm ở đây!

VII. QUYỀN NĂNG CỦA LUẬT SỰ SỐNG

Ngoài hai chức năng đề cập ở trên, luật sự sống còn có quyền năng. Chúng ta đã nói luật Cựu Ước là luật thành văn ở bên ngoài con người, là luật chết, luật văn tự. Luật này chỉ đòi hỏi con người; không cung ứng quyền năng cho họ để họ có thể đáp ứng những đòi hỏi của luật này. Vì vậy luật này “không làm nổi” (La. 8:3), và cũng “không làm gì trọn vẹn được” (Hê. 7:19). Nhưng luật Tân Ước được viết lên các phần bên trong của chúng ta, là luật sống, luật sự sống. Sự sống này là “sự sống không thể hủy diệt được” của Đức Chúa Trời, sự sống có “quyền năng” (Hê. 7:16). Như vậy luật đến từ sự sống này cũng có quyền năng và ban khả năng cho chúng ta trong mọi sự.

Đến đây chúng ta nên nhận biết quyền năng của luật sự sống là quyền năng của sự sống Đức Chúa Trời mà từ đó luật này đã phát sinh. Chính quyền năng này đã làm cho Chúa Jesus sống lại từ sự chết và thăng thiên, vượt lên trên tất cả. Cũng chính quyền năng này đang tìm cách điều chỉnh trong chúng ta mỗi ngày và có khả năng làm vượt trổi vô cùng mọi điều chúng ta cầu xin hoặc suy tưởng (Êph. 1:20; 3:20). Quyền năng này có thể hoàn thành những điều sau đây trong chúng ta:

A. Làm Lòng Chúng Ta Hướng Về Đức Chúa Trời

Trước hết, quyền năng này có thể làm cho lòng chúng ta hướng về Đức Chúa Trời. Khi nói đến mối quan hệ giữa luật sự sống và tấm lòng, chúng ta nói luật sự sống có thể bị tấm lòng cản trở. Nếu lòng chúng ta không hướng về Đức Chúa Trời, sự sống của Đức Chúa Trời không thể chảy qua được. Nhưng tạ ơn Đức Chúa Trời, sự sống bên trong chúng ta không dừng lại ở đó mà, trái lại, vẫn tiếp tục hành động trong chúng ta đến một mức độ khiến cho tấm lòng không hướng về Ngài có thể hướng về Ngài được. Châm Ngôn 21:1 nói: “Lòng của vua ở trong tay Đức Giê-hô-va khác nào giòng nước chảy, Ngài muốn làm nghiêng lệch nó bề nào tùy ý Ngài muốn.” Như vậy chúng ta có thể xin Chúa: “Xin khiến lòng con hướng về chứng cớ Chúa chớ đừng hướng về sự tham lam” (Thi. 119:36). Khi bằng lòng xin như vậy, quyền năng của luật sự sống của Đức Chúa Trời có thể xoay lòng chúng ta lại một cách rất tự nhiên và làm cho lòng chúng ta hoàn toàn hướng về Đức Chúa Trời.

B. Làm Chúng Ta Đầu Phục Đức Chúa Trời

Thứ hai, quyền năng này có thể làm cho chúng ta đầu phục Đức Chúa Trời. Khi bàn đến những đòi hỏi của luật sự sống, chúng ta cũng đã nói rằng sự hành động của luật sự sống trong chúng ta đòi hỏi mình phải đầu phục cho phù hợp với luật này. Tuy nhiên biết bao nhiêu lần chúng ta không những không đầu phục mà còn không muốn đầu phục. Vào những lúc như vậy, quyền năng của luật sự sống hoàn toàn có thể xử lý tình trạng của chúng ta để làm cho chúng ta đầu phục.

Mặc dầu đã được cứu và có sự sống của Đức Chúa Trời, đôi khi chúng ta ngã lòng và tấm lòng trở nên cứng cỏi, không thể vâng lời Ngài. Đức Chúa Trời thương xót chúng ta đến nỗi sự sống của Ngài trong chúng ta vẫn không ngưng điều chỉnh. Bởi quyền năng của Ngài, Ngài điều chỉnh tình cảm và điều chỉnh ý chí của chúng ta. Như vậy chúng ta được điều chỉnh đi điều chỉnh lại để Ngài có thể làm cho chúng ta lại vâng phục Ngài nữa.

Phi-líp 2:13 nói rằng ý chí của chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời cũng do sự hành động của Ngài trong chúng ta. Như vậy sự đầu phục của ý chí chúng ta cũng là kết quả do sự hành động đến từ năng quyền của luật của sự sống Đức Chúa Trời trong chúng ta. Quyền năng này có thể thay đổi ý chí bất phục của chúng ta thành ra vâng phục Ngài.

Một ngày kia có một chị em cảm thấy không muốn vâng phục Chúa. Không những tâm trí chị bối rối, mà lương tâm chị cũng bị định tội nữa. Chị cầu xin Chúa giải cứu chị. Khi chị kêu khóc với Chúa, Ngài bày tỏ cho chị ánh sáng trong Phi-líp 2:13. Lúc ấy chị biết Đức Chúa Trời có thể làm cho chị vâng phục Ngài. Do đó chị vui mừng và an nghỉ.

C. Khiến Chúng Ta Làm Những Việc Lành Đức Chúa Trời Định Cho Chúng Ta

Thứ ba, quyền năng này có thể khiến chúng ta làm những việc lành mà Đức Chúa Trời đã chuẩn bị cho chúng ta noi theo (Êph. 2:10). Những việc lành ấy đến từ Đức Chúa Trời, và phát sinh từ sự sống của Ngài; vì vậy làm những việc lành ấy là sống-bày-tỏ chính Đức Chúa Trời ra. Những việc lành ấy vượt trổi hơn việc lành của con người mà sự sống con người không bao giờ có thể sống-bày-tỏ ra được. Nhưng sự sống của Đức Chúa Trời bên trong chúng ta điều chỉnh chúng ta bởi quyền năng Ngài, có thể làm cho chúng ta sống-bày-tỏ ra những việc lành phi thường như vậy.

D. Làm Chúng Ta Hết Lòng Hết Sức Làm Việc

Thứ tư, quyền năng này có thể khiến chúng ta làm việc cho Chúa hết lòng, hết sức. Sứ đồ Phao-lô nói rằng lý do ông có thể lao nhọc nhiều hơn những sứ đồ khác không phải do chính ông, mà là do ân điển Đức Chúa Trời ban cho ông, hay ân điển của sự sống Đức Chúa Trời ở cùng ông (1 Cô. 15:10). Ông cũng nói ông lao nhọc, gắng sức theo sự hành động của Đấng hành động trong ông một cách “có quyền năng” (Côl. 1:29, Hi văn). Chữ “quyền năng” còn có thể dịch là “năng lực mạnh mẽ”. Nghĩa là công tác của ông không dựa vào năng lực của chính hồn ông, mà dựa trên quyền năng rất mạnh mẽ của sự sống Đức Chúa Trời đã ngự trong ông. Trong mọi thế hệ trước, những ai được Đức Chúa Trời dùng đều liên tục lao nhọc và không ngừng chịu khổ trong công việc Chúa. Họ không lao khổ bằng năng lực riêng, nhưng vì yêu Đức Chúa Trời và hướng về Ngài nên họ đã để cho sự sống của Ngài hành động trong họ, điều chỉnh trong họ, thể hiện ra họ như một hoạt động, bùng nổ ra thành một công tác. Hoạt động thể hiện ra bên ngoài hay công tác bùng nổ ra bên ngoài này là do quyền năng mạnh mẽ của sự sống Đức Chúa Trời thực hiện. Khi quyền năng rất mạnh mẽ của sự sống Đức Chúa Trời điều khiển con người từ bên trong, không ai có thể thụ động được. Tất cả những ai để cho quyền năng mạnh mẽ của luật sự sống Đức Chúa Trời hành động bên trong mình chắc chắn sẽ hoạt động với tất cả sức lực, trong mọi công tác đều không tiếc gì mạng sống mình.

Sau cuộc Chiến tranh Hoa-Nhật, chúng tôi đến công tác tại một vài Hội thánh ở các địa phương. Chúng tôi thật được phước và kết nhiều quả. Khi chúng tôi trở về Thượng Hải, anh Nee nói với tôi: “Anh à, chúng ta là ‘những người gây rối’. Chúng ta vừa mới ‘gây rối’ tại các Hội thánh khác, bây giờ chúng ta sắp ‘gây rối’ trong Hội thánh tại Thượng Hải”. Mặc dầu đây là những lời nói có ý hài hước, nhưng nói một cách nghiêm trang, tất cả những ai sống trong sự sống của Đức Chúa Trời và để cho luật sự sống của Ngài hành động chắc chắn sẽ là “những người gây rối”. Bởi vì sự sống của Đức Chúa Trời trong họ là một sự sống quyền năng vô tận, sự sống tích cực thôi thúc, một sự sống có quyền năng bùng nổ. Bất cứ khi nào sự sống này hành động và chỉ đạo bên trong, họ sẽ bùng nổ bên trong; họ sẽ thực hiện công tác với quyền năng rất mạnh mẽ này. Kết quả là họ tự nhiên trở nên những người gây rối. Trái lại, khi nào một người làm việc cho Chúa không chút khuấy động, công việc Chúa của họ không phát ra âm thanh hay mùi vị gì, không cần nói, chắc chắn sự sống bên trong người ấy đang bị hạn chế, và luật sự sống không thể hành động tự do.

Nếu anh chị em không hiểu lầm thì tôi xin làm chứng rằng nhiều lúc tôi không dám để thì giờ cầu nguyện. Mỗi ngày nếu tôi chỉ cầu nguyện nửa giờ, bánh xe sự sống bắt đầu quay, luật sự sống bắt đầu điều chỉnh, và quyền năng thúc đẩy bắt đầu giục giã trong tôi, cho đến khi tôi không thể không ra đi công tác. Và cho dầu có phải chết chăng nữa, tôi vẫn phải làm việc. Nếu không làm việc, tôi rất khốn khổ; nhưng nếu làm việc, tôi sẽ thỏa lòng. Ôi, đây là quyền năng thúc giục công tác của Đức Chúa Trời!

E. Sự Phục Vụ Của Chúng Ta Sống Động Và Tươi Mới

Thứ năm, quyền năng này có thể làm cho chúng ta có những sự phục vụ sống động và tươi mới. Sự phục vụ trong Cựu Ước là sự phục vụ theo văn tự. Vì sự phục vụ này cũ, nên nó chết chóc và làm cho người ta chết. Sự phục vụ của Tân Ước là sự phục vụ theo Linh; sự phục vụ này tươi mới, sống động và làm cho người ta sống. Công tác phục vụ trong Cựu Ước là một hoạt động dựa trên những qui luật chết bên ngoài; vì vậy không thể cung ứng sự sống cho người ta được. Sự phục vụ trong Tân Ước là kết quả sự điều chỉnh của luật sự sống trong linh. Công tác này đến từ sự sống; vì vậy có thể ban sự sống cho con người và làm cho họ nhận lãnh một sự cung ứng sống động. Lấy ví dụ về những sinh hoạt chúng ta có trong các buổi nhóm. Nếu luật sự sống trong chúng ta đang hoạt động thì dù chúng ta chỉ cần chia sẻ ít lời, làm chứng hay thông báo cũng có thể sống động và khiến người ta nhận được sự cung ứng của sự sống.

Chúng ta trở nên những người phục vụ giỏi giang của thời Tân Ước với sự phục vụ sống động, không phải bởi tài năng, tài hùng biện, hay học thức của mình, nhưng bởi Linh của Đức Chúa Trời (2 Cô. 3:5-6) và theo “sự ban tứ của ân điển Đức Chúa Trời” (Êph. 3:7). Một sự ban tứ như vậy không liên quan đến những ân tứ siêu nhiên như ơn nói các thứ tiếng, ơn thấy khải tượng, ơn chữa bệnh, ơn đuổi quỉ..., mà là sự ban tứ của ân điển đã được ban cho chúng ta theo sự hành động của quyền năng Đức Chúa Trời, mà chúng ta đã nhận được do sự vận hành liên tục của quyền năng chứa đựng trong sự sống như được ban cho chúng ta một cách rộng rãi bởi Đức Chúa Trời. Vì vậy sứ đồ Phao-lô nói rằng sự ban tứ hay ân tứ này có thể làm cho chúng ta rao giảng sự giàu có không dò lường được của Đấng Christ và làm cho mọi người thấy được sự huyền nhiệm trải qua các thời đại đã giấu kín trong Đức Chúa Trời là Đấng tạo dựng nên mọi sự (Êph. 3:8-9). Ôi, quả là một ân tứ lớn lao dường nào! Dầu vậy ân tứ lớn lao ấy đã được ban cho ông qua sự hành động của quyền năng luật sự sống của Đức Chúa Trời. Vì vậy, sự ban tứ của ân điển mà chúng ta nhận được bởi sự hành động của quyền năng luật sự sống của Đức Chúa Trời chắc chắn có thể làm cho chúng ta phục vụ Ngài một cách sống động và tươi mới.

VIII. KẾT QUẢ CỦA LUẬT SỰ SỐNG

Khi để cho luật sự sống của Đức Chúa Trời hành động một cách không bị ngăn trở bên trong chúng ta trong những phạm vi không ngừng mở rộng, sự sống của Ngài trong chúng ta có thể lan tràn đến mức “Đấng Christ thành hình” trong chúng ta (Gal. 4:19). Như vậy khi Đấng Christ dần dần thành hình trong chúng ta, chúng ta dần dần được biến đổi theo hình ảnh của Ngài (2 Cô. 3:18) và mang hình ảnh của Con Đức Chúa Trời (La. 8:29) cho đến khi cuối cùng chúng ta hoàn toàn giống Ngài (1 Gi. 3:2). Đây là kết quả vinh hiển của luật sự sống hành động trong chúng ta.

Đấng Christ thành hình trong chúng ta nghĩa là gì? Chúng ta hãy dùng một ví dụ. Trong quả trứng có sự sống của một con gà. Tuy nhiên vào những ngày đầu tiên khi con gà thành hình, nếu dùng ánh sáng đèn điện để nhìn xuyên qua quả trứng, chúng ta không thể nhận ra phần nào là cái đầu và phần nào là cái chân. Đến giai đoạn cuối cùng, khi con gà nhỏ bé bên trong sắp phá vỡ vỏ trứng để chui ra, nếu dùng ánh sáng đèn điện một lần nữa để nhìn xuyên qua, chúng ta sẽ thấy một hình dạng hoàn chỉnh của một con gà, nghĩa là con gà đã hình thành trong quả trứng. Cũng vậy, Đấng Christ thành hình trong chúng ta nghĩa là hình dạng của Ngài trở nên hoàn chỉnh trong chúng ta. Khi chúng ta mới nhận được sự sống của Ngài qua sự tái sinh, Đấng Christ chỉ mới ra đời trong chúng ta, tức về mặt hữu cơ Ngài đã hoàn chỉnh, nhưng Ngài chưa hoàn chỉnh trong hình dạng. Về sau, khi luật sự sống này cứ tiếp tục hoạt động ở các phần bên trong của chúng ta, yếu tố của sự sống này dần dần gia tăng trong các phần ấy; như vậy, Đấng Christ lớn lên bên trong chúng ta cho đến lúc sự sống của Ngài hoàn toàn thành hình trong chúng ta.

Khi Đấng Christ dần dần thành hình trong chúng ta, chúng ta được dần dần biến đổi. Đấng Christ thành hình trong chúng ta đến mức nào, chúng ta được biến đổi đến mức ấy. Sự thành hình của Đấng Christ và sự biến đổi của chúng ta xảy ra đồng thời bên trong và bên ngoài. Bởi vì sự thành hình của Đấng Christ là sự gia tăng các yếu tố của Đấng Christ trong các phần khác nhau của chúng ta từ bên trong ra bên ngoài, nên sự biến đổi của chúng ta cũng ở trong các phần này từ bên trong ra bên ngoài, cho đến khi chúng ta dần dần trở nên giống Đấng Christ. Như vậy sự biến đổi diễn tiến từ linh đến sự hiểu biết (hay hồn), và rồi đến hành vi cử chỉ (hay thân thể). Khi linh chúng ta được sống động bởi sự tái sinh, linh ấy được biến đổi bởi sự đổi mới (Xin xem các trang 44, 45 về linh mới). Sau đó, bởi sự hành động của luật sự sống, sự hiểu biết trong hồn cũng được biến đổi bởi sự đổi mới. Sau đó bởi sự soi sáng của ánh sáng sự sống của Đức Chúa Trời, chúng ta nhận biết bản ngã của mình, chúng ta chống cự bản ngã, và bởi Thánh Linh chúng ta đóng đinh bản ngã và chỉ để sự sống của Đức Chúa Trời sống-bày-tỏ từ chúng ta ra mà thôi. Như vậy, trong những kinh nghiệm thuộc linh của mình, chúng ta lột bỏ người cũ, mặc lấy người mới càng ngày càng hơn trong hành vi cử chỉ của mình; vì vậy, các hành vi cử chỉ bên ngoài của chúng ta cũng dần dần được đổi mới và biến đổi. Như vậy Đấng Christ thành hình trong chúng ta nghĩa là bản chất của chúng ta được biến đổi nên giống như hình dạng Ngài. Khi chúng ta được biến đổi từ linh qua sự hiểu biết, đến hành vi, nghĩa là hình dạng chúng ta được biến đổi nên giống như Chúa. Kết quả của sự biến đổi như vậy luôn luôn làm cho chúng ta trở nên giống như Chúa Jesus, hay nói cách khác, giống như bản chất con người vinh hiển của Chúa. Đây là sự biến hóa theo hình ảnh của Con Ngài được đề cập đến trong La Mã 8:29. Cũng giống như chúng ta được tạo hình (rập khuôn) từ khuôn đúc của Con Đức Chúa Trời. Như vậy sự biến đổi là một tiến trình, và giống Chúa hay trở nên cùng hình ảnh và bản chất như Chúa là kết quả cuối cùng của sự biến đổi. Đây là công tác “từ vinh quang đến vinh quang” mà Chúa hành động trên chúng ta. Chúng ta nên ngợi khen Ngài biết bao!

Chúng ta cũng cần nhận biết mục tiêu của sự biến đổi không những chỉ làm cho chúng ta giống như Chúa hay làm cho chúng ta có cùng hình ảnh và bản chất của Chúa nhưng hơn thế nữa làm cho chúng ta hoàn toàn “giống Ngài”. Đây là “sự cứu chuộc thân thể chúng ta” được nói đến trong La Mã 8:23. Khi Chúa trở lại và hiện ra cho chúng ta, Ngài sẽ “biến hóa thân thể hèn mạt của chúng ta ra giống như thân thể vinh hiển của Ngài, y theo sự vận hành của quyền năng Ngài vẫn có để bắt muôn vật phục mình” (Phil. 3:21). Như vậy Ngài làm cho chúng ta không chỉ giống Ngài trong bản chất của linh chúng ta và trong hình dạng của hồn và trong hành vi cử chỉ của mình, nhưng còn hoàn toàn giống Ngài trong thân thể, là thân thể vinh hiển không bao giờ hư nát, không bao giờ tan biến đi. Đây là kết quả cuối cùng của sự hành động của luật sự sống Đức Chúa Trời trong chúng ta. Ôi, kỳ diệu biết bao! Vinh hiển biết bao! Vì vậy tất cả chúng ta là những người có hi vọng này nên tự tẩy sạch mình cũng như Ngài là thuần khiết (1 Gi. 3:3). Bởi ánh sáng của sự sống của Đức Chúa Trời, chúng ta nên nhận biết chính mình và tất cả những gì ở bên ngoài Đức Chúa Trời, và hằng ngày xử lý tội lỗi, xác thịt và mọi điều thuộc về sự sáng tạo cũ để chúng ta trở nên thuần khiết, không pha trộn. Khi ấy, Đức Chúa Trời có thể nhanh chóng đạt đến mục đích vinh hiển của Ngài, và chẳng bao lâu chúng ta có thể vui hưởng vinh quang với Chúa.

IX. ĐỨC CHÚA TRỜI MUỐN LÀM ĐỨC CHÚA TRỜI TRONG LUẬT SỰ SỐNG

Trong Hê-bơ-rơ 8:10, sau khi Đức Chúa Trời phán: “Ta sẽ đặt luật pháp ta trong tâm trí họ, ta sẽ viết nó vào lòng họ”, Ngài phán: “Ta sẽ làm Đức Chúa Trời của họ, họ sẽ làm dân ta”. Điều này cho thấy Đức Chúa Trời đặt luật sự sống của Ngài bên trong chúng ta vì Ngài muốn làm Đức Chúa Trời của chúng ta trong luật sự sống, và Ngài muốn chúng ta làm dân của Ngài trong luật sự sống này. Điều này được nêu ra trong ý định, hay trong chủ đích của Ngài, và đây là một vấn đề rất quan trọng; vì vậy chúng ta không thể bỏ qua mà không xem xét đến điều này.

A. Đức Chúa Trời Muốn Làm Đức Chúa Trời Của Loài Người

Tại sao Đức Chúa Trời tạo dựng nên loài người? Và tại sao ma quỷ đánh cắp loài người? Những điều này không được bày tỏ rõ ràng trong phần đầu Kinh Thánh. Mãi cho đến khi Đức Chúa Trời tuyên bố mười điều răn trên núi Si-nai, ý định của Đức Chúa Trời đối với loài người mới được bày tỏ. Trong ba điều răn đầu, chúng ta thấy Ngài muốn làm Đức Chúa Trời của loài người. Và mãi về sau khi ma quỷ cám dỗ Chúa trong đồng vắng và muốn Chúa thờ phượng hắn, ý định của ma quỷ trong việc đánh cắp loài người mới được bày tỏ: hắn muốn chiếm địa vị của Đức Chúa Trời và muốn loài người thờ phượng hắn như Đức Chúa Trời. Điều này cho chúng ta thấy rõ cuộc xung đột giữa ma quỷ và Đức Chúa Trời nằm trong vấn đề ai là Đức Chúa Trời đối với loài người và ai nhận lãnh sự thờ phượng của loài người. Nhưng chỉ có Đức Chúa Trời mới là Đức Chúa Trời; chỉ có Ngài xứng đáng nhận sự thờ phượng của loài người. Trong thời Cựu Ước, Ngài sống giữa dân Israel như Đức Chúa Trời của họ. Trong thời Tân Ước, qua sự nhập thể, Ngài sống giữa loài người và tuyên bố Ngài là Đức Chúa Trời. Sau đó, qua Thánh Linh Ngài sống trong Hội thánh và là Đức Chúa Trời của con người trong Hội thánh. Trong tương lai, trong vương quốc ngàn năm Ngài sẽ là Đức Chúa Trời của cả gia đình Israel; hơn nữa Ngài sẽ ở giữa loài người đời đời trong trời mới, đất mới và là Đức Chúa Trời vĩnh hằng của loài người.

B. Đức Chúa Trời Muốn Làm Cha Và Kế Đến Làm Đức Chúa Trời

Đức Chúa Trời không những chỉ muốn làm Đức Chúa Trời của loài người, nhưng hơn thế nữa Ngài còn muốn làm Cha của họ nữa. Ngài không những muốn loài người nhận Ngài làm Đức Chúa Trời của họ, nhưng hơn thế nữa, Ngài còn muốn họ nhận sự sống của Ngài nữa. Ngài muốn làm Cha của loài người và bởi đó làm Đức Chúa Trời của họ trong sự sống của Ngài. Chỉ khi nào loài người có sự sống của Ngài, trở nên con của Ngài thì họ mới thật sự nhận biết Ngài là Đức Chúa Trời và thật sự để Ngài làm Đức Chúa Trời của họ.

Vào buổi sáng Chúa Jesus phục sinh, Ngài nói với Ma-ri Ma-đơ-len: “Ta lên cùng Cha Ta, cũng là Cha các ngươi, lên cùng Đức Chúa Trời Ta, cũng là Đức Chúa Trời các ngươi” (Gi. 20:17). Ngài đề cập đến Cha và sau đó đến Đức Chúa Trời. Điều này nghĩa là Đức Chúa Trời phải là Cha của chúng ta rồi Ngài mới là Đức Chúa Trời của chúng ta được. Trong lời cầu nguyện của Chúa Jesus vào đêm cuối cùng, Ngài cũng khẳng định chỉ khi nào chúng ta có sự sống vĩnh cửu của Đức Chúa Trời chúng ta mới có thể nhận biết Ngài là Đức Chúa Trời thật và duy nhất (Gi. 17:3). Vì vậy chúng ta phải kinh nghiệm Đức Chúa Trời là Cha trong sự sống, khi ấy chúng ta mới biết Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời. Càng để cho sự sống của Cha hành động trong mình, chúng ta càng thờ phượng và phục vụ Đức Chúa Trời vinh hiển này! Đức Chúa Trời là Cha của chúng ta vì Ngài muốn làm Đức Chúa Trời của chúng ta trong sự sống của Cha. Điều này cũng có nghĩa là Ngài muốn làm Đức Chúa Trời của chúng ta trong sự hành động của sự sống Ngài.

C. Đức Chúa Trời Muốn Làm Đức Chúa Trời Trong Luật Sự Sống

Đức Chúa Trời là Cha của chúng ta vì chúng ta có sự sống của Ngài. Từ khi vào trong chúng ta, sự sống của Ngài cũng mang theo luật sự sống vào trong chúng ta. Khi hành động, luật này làm cho chính Đức Chúa Trời tuôn đổ ra từ chúng ta. Như vậy Đức Chúa Trời có chủ tâm làm Đức Chúa Trời của chúng ta trong luật sự sống này.

Người Hồi giáo thật sự thờ phượng Đức Chúa Trời trên trời, và người theo Do Thái giáo còn thờ phượng Đức Chúa Trời trên trời hơn nữa. Nhưng họ chỉ thờ phượng Đức Chúa Trời một cách khách quan, một Đấng cao cả hơn hết; họ không để Ngài làm Đức Chúa Trời bên trong họ. Ngày nay ngay cả giữa vòng Cơ Đốc nhân cũng có nhiều người thờ phượng một Đức Chúa Trời ở xa hơn hết mọi sự và không thể kinh nghiệm được. Họ chỉ thờ phượng một Đấng ở bên ngoài họ, theo những sự dạy dỗ, luật lệ, chữ nghĩa bên ngoài. Họ không để Ngài làm một Đức Chúa Trời sống động của họ trong sự sống ở bên trong họ. Nhưng chúng ta phải sáng tỏ rằng khi thờ phượng Ngài và để Ngài làm Đức Chúa Trời của mình, chúng ta không nên theo các giáo lý hay luật lệ có tính cách chữ nghĩa suông; trái lại chúng ta nên thờ phượng Đức Chúa Trời trong sự sống của Ngài hay trong luật sự sống của Ngài. Luật này là chức năng được bày tỏ bởi sự sống của Đức Chúa Trời. Khi luật sự sống của Đức Chúa Trời điều chỉnh trong chúng ta hoặc khi chính Ngài hành động trong chúng ta, Đức Chúa Trời chính là Đức Chúa Trời của chúng ta trong luật này, tức là trong sự hành động của Ngài.

Ngày nay khi hầu việc Ngài, chúng ta phải hầu việc Ngài trong luật sự sống, trong sự hành động của Ngài. Bất cứ khi nào chúng ta để sự sống của Ngài hành động trong chúng ta và luật sự sống của Ngài điều khiển trong mình thì sự phục vụ của chúng ta sẽ là sự phục vụ của sự sống, sự phục vụ thuộc linh hay sự phục vụ sống động. Như vậy khi chúng ta để Đức Chúa Trời làm Đức Chúa Trời của chúng ta trong luật sự sống, khi ấy Đức Chúa Trời mà chúng ta thờ phượng không phải là một Đức Chúa Trời trong giáo lý hay trí tưởng tượng, mà là một Đức Chúa Trời hằng sống, một Đức Chúa Trời thực tiễn, một Đức Chúa Trời có thể đụng chạm được. Trong kinh nghiệm sự sống, trong cuộc sống hằng ngày và trong mọi công tác hoạt động của chúng ta, Ngài thật là một Đức Chúa Trời sống động, một Đức Chúa Trời mà chúng ta có thể đụng chạm và Đấng mà chúng ta có thể gặp gỡ. Ngài không phải là Đức Chúa Trời trong niềm tin; cũng không phải là Đức Chúa Trời trong điều lệ; nhưng Ngài là Đức Chúa Trời của chúng ta trong luật sự sống rất sống động, với chức năng sự sống có tính cách sống động.

Thế nhưng đôi khi do tấm lòng chúng ta có vấn đề, chúng ta không yêu Ngài cũng không để cho luật sự sống điều chỉnh mình. Khi ấy, dầu chúng ta có Đức Chúa Trời nhưng Ngài chỉ là Đức Chúa Trời của giáo lý và niềm tin mà thôi. Khi chúng ta phục hồi tình yêu đối với Ngài và lại để Ngài điều chỉnh bên trong chúng ta bởi sự vận hành của sự sống của Ngài, khi ấy chức năng vận hành của sự sống Ngài lại được bày tỏ, và luật sự sống của Ngài lại hành động bằng cách chuyển động và điều chỉnh bên trong chúng ta. Lúc ấy Ngài lại là Đức Chúa Trời của chúng ta một cách thiết thực; Ngài không còn là một Đức Chúa Trời trên danh nghĩa hay trong giáo lý, nhưng là một Đức Chúa Trời sống động.

Vì vậy chúng ta phải đặt mình vào bàn tay Ngài, để luật sự sống của Ngài điều khiển chúng ta; khi ấy chúng ta sẽ thật sự có Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của mình. Bất cứ khi nào chúng ta không để luật sự sống điều khiển mình, Ngài không thể là Đức Chúa Trời của chúng ta được, và chúng ta không làm dân Ngài được. Bởi vì Ngài phải là Đức Chúa Trời của chúng ta và chúng ta là dân của Ngài một cách rất thiết thực, nên chúng ta phải để luật của sự sống Ngài điều khiển chúng ta và để Ngài làm Đức Chúa Trời chúng ta trong luật của sự sống Ngài.

Ngài phải là Đức Chúa Trời của chúng ta trong luật của sự sống Ngài, và chúng ta cũng phải là dân Ngài trong luật của sự sống Ngài, vì mối quan hệ của chúng ta với Ngài phải là một mối quan hệ sống động. Khi sự sống của Ngài chuyển động và điều khiển chúng ta, luật sự sống của Ngài đem Ngài đến với chúng ta và đem chúng ta đến với Ngài. Trong sự điều khiển của luật sự sống mà chúng ta sở hữu Ngài và Ngài sở hữu chúng ta. Bất cứ khi nào luật sự sống của Ngài ngưng hoạt động, mối tương giao sống động giữa Ngài, là Đức Chúa Trời của chúng ta, với chúng ta, là dân của Ngài, cũng sẽ bị cắt đứt. Vì vậy, chúng ta phải để cho luật sự sống của Đức Chúa Trời điều khiển chúng ta; chỉ khi ấy chúng ta mới có Đức Chúa Trời làm Đức Chúa Trời của mình và chúng ta mới thật sự là dân của Ngài một cách sống động rõ ràng.

Thế thì chúng ta thấy một sự khác biệt lớn lao về sự kiện Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của loài người trong Cựu Ước và trong Tân Ước. Trong Cựu Ước, Ngài là Đức Chúa Trời của dân Israel trên ngai cao trọng hơn hết và theo các điều lệ của luật pháp. Ngài cũng muốn dân Israel làm dân của Ngài theo các luật lệ này. Vì vậy nếu họ chỉ vâng theo các luật lệ này, thì họ không có vấn đề gì trước mặt Đức Chúa Trời. Nhưng trong thời Tân Ước, Đức Chúa Trời vào trong chúng ta để làm sự sống của chúng ta, và Ngài là Đức Chúa Trời của chúng ta, chúng ta làm dân của Ngài theo luật của sự sống này. Vì vậy chúng ta nhất thiết phải sống bởi luật của sự sống.

X. KẾT LUẬN

Sau khi xem xét những điểm chính yếu trong mọi khía cạnh của luật sự sống, chúng ta thấy luật sự sống quan trọng dường nào đối với kinh nghiệm thuộc linh của mình. Bởi thế chúng ta cần phải thấy rõ và hiểu thấu mỗi một điểm chính của đề tài này; khi ấy chúng ta sẽ thật kinh nghiệm sự sống. Vì vậy tôi không ngần ngại lập lại những điều này. Bây giờ, một lần nữa chúng ta hãy tóm lược các điểm chính để có thể có được một ấn tượng sâu xa.

Khi được tái sinh, chúng ta tiếp nhận sự sống của Đức Chúa Trời. Vào thời điểm này, mặc dầu đã có sự sống của Đức Chúa Trời trong mình, sự sống này chỉ mới trọn vẹn về mặt hữu cơ, chứ chưa hoàn toàn tăng trưởng và trưởng thành. Vì vậy chúng ta phải để cho quyền năng của sự sống này liên tục và không dứt hành động trong chúng ta để chúng ta có thể đạt đến mục tiêu trọn vẹn của Ngài là chúng ta được tăng trưởng và trưởng thành. Sự sống này hoạt động theo chức năng và tính chất tự nhiên của mình; nói cách khác hoạt động ấy ra từ luật của sự sống này.

Để luật sự sống có thể điều chỉnh sao cho những gì chứa đựng trong luật này được tuôn tràn ra từ chúng ta, luật này cần phải hành động qua tấm lòng chúng ta. Vì thế sự hành động của luật này trong chúng ta đòi hỏi tấm lòng chúng ta phải cộng tác. Ngay khi tấm lòng chịu cộng tác, luật sự sống liền có cơ hội điều động trong chúng ta một cách tự do. Kết quả là chúng ta sẽ có một cảm thức nào đó ở bên trong. Khi có được cảm thức này, chúng ta cần phải vâng phục cảm thức ấy bởi quyền năng của sự sống. Khi chúng ta vâng phục, ấy là lúc chúng ta cho luật sự sống có cơ hội điều khiển mình, do đó luật sự sống lại ban cho chúng ta một cảm thức khác, làm cho chúng ta tiến tới trong sự vâng phục. Càng vâng phục, chúng ta càng để cho Ngài có cơ hội hành động. Tác động hỗ tương giữa nguyên nhân và kết quả ấy trong chúng ta đưa đến tình trạng không ngừng thể hiện rõ ràng các chức năng của hai yếu tố, đó là sự sống và sự chết, hàm chứa trong sự sống. Sự chết có chức năng loại bỏ tất cả những gì không nên có trong chúng ta. Sự sống phục sinh có chức năng thêm cho chúng ta những gì bao hàm trong sự sống của Đức Chúa Trời. Hơn nữa sự hành động của luật này và hai chức năng của sự chết và sự sống phục sinh đều đầy dẫy quyền năng để làm cho chúng ta đáp ứng được đòi hỏi vô hạn của Đức Chúa Trời và sống-bày-tỏ tất cả những gì hàm chứa trong sự sống của Ngài. Như vậy chúng ta để cho sự sống của Đức Chúa Trời dần dần lớn lên và trưởng thành trong mình.

Đồng thời, khi sự sống hành động trong chúng ta, liên tục điều khiển chúng ta, thì việc chúng ta có chí hướng về Đức Chúa Trời, đầu phục Ngài và hầu việc Ngài trở nên tự nhiên và dễ dàng, sống động và tươi mới. Ấy chính trong luật sống động này mà Đức Chúa Trời trở nên Đức Chúa Trời sống động của chúng ta, và chúng ta là dân sống động của Ngài. Chúng ta có thể nói rằng mối quan hệ giữa chúng ta với Đức Chúa Trời hoàn toàn nằm trong luật sự sống này. Chúng ta đáng phải hết lòng lưu tâm đến điều này!