Thông tin sách

Đấng Christ Bao Hàm Tất Cả

Tác giả: Witness Lee
Dịch từ bản tiếng Anh: Đấng Christ Bao Hàm Tất Cả
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 11

Untitled Document

CHƯƠNG MƯỜI MỘT

LÀM THẾ NÀO ĐỂ SỞ HỮU MIỀN ĐẤT (3)

NHỜ NHỮNG NGUYÊN TẮC CHỦ ĐẠO

Đọc Kinh văn: Xuất. 40:36-38; Lê. 8:7, 8, 10-12, 30; 20:26; 26:46

Trước khi tiếp tục qua sách Dân Số Kí, chúng ta cần phải thấy thêm vài điều trong hai sách Xuất Ai Cập Kí và Lê-vi Kí. Chúng ta đã thấy cách tiến vào miền đất tốt lành là vui hưởng Đấng Christ từng bước một với mức độ luôn luôn gia tăng, bắt đầu từ chiên con của lễ Vuợt qua. Nhưng trong kinh nghiệm của chúng ta còn có những điều thiết yếu hơn: ấy là những nguyên tắc chủ đạo, những yếu tố chủ đạo. Chúng ta đã thấy việc sở hữu miền đất tốt lành, việc tiến vào sự bao-hàm-tất-cả của Đấng Christ, không thể thực hiện được do một con người riêng lẽ, nhưng chỉ do nhóm người tập thể mà thôi. Điều này thật sáng tỏ. Nhưng chúng ta cần phải nhận thức rằng đặc biệt với một nhóm người tập thể, cần có một vài nguyên tắc chủ đạo. Cần phải có trật tự. Trong một thân thể tập thể, mọi điều cần có trật tự. Nếu không có những nguyên tắc chủ đạo, tình trạng mất trật tự và rối loạn sẽ ngự trị, mà sự mất trật tự và rối loạn có liên quan chặt chẽ với kẻ thù. Nếu chúng ta mất trật tự, chúng ta hư hoại và liên kết với Sa-tan. Như vậy, chúng ta không thể tiến vào miền đất tốt lành. Để có thể duy trì trật tự giữa vòng các con cái Chúa, cần phải có một vài nguyên tắc chủ đạo, một vài yếu tố chủ đạo.

Trong hai sách này, Xuất Ai Cập Kí và Lê-vi Kí, không những chúng ta thấy những điều khác nhau trong sự vui hưởng Đấng Christ, nhưng còn thấy những nguyên tắc chủ đạo mà Đức Chúa Trời chỉ định giữa vòng con cái Ngài. Ít nhất có ba yếu tố hay nguyên tắc chủ đạo quan trọng và cực kì thiết yếu.

SỰ HIỆN DIỆN CỦA CHÚA

Nguyên tắc chủ đạo đầu tiên là sự hiện diện của Chúa trong trụ mây và trụ lửa. Tôi không chỉ nói trụ mây và trụ lửa, nhưng là sự hiện diện của Chúa trong trụ mây và trụ lửa. Trong trụ mây và trụ lửa này, sự hiện diện của Chúa là nguyên tắc chủ đạo đầu tiên. Yếu tố này liên quan đến việc quy tụ dân Chúa và liên quan đến sinh hoạt hay sự chuyển động của dân Chúa. Dân Chúa nên chuyển động và hành động khi nào, cách nào và nơi nào tùy thuộc vào sự hiện diện của Chúa được bày tỏ cho họ trong trụ mây và trong trụ lửa. Nói cách khác, nếu chúng ta muốn tiến đến để sở hữu miền đất này, chúng ta phải thực hiện điều ấy bằng sự hiện diện của Chúa. Nếu sự hiện diện của Chúa đi cùng, chúng ta có thể tiến vào và vui hưởng miền đất. Anh em nhớ thế nào Chúa đã hứa với Môi-se: “Sự hiện diện của ta sẽ đi với ngươi và ta sẽ cho ngươi an nghỉ” (Xuất. 33: 14). Điều này nghĩa là Ngài sẽ đem dân Ngài vào sở hữu miền đất ấy bằng sự hiện diện của Ngài. Vì vậy, Môi-se thưa với Chúa: “Nếu sự hiện diện của Ngài không đi với tôi, xin đừng đem chúng tôi lên khỏi đây”. Môi-se đòi hỏi sự hiện diện của Chúa phải đi với ông; nếu không, ông sẽ không đi.

“Sự hiện diện của ta sẽ đi với ngươi”. Thật là những lời khá kì lạ. Sự hiện diện có thể đi được. Điều này không có nghĩa là Ngài sẽ đi. Ngài sẽ đi là một việc, còn sự hiện diện của Ngài sẽ đi là một việc khác. Anh em có nhận thấy sự khác biệt này không?

Tôi xin minh họa bằng một câu chuyện. Một lần kia bốn năm người chúng tôi đang phục vụ Chúa chung với nhau dự định đến một nơi kia. Chúng tôi đi chung. Tuy nhiên, lúc ấy có một anh em không vui với chúng tôi; nhưng anh ấy không có cách nào khác hơn là phải cùng đi. Chúng tôi đi chung một chuyến tàu lửa: ngoại trừ anh em ấy tất cả đều ngồi toa số một. Riêng anh ấy ngồi một mình ở toa số hai. Anh ấy đi với chúng tôi, nhưng sự hiện diện của anh không đi. Anh lên đường với chúng tôi, anh đi chung và anh cùng đến nơi, nhưng sự hiện diện của anh không ở với chúng tôi. Khi các anh em đến chào mừng chúng tôi, anh cũng ở đó và suốt chuyến thăm viếng ấy, anh cùng tham dự. Anh ở với chúng tôi, nhưng sự hiện diện của anh thì không. Điều này thật kì lạ.

Các anh chị em ơi, nhiều lúc Chúa đi với anh chị em, nhưng sự hiện diện của Ngài thì không. Nhiều lúc Ngài thật sự giúp đỡ anh chị em, nhưng chắc chắn Ngài không vui với anh chị em. Anh chị em sẽ được Ngài giúp đỡ, nhưng anh chị em mất sự hiện diện của Ngài. Ngài sẽ đưa anh chị em đi đến nơi đến chốn và Ngài sẽ chúc phước cho anh em, nhưng suốt chuyến đi, anh chị em sẽ không cảm nhận được sự hiện diện của Ngài. Ngài đi với anh chị em, nhưng sự hiện diện Ngài thì không.

Ôi, đây không phải là lí thuyết, nhưng là kinh nghiệm của chúng ta! Trong những năm qua, trong khi đang phục vụ Chúa, nhiều lần tôi nhận biết sự giúp đỡ của Ngài. Chắc chắn Ngài buộc phải giúp đỡ tôi; Ngài phải giúp đỡ tôi vì cớ chính Ngài. Nhưng tôi có thể nói với các anh em, nhiều lúc tôi không có sự hiện diện của Chúa chỉ vì Ngài không vui về tôi. Ngài phải đi với tôi, nhưng Ngài không vui. Tôi ngồi trên toa số một, nhưng Ngài ngồi trên toa số hai. Ngài cùng đi, nhưng Ngài cầm giữ lại sự hiện diện của Ngài để tôi biết rằng Ngài không hài lòng.

Cách đây vài năm, một chị em trẻ tuổi nói chuyện với tôi về cuộc hôn nhân của chị. Chị nói: “Thưa anh, tôi cảm biết việc tôi hứa hôn với một anh thanh niên lịch sự kia là đúng ý Chúa. Chúa thật sự đã giúp đỡ tôi trong vấn đề này; cho nên vào một ngày nào đó chúng tôi sẽ thông báo lễ đính hôn của chúng tôi”. Tôi biết ít nhiều về trường hợp của chị, nên tôi nói: “Chắc chắn Chúa đã giúp đỡ chị, tôi thật sự tin lời chị nói. Nhưng Ngài có vui lòng về chị trong vấn đề này không? Sự hiện diện của Ngài có ở với chị khi chị dự định về lễ đính hôn này không?” Chị đáp: “Thưa anh, thành thật mà nói, tôi biết Chúa không vui lòng về tôi. Tôi biết điều đó! Một mặt Ngài đã giúp đỡ tôi, nhưng mặt khác tôi biết Ngài không vui lòng về tôi”. Tôi hỏi: “Sao chị biết?” Câu trả lời của chị thật đầy ý nghĩa: “Bất cứ khi nào tôi suy nghĩ về điều này, tôi cảm biết mình mất sự hiện diện của Ngài”. Đây là một sự minh họa tuyệt vời. Chúa giúp đỡ chị, nhưng Ngài cầm giữ sự hiện diện của Ngài.

Các anh chị em ơi, chúng ta phải hiểu rõ. Đừng bao giờ nghĩ rằng hễ được Chúa giúp đỡ là đủ rồi. Không, không phải! Chắc chắn không phải như vậy. Chúng ta phải có sự hiện diện của Ngài. Chúng ta phải học cầu nguyện như vầy: “Chúa ơi, nếu Ngài không ban sự hiện diện của Ngài cho con, con sẽ ở lại đây với Ngài. Nếu sự hiện diện của Ngài không đi với con, con sẽ không đi. Con sẽ không để sự giúp đỡ của Ngài chỉ đạo con, mà là sự hiện diện của Ngài”. Hơn thế nữa, thậm chí chúng ta phải cầu nguyện như vầy: “Ôi Chúa, con không muốn sự giúp đỡ của Ngài, nhưng con muốn sự hiện diện của Ngài. Chúa ơi, con phải có sự hiện diện của Ngài. Con có thể làm mà không có sự giúp đỡ của Ngài, nhưng con không thể làm mà thiếu sự hiện diện của Ngài”. Anh chị em có thể nói như vậy với Chúa không?

Nhiều anh chị em đến gặp tôi nói như vầy: “Ồ thưa anh, Chúa thật đã giúp đỡ tôi!” Luôn luôn tôi muốn hỏi họ: “Anh em có cảm nhận được sự hiện diện của Chúa không? Anh em được Ngài giúp đỡ, nhưng anh em có cảm nhận được sự hiện diện của Ngài không?” Nhiều người được Chúa giúp đỡ, nhưng ít người có sự hiện diện của Ngài. Sự giúp đỡ không phải là yếu tố chủ đạo. Sự hiện diện của Ngài mới là yếu tố chủ đạo.

Một vài người hầu việc Chúa nói với tôi: “Anh ơi, anh không nhận thấy Chúa đã giúp đỡ chúng tôi sao? Anh không tin Chúa ban phước cho chúng tôi sao?” Tôi trả lời: “Chắc chắn Chúa đã giúp đỡ và ban phước cho anh, nhưng chúng ta hãy yên tịnh một chút trước mặt Chúa”. Sau một lúc, tôi hỏi: “Anh à, trong cảm nhận sâu xa nhất của mình, anh có cảm thấy sự hiện diện của Ngài ở cùng anh không? Tôi biết anh đã làm một điều gì đó cho Chúa; Tôi biết Chúa đã giúp đỡ và ban phước cho anh. Nhưng tôi muốn biết, trong nơi sâu thẳm nhất của mình, anh có cảm biết Chúa ở với anh không? Anh có luôn luôn cảm biết gương mặt Ngài đang mỉm cười với anh và chính nụ cười của Chúa vào trong anh không? Anh có điều này không?” Đây là những lời mềm mại dò xét lòng người. Là tôi tớ của Chúa, phần đông họ không thể nói dối; họ phải nói thật. Cuối cùng, các anh em ấy đáp: “Tôi phải nói có những lúc tôi mất tương giao với Chúa”. Sau đó, tôi hỏi: “Anh ơi, như vậy nghĩa là gì? Sự giúp đỡ của Chúa hay sự hiện diện của Ngài cai trị anh? Sự ban phước của Ngài hay nụ cười của Ngài cai trị anh?”

Các anh chị em ơi, dầu phải tuôn nước mắt, hằng ngày chúng ta phải nói: “Chúa ơi, ngoài sự hiện diện tươi cười của Ngài, không có điều gì làm thỏa lòng con. Con không ao ước điều gì khác hơn là nụ cười trên gương mặt vinh hiển của Ngài. Chừng nào con còn có điều này, thì con không quan tâm dầu trời giáng xuống hay trái đất vỡ tan. Dầu cả thế giới nỗi lên chống con, nhưng một khi Ngài mỉm cười với con, con vẫn có thể ngợi khen Ngài và mọi sự đều tốt đẹp”. Chúa phán: “Sự hiện diện của Ta sẽ đi với ngươi”. Thật là một kho tàng quý báu vô cùng! Sự hiện diện của Chúa, nụ cười của Ngài, là nguyên tắc chủ đạo. Chúng ta phải sợ nhận lãnh bất cứ điều gì từ nơi Chúa, mà mất đi sự hiện diện của Ngài. Đây thật là một điều đáng sợ. Chính Chúa có thể đồng ý ban cho anh em một điều gì đó, tuy nhiên chính điều đó sẽ cướp mất sự hiện diện của Ngài khỏi anh em. Ngài sẽ giúp đỡ anh em, Ngài sẽ ban phước cho anh em, tuy nhiên chính sự giúp đỡ và ban phước ấy có thể giữ anh em xa khỏi sự hiện diện của Ngài. Chúng ta phải học tập để được coi sóc, cai quản và chủ trị bằng sự hiện diện của Chúa mà thôi. Chúng ta phải nói với Chúa chúng ta không muốn gì cả trừ ra là sự hiện diện trực tiếp của Ngài. Chúng ta không muốn sự hiện diện cũ kĩ của Ngài. Bảo đảm rằng nhiều lúc anh em chỉ có sự hiện diện cũ kĩ của Chúa; không phải sự hiện diện tươi mới, không phải sự hiện diện trực tiếp. Hãy làm thế nào để được sự hiện diện trực tiếp, tươi mới của Chúa cai trị anh em.

Đây không chỉ là một đòi hỏi và một điều kiện, nhưng cũng là quyền năng để anh em tiến lên sở hữu miền đất. Sự hiện diện trực tiếp, tươi mới của Chúa sẽ làm cho anh em mạnh mẽ bằng oai quyền Ngài để nhận được sự đầy đủ, sự bao-hàm-tất-cả của Đấng Christ. Ôi, thật là mạnh mẽ, thật là đầy quyền năng ở trong sự hiện diện trực tiếp của Chúa! Đây chắc chắn không phải là vấn đề giáo lí, nhưng là kinh nghiệm trong nơi sâu thẳm của chúng ta.

“Sự hiện diện của ta sẽ đi với ngươi”. Chúa thật tuyệt vời, thật vinh hiển, thật huyền nhiệm! Nhưng Ngài bày tỏ sự hiện diện của Ngài cho chúng ta bằng cách nào? Làm thế nào chúng ta nhận thức sự hiện diện của Ngài? Thời xưa, sự hiện diện của Ngài luôn luôn ở trong mây vào ban ngày và trong lửa vào ban đêm, trong trụ mây và trụ lửa. Có mây khi mặt trời chiếu sáng, có lửa trong bóng đêm tăm tối. Sự hiện diện của Chúa được bày tỏ cho dân Ngài vào ban ngày là mây và vào ban đêm là lửa.

Hai điều này, mây và lửa, có ý nghĩa gì? Một vài phân đoạn trong Kinh Thánh cho thấy mây là biểu hiện của Linh. Trong kinh nghiệm của chúng ta, đôi lúc Thánh Linh giống y như một đám mây. Sự hiện diện của Chúa thì ở trong Linh. Nhiều lúc chúng ta biết sự hiện diện của Chúa ở cùng chúng ta. Làm thế nào chúng ta biết được điều này? Vì chúng ta nhận thức điều này trong Linh. Tôi tin rằng phần đông chúng ta đã kinh nghiệm điều này ít nhiều. Chúng ta đã kinh nghiệm sự hiện diện của Chúa trong Linh. Điều này thật huyền nhiệm. Nếu anh em hỏi làm thế nào tôi có thể kinh nghiệm Chúa trong Linh, tôi chỉ có thể đáp tôi kinh nghiệm điều ấy, tôi nhận biết điều ấy. Chúa ở trong Linh và tôi nhận biết sự hiện diện của Ngài trong Linh. Thực tại thì ở trong Linh. Đôi lúc có thể vì sự yếu đuối của chúng ta hoặc có thể vì Chúa cảm thấy chúng ta cần được khích lệ hay củng cố, nên Ngài ban cho chúng ta sự hiểu biết và ngay cả cảm thấy là Linh thật giống như một đám mây.

Vào năm 1935, tôi đang giảng về sự tuôn đổ của Thánh Linh. Vào giữa bài giảng, thình lình tôi có cảm giác một đám mây vây phủ tôi. Dường như tôi ở trong một đám mây. Ngay lập tức buổi nhóm có một chuyển biến rõ rệt, và những lời ra từ miệng tôi giống y như nước sống tuôn đổ. Cả hội chúng đều kinh ngạc. Khi anh em có một kinh nghiệm như vậy, anh em không cần nói gì theo tâm trí của mình. Lời sẽ tuôn ra từ Linh.

Đó là sự hiện diện của Chúa như trụ mây. Anh em có thể cảm biết như vậy. Trụ mây đến như một sự dẫn dắt và khích lệ. Anh em có một gánh nặng về một điều gì đó vì Chúa, và Chúa ban cho anh em một sự khích lệ như vậy để anh em cảm biết sự hiện diện của Ngài trong Linh. Tuy nhiên, điều này là một kinh nghiệm đặc biệt Chúa ban cho. Hằng ngày, chúng ta có thể kinh nghiệm sự hiện diện của Chúa trong Linh một cách thông thường và bình thường.

Thế thì trụ lửa là gì? Chúng ta cần lửa vào ban đêm, khi trời tối tăm. Nhưng ý nghĩa cũng giống như trụ mây. Mây là lửa và lửa là mây. Khi mặt trời chiếu sáng, sự hiện diện của Chúa xuất hiện như một đám mây; khi bóng tối đến, Ngài hiện diện như trụ lửa. Cùng một thực thể với những biểu hiện bên ngoài khác nhau. Thế thì lửa tượng trưng cho điều gì? Tượng trưng cho Lời. Mây là Linh và lửa là Lời. Khi mặt trời chiếu sáng, anh em rất sáng tỏ trong Linh; anh em có thể theo mây một cách dễ dàng. Nhưng lắm lúc giống như bóng đêm và anh em ở trong sự tối tăm. Anh em không thể tin cậy linh mình; linh của anh em đang rất rối rắm. Trong trường hợp ấy, anh em phải tin cậy Lời. Lời giống như lửa, đốt cháy, chiếu sáng và soi sáng. Thi Thiên 119:105 nói: “Lời Chúa là ngọn đèn cho chân tôi, ánh sáng cho đường lối tôi”. Khi bầu trời quang đãng, mọi sự trong sáng, có mây là đủ rồi. Nhưng khi bóng tối che phủ bầu trời, anh em không thể nhận biết đâu là mây và đâu không phải là mây; anh em phải đi theo lửa. Đôi lúc bầu trời của anh em, ngày của anh em vô cùng trong sáng, và ánh sáng mặt trời thì rọi sáng và mạnh mẽ. Anh em có thể nhìn thấy con đường Thánh Linh đang đi và đi theo một cách không lầm lẫn. Nhưng có lẽ anh em ở trong bóng tối và trong ban đêm thường xuyên hơn. Hôm qua anh em thật trong sáng, nhưng hôm nay thật tối tăm; anh em hoang mang và bối rối. Nhưng đừng lo lắng, anh em có Lời. Hãy bước theo Lời. Lời là lửa, là lửa cháy sáng, là ánh sáng rực rỡ. Anh em có thể đi theo ánh sáng này khi anh em ở trong tối tăm, vì sự hiện diện của Chúa ở trong lửa.

Nhiều lúc các anh em nói với tôi: “Thưa anh, hiện giờ tôi đang ở trong tăm tối”. Tôi đáp: “Ngợi khen Chúa! Đây chính là thời điểm để anh em tiếp nhận Lời. Nếu anh em không ở trong tối tăm, sẽ không có cơ hội để anh em kinh nghiệm Chúa ở trong Lời. Chỉ hãy nhận lấy Lời Ngài”. Kinh nghiệm Đấng Christ trong Lời Ngài đang khi chúng ta ở trong sự tối tăm là điều tốt đẹp biết bao!

Sự hiện diện của Chúa luôn luôn ở trong hai điều này, hoặc trong Linh hoặc trong Lời. Khi anh em trong sáng, anh em có thể nhận biết Ngài ở trong Linh. Khi ở trong tối tăm, anh em có thể thấy Ngài trong Lời. Ngài luôn luôn ở trong hai điều này: trong Linh và trong Lời. Hôm nay anh em có trong sáng không? Hãy ngợi khen Chúa! Anh em sẽ cảm biết Chúa trong Linh. Anh em có đang ở trong sự tối tăm không? Anh em cũng có thể ngợi khen Ngài, vì anh em có thể thấy Ngài trong Lời Ngài. Đôi khi chúng ta sống trong ban ngày với ánh sáng mặt trời và đôi khi chúng ta ở trong ban đêm tăm tối. Nhưng chúng ta không cần phải ưu tư. Vào ban ngày khi trời trong sáng, chúng ta có Linh như mây; vào ban đêm khi trời tăm tối, chúng ta có Lời như lửa. Chúng ta có thể đi theo Chúa nhờ sự hiện diện của Ngài trong Linh và trong Lời.

CHỨC VỤ TẾ LỄ VỚI U-RIM VÀ THU-MIM

Nguyên tắc chủ đạo thứ hai là chức vụ tế lễ dưới sự xức dầu với u-rim và thu-mim. Chức vụ tế lễ là gì? Đây là một điều tuyệt diệu và đầy vinh hiển. Chức vụ tế lễ bao hàm sự tương giao với Chúa, sự sống và phục vụ trong sự hiện diện của Ngài. Tập thể thầy tế lễ là một nhóm người thường xuyên tương giao với Chúa. Họ liên tục tương giao với Chúa và phục vụ trong sự hiện diện của Ngài. Họ sống, bước đi và làm mọi điều theo cách này. Khi chúng ta tương giao với Chúa, khi chúng ta tiếp xúc với Chúa hằng ngày, từng giây phút, và khi chúng ta sống, phục vụ và hành động trong mối tương giao sống động này, chúng ta là tập thể thầy tế lễ.

Nếu đánh mất chức vụ tế lễ, chúng ta đã đánh mất một trong những nguyên tắc chủ đạo. Nguyên tắc chủ đạo này không phải để dẫn dắt, nhưng để phán xét. Sự hiện diện của Chúa trong trụ mây và trụ lửa để dẫn dắt, trong khi chức vụ tế lễ trong sự xức dầu với u-rim và thu-mim là để phán xét.

Chúng ta hãy minh họa điều này. Giả sử có hai anh em đang cãi cọ và gây gỗ nhau. Chúng ta sẽ làm gì? Chúng ta là con cái Chúa, là dân của Ngài, nhưng có điều gì đó của một bản chất như vậy vẫn còn tồn tại giữa chúng ta. Làm thế nào chúng ta có thể giải quyết nan đề này? Làm thế nào chúng ta có được một sự phán xét đúng đắn? Chúng ta có nên triệu tập một buổi nhóm và giải quyết bằng cách bỏ phiếu không? Dĩ nhiên là không. Tất cả những nan đề như vậy chỉ có thể giải quyết bằng chức vụ tế lễ. Cần phải có một nhóm con cái Chúa luôn luôn tương giao với Ngài, phục vụ Chúa trong sự hiện diện Ngài và liên tục ở trước mặt Ngài, cho dầu họ đang ở đâu hay đang làm gì. Nhóm người như vậy ở dưới sự xức dầu của Thánh Linh, có u-rim và thu-mim. Thế thì họ có thể nhận được sự phán xét, quyết định của Chúa. Họ sẽ có khả năng phán xét và quyết định bất cứ vấn đề nào xuất hiện nhờ u-rim và thu-mim với chức vụ tế lễ.

Chức vụ tế lễ bao hàm ba điều: sự thông công hay tương giao với Chúa, sự xức dầu của Thánh Linh, và u-rim và thu-mim. Ở đây chúng ta chỉ có thể nói ngắn gọn về điều sau cùng, là u-rim và thu-mim. U-rim trong tiếng Hê-bơ-rơ nghĩa là ánh sáng, trong khi thu-mim nghĩa là sự hoàn hảo hay hoàn toàn. Cách đây khoảng ba mươi năm, tôi có đọc một bài báo của một tác giả người Do Thái, nói rằng thu-mim là một viên ngọc quý với bốn mẫu tự Hi-bá-lai được khắc trên đó. Trên bảng đeo ngực của các thầy Tế lễ Thượng Phẩm là tên của mười hai chi phái Israel được khắc trên mười hai viên đá. Tên của mười hai chi phái này gồm có mười tám trong số hai mươi hai mẫu tự trong các mẫu tự Hi-bá-lai. Vì vậy, trên bảng đeo ngực của thầy Tế lễ Thượng Phẩm thiếu mất bốn mẫu tự. Tuy nhiên bốn mẫu tự này được khắc trên thu-mim, và khi viên đá này được đặt vào bảng đeo ngực, có một sự đầy đủ, hoàn hảo. Như vậy có đủ hai mươi hai mẫu tự. Tất cả các mẫu tự Hi-bá-lai đều có đủ. Rồi chúng ta được biết u-rim là một viên đá được đặt lên bảng đeo ngực để phát ánh sáng. Thế thì chúng ta có ý nghĩa của u-rim và thu-mim: ánh sáng và sự hoàn hảo.

Vậy thì u-rim và thu-mim được sử dụng như thế nào? Khi có một nan đề hay nghi vấn dấy lên giữa vòng con cái Israel, thầy Tế lễ Thượng Phẩm đem vấn đề ấy đến với Chúa để được đáp lời bằng sự giúp đỡ của bảng đeo ngực. Tác giả người Do Thái của bài báo ấy nói rằng khi các thầy Tế lễ Thượng Phẩm đến trước mặt Chúa, một vài viên đá nào đó trên bảng đeo ngực với các mẫu tự tương ứng sẽ sáng lên và vào những lúc khác, những viên đá khác với các mẫu tự của chúng sẽ sáng lên. Thầy Tế lễ Thượng Phẩm sẽ ghi lại tất cả những mẫu tự chiếu sáng từ những viên đá khác nhau, nhờ đó các chữ rồi sau đó các câu sẽ được hình thành. Cuối cùng ông sẽ nhận được một sứ điệp hay một sự phán xét trọn vẹn từ Chúa. Bài báo cũng nói tiếp ấy là bằng cách này mà từ giữa vòng tất cả con cái Israel, A-can đã bị bắt vì tội lỗi của mình (G-suê. chương 7).

Thế thì, nguyên tắc chủ đạo để dân Chúa phán xét các nan đề là gì? Ấy là giữa vòng họ phải có hàng tế lễ để mang tất cả các con cái Chúa trên ngực ở trước mặt Chúa. Trong tình yêu các thầy tế lễ phải đem dân Chúa vào trong sự hiện diện của Chúa và đọc họ lên như các mẫu tự. Như vậy, với ánh sáng của Kinh Thánh các thầy tế lễ sẽ học biết tâm trí của Chúa và nhận được một lời nào đó từ Ngài về tình trạng của các con cái Ngài.

Bây giờ, về các anh em đã cãi nhau chúng ta có câu giải đáp. Chúng ta có thể nói với họ: “Các anh ơi, xin hãy yên tịnh một lúc. Chúng ta sẽ đến với Chúa”. Chúng ta sẽ đem nan đề này đến với Chúa và đọc các anh em này trong sự hiện diện của Ngài với ánh sáng của Kinh Thánh. Đây là sự thi hành chức vụ tế lễ với bảng đeo ngực có u-rim và thu-mim. Qua đó, chúng ta có thể có các mẫu tự, những lời và sứ điệp của Chúa về việc phải đi đến quyết định nào trong vấn đề này.

Anh em có biết các Sứ đồ đã viết các bức thư của mình như thế nào không? Viết y hệt bằng cách này. Thư thứ nhất của Phao-lô gửi cho người Cô-rin-tô là một ví dụ rất tốt. Phao-lô phải đương đầu với nhiều nan đề trong Hội thánh ấy: các nan đề về bè phái, kỉ luật, hôn nhân, giáo lí phục sinh, v.v. Có các nan đề gần như gồm đủ mọi loại, mọi kiểu. Ông đã làm gì? Ông đem tất cả các nan đề và tất cả các anh chị em trong Hội thánh ấy vào lòng và đến với Chúa, rồi trong sự hiện diện của Chúa, ông đọc tất cả với ánh sáng của Kinh Thánh. Nói như vậy không đúng sao? Trong khi ông đọc chúng trong ánh sáng của Lời, ông nhận biết bản chất của tình hình và câu giải đáp. Ông nhận được một sự phán xét, một quyết định từ Chúa và do đó ông viết bức thư thứ nhất cho các tín đồ Cô-rin-tô. Anh em hãy xem xét tất cả những bức thư này. Tất cả các sách do các Sứ đồ viết đều được thực hiện theo cách này. Không phải ngồi trong phòng đọc, lí luận và viết ra. Không. Luôn luôn giữa vòng con cái Chúa có những tình huống đòi hỏi phải có một câu giải đáp, một lời từ nơi Chúa. Khi ấy các Sứ đồ, giống như các thầy tế lễ thi hành chức vụ tế lễ của mình, đem tất cả các nan đề này cùng với mọi con cái Chúa vào trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Họ xem xét nan đề trong sự hiện diện của Ngài, đọc các tín đồ từng người một trong ánh sáng của lời Chúa. Qua đó, họ nhận được ánh sáng; họ nhận được các từ ngữ, các câu và các ý tưởng từ Chúa. Sau đó, họ viết các bức thư, nói cho các thánh đồ biết tâm trí của Chúa.

Đây là một trong các nguyên tắc chủ đạo. Nguyên tắc chủ đạo đầu tiên là sự hiện diện của Chúa trong trụ mây và trụ lửa, và thứ hai là chức vụ tế lễ dưới sự xức dầu cùng với hai điều đặc thù là u-rim và thu-mim.

Các anh chị em ơi, nếu các anh chị em đến nói với tôi về một nan đề anh chị em đang vướng mắc với người khác, tôi nên làm gì? Tôi nên vận dụng linh để đem anh chị em và những người khác đến với Chúa. Với tình yêu, tôi sẽ mang anh chị em và những người khác trong lòng tôi, tức là trên ngực tôi. Tôi sẽ đem tất cả mọi người đến với Chúa và nói: “Chúa ơi, đây là những thánh đồ yêu dấu. Xin soi sáng họ. Xin ban cho con ánh sáng của Ngài”. Tôi sẽ đọc anh chị em lên. Tôi sẽ đọc tâm trí và tình cảm của anh chị em. Tôi sẽ đọc tư tưởng, động cơ và hành vi của anh chị em. Tôi sẽ đọc nan đề và nhiều điều liên quan đến anh chị em trong ánh sáng của Lời. Sau khi đọc từng mẫu tự một, dần dần tôi sẽ có một lời, rồi một lời nữa. Sau cùng tôi sẽ nhận được một câu và rồi một sứ điệp. Tôi sẽ biết được một điều gì đó từ Chúa. Tôi sẽ biết tâm trí của Chúa và ý tưởng Ngài về anh chị em.

Khi những anh em lãnh đạo gặp nhiều loại nan đề khác nhau trong Hội thánh, đó là cơ hội để thực hành chức vụ tế lễ này. Đôi khi một người đến với anh em để chia sẻ một nan đề anh em ấy gặp phải với cha mình, cũng là một anh em trong Chúa. Anh ấy sẽ hỏi anh em mình nên làm gì. Ngày hôm sau có thể một chị em đến gặp anh em nói về một vài nan đề của chị với người chị dâu cũng là một chị em trong Hội thánh. Anh em sẽ làm gì? Anh em có bảo họ hãy đi đến tòa án và gặp quan tòa không? Dĩ nhiên anh em không thể làm điều đó. Cách duy nhất là điều chúng tôi vừa chỉ dẫn. Anh em phải có một tấm lòng; anh em phải có ngực; anh em phải có tình yêu. Hãy mang họ vào lòng anh em và đem họ đến với Chúa. Hãy vận dụng linh anh em và đọc họ trước mặt Chúa. Đọc người cha trước, rồi đến người con. Hãy đọc các thói quen của họ, quốc tịch, tính tình, tư tưởng, học vấn của họ – không theo cách suy nghĩ của anh em, nhưng theo ánh sáng của Lời. Hãy đọc tất cả những điều này. Sau khi đọc xong, anh em sẽ nhận được các câu và lời nói, từng điểm một. Anh em sẽ nhận được một lời từ Chúa, lời ấy sẽ bày tỏ cho anh em tâm trí của Ngài. Sau đó anh em có thể nói chuyện với người con và người cha của anh. Tương tự như vậy đối với trường hợp chị em kia và người chị dâu. Anh em có thể nói với họ: “Đây là tâm trí của Chúa. Chị hãy cầu nguyện về điều này”. Anh em đã nhận được sự phán xét và quyết định từ Chúa. Đây là tòa án cho con cái Chúa. Chúng ta cần một tòa án như vậy. Chúng ta cần một đại diện tại địa phương cho tòa án tối cao thiên thượng. Tòa án này là chức vụ tế lễ dưới sự xức dầu của Thánh Linh với u-rim và thu-mim.

Có được một nhóm con cái Chúa hợp tác với nhau để phục vụ Ngài một cách tập thể không phải là điều nhỏ nhặt, cũng không phải là một điều đơn giản. Hãy xem xét chính gia đình của anh em. Không phải anh em có một loại tòa án gia đình để giải quyết mọi nan đề sao? Tòa án gia đình trong Hội thánh chúng ta là gì? Đơn giản là chức vụ tế lễ, là sự tương giao với Chúa dưới sự xức dầu của Thánh Linh trong việc đọc các anh chị em bằng ánh sáng của Lời. Bằng cách này, chúng ta sẽ nhận được sự phán xét và có thể đi đến quyết định cho mọi vấn đề. Tất cả các nan đề và nghi vấn của chúng ta đều được giải quyết cách này. Không phải do tranh luận; không phải do hội đàm, lí luận và sắp đặt như một chính trị gia hay như một quan tòa thế giới. Chỉ do tương giao và được xức dầu, trong tình yêu đọc các hoàn cảnh, bản chất và cuộc sống hằng ngày của các tín hữu với ánh sáng của Lời Chúa.

CÁC LUẬT LỆ CỦA MỘT ĐỜI SỐNG THÁNH KHIẾT

Nguyên tắc chủ đạo thứ ba là các luật lệ của một đời sống thánh khiết. Những luật lệ này là gì? Trong Lê-vi Kí, chúng ta có các của lễ, chức vụ tế lễ và nhiều loại luật lệ. Lê-vi Kí có thể được chia làm ba phần: trước hết là bàn đến các của lễ, từ chương một đến chương bảy; thứ hai bàn đến chức vụ tế lễ, từ chương tám đến chương mười; thứ ba, từ chương mười một đến hết sách bàn đến nhiều luật lệ. Có tất cả các loại luật lệ về một sự sống thánh khiết, một đời sống thánh khiết. Bây giờ chúng ta không thể đi sâu vào chi tiết về tất cả các điều này. Nếu có thể xem xét sâu xa, chúng ta sẽ thấy các luật lệ này thích thú, ngọt ngào, đầy ý nghĩa biết bao. Đây là những luật lệ về những gì tinh sạch và không tinh sạch, về những gì được phân cách và không phân cách khỏi những điều tầm thường và thuộc thế giới, về cách hành động và cách không hành động. Tất cả những luật lệ này dành cho một đời sống thánh khiết.

Để đơn giản hóa vấn đề, các luật lệ này có thể được tóm tắt thành ba nguyên tắc phụ. Nguyên tắc thứ nhất là chúng ta là những người thuộc về Chúa. Đây là một nguyên tắc phụ để điều chỉnh chúng ta. Hãy nhớ rằng anh em thuộc về Chúa, anh em là con cái của Chúa. Nếu nhớ điều này, anh em sẽ được gìn giữ khỏi nhiều điều. Khi nghĩ mình là con cái của Chúa, anh em có thể đến một rạp hát không? Chính tư tưởng ấy sẽ làm cho anh em lùi lại. Anh em nghĩ mình có thể cãi nhau trong khi nhớ mình là con cái của Chúa không? Anh em hãy thử xem. Anh em sẽ thấy cuộc tranh cãi của mình sẽ ra sao khi anh em nhớ như vậy.

Có một lần tại Viễn Đông, tôi đi xe xích-lô. Trước tiên, người đạp xích-lô nói anh tính giá 5 đô-la và tôi đồng ý. Tuy nhiên, khi đến nơi tôi thấy mình chỉ có một tờ 10 đô-la nên tôi trao cho anh và chờ anh thối tiền lại. Sau khi lục túi áo túi quần, cuối cùng anh nói anh xin lỗi vì chỉ còn 4 đô-la để thối lại cho tôi. Đây là mánh lới của họ. Tôi bắt đầu cãi nhau với anh, nhưng thình lình tôi nhớ lại mình là con của Chúa. Điều này làm tôi thôi tranh cãi. Tôi nói: “Thôi được, không sao, anh hãy quên đi; một đô-la không thành vấn đề”. Làm thế nào tôi là một người con của Chúa lại cãi nhau với một người đạp xích lô? Điều đó sẽ làm sỉ nhục danh Ngài.

Bất cứ khi nào anh em sắp làm gì, anh em phải nhớ mình là con của Chúa. Đừng nói điều này luật pháp quá. Anh em và tôi phải theo luật pháp như vậy. Đôi lúc các chị em, đặt biệt là ở Viễn Đông, mặc những chiếc áo đầm không hợp đối với một người con của Chúa. Nếu họ chỉ cần nhớ lại rằng mình thuộc về Chúa, thì chính tư tưởng ấy sẽ làm cho họ không mặc những loại quần áo như vậy. Họ dễ dàng quên mình là con cái Chúa và cứ ăn mặc như con cái của ma quỷ. Nhớ mình là con cái của Chúa là nguyên tắc phụ thứ nhất trong các luật lệ.

Thứ hai là chúng ta đã phân rẽ khỏi thế giới này. Chúa phán: “Ta đã phân rẽ các ngươi khỏi các dân”. Chúng ta đã được Chúa phân rẽ khỏi các dân của thế giới này. Những gì họ có thể làm, chúng ta không thể làm. Những gì họ có thể nói, chúng ta không thể nói. Những gì họ có thể sở hữu, chúng ta không thể sở hữu. Nhiều lúc tôi đi đến những cửa hàng bách hóa, nhưng không thể mua gì cả. Tất cả những gì tôi có thể làm là lắc đầu và nói: “Không, không, không có gì dành cho tôi. Tôi đã được phân rẽ”.

Từ Seattle đến San Francisco và rồi đến Los Angeles, tôi đã cố gắng tìm một đôi giày. Có rất nhiều kiểu kì lạ và tân thời, khó có thể tìm được một đôi phù hợp với con cái Chúa. Nếu tôi bắt buộc phải mua một đôi, tôi e rằng tôi sẽ không dám mang để đứng chia sẻ lời Chúa cho các con cái Ngài. Ôi, những cửa tiệm này bán toàn là những món đồ, những món đồ thế giới! Nếu tất cả mọi người trong thế giới đều được cứu, và nhớ rằng mình là con cái của Chúa và phân rẽ khỏi thế giới, thì tất cả các cửa hàng bách hóa đều buộc phải đóng cửa. Họ sẽ chẳng làm ăn gì được. Rất tiếc đa số quần chúng đều chưa trở lại Chúa, nhưng điều đáng thương hơn hết là những người đã theo Chúa vẫn chưa phân rẽ khỏi thế giới này. Ít nhất chúng ta là những người được Chúa biến cải cần phải nhớ mình đã được Chúa phân rẽ khỏi thế giới này. Đây cũng là một trong những nguyên tắc đáng phải chi phối chúng ta. Đừng nói điều này nặng tính cách luật pháp. Chúng ta phải theo sát luật pháp như vậy.

Nguyên tắc phụ thứ ba là Chúa, là Đấng thánh khiết; vì vậy, chúng ta cũng phải thánh khiết. Chúa phân rẽ và khác với mọi điều; vì vậy chúng ta cũng phải được thánh hóa khỏi mọi điều. Chúng ta phải thánh khiết trong mọi điều y như Ngài là thánh.

Ba nguyên tắc phụ này tạo nên một trong những nguyên tắc chủ đạo và đây là những luật lệ của một đời sống thánh khiết. Những luật lệ này là gì? Trước hết, hãy nhớ rằng anh em là con cái của Chúa; thứ hai hãy nhớ rằng anh em đã được phân rẽ khỏi thế giới này; thứ ba hãy nhớ rằng Đức Chúa Trời là một Đức Chúa Trời thánh khiết, và anh em cũng phải thánh khiết giống như Ngài. Ba luật lệ này cần phải cai trị mọi điều trong đời sống anh em.

Tóm lại, sự hiện diện của Chúa là sự hướng dẫn của chúng ta trong hình thức một tập thể. Chúng ta có thể biết mình nên đi hay dừng lại nhờ sự hiện diện của Ngài. Chúng ta cần được hướng dẫn không do điều gì khác hơn là sự hiện diện của Ngài. Đây là nguyên tắc chủ đạo đầu tiên. Sau đó nếu có nan đề ở giữa chúng ta, chúng ta không cần tìm kiếm bất cứ giải pháp bên ngoài nào. Chúng ta có tòa án của chức vụ tế lễ. Nhờ sự tương giao với Chúa giữa vòng chúng ta, dưới sự xức dầu của Thánh Linh và nhờ sự nghiên cứu cẩn thận với tình yêu đối với tất cả các anh chị em trong ánh sáng của Lời, chúng ta có thể có được sự phán xét cần thiết, quyết định đúng đắn. Đây là nguyên tắc chủ đạo thứ hai. Trong đời sống và các sinh hoạt thường ngày, chúng ta luôn luôn cần được cai trị bằng cách ghi nhớ rằng mình là con cái của Chúa, rằng chúng ta được phân rẽ khỏi thế giới này, và chúng ta phải nên thánh như Ngài là thánh. Đây là nguyên tắc chủ đạo thứ ba. Nếu chúng ta được cai trị bởi những nguyên tắc này, chúng ta sẽ được chuẩn bị và hội đủ điều kiện để tiến tới và sở hữu miền đất tốt lành ấy; chúng ta sẽ có khả năng bước vào sự bao-hàm-tất-cả của Đấng Christ.

<