Thông tin sách

Hiểu Biết Sự Sống

Tác giả: Witness Lee
Dịch từ bản tiếng Anh: Hiểu biết sự sống
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 9

Untitled Document

CHƯƠNG CHÍN

BA SỰ SỐNG VÀ BỐN LOẠI LUẬT

Bây giờ chúng ta sẽ xem xét điểm chính yếu thứ chín trong vấn đề hiểu biết sự sống, đó là ba sự sống và bốn loại luật. Đây là một lẽ thật vô cùng quan trọng trong Kinh Thánh. Nếu chúng ta muốn biết rõ tình trạng sự sống thuộc linh bề trong của mình, hoặc ao ước có một đời sống đắc thắng, thoát khỏi tội lỗi, chúng ta cần hiểu biết lẽ thật cơ bản này một cách thấu đáo.

I. BA SỰ SỐNG

A. Định Nghĩa Về Ba Sự Sống

Ba sự sống được đề cập đến ở đây là ba sự sống ở bên trong mỗi người đã được cứu, đó là sự sống của con người, sự sống của Sa-tan và sự sống của Đức Chúa Trời.

Thông thường người ta nghĩ rằng chỉ có một sự sống bên trong con người, tức là sự sống loài người mà chúng ta nhận được từ cha mẹ. Nhưng Kinh Thánh cho thấy vì sự sa ngã, ngoài sự sống loài người, trong con người còn có sự sống của Sa-tan. Vì vậy, La Mã 7:18, 20 nói trong con người, tức là trong xác thịt con người, còn có Tội cư trú. Tội ở đây ám chỉ sự sống của Sa-tan. Xác thịt này vốn chứa đựng sự sống của Sa-tan, theo Ga-la-ti 5:17, lại tiếp tục tồn tại trong con người sau khi họ được cứu, và thường ham muốn nghịch lại với Linh. Vì vậy, sau khi được cứu, một người vẫn có sự sống của Sa-tan ở bên trong người ấy.

Hơn nữa, Giăng 3:36 nói: “Ai tin Con thì có sự sống đời đời”. 1 Giăng 5:12 cũng nói: “Ai có Con thì có sự sống”, tức là sự sống của Đức Chúa Trời. Điều này bày tỏ rằng ai tin Con của Đức Chúa Trời và được cứu không những có sự sống nguyên thủy của con người và sự sống của Sa-tan mà họ đã có qua sự sa ngã, nhưng còn có sự sống vĩnh cửu của Đức Chúa Trời.

B. Nguồn Gốc Của Ba Sự Sống

Kinh Thánh nói khi Đức Chúa Trời tạo dựng A-đam, Ngài thở hơi thở sự sống vào trong mũi ông; như vậy A-đam nhận được sự sống thọ tạo của con người. Sau đó Đức Chúa Trời đặt con người trong vườn Ê-đen trước hai loại cây: cây sự sống và cây kiến thức về thiện và ác. Theo những sự khải thị được ban cho về sau trong Kinh Thánh, cây sự sống chỉ về Đức Chúa Trời, cây kiến thức về thiện và ác chỉ về Sa-tan, và A-đam đại diện cho nhân loại. Như vậy, vào ngày ấy trong vườn Ê-đen, tức là trong cả vũ trụ, một tình thế đang biến chuyển với ba nhóm: con người, Đức Chúa Trời và Sa-tan.

Sa-tan là kẻ thù của Đức Chúa Trời và tiêu điểm của hắn trong việc chống chọi lại Đức Chúa Trời là con người. Cả Sa-tan và Đức Chúa Trời đều muốn chiếm hữu con người. Đức Chúa Trời muốn chiếm hữu con người để hoàn thành ý muốn của Ngài, trong khi Sa-tan cũng cần con người để thực hiện ước muốn độc ác của hắn. Phương pháp của cả Sa-tan lẫn Đức Chúa Trời để giành lấy con người đều là qua sự sống. Ý định của Đức Chúa Trời là con người sẽ ăn trái của cây sự sống và qua đó nhận lấy sự sống bất thọ tạo và kết hiệp với Ngài. Tuy nhiên Sa-tan cám dỗ con người ăn trái của cây kiến thức về thiện và ác, như vậy hắn làm cho con người nhận lấy sự sống sa ngã của hắn và trộn lẫn với chính hắn.

Vào ngày ấy, A-đam bị Sa-tan lừa dối đã ăn trái của cây kiến thức về thiện và ác. Từ đó về sau sự sống của Sa-tan đã vào trong con người và làm cho con người bại hoại. Vì vậy ngoài sự sống thọ tạo nguyên thủy của mình, con người đã nhận lấy sự sống sa ngã của Sa-tan.

Trong thời Tân Ước, Đức Chúa Trời đặt sự sống của Ngài vào trong Con Ngài để Ngài được bày tỏ giữa loài người, để rồi do tin nhận Ngài, loài người nhận được sự sống của Ngài. Như vậy, ngoài sự sống thọ tạo nguyên thủy của mình và sự sống của Sa-tan nhận qua sự sa ngã, chúng ta còn nhận được sự sống của Đức Chúa Trời.

Vì vậy, là những người được cứu, chúng ta đã lần lượt nhận lấy ba sự sống vào trong mình qua sự sáng tạo, sự sa ngã và sự cứu rỗi. Ra từ bàn tay tạo dựng của Đức Chúa Trời, chúng ta đã nhận lấy sự sống thọ tạo của loài người. Rồi qua A-đam, chúng ta đã sa ngã và nhận lấy sự sống sa ngã của Sa-tan. Rồi vào trong Đấng Christ, chúng ta được cứu và nhận lấy sự sống bất thọ tạo của Đức Chúa Trời.

C. Vị Trí Của Ba Sự Sống

Theo những sự khải thị của Kinh Thánh, ba sự sống khác nhau của con người, Sa-tan và Đức Chúa Trời đã theo thứ tự mà vào trong hồn, thân và nhân linh của chúng ta, tức là ba phần của bản thể chúng ta. Khi Đức Chúa Trời tạo dựng con người từ bụi đất, Ngài thở hơi sự sống vào trong con người, và “người trở nên một hồn sống” (Sáng. 2:7). Điều này nghĩa là sự sống con người nhận được qua sự sáng tạo là sự sống trong phần hồn của con người. Khi bị Sa-tan dụ dỗ và sa ngã, con người hấp thụ vào trong cơ thể mình trái của cây kiến thức về thiện và ác, chỉ về Sa-tan. Vì vậy, sự sống của Sa-tan mà con người nhận được qua sự sa ngã đang ở trong cơ thể họ. Khi con người tiếp nhận Chúa Jesus làm Cứu Chúa và được cứu, Linh của Đức Chúa Trời mang theo sự sống của Đức Chúa Trời với Ngài vào trong nhân linh. Vì vậy, sự sống của Đức Chúa Trời mà con người nhận được qua sự cứu rỗi đang ở trong nhân linh. Như thế, một người được cứu sẽ có sự sống của Đức Chúa Trời trong linh mình, có sự sống của loài người trong hồn mình, và sự sống của Sa-tan trong cơ thể mình.

Để có thể hiểu rõ hơn về ba phần là nơi ba sự sống cư trú, chúng ta nên dành ít thì giờ để thảo luận về cảm thức của ba phần này. Cơ thể, là phần ngoài cùng của chúng ta, phần vật lý, là phần thấy được và đụng chạm được, bao gồm tất cả các chi thể của cơ thể chúng ta và có năm giác quan là thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác và xúc giác để tiếp xúc với thế giới vật lý. Vì vậy ý thức của cơ thể được gọi là giác quan về thế giới hay cảm giác vật lý.

Linh là phần trong cùng và sâu thẳm nhất của chúng ta, bao gồm lương tâm, trực giác và sự tương giao. Lương tâm là cơ quan phân biệt đúng, sai; và theo nguyên tắc đúng sai này, lương tâm làm cho chúng ta cảm nhận được điều gì là đúng và được chấp nhận dưới mắt Đức Chúa Trời, và điều gì sai và bị từ khước dưới mắt Ngài. Trực giác cho chúng ta có khả năng cảm biết ý muốn của Đức Chúa Trời một cách trực tiếp, không cần qua một phương tiện trung gian nào cả. Phần tương giao làm cho chúng ta có khả năng liên lạc và tương giao với Đức Chúa Trời. Mặc dầu phần tương giao khiến cho chúng ta có thể tiếp xúc với Đức Chúa Trời, nhưng cả lương tâm lẫn trực giác đều khiến cho chúng ta cảm biết Đức Chúa Trời và những sự việc thuộc linh, tức là làm cho chúng ta tiếp xúc được với thế giới thuộc linh. Cảm nhận của hai phần này là cảm nhận trong linh; vì vậy, nó được gọi là cảm nhận thuộc linh hay cảm nhận của Đức Chúa Trời.

Hồn nằm giữa linh và thân thể, là phần bên trong, phần tâm lý bao gồm tâm trí, tình cảm và ý chí. Tâm trí là cơ quan để suy nghĩ, cân nhắc. Tình cảm là cơ quan dành cho vui thích, giận dữ, buồn rầu và vui mừng, và ý chí là cơ quan tạo ra các ý kiến và đưa đến mọi quyết định. Mặc dầu hồn bao gồm ba phần nhưng chỉ có hai phần tâm trí và tình cảm là có ý thức mà thôi. Ý thức của tâm trí dựa trên lý luận, trong khi ý thức của tình cảm dựa trên những điều thích và không thích. Hai ý thức trong hồn khiến chúng ta có khả năng cảm biết phần tâm lý của con người, tức là cái tôi hay bản ngã của con người và tiếp xúc được với thế giới tâm lý; vì vậy, chúng được gọi là những ý thức tâm lý hay sự tự thức*. [Thông thường khi nói về “ý thức của con người”, chúng ta đề cập đến cảm nhận về những điều thích hoặc không thích trong tình cảm của hồn. Mặc dầu cảm nhận này có thể bị ảnh hưởng bởi tâm trí của hồn, ngũ quan của cơ thể và lương tâm của linh, và bị chút ít ảnh hưởng bởi trực giác trong linh như trong trường hợp của một người thuộc linh, nhưng cảm nhận này chính yếu được cấu tạo do cảm xúc của những điều thích và không thích trong tình cảm của hồn].

D. Bản Chất Và Tình Trạng Của Ba Sự Sống

Vì trong ba sự sống khác nhau này, mỗi một sự sống chúng ta nhận được bên trong mình có nguồn gốc riêng và cư trú riêng rẽ trong mỗi một phần khác nhau của bản thể chúng ta, nên bản chất của ba sự sống này và tình trạng của mỗi sự sống bên trong chúng ta hẳn cũng khác biệt và khá phức tạp. Ngay sau khi con người được tạo dựng trong tay Đức Chúa Trời, Ngài thấy con người “rất tốt lành” (Sáng. 1:31) và “ngay thẳng” (Truyền. 7:29). Vì vậy, sự sống thọ tạo của con người ban đầu vốn là tốt lành và ngay thẳng; không những không có tội mà còn không có tri thức về tội và cũng không cảm biết hổ thẹn; sự sống này vô tội và đơn sơ*. [Sau sự sa ngã, Đức Chúa Trời làm cho con người cảm thấy hổ thẹn. Cảm giác này có một chức năng hai mặt: một mặt nó chứng tỏ chúng ta có tội, mặt khác ngăn cản chúng ta khỏi phạm tội. Nếu một người không cảm thấy hổ thẹn, người ấy sẽ có khuynh hướng cố ý phạm tội. Càng cảm thấy xấu hổ, một người càng được giữ gìn khỏi phạm tội. Chúng tôi có một thành ngữ nói rằng phụ nữ chớ nên không biết hổ thẹn. Một người không biết hổ thẹn chắc chắn là một người thuộc về giai cấp thấp nhất].

Sau khi A-đam phạm tội và sa ngã, con người không những phạm lỗi với Đức Chúa Trời trong cách cư xử của họ với kết cuộc là rơi vào một tình trạng tội lỗi, nhưng còn tệ hơn nữa, sự sống con người đã bị Sa-tan đầu độc, làm cho sự sống ấy trở nên ô uế và bại hoại. Chẳng hạn như tôi dạy con tôi ở nhà đừng lấy khăn lau bảng ra chơi. Sau khi tôi rời khỏi nhà, vì tò mò, chúng lấy khăn lau bảng ra chơi; và khi tôi trở về, tôi khám phá chúng đã vi phạm. Lỗi lầm này chỉ là một sự vi phạm luật lệ gia đình; chúng chưa ăn uống điều gì độc hại vào trong cơ thể chúng nó. Tuy nhiên, giả sử lần sau tôi để một chai thuốc độc ở nhà và nói với các con tôi: “Đừng bao giờ uống chai này”. Sau khi tôi đi khỏi, chúng thấy cái chai có thể chơi được, và than ôi, chúng uống thuốc độc vào trong người. Lần này, không những chúng không vâng lời tôi và vi phạm luật gia đình, nhưng còn tệ hơn nữa, chất độc đã vào trong chúng. Đây là điều đã xảy ra vào ngày A-đam ăn trái của cây tri thức. Không những ông không vâng theo lệnh cấm của Đức Chúa Trời nhưng ông còn đem sự sống của Sa-tan vào trong chính mình. Từ đó về sau, phần bên trong con người trở nên phức tạp; không những con người có sự sống ngay thẳng và tốt lành nguyên thủy của loài người mà còn có sự sống xấu xa và bại hoại của Sa-tan.

Sự sống của Sa-tan đương nhiên đầy dẫy mọi loại tội lỗi, chứa đựng mầm mống của mọi sự bại hoại và mọi yếu tố gian ác. Sa-tan sống trong con người, làm cho con người có những dục vọng (Gi. 8:44), và phạm tội (1 Gi. 3:8). Vì vậy, sự sống này là cội rễ của tội lỗi, làm cho con người sống bộc lộ tội lỗi. Những tội lỗi khác nhau mà con người đã vi phạm ra từ sự sống của Sa-tan hay sự sống của ma quỉ trong họ. Kể từ khi sự sống của ma quỉ vào trong con người, dầu đôi lúc con người vẫn có thể sống biểu lộ chút ít sự tốt lành của con người theo sự sống con người của mình, nhưng hầu hết trong mọi lúc họ vẫn sống-bày-tỏ sự xấu xa của ma quỉ theo sự sống ma quỉ. Đôi lúc họ rất hiền hòa; họ có thể thật sự hành động như một con người và “tỏa ra hương vị” của một con người đích thực. Nhưng những lúc khác, khi nổi giận, họ thật sự giống như ma quỉ, đầy dẫy mùi của ma quỉ. Khi người ta sống đam mê trong sự say sưa, nhậu nhẹt, đĩ điếm, cờ bạc và phạm nhiều loại tội lỗi, bề ngoài của họ thật giống một con quỉ và họ đầy mùi ma quỉ. Không phải tự ý con người muốn sống-bày-tỏ sự sống của ma quỉ nhưng ấy là sự sống của ma quỉ trong họ làm cho họ trở nên một con người quỉ quái và dẫn dắt họ sống một cuộc sống pha trộn giữa người và quỉ.

Đây là tình trạng thật bên trong loài người trên thế giới. Dựa trên sự kiện con người có hai sự sống của cả con người lẫn Sa-tan, một sự sống có bản chất tốt còn sự sống kia rất gian ác nên, một mặt họ ao ước trở nên tốt lành và ngay thẳng, mặt khác họ lại có khuynh hướng bại hoại xấu xa. Vì lý do này, trải qua nhiều thế hệ các triết gia tham gia nghiên cứu bản chất loài người đã ủng hộ cho hai dòng tư tưởng khác nhau: một tư tưởng cho rằng bản chất loài người tốt đẹp, trong khi tư tưởng kia cho rằng bản chất nhân loại rất xấu xa. Sự thật là chúng ta có cả hai bản chất bên trong vì trong chúng ta có cả sự sống tốt lành lẫn sự sống gian ác.

Nhưng cám ơn Chúa, ngày nay, là những người được cứu không những chúng ta chỉ có sự sống của con người và ma quỉ nhưng cũng có sự sống của Đức Chúa Trời. Giống như Sa-tan, trong khi phá hoại đã tiêm sự sống của hắn vào trong chúng ta, kết hiệp chúng ta với hắn, giành lấy chúng ta và làm cho chúng ta có tất cả mọi điều gian ác trong bản chất của hắn; Đức Chúa Trời cũng vậy, trong sự giải cứu của Ngài, Ngài đã đặt sự sống Ngài vào trong chúng ta, làm cho chúng ta hiệp một với Ngài, chiếm hữu chúng ta, làm cho chúng ta sở hữu được mọi điều tốt lành có tính cách thần thượng của bản chất Ngài. Vì vậy, điểm rất quan trọng của sự sa ngã là sự sống, và cũng vậy, điểm rất quan trọng của sự cứu rỗi cũng là sự sống. Khi đến dự bàn của Chúa, trước hết chúng ta bẻ bánh sự sống, sau đó chúng ta mới uống chén tha thứ của Ngài. Điều này có ý nghĩa là khi chúng ta kinh nghiệm sự cứu rỗi của Chúa, dù trước hết chúng ta nhận lấy huyết và sau đó là sự sống, nhưng trong sự cứu rỗi của Ngài, biểu hiện chính yếu là bánh, tượng trưng cho sự sống. Chén, tượng trưng cho huyết, là điều thứ nhì. Vì vậy, trước hết chúng ta nhận lấy bánh và sau đó là chén.

Khi sự sống của Đức Chúa Trời vào trong chúng ta, con người bên trong của chúng ta trở nên phức tạp hơn người thế gian. Chúng ta có sự sống ngay thẳng của con người, sự sống gian ác của Sa-tan và sự sống tốt lành có tính cách thần thượng của Đức Chúa Trời. Điều này nghĩa là chúng ta có con người, Sa-tan và Đức Chúa Trời. Tình trạng ba nhóm gồm con người, Đức Chúa Trời và Sa-tan đã hiện diện ngày hôm ấy trong vườn Ê-đen cũng hiện hữu trong chúng ta hôm nay. Có thể nói trong chúng ta là một vườn Ê-đen thu nhỏ, có con người, Đức Chúa Trời và Sa-tan, cả ba đều có mặt tại đây. Vì vậy, sự đấu tranh giữa Sa-tan với Đức Chúa Trời để giành lấy con người trong vườn Ê-đen cũng xảy ra trong chúng ta hôm nay. Sa-tan chuyển động trong chúng ta ngày nay, ao ước chúng ta hợp tác với hắn để hắn có thể hoàn thành ý định gian ác là chiếm hữu chúng ta; Đức Chúa Trời cũng vận hành trong chúng ta, ao ước chúng ta hợp tác với Ngài để hoàn thành niềm vui thích tốt lành của Ngài. Nếu sống theo sự sống của Sa-tan trong mình, chúng ta sẽ sống-bày-tỏ những điều gian ác của Sa-tan và như vậy giúp hắn có khả năng hoàn thành ý định gian ác của hắn trên chúng ta. Nếu sống theo sự sống của Đức Chúa Trời trong mình, chúng ta sẽ sống-bày-tỏ những điều tốt đẹp thần thượng của Đức Chúa Trời và như vậy làm cho Ngài có thể hoàn thành niềm vui thích tốt lành của Ngài trong chúng ta. Mặc dầu đôi lúc dường như chúng ta có thể độc lập, không sống theo sự sống của Sa-tan cũng không sống theo sự sống của Đức Chúa Trời mà chỉ theo sự sống loài người, thế nhưng thật ra chúng ta không thể độc lập; chúng ta chỉ có thể sống theo sự sống của Đức Chúa Trời hoặc sống theo sự sống của Sa-tan.

Kết quả là một Cơ Đốc nhân có thể hành động theo ba loại người khác nhau và sống theo ba loại sự sống khác nhau. Một anh em có thể rất lịch sự vào buổi sáng như một con người; vào buổi trưa, khi nổi giận với vợ mình, anh giống như một con quỷ, và vào buổi tối trong giờ cầu nguyện, cảm thấy mình đã đối xử sai quấy với vợ, anh xưng tội trước mặt Chúa và với vợ mình, trông anh giống Đức Chúa Trời. Như vậy, chỉ trong một ngày anh hành động như ba con người khác nhau và sống biểu lộ ba tình trạng khác nhau. Buổi sáng anh lịch sự như một con người, buổi trưa anh nổi nóng như một con quỷ, và ban đêm, sau khi xử lý tội lỗi, anh bày tỏ hình ảnh Đức Chúa Trời. Chỉ trong một ngày, con người, ma quỉ, và Đức Chúa Trời đều được biểu hiện trong đời sống anh. Lý do anh có thể hành động như vậy là vì trong anh có sự sống của cả ba, đó là con người, ma quỉ và Đức Chúa Trời. Khi anh sống theo sự sống của con người, anh giống một con người, khi anh bước đi theo sự sống của ma quỉ, anh giống như ma quỉ; và khi anh hành động theo sự sống của Đức Chúa Trời, anh bày tỏ hình ảnh của Đức Chúa Trời. Khi chúng ta sống theo sự sống nào thì bất kể sự sống ấy là gì, sự sống ấy quyết định điều chúng ta sẽ sống-bày-tỏ.

Vì vậy, chúng ta cần thấy rõ trong một người được cứu, có ba sự sống khác nhau: sự sống thọ tạo của con người, sự sống sa ngã của Sa-tan và sự sống bất thọ tạo của Đức Chúa Trời. Mặc dầu có ba sự sống bên trong, nhưng chúng ta nhận được ba sự sống ấy trong ba giai đoạn khác nhau và theo ba biến cố khác nhau. Trước hết, vào thời điểm sáng tạo và qua sự sáng tạo, chúng ta nhận được sự sống thọ tạo của loài người. Thứ hai, trong sự sa ngã, vì tiếp xúc với Sa-tan và cây kiến thức về thiện và ác, chúng ta nhận lấy sự sống sa ngã của Sa-tan. Thứ ba, khi được cứu, vì tin Con Đức Chúa Trời và tiếp nhận Ngài, chúng ta nhận được sự sống bất thọ tạo của Đức Chúa Trời. Dựa theo sự kiện của ba biến cố này: sự sáng tạo, sự sa ngã và sự cứu rỗi diễn ra trong chúng ta, chúng ta đã nhận lấy ba sự sống, đó là sự sống của con người, của Sa-tan và Đức Chúa Trời, và bản chất của mỗi sự sống này khác nhau. Sau khi đã thấy và nhận biết điều này, con đường sự sống sẽ sáng tỏ hơn đối với chúng ta. Do ba sự sống khác biệt của con người, Sa-tan và Đức Chúa Trời đồng tồn tại trong chúng ta, chúng ta nên sống theo sự sống nào đây? Sự sống của con người? Sự sống của Đức Chúa Trời? Hay sự sống của Sa-tan? Chúng ta sống theo sự sống nào thì sẽ bày tỏ sự sống ấy. Con đường sự sống nằm trong điều này.

II. BỐN LOẠI LUẬT

Mỗi sự sống trong ba sự sống bên trong chúng ta là những người được cứu đều có một luật riêng của nó. Vì vậy, trong chúng ta không những chỉ có ba sự sống mà còn có ba luật thuộc về ba sự sống ấy. Ngoài ra còn có luật của Đức Chúa Trời ở bên ngoài chúng ta. Vì vậy, tổng cộng có bốn loại luật bên trong và bên ngoài chúng ta. Điều này được bày tỏ cho chúng ta trong La Mã chương 7 và 8.

A. Định Nghĩa Về Bốn Loại Luật

Luận đề chính của La Mã chương 7 và 8 là luật. Trước đó trong chương 6, vị sứ đồ nói: “Vì tội không chủ trị anh em được đâu: bởi anh em chẳng ở dưới luật pháp”. Lý do duy nhất khiến tội không cai trị trên chúng ta là vì chúng ta không ở dưới luật pháp. Vì vậy, để giải thích nhóm chữ “không ở dưới luật pháp”, sứ đồ tiếp tục nói về luật trong chương 7 và 8. Chương 7 bắt đầu bằng những lời sau: “Anh em ơi, (tôi nói với những kẻ biết luật pháp), anh em há chẳng biết rằng luật pháp chỉ chủ trị người ta đương khi còn sống hay sao?” Và một lần nữa, câu 6 nói: “Nhưng bây giờ chúng ta đã được giải thoát khỏi luật pháp, vì đã chết đối với điều đã đè giữ mình”. Sau đó, ông lại nói: “Nhưng nếu không bởi luật pháp thì tôi chẳng biết tội là gì” (c. 7). Và một lần nữa: “Vì theo người bên trong, tôi vẫn lấy làm vui thích luật pháp của Đức Chúa Trời” (c. 22). Mọi lời này liên quan đến luật pháp của thời Cựu Ước. Sau cùng, ông nói: “Nhưng tôi thấy trong chi thể tôi có một luật khác chiến đấu với luật của tâm trí tôi, bắt tôi làm phu tù cho luật của tội vẫn ở trong chi thể tôi”. Và lại nữa, “như vậy, chính mình tôi lấy tâm trí phục luật pháp của Đức Chúa Trời, nhưng lấy xác thịt phục luật pháp của tội” (c. 25). Sau đó trong chương 8, ông nói: “Vì luật của Linh sự sống trong Christ Jesus đã buông tha tôi khỏi luật của tội lỗi và sự chết” (c. 2). Qua những lời này, vị sứ đồ nói đến bốn luật khác nhau có liên quan đến chúng ta một cách cá nhân.

Trước hết là “luật của Đức Chúa Trời” (7:22, 25), tức là luật pháp Cựu Ước, nói lên tất cả những gì Đức Chúa Trời đòi hỏi nơi chúng ta. Thứ hai là “luật của tâm trí” (7:23), là luật trong tâm trí chúng ta, làm cho chúng ta ao ước làm điều lành; vì vậy, có thể gọi là luật của điều lành trong tâm trí chúng ta. Thứ ba là “luật của tội trong các chi thể” (7:23) gây cho chúng ta phạm tội. Vì chức năng của luật này trong chúng ta làm cho chúng ta phạm tội, chức năng này biểu lộ qua các chi thể của thân thể chúng ta, nó được gọi là “luật của tội trong các chi thể”. Thứ tư, “luật của Linh sự sống” (8:2) làm cho chúng ta sống trong sự sống của Đức Chúa Trời. Linh mà từ đó luật này phát sinh là Linh của sự sống, một linh hòa lẫn gồm có Linh của Đức Chúa Trời, sự sống của Đức Chúa Trời và nhân linh của chúng ta. Vì vậy, nó được gọi là “luật của Linh sự sống”. Hơn nữa, vì Linh này chứa đựng sự sống, thuộc về sự sống và là sự sống, nên luật của Linh này được gọi là “luật sự sống”. Về bốn luật này, có một luật ở bên ngoài chúng ta, là luật pháp của Đức Chúa Trời; trong khi ba luật kia ở bên trong chúng ta, là luật điều lành trong tâm trí, luật của tội trong thân thể và luật của Linh sự sống trong linh chúng ta.

B. Nguồn Gốc Của Bốn Loại Luật

Mỗi luật này có nguồn phát xuất khác nhau. Luật pháp của Đức Chúa Trời viết trên các bảng đá, được Ngài ban cho loài người qua Môi-se trong thời Cựu Ước. Ba luật kia đến từ ba sự sống mà chúng ta đã đề cập ở trên. Chúng ta biết rằng mỗi sự sống có một luật. Mặc dầu luật có thể không luôn luôn ra từ một sự sống, tuy nhiên mỗi sự sống luôn luôn có một luật. Vì chúng ta có ba sự sống khác nhau bên trong, chúng ta có ba luật tương ứng với ba sự sống khác nhau này.

Luật điều lành trong tâm trí ra từ sự sống thọ tạo tốt lành. Chúng ta nhận được sự sống này không vào thời điểm được cứu mà vào lúc chúng ta ra đời. Đây là sự ban cho tự nhiên trong sự sáng tạo của Đức Chúa Trời, không phải một sự ban cho gồm tóm trong sự cứu rỗi của Ngài. Trước khi được cứu, tư tưởng và tâm trí chúng ta thường có một khuynh hướng tự nhiên hay nỗi ước ao làm lành, tôn kính cha mẹ, nhân từ đối với người khác, hối hận, hi vọng tự cải thiện và quyết định hướng thượng. Những tư tưởng về điều thiện và hướng thượng này ra từ luật làm lành trong tâm trí chúng ta. Chúng cũng minh chứng rằng luật tốt lành này đã có sẵn trong chúng ta ngay cả trước khi chúng ta được cứu.

Dựa trên La Mã 7:18 (“Vả, tôi biết rằng trong tôi... chẳng có điều gì tốt cả”), một số người kết luận rằng trước khi hay sau khi được cứu, trong chúng ta chẳng có điều gì lành cả; nên luật về điều lành trong tâm trí không thể đến từ sự sống thọ tạo nguyên thủy, huống chi là trước khi chúng ta được cứu. Tuy nhiên, nếu đọc La Mã 7:18 một cách cẩn thận, chúng ta sẽ thấy kết luận này không chính xác, vì khi Phao-lô nói không có điều lành hay điều thiện trong chúng ta, ông liên hệ đến tình trạng của xác thịt chúng ta. Và theo văn mạch của các câu 21, 23, và 24, xác thịt ở đây chỉ về cơ thể sa ngã và biến tính của chúng ta. Trong cơ thể đã sa ngã và bị biến tính của chúng ta, tức là trong xác thịt mình, không có điều gì tốt lành. Điều này không có nghĩa là trong con người sa ngã của chúng ta không có điều gì tốt lành cả. Trái lại, về sau trong chương này, vị sứ đồ nói với chúng ta một cách rõ ràng trong con người sa ngã của chúng ta có một ý chí ao ước làm điều lành và một luật tốt lành trong tâm trí chúng ta. Cả ý chí lẫn tâm trí đều là các phần của hồn chúng ta. Vì vậy, dầu không có điều gì tốt lành trong cơ thể đã sa ngã và bị biến tính, nhưng trong ý chí và tâm trí của hồn chúng ta vẫn có yếu tố tốt lành, ngay cả sau khi sa ngã. Yếu tố tốt lành này thuộc về sự sống thọ tạo tốt lành của chúng ta một cách tự nhiên. Vì vậy, luật tốt lành trong tâm trí thuộc về sự sống thọ tạo nguyên thủy của chúng ta và hiện hữu trước khi chúng ta được cứu, ngay từ khi chúng ta ra đời.

Một vài người nói rằng sự sống thọ tạo tốt lành của chúng ta đã bị bại hoại bởi Sa-tan sau sự sa ngã nên đã mất đi yếu tố tốt lành của nó. Nói như vậy không chính xác. Chẳng hạn như, khi thêm chất chua vào một ly nước mật ong, chúng ta làm hỏng vị ngọt của ly nước, nhưng không loại hẳn chất ngọt được. Mặc dầu Sa-tan đã làm hư hoại con người, yếu tố tốt lành của họ vẫn còn đó. Sự thật là yếu tố tốt lành được tạo dựng trong con người đã bị Sa-tan làm hư hoại đến nỗi không thể chữa trị được, nhưng chúng ta không thể nói rằng nó bị bại hoại đến nỗi không còn tồn tại. Nếu anh em đập vỡ một cái ly, nó sẽ vỡ làm nhiều mảnh, nhưng yếu tố (thủy tinh) của nó vẫn còn. Một thỏi vàng có thể bị ném vào một cái ao dơ bẩn, nhưng yếu tố vàng vẫn còn. Mặc dầu lòng tôn kính cha mẹ, yêu thương anh em, tính trung thành, chân thật, đứng đắn, đạo đức, khiêm tốn và cảm giác xấu hổ của chúng ta có hơi bị pha trộn và không tinh ròng, nhưng những yếu tố này vẫn chân chính. Vì vậy, chúng ta có thể kết luận mặc dầu những yếu tố tốt lành của mình đã bị ô uế, chúng vẫn tồn tại sau khi bị phá hoại; dầu rất yếu ớt nhưng chúng vẫn còn đó. Vì lý do này, các nhà thông thái và các triết gia Trung Hoa đã khám phá rằng bên trong con người vẫn còn một vài “mỹ đức xuất sắc”, và “ý thức bẩm sinh”,... và họ kết luận rằng bản chất con người là tốt lành. Sự khám phá của các triết gia này thật sự là đúng vì bên trong con người sa ngã của chúng ta vẫn có những yếu tố tốt lành và có một luật làm cho chúng ta tự nhiên ao ước làm điều lành.

Luật của tội trong các chi thể ra từ sự sống sa ngã và gian ác của Sa-tan. Chúng ta đã nói trước đây bởi sự sa ngã qua sự phạm tội của A-đam, tức là việc ông ăn trái của cây kiến thức về thiện và ác, sự sống của Sa-tan đã vào trong con người. Sự sống của Sa-tan chứa đựng luật gian ác, tức là luật của tội trong các chi thể. Vì sự sống của Sa-tan là gian ác nên luật ra từ sự sống của hắn đương nhiên làm cho con người phạm tội và làm điều gian ác.

Luật của Linh sự sống đến từ Linh sự sống. Luật này ở trong linh chúng ta và từ sự sống bất thọ tạo và thần thượng của Đức Chúa Trời mà ra. Khi chúng ta tiếp nhận Chúa và được cứu, Linh của Đức Chúa Trời cùng với sự sống của Ngài vào trong linh chúng ta và hòa lẫn với linh chúng ta để trở nên Linh sự sống. Trong sự sống của Linh sự sống có chứa đựng một luật, là luật của Linh sự sống hay luật sự sống.

Vì vậy, chúng ta phải thấy rõ rằng khi chúng ta được cứu, Đức Chúa Trời không đặt luật về điều thiện nhưng đặt luật sự sống vào trong chúng ta. Mục đích của Đức Chúa Trời ở trong chúng ta là sự sống chứ không phải là điều lành, điều thiện. Khi Đức Chúa Trời cứu chúng ta, Ngài đặt luật sự sống vào trong chúng ta. Luật về điều lành không được ban cho chúng ta qua sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời mà qua sự sáng tạo của Ngài. Yếu tố làm điều lành ở trong chúng ta là một điều cố hữu đã được thừa hưởng trước. Nhưng khi Đức Chúa Trời cứu chúng ta, Ngài đặt sự sống của Ngài vào trong chúng ta. Trong sự sống này có chứa đựng luật sự sống, luật của Linh sự sống. Chúng ta nhận được luật này vào lúc được cứu, và luật này ra từ sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời về phương diện sự sống.

Vì vậy, về nguồn gốc của bốn luật này, chúng ta có thể nói: luật pháp của Đức Chúa Trời ra từ Đức Chúa Trời thì thuộc về Đức Chúa Trời; luật về điều lành trong tâm trí ra từ sự sống của con người thì thuộc về con người; luật của tội lỗi ở trong các chi thể ra từ sự sống của Sa-tan thì thuộc về Sa-tan; và luật của Linh sự sống ra từ Linh sự sống thì thuộc về linh.

C. Vị Trí Của Bốn Loại Luật

Để hiểu biết chính xác về bốn luật này, chúng ta cần sáng tỏ về vị trí của chúng theo từng luật một.

Luật pháp của Đức Chúa Trời được viết trên các bảng đá; vì vậy, luật này ở bên ngoài chúng ta.

Luật về điều lành ở trong tâm trí, tức là trong hồn chúng ta. Vì sự sống làm lành ở trong hồn chúng ta nên luật ra từ sự sống ấy đương nhiên cũng ở trong hồn chúng ta. Chức năng của luật này đặc biệt được bày tỏ trong tâm trí của hồn mình, vì vậy luật này được gọi là “luật của tâm trí”. Do đó, trong hồn mình, chúng ta có sự sống của con người, luật của điều lành đến từ sự sống ấy và bản chất tốt lành của con người.

Luật của tội ở trong các chi thể của chúng ta, tức là ở trong thân thể của chúng ta. Trong sự sa ngã, con người đã ăn trái của cây kiến thức về thiện và ác vào trong cơ thể mình. Như vậy, luật của tội, ra từ sự sống của Sa-tan, cũng ở trong thân thể chúng ta. Vì luật này ở trong thân thể, và thân thể gồm có các chi thể, nên luật này ở trong các chi thể của chúng ta. Như thế sự sống gian ác của Sa-tan đã vào trong thân thể con người. Vậy, trong thân thể chúng ta có Sa-tan, sự sống của Sa-tan, luật của tội ra từ sự sống của Sa-tan và bản chất gian ác của Sa-tan. Bởi sự kiện Sa-tan và các điều gian ác của hắn đã vào trong thân thể chúng ta rồi trộn lẫn với nó, nên thân thể đã bị biến tính và trở thành xác thịt bại hoại.

Luật của Linh sự sống ở trong linh chúng ta. Vì Linh sự sống cùng với sự sống của Đức Chúa Trời ở trong linh chúng ta nên luật ra từ Linh sự sống cũng ở trong linh chúng ta. Luật này ra từ Linh của Đức Chúa Trời và ở trong nhân linh chúng ta; vì vậy, không những nguồn gốc của luật này là Linh mà vị trí của luật cũng ở trong linh. Bởi thế, luật này hoàn toàn thuộc về linh; luật này không thuộc về thân thể, cũng không thuộc về hồn. Vì vậy, trong linh mình, chúng ta có Đức Chúa Trời, sự sống của Đức Chúa Trời, luật ra từ Linh sự sống của Đức Chúa Trời và bản chất sự sống của Ngài.

D. Bản Chất Và Chức Năng Của Bốn Loại Luật

Bản chất và các chức năng của bốn luật bên ngoài và bên trong chúng ta là gì? Luật pháp của Đức Chúa Trời gồm có các điều luật của Đức Chúa Trời, và bản chất của luật này là thánh khiết, công chính và tốt lành. Luật này ở bên ngoài chúng ta, làm cho chúng ta có khả năng nhận biết những gì Đức Chúa Trời định tội và những gì Ngài xưng công chính; luật này đòi hỏi chúng ta từ khước những gì Đức Chúa Trời định tội và đòi hỏi chúng ta làm những gì Ngài xưng công chính để xứng với luật lệ thánh khiết, công chính và tốt lành của Đức Chúa Trời.

Luật về điều lành trong tâm trí chúng ta, ra từ sự sống của con người thọ tạo, có tính chất tốt lành, chứa đựng bản chất tốt lành của con người và hoàn toàn phù hợp với bản chất của luật pháp Đức Chúa Trời bên ngoài chúng ta. Luật này tạo nên trong chúng ta, tức là trong tâm trí chúng ta, nỗi ao ước làm điều lành. Đặc biệt khi luật pháp của Đức Chúa Trời ở bên ngoài đòi hỏi chúng ta phải tốt lành, luật về điều lành trong chúng ta ban cho chúng ta khuynh hướng làm lành. Vì vậy, tâm trí trong chúng ta ưa thích vâng theo luật pháp của Đức Chúa Trời ở bên ngoài. Đây là điều vị sứ đồ nói: “Chính mình tôi lấy tâm trí phục luật pháp của Đức Chúa Trời” (La. 7:25).

Luật của tội trong các chi thể chúng ta, ra từ sự sống gian ác và sa ngã của Sa-tan trong xác thịt chúng ta, chứa đựng bản chất ác của Sa-tan. Sự sống gian ác của Sa-tan là điều “ác” hiện hữu trong xác thịt của chúng ta và “tội” cư trú bên trong chúng ta (La. 7:21, 20). Luật ra từ sự sống gian ác này gây cho chúng ta phạm tội vì nó là “luật của tội”. Luật này từ trong xác thịt chúng ta phơi bày quyền lực tự nhiên làm điều gian ác. Nó cũng tranh chiến chống nghịch lại luật về điều lành trong tâm trí chúng ta. Khi luật về điều lành trong tâm trí chúng ta ban cho chúng ta lòng ao ước làm điều lành thì luật của tội này nổi dậy chống nghịch lại luật về điều lành và đem chúng ta vào tình trạng bị giam cầm (La. 7:23). Thế thì, không những chúng ta không thể làm trọn nỗi ao ước làm lành của mình hay thỏa đáp những đòi hỏi tốt lành của luật pháp Đức Chúa Trời; trái lại, chúng ta còn vâng phục luật của tội trong các chi thể của chúng ta, phạm mọi loại tội lỗi và nhận lãnh sự chết, như đã được mô tả trong La Mã 7:21-24. Vì vậy chúng ta phạm tội không theo sự lựa chọn hay ý muốn riêng của mình, nhưng là luật của tội xúi giục chúng ta từ bên trong.

Như vậy, chúng ta có thể thấy trong con người sa ngã của mình có hai luật trái nghịch nhau. Một luật ra từ sự sống thọ tạo tốt lành và hành động trong tâm trí của hồn chúng ta, ban cho chúng ta lòng ao ước làm lành. Luật kia ra từ sự sống sa ngã, gian ác của Sa-tan và hành động trong các chi thể của thân thể, gây cho chúng ta phạm tội. Hai luật trái ngược này thực hiện những điều mâu thuẫn trong tâm trí và các chi thể của thân thể chúng ta, tranh chiến với nhau trong chúng ta. Kết quả là luật của tội thường thắng hơn luật về điều lành; vì vậy chúng ta không làm được điều lành mình ao ước và bị bắt buộc làm điều ác mà mình không muốn làm. Đây là điều người Trung Hoa gọi là sự tranh chiến giữa lý trí và dục vọng. Lý trí là yếu tố làm lành vốn có sẵn trong sự sống thọ tạo của chúng ta; dục vọng là tội lỗi cư trú trong thân thể sa ngã của chúng ta, hay điều ác trong xác thịt chúng ta. Mặc dầu lý trí có phần nào ra từ lương tâm của con người chúng ta, hành động trong tâm trí chúng ta; nhưng sự tốt lành, tức là kết quả của sự hành động của lý trí ra từ hoặc đi qua trí tuệ. Mặc dầu dục vọng có liên quan đến bản chất sa ngã của con người chúng ta, nó hành động trong các chi thể của thân thể chúng ta; như vậy điều ác là hoạt động của dục vọng, ra từ dục vọng. Vì vậy một người mạnh mẽ về trí tuệ là người có khả năng làm lành nhiều hơn, trong khi một người hay đam mê, thái quá về cảm xúc lại dễ phạm điều ác hơn. Nói cách khác, mọi điều lành mà con người thực hiện bắt nguồn từ trí tuệ hoặc đi qua trí tuệ của tâm trí, trong khi mọi điều ác con người vi phạm là sự hoạt động của dục vọng trong các chi thể. Khi lý trí trong tâm trí chiếm được ưu thế, nó sẽ khiến con người làm lành; khi dục vọng trong các chi thể chiếm ưu thế, nó sẽ khiến con người làm điều ác.

Một số người nghĩ rằng cuộc chiến này là sự tranh chiến được đề cập trong Ga-la-ti chương 5. Nghĩ như vậy là không chính xác. Ga-la-ti chương 5 nói về sự tranh chiến của xác thịt nghịch lại với Linh. Điều này chỉ xảy ra sau khi chúng ta được cứu và nhận được Thánh Linh. Nhưng cuộc chiến giữa hai luật liên quan đến cuộc chiến giữa sự sống sa ngã, gian ác của Sa-tan và sự sống thọ tạo tốt lành, và cuộc chiến này đã có ngay cả trước khi chúng ta được cứu. Vì vậy đây là một cuộc tranh chiến bên trong hiện hữu trước khi chúng ta được cứu. Đây cũng là sự tranh chiến giữa thiện và ác đang xảy ra trong mọi người trên thế giới.

Luật của tội ra từ “Tội”, “Tội” này là sự sống của Sa-tan và vì vậy nó sống động. “Tội” được viết hoa, nghĩa là được nhân cách hóa và chỉ có một. Trong vũ trụ, chỉ có một Đức Chúa Trời và chỉ có một Tội. Tội là một chữ đặc biệt và là một đối tượng duy nhất; Tội cũng là một tên khác của Sa-tan. Vì vậy La Mã từ chương 5 đến chương 8 cho chúng ta biết Tội có thể cai trị trên chúng ta, có quyền thống trị trên chúng ta, làm cho chúng ta trở nên tôi mọi của hắn mà chống nghịch lại Đức Chúa Trời; hắn có thể cư trú trong chúng ta, chế ngự chúng ta, xui chúng ta làm điều ác mà chúng ta không muốn. Nhiều tội lỗi bên ngoài chúng ta chỉ là những hành động kết quả từ sự hành động của Tội duy nhất này trong chúng ta. Tội duy nhất này là gốc rễ và là “mẹ” của mọi tội lỗi.

Làm thế nào Tội gây cho chúng ta phạm tội ở bên ngoài? Chúng ta đã thấy Tội cư trú trong thân thể mình. Tuy nhiên, chính ý chí chứ không phải thân thể, là cơ quan thúc đẩy xúi giục. Ý chí vốn thuộc về hồn con người, bị Tội thống trị và vâng theo các mạnh lệnh của Tội, xúi giục thân thể con người phạm tội. Vì vậy, mặc dầu Tội cư trú trong thân thể chúng ta, công tác phá hoại của nó tiến từ bên ngoài vào đến trung tâm. Lấy thân thể làm căn cứ, nó phóng ra chất độc tội lỗi, gây thiệt hại cho hồn và linh chúng ta đến khi toàn thể con người chúng ta bị bại hoại. Vì vậy, Giê-rê-mi 17 nói: “Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật”. La Mã chương 1 và Mác chương 7 cũng tuyên bố có tất cả mọi loại tội lỗi trong con người. Những câu Kinh Thánh này minh chứng con người hoàn toàn bại hoại do Tội bên trong và đầy dẫy tội lỗi. Vì lý do này, ngày nay trong hồn con người, tâm trí họ gian ác, tình cảm họ ô uế, ý chí họ nổi loạn và ngay cả linh của họ tối tăm. Đây là những hậu quả công tác của Tội trong con người.

Nhưng chúng ta phải cảm ơn Chúa, vì trong chúng ta là những người được cứu, không những có hai luật thiện và ác, con người và Sa-tan mà còn có luật của Linh sự sống của Đức Chúa Trời. Vì luật này ra từ sự sống của Linh Đức Chúa Trời, luật này ra từ sự sống thần thượng, bất thọ tạo của Đức Chúa Trời. Xét về bản chất vừa thần thượng vừa vĩnh cửu, giữa tất cả những gì được gọi là sự sống trong vũ trụ này, chỉ có sự sống của Đức Chúa Trời mới là “sự sống” (Điều này đã được thảo luận chi tiết trong chương một, Sự Sống Là Gì?). Vì vậy bản chất của sự sống Đức Chúa Trời là “sự sống”. Vì luật của Linh sự sống ra từ sự sống của Đức Chúa Trời nên bản chất của luật này là “sự sống”, cũng như bản chất của sự sống Đức Chúa Trời là “sự sống”. Luật của Linh không giống như hai luật đã được đề cập đến trong phần trên tức là các luật “thiện” hoặc “ác” do nơi sự sống mà chúng đã phát sinh ra.

Theo sự khải thị của Kinh Thánh, sự sống và điều lành là hai điều khác nhau. Ở đây chúng ta có ba điều chính yếu: trước hết, sự sống là bản chất của sự sống Đức Chúa Trời, trong khi điều lành là bản chất của sự sống con người; thứ hai, sự sống thì tốt lành, nhưng điều lành không nhất thiết là sự sống; thứ ba, cây sự sống và cây kiến thức về thiện và ác trong vườn Ê-đen cho chúng ta thấy sự sống và điều lành rõ ràng là khác nhau hoàn toàn nhưng sự sống thì không tốt, không xấu. Sự sống, điều lành và điều ác là ba điều khác nhau và độc lập với nhau.

Chúng ta nên nhận biết chẳng những sự sống và điều lành không giống nhau mà còn có sự khác biệt giữa những điều lành với nhau nữa. Có điều lành của Đức Chúa Trời và cũng có điều lành của con người. Sự tốt lành của Đức Chúa Trời ra từ sự sống của Đức Chúa Trời và chứa đựng bản chất của sự sống Ngài. Sự tốt lành của con người ra từ sự sống của con người và chỉ chứa đựng bản chất tốt lành của con người. Sự tốt lành đề cập đến trong Ê-phê-sô 2:10, và 2 Ti-mô-thê 2:21 là điều lành mà chúng ta sống-bày-tỏ nhờ sự sống của Đức Chúa Trời; vì vậy, đây là sự tốt lành ra từ sự sống của Đức Chúa Trời và là sự tốt lành của Ngài. Điều tốt lành được đề cập đến trong Ma-thi-ơ 12:35, La Mã 7:18, 19, 21 và 9:11 là điều thiện chúng ta sống biểu lộ ra theo sự sống của chính chúng ta; vì vậy, đây là điều thiện ra từ sự sống của con người và là điều thiện [hay điều lành] của con người. Điều lành do sự sống của con người mà ra chỉ là điều lành của con người, không có bản chất của “sự sống” hay yếu tố của Đức Chúa Trời. Chỉ có điều lành của Đức Chúa Trời, ra từ sự sống của Đức Chúa Trời không những là tốt lành mà còn có bản chất “sự sống” và chính là yếu tố của Đức Chúa Trời. Vì vậy, khi nói sự sống và điều lành khác nhau, chúng ta muốn nói rằng sự sống của Đức Chúa Trời và sự tốt lành của con người khác nhau. Việc lành của con người, ra từ sự sống của con người và không chứa đựng điều gì của bản chất sự sống của Đức Chúa Trời thì đương nhiên khác biệt với sự sống của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, vì điều lành của Đức Chúa Trời ra từ sự sống của Đức Chúa Trời và chứa đựng bản chất sự sống của Đức Chúa Trời nên chúng ta không thể nói điều lành của Đức Chúa Trời khác với sự sống của Ngài được.

Như vậy, chúng ta thấy luật của Linh sự sống chứa đựng bản chất “sự sống” của Đức Chúa Trời có thể làm cho chúng ta sống-bày-tỏ sự sống của Đức Chúa Trời, tức là sống-bày-tỏ việc lành của Đức Chúa Trời.

Hơn nữa, ba luật khác biệt này bên trong chúng ta cũng có mức độ sức mạnh khác nhau. Chúng ta biết rằng các luật khác nhau về sức mạnh tùy theo mức độ sức mạnh của đối tượng mà từ đó các luật ấy lần lượt phát sinh. Luật về điều lành ra từ sự sống con người, và sự sống của con người là yếu nhất; vì vậy, sức mạnh làm điều lành của luật làm lành là yếu nhất; luật của tội ra từ sự sống mạnh hơn của Sa-tan; vì vậy, năng lực phạm tội của luật này mạnh hơn năng lực làm lành của luật về điều lành. Năng lực này không những làm cho chúng ta bất lực trong điều lành mà còn khiến chúng ta phạm tội và làm điều ác. Luật của Linh sự sống ra từ sự sống mạnh nhất, tức là sự sống của Đức Chúa Trời; vì vậy năng lực của luật này cũng mạnh nhất; không những năng lực này giữ chúng ta khỏi theo luật của tội mà phạm tội nhưng còn làm cho chúng ta có thể phục theo chính luật sự sống và sống-bày-tỏ sự sống của Đức Chúa Trời một cách tự nhiên.

Trải qua các thế hệ, các triết gia đã hỗ trợ nhiều cách khác nhau để vun trồng đạo đức hay cải thiện phẩm hạnh con người. Thật ra, những gì họ hỗ trợ là sự hành động qua trí tuệ con người, ý chí riêng, nỗ lực riêng, trên một thân thể và hồn đã bại hoại, để phục hồi hay khơi động lại sự tốt lành nguyên thủy của con người. Tất cả những điều này không thể thắng hơn năng lực tự nhiên của luật của tội. Trong khi năng lực của luật rất bền bỉ thì sức người có hạn. Trong khi năng lực của luật là tự phát thì sự phấn đấu của con người chỉ là nỗ lực riêng. Bằng cách sử dụng nỗ lực riêng, người ta có thể duy trì được ít lâu, nhưng một khi sức lực đã kiệt quệ thì năng lực của luật lại bộc phát. Vì vậy, phương cách giải cứu của Đức Chúa Trời không phải là hành động nơi thân thể bên ngoài bằng cách đối phó với Tội quanh chúng ta, cũng không phải hành động vào hồn, là phần ở giữa thân thể và linh, bằng cách làm cho ý chí chúng ta mạnh mẽ lên để làm lành. Nhưng ấy là tại nơi trung tâm của chúng ta, tức là linh chúng ta, Đức Chúa Trời thêm vào trong chúng ta một yếu tố mới có mang theo năng quyền sự sống mạnh mẽ. Sau đó Ngài có thể tiến từ trong linh chúng ta ra bên ngoài, xuyên suốt mọi phần của bản thể chúng ta, bằng cách dùng một luật này để khống chế một luật khác và thắng hơn quyền lực phạm tội trong luật của tội. Hơn nữa, chúng ta có khả năng để sống-bày-tỏ điều lành mà luật pháp của Đức Chúa Trời đòi hỏi, là những điều trước đây chúng ta không thể sống biểu lộ được nhờ luật của điều lành. Hơn thế nữa, nhờ sự sống đến từ luật của Linh sự sống, chúng ta có thể sống-bày-tỏ sự sống mà Đức Chúa Trời mong muốn.

Vì vậy, Kinh Thánh cho chúng ta thấy có bốn luật liên quan đến mình, một luật ở bên ngoài và ba luật kia ở bên trong. Luật bên ngoài là luật pháp của Đức Chúa Trời. Còn ba luật ở bên trong chúng ta thì một ở trong hồn, một ở trong thân thể, và một ở trong linh chúng ta. Luật trong hồn đến từ sự sống thọ tạo tốt lành của con người, luật này là luật tốt lành và ban cho chúng ta lòng ao ước làm điều lành. Luật trong thân thể chúng ta, đến từ sự sống sa ngã, gian ác của Sa-tan, luật này là gian ác và làm cho chúng ta phạm tội. Luật trong linh chúng ta đến từ sự sống bất thọ tạo và thần thượng của Đức Chúa Trời, luật này là thần thượng và làm cho chúng ta sống-bày-tỏ sự sống thần thượng của Đức Chúa Trời.

Luật pháp của Đức Chúa Trời bên ngoài chúng ta đại diện Đức Chúa Trời để ban cho chúng ta những đòi hỏi về sự thánh khiết, công chính và tốt lành. Luật về điều lành trong hồn chúng ta, khi tiếp xúc với những đòi hỏi thánh khiết và tốt lành của luật pháp Đức Chúa Trời, sẽ ao ước và quyết định làm trọn những đòi hỏi ấy. Nhưng khi luật của tội trong các chi thể của chúng ta nhận biết luật về điều lành trong hồn chúng ta ao ước làm trọn những đòi hỏi thánh khiết và tốt lành của luật pháp Đức Chúa Trời bên ngoài chúng ta, chắc chắn luật ấy sẽ chống đối, kháng cự và thường thắng hơn luật về điều lành trong hồn chúng ta. Như vậy, chúng ta không những bất năng trong việc làm trọn luật pháp của Đức Chúa Trời, thay vào đó, chúng ta lại vi phạm những đòi hỏi thánh khiết và tốt lành của luật pháp Đức Chúa Trời bên ngoài chúng ta. Lý do là vì luật của tội trong thân thể chúng ta mạnh hơn luật tốt lành trong hồn chúng ta. Tuy nhiên, luật của Linh sự sống trong linh chúng ta còn mạnh mẽ hơn luật về điều lành trong hồn chúng ta. Vì vậy, nếu chúng ta quay về linh và sống theo linh, luật của Linh sự sống trong linh chúng ta sẽ giải cứu chúng ta khỏi luật của tội trong thân thể chúng ta và làm cho chúng ta sống-bày-tỏ sự sống thần thượng của Đức Chúa Trời. Như vậy không những chúng ta sẽ có khả năng làm trọn những đòi hỏi thánh khiết và tốt lành của Đức Chúa Trời, nhưng chúng ta còn đáp ứng được tiêu chuẩn thần thượng của chính Đức Chúa Trời nữa.

Chẳng hạn như luật pháp bên ngoài của Đức Chúa Trời đòi hỏi chúng ta không được tham lam. Luật về điều lành trong hồn chúng ta khi tiếp xúc với đòi hỏi này của luật pháp Đức Chúa Trời bèn ao ước làm trọn điều ấy và quyết định không bao giờ tham lam nữa. Nhưng ngay lúc ấy, luật của tội trong thân thể chúng ta nổi lên chống đối, làm cho chúng ta tham lam trong lòng; như vậy chúng ta không thể làm trọn luật pháp của Đức Chúa Trời, là luật đòi hỏi chúng ta không được tham lam. Khi ấy, cho dầu muốn và quyết tâm thế nào chăng nữa, chúng ta vẫn không loại bỏ lòng tham khỏi chính mình. Trái lại, càng mong muốn và nỗ lực loại bỏ, lòng tham càng dấy lên trong chúng ta. Bất cứ khi nào luật về điều lành trong hồn chúng ta ao ước làm lành do sự đòi hỏi bên ngoài của luật pháp Đức Chúa Trời, luật của tội ở trong thân thể chúng ta liền làm cho điều ác hành động trong chúng ta và tranh chiến lại tư tưởng tốt lành. Hơn nữa, luật về điều lành trong hồn chúng ta không cân xứng với luật của tội trong thân thể chúng ta; trong hầu hết mọi cuộc đụng độ, luật về điều lành đều thua luật của tội trong thân thể chúng ta. Nhưng ngợi khen Chúa, luật của Linh sự sống trong linh chúng ta mạnh hơn luật của tội trong thân thể chúng ta và có khả năng giải cứu chúng ta, buông tha chúng ta khỏi luật của tội. Nếu chúng ta ngừng nỗ lực và phấn đấu bởi luật về điều lành trong hồn mình, mà thay vào đó, chúng ta bước đi theo luật của Linh sự sống thì chúng ta sẽ được giải cứu khỏi lòng tham do luật của tội xui giục trong thân thể mình. Chúng ta sẽ có thể đáp ứng đòi hỏi của luật pháp bề ngoài của Đức Chúa Trời là không được tham lam và sống-bày-tỏ sự thánh khiết vượt trổi của Đức Chúa Trời.

Như vậy, chúng ta có thể thấy rõ luật pháp bên ngoài của Đức Chúa Trời đòi hỏi chúng ta một số điều, và ngay lập tức luật điều lành trong hồn chúng ta mong muốn đáp ứng những đòi hỏi ấy. Nhưng luật của tội ở giữa hai luật này, tức là luật pháp bên ngoài của Đức Chúa Trời và luật về điều lành trong hồn chúng ta, ngăn chận và cản trở chúng ta khiến luật về điều lành trong hồn chúng ta không thể làm trọn những đòi hỏi của luật pháp bên ngoài của Đức Chúa Trời mà nó ước ao. Y như thân thể vây quanh hồn chúng ta, luật của tội trong thân thể chúng ta cũng vây quanh luật về điều lành trong hồn chúng ta và mạnh hơn luật này. Vì vậy rất khó cho luật về điều lành trong hồn chúng ta thắng hơn luật của tội trong thân thể chúng ta để phá vỡ sự bao vây này mà làm trọn đòi hỏi của luật pháp bên ngoài của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên luật của Linh sự sống trong linh chúng ta mạnh mẽ hơn hết; vì vậy luật này có thể thắng hơn luật của tội trong thân thể chúng ta và giải cứu chúng ta khỏi bị luật kia bủa vây. Do đó luật của Linh sự sống có thừa khả năng đáp ứng trọn vẹn đòi hỏi của luật pháp Đức Chúa Trời.

Chúng ta có thể dùng một thí dụ khác để giải thích mối quan hệ của bốn luật này đối với chúng ta. Luật pháp bên ngoài của Đức Chúa Trời giống như một người đàn ông đáng kính đến cầu hôn chúng ta, trong khi luật về điều lành bên trong chúng ta giống như một thiếu nữ đức hạnh ưng thuận lời cầu hôn ấy. Tuy nhiên luật của tội trong các chi thể chúng ta giống như một kẻ bất lương luôn luôn theo đuổi thiếu nữ ấy và cố gắng gây ra nan đề giữa thiếu nữ và người đàn ông. Bất cứ khi nào hắn thấy thiếu nữ này đáp “vâng” với lời cầu hôn của ông ấy, hắn bắt cóc cô và ép buộc cô không làm theo ý muốn của chính cô hay theo lòng ao ước của lòng cô. Ngay lúc ấy, luật của Linh sự sống trong linh chúng ta, giống như một thiên sứ từ trời, đến giải cứu cô ta khỏi tay kẻ bất lương kia và giúp cô đáp ứng lời cầu hôn của người đàn ông; như vậy lòng ước muốn của cô được toại nguyện. Kết quả là cô khám phá ra vị thiên sứ đến từ trời ấy chính là Đấng mà người đàn ông kia đại diện cho. Vì vậy, bằng cách giúp cô đáp ứng lời cầu hôn của người đàn ông, thiên sứ ấy đã giúp cô thực hiện niềm ước ao của chính vị thiên sứ.

Qua thí dụ này, chúng ta thấy mặc dầu luật bề ngoài của Đức Chúa Trời đòi hỏi chúng ta nhiều điều, nhưng không làm cho chúng ta thực hiện được những đòi hỏi ấy. Luật về điều lành trong tâm trí chúng ta ao ước làm trọn những đòi hỏi của luật pháp bề ngoài của Đức Chúa Trời, nhưng không có năng lực để thắng hơn luật của tội trong các chi thể chúng ta. Hơn nữa, luật của tội luôn luôn chống đối luật về điều lành, và khi thấy luật về điều lành cố gắng đáp ứng đòi hỏi của luật Đức Chúa Trời, chắc chắn luật này sẽ ngăn chận và cản trở việc thực hiện ao ước ấy. Nhưng luật của Linh sự sống trong linh chúng ta, là sự giải cứu của chúng ta đến từ Đức Chúa Trời với quyền năng mạnh mẽ của sự sống Ngài, giải thoát chúng ta khỏi luật của tội, như vậy làm cho chúng ta có khả năng đáp ứng mọi đòi hỏi của luật pháp Đức Chúa Trời và sống-bày-tỏ sự sống thần thượng của Ngài. Nếu chúng ta sống theo luật này của Linh sự sống, chúng ta sẽ được giải cứu khỏi luật của tội trong các chi thể mình và đương nhiên trở nên một Cơ Đốc nhân đắc thắng.

KẾT LUẬN

Đến đây, chúng ta có thể rút ra vài kết luận: Thứ nhất, sự giải cứu của Đức Chúa Trời khác với sự sửa đổi của con người. Trước hết, nền tảng hay cơ sở của hai bên khác nhau. Sự sửa đổi của con người dựa trên sự tốt lành nguyên thủy của họ, trong khi sự giải cứu của Đức Chúa Trời dựa trên sự sống của Ngài và Linh của Ngài, tức là Linh sự sống. Kế đến, có sự khác biệt về phương pháp. Con người cố gắng sửa đổi bằng cách gắng sức sử dụng năng lực của mình, ngược đãi thân thể, đè nén dục vọng, để tạo nên điều lành trong con người. Đức Chúa Trời giải cứu chúng ta bằng cách đặt Linh Ngài và sự sống Ngài vào trong linh chúng ta, như vậy làm cho linh chúng ta sống động; sau đó, Ngài bắt đầu công tác đổi mới từ linh chúng ta bằng cách trước hết Ngài đổi mới các phần khác nhau trong linh chúng ta, rồi đến các phần khác nhau trong hồn chúng ta, và sau cùng là thân thể vật lý của chúng ta. Cuối cùng, kết quả thật khác hẳn. Kết quả của sự sửa đổi của con người chỉ là điều tốt đẹp cao cả nhất của loài người; sự sửa đổi ấy không thể làm cho con người sống-bày-tỏ tiêu chuẩn thần thượng của bản chất Đức Chúa Trời. Tuy nhiên kết quả của sự giải cứu của Đức Chúa Trời là chúng ta trở nên những Thần-nhân, sống-bày-tỏ sự sống thần thượng của Đức Chúa Trời.

Thứ hai, sự giải cứu của Đức Chúa Trời không làm cho chúng ta thành những người tốt, nhưng thành những người-sống (người của sự sống). Tổng cộng có ba hạng người trong vũ trụ, đó là người-Trời (Thần-nhân), người lành, và người ác. Sự giải cứu của Đức Chúa Trời không làm cho chúng ta thành những người ác hay những người tốt, nhưng trở nên những người-sống.

Thứ ba, là những người được Đức Chúa Trời giải cứu, chúng ta phải sống trong Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời là sự sống, và sự giải cứu của Đức Chúa Trời là làm cho chúng ta trở nên những người-sống tức người thuộc sự sống. Sự sống là Đức Chúa Trời; trở thành một người-sống tức là trở nên một Thần-nhân. Để trở nên những con người như vậy, chúng ta cần phải sống trong Đức Chúa Trời. Nhưng sống trong Đức Chúa Trời là một giáo lý mù mờ. Nếu muốn sống trong Đức Chúa Trời, chúng ta cần sống trong luật của Linh sự sống. Điều này đòi hỏi chúng ta sống trong linh, vì luật của Linh sự sống ở trong linh. Điều này cũng đòi hỏi chúng ta sống theo cảm nhận của sự sống vì cảm nhận của sự sống là cảm nhận của luật của Linh sự sống. Nếu chúng ta vâng theo cảm nhận của sự sống, chúng ta chú tâm vào linh và sống trong linh. Nếu chúng ta chú tâm vào linh, chúng ta sống trong luật của Linh sự sống. Khi chúng ta sống trong luật của Linh sự sống, chúng ta sống trong Đức Chúa Trời. Kết quả, điều chúng ta sống-bày-tỏ là chính Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời là sự sống; vì vậy điều chúng ta sống-bày-tỏ là sự sống, và chúng ta trở nên người-sống.

Thứ tư, mục tiêu của sự giải cứu của Đức Chúa Trời là sự hiệp nhất giữa Đức Chúa Trời với con người. Khi chúng ta vâng theo luật của Linh sự sống và sống trong Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời cũng sống trong chúng ta, Ngài và chúng ta hòa lẫn một cách thực tiễn cho đến khi cả hai hoàn toàn hiệp một.

Có hai điểm khác nữa về phương diện chủ quan. Trước hết, chúng ta phải đụng chạm cảm nhận bên trong, tức là vâng phục cảm giác bên trong. Thứ hai, chúng ta phải sống trong sự tương giao. Sự tương giao là dòng chảy của sự sống. Sống trong sự tương giao là sống trong dòng chảy của sự sống. Hai điều này giúp chúng ta kinh nghiệm sự sống một cách thực tế. Mục tiêu của chương này khi bàn về ba sự sống và bốn loại luật là để đưa chúng ta đến điểm này. Nếu chúng ta đụng chạm cảm nhận bên trong một cách thực tế và sống trong sự tương giao, chúng ta sẽ tự động (1) được giải cứu khỏi tội, (2) làm những việc lành mà chúng ta không thể làm được, (3) làm trọn luật pháp của Đức Chúa Trời, và (4) sống-bày-tỏ sự sống của Đức Chúa Trời. Cuối cùng chúng ta có thể trở thành những Thần-nhân, biểu lộ sự sống của Đức Chúa Trời. Đây là mục tiêu cứu rỗi của Đức Chúa Trời và điều này cũng bao hàm mọi vấn đề liên quan đến sự sống.