Thông tin sách

Đấng Christ Bao Hàm Tất Cả

Tác giả: Witness Lee
Dịch từ bản tiếng Anh: Đấng Christ Bao Hàm Tất Cả
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 10

Untitled Document

CHƯƠNG MƯỜI

LÀM THẾ NÀO ĐỂ SỞ HỮU MIỀN ĐẤT (2)

NHỜ CÁC CỦA LỄ VÀ CHỨC VỤ TẾ LỄ

Đọc Kinh văn: Lê. 1:1-3; 2:1; 3:1; 4:2, 3; 5:5, 6; 8:1-13; Xuất. 40:17, 21

Chúng ta bắt đầu thấy cách để tiến vào miền đất và chiếm hữu Đấng Christ bao-hàm-tất-cả. Chúng ta đã nêu rõ nếu muốn chiếm hữu một Đấng như vậy, chúng ta phải bắt đầu bằng cách vui hưởng Ngài từng bước một. Dân Israel bắt đầu vui hưởng các hình bóng về Đấng Christ với chiên con của lễ Vuợt qua – đấy cũng là nơi tất cả chúng ta phải bắt đầu. Sau đó, họ tiến tới để tiếp tục vui hưởng Ngài như ma-na thiên thượng và tiếp theo như vầng đá tuôn tràn nước sự sống. Tất cả những điều này tượng trưng cho Đấng Christ, nhưng chúng là những hình bóng sơ đẳng, chứ không sâu sắc và phong phú. Đối với sự nhận biết của chúng ta, như vậy có thể là khá đủ, nhưng chúng ta cần nhận thức rằng đó chỉ là bước khởi đầu.

Chúng ta đã thấy Hòm giao ước và chứng cớ của Đức Chúa Trời ở bên trong hòm ấy. Hòm giao ước là một hình bóng khác về Đấng Christ, một hình bóng vững chắc và đầy đủ hơn nhiều. Nếu so sánh Hòm giao ước với chiên con, ma-na, hay vầng đá tuôn tràn nước sự sống, anh em có thể thấy một sự tiến bộ ở đây. Đấng Christ được bày tỏ nhiều hơn nữa qua Hòm giao ước. Trong chiên con của lễ Vuợt qua, anh em chỉ có thể nhận thức Đấng Christ như Đấng cứu chuộc, Đấng chết trên thập tự giá, đổ huyết Ngài vì tội lỗi của chúng ta. Ma-na là một chuyển biến tốt và thật là một kinh nghiệm tốt. Qua đó anh em nếm được sự sống thực vật và sự sống động vật, đồng thời, anh em đụng chạm được một điều gì đó của ngọc quý như vật liệu đã biến đổi dành cho sự xây dựng của Đức Chúa Trời. Những kinh nghiệm này thật sự là tốt, nhưng chúng không thể sánh được với Hòm giao ước. Kinh nghiệm về Hòm giao ước vững chắc hơn nhiều, và nội dung thì rất đầy đủ không sao sánh được. Anh em có thể đọc được một điều gì đó ở bên trong. Có một điều gì đó được viết về chính Đức Chúa Trời. Do nội dung trong Hòm giao ước, anh em có thể biết chính bản chất của Đức Chúa Trời.

Với Hòm giao ước có sự thể hiện, sự gia tăng và sự mở rộng của Hòm giao ước – ấy chính là đền tạm. Đền tạm là sự mở rộng và bày tỏ về Đấng Christ, vì phần chính của đền tạm thì có cùng một bản chất giống hệt như Hòm giao ước. Hòm giao ước được cấu tạo bằng gỗ bọc vàng và đền tạm cũng được tạo dựng bằng cùng một cách và cùng những vật liệu như vậy. Nhưng làm thế nào chúng ta có thể nhận thức được đền tạm là sự mở rộng và biểu hiện của Đấng Christ như Thân thể của Ngài, tức là Hội thánh? Bởi vì đền tạm gồm có bốn mươi tám tấm ván. Đền tạm được tạo thành do rất nhiều tấm ván, tượng trưng cho các chi thể của Thân thể. Trong Hội thánh, nhiều chi thể được xây dựng lại với nhau do được bọc vàng và ràng buộc lại với nhau bằng vàng thần thượng. Trong vàng họ là một. Họ được vàng bao phủ và kết hợp với nhau bằng những khoen vàng và thanh ngang bọc vàng. Nếu không có vàng, họ rời ra từng mảnh và xa lánh nhau. Trong bản chất con người, họ là các mảnh rời rạc, nhưng trong bản chất thần thượng, trong Đức Chúa Trời Tam Nhất, họ là một. Hơn nữa họ được bao phủ bằng Đấng Christ bốn-phương-diện, y như đền tạm được bao phủ bằng bốn lớp màn. Hội thánh là sự mở rộng của Đấng Christ và biểu hiện của Đấng Christ ở dưới một sự bao phủ như vậy. Tất cả bốn mươi tám tấm ván này dựng trên các lỗ trụ hay nền tảng bằng bạc, nghĩa là chúng có nền tảng là sự cứu chuộc của Đấng Christ. Sự cứu chuộc của Đấng Christ là nền tảng mà trên đó họ đứng để được bọc và ràng buộc lại với nhau bằng vàng thần thượng, và được bao phủ bằng Đấng Christ bốn-phương-diện. Đây là Hội thánh, là sự gia tăng và biểu hiện của Đấng Christ.

Chúng ta có thể thấy điều này vượt xa chiên con của lễ Vuợt qua, ma-na và vầng đá tuôn tràn dòng sự sống. Đây là một điều gì đó rất vững chắc. Đây là Đấng Christ với chứng cớ của Đức Chúa Trời ở bên trong và sự mở rộng của Ngài như biểu hiện thật của chính Ngài ở bên ngoài. Đấng Christ này là trung tâm của những ai đang tiến tới để sở hữu miền đất. Nếu chúng ta muốn chiếm hữu Đấng Christ bao-hàm-tất-cả, chúng ta phải có một Đấng Christ như vậy làm trung tâm của mình, một Đấng Christ với chứng cớ trong chính mình Ngài, một Đấng Christ là sự bày tỏ và sự giải thích về Đức Chúa Trời. Và chúng ta phải là sự mở rộng của Đấng Christ này, đền tạm cho Đấng Christ này và sự biểu hiện của Đấng Christ này. Chúng ta nên có một trung tâm như vậy, và chúng ta nên là một sự mở rộng như vậy. Đây là cách chúng ta sở hữu miền đất. Điều này không có nghĩa là chúng ta có một lượng kinh nghiệm lớn lao về Đấng Christ, nhưng nghĩa là chúng ta luôn luôn vui hưởng Ngài nhiều hơn và rộng lớn hơn.

Chúng ta bắt đầu bằng cách vui hưởng chiên con. Chúng ta phải nói rằng đó là một chiên con nhỏ bé. Chiên con này trọn vẹn và hoàn hảo nhưng nhỏ bé. Sau đó, chúng ta học cách vui hưởng Đấng Christ hằng ngày như ma-na, như nguồn cung cấp thực phẩm của chúng ta và như vầng đá tuôn chảy dòng nước sống. Đối với chúng ta, Đấng Christ càng gia tăng. Sau đó, chúng ta bắt đầu kinh nghiệm Đấng Christ như chứng cớ của Đức Chúa Trời, sự bày tỏ và giải thích về Đức Chúa Trời. Đấng Christ hình thành trong chúng ta với một mức độ đầy đủ hơn và một cách vững bền hơn. Khi những người khác đến với chúng ta, họ nhận biết đây là trung tâm của chúng ta; họ đọc được bản chất của chính Đức Chúa Trời. Chúng ta trở nên sự mở rộng, sự đầy đủ của Đấng Christ, tức là Thân thể của Ngài. Điều này phải là kinh nghiệm và chứng cớ của chúng ta.

ĐỀN TẠM ĐẦY DẪY VINH QUANG

Khi chúng ta có Hòm giao ước làm trung tâm, và chúng ta được xây dựng với nhau như đền tạm để chứa đựng Hòm giao ước này, khi ấy vinh quang của Đức Chúa Trời giáng xuống và đầy dẫy đền tạm. Đến khi chúng ta có chứng cớ này, đến khi chúng ta kinh nghiệm được Đấng Christ như Hòm giao ước, như sự bày tỏ Đức Chúa Trời, và đến khi chúng ta là biểu hiện của Hòm giao ước, là sự mở rộng của Đấng Christ thì đến lúc ấy chúng ta mới đầy dẫy vinh quang của Đức Chúa Trời được. Chúng ta cần phải kinh nghiệm Đấng Christ như vậy. Ngài là sự bày tỏ của Đức Chúa Trời, và chúng ta phải là sự bày tỏ của Ngài. Khi ấy vinh quang của Đức Chúa Trời sẽ đầy dẫy chúng ta. Chúng ta có thể chắc chắn rằng bất cứ khi nào chúng ta đạt đến điểm này, cho dầu chúng ta nhóm họp lúc nào hay cách nào, trang trọng hay không trang trọng, chính vinh quang của Đức Chúa Trời sẽ ở cùng chúng ta. Vinh quang là gì? Như chúng tôi đã đề cập, ấy là sự hiện diện của Đức Chúa Trời được loài người ý thức bằng cảm nhận của họ. Khi anh em cảm nhận sự hiện diện của Đức Chúa Trời, đó là vinh quang. Vinh quang này ở đâu? Ở nơi nào mà Hòm giao ước là trung tâm, và ở nơi nào mà đền tạm được dựng lên như sự mở rộng và như sự thể hiện của Hòm giao ước.

Vinh quang của Đức Chúa Trời có thể được minh họa bằng một bóng đèn điện. Bóng đèn là vật chứa để bày tỏ vinh quang của điện. Khi không nối với dòng điện, nó không có vinh quang và có thể nói nó vô nghĩa. Nhưng khi mọi sự đâu ra đó và điện được bật lên, vinh quang sẽ đầy dẫy bóng đèn. Mọi người có thể trông thấy. Mọi người có thể nhận biết và cảm nhận được vinh quang ấy.

Khi đạt đến điểm mà chúng ta có được một Đấng Christ là sự bày tỏ về Đức Chúa Trời như vậy, và chúng ta là sự diễn đạt một Đấng Christ như thế, vinh quang của Đức Chúa Trời sẽ đầy dẫy chúng ta bất cứ khi nào chúng ta nhóm lại với nhau. Người ta có thể cảm nhận điều đó. Họ có thể cảm nhận chính sự bày tỏ của Đức Chúa Trời vì Đức Chúa Trời được tôn vinh giữa vòng chúng ta. Chỉ khi nào đạt đến giai đoạn này, chúng ta mới có được một thực tại như vậy. Khi tiếp nhận Đấng Christ như chiên con của lễ Vuợt qua, chúng ta chưa có một biểu hiện vinh quang như vậy. Ngay cả khi vui hưởng Ngài như ma-na hằng ngày và như vầng đá tuôn chảy nước sống, vinh quang Sê-ki-na cũng thiếu vắng. Mãi đến một ngày kia khi Hòm giao ước được đặt vào đền tạm, và đền tạm được dựng lên trên những lỗ trụ bằng bạc và được bao phủ bằng một sự che phủ có bốn lớp, thì vinh quang của Đức Chúa Trời mới giáng xuống.

Đây là hình ảnh rõ ràng về một sự bày tỏ thật về Đấng Christ. Sự bày tỏ thật về Đấng Christ là sự mở rộng của chính Đấng Christ. Chính Đấng Christ là sự biểu lộ của Đức Chúa Trời được hòa lẫn với chúng ta. Đó không phải là chiên con nhỏ bé của lễ Vuợt qua, thậm chí cũng không phải là Đấng Christ như ma-na hằng ngày và như vầng đá, nhưng Đấng Christ, là sự bày tỏ về Đức Chúa Trời ở giữa chúng ta như trung tâm, hòa lẫn với chúng ta, mở rộng bên trong chúng ta và gia tăng ở giữa chúng ta. Mọi người trong chúng ta đã được dầm thấm bản chất của Đấng Christ và được xây dựng với nhau trong Ngài. Đấng Christ có hai bản chất, con người và thần thượng và chúng ta cũng vậy: chúng ta có bản chất con người nhưng được bao phủ bằng bản chất thần thượng. Ngài là Thần-nhân và chúng ta là những Thần-nhân. Ngài là Hòm giao ước làm bằng gỗ được bao phủ bằng vàng và chúng ta là những tấm ván làm bằng gỗ được bao phủ bằng vàng. Về số lượng, chúng ta khác Ngài, nhưng về bản chất chúng ta giống hệt Ngài. Đấng Christ là sự biểu hiện của Đức Chúa Trời, và tất cả các tấm ván được kết hợp lại với nhau làm một trong vàng là sự bày tỏ Đấng Christ. Khi chúng ta đạt đến điểm này, Đức Chúa Trời vinh quang sẽ giáng xuống và đầy dẫy chúng ta. Đây là chứng cớ. Chúng ta không làm chứng về điều gì khác ngoài Đấng Christ này, là sự bày tỏ Đức Chúa Trời, là Đấng đã được mở rộng qua chúng ta, do đó Ngài làm đầy dẫy chúng ta với vinh quang của Đức Chúa Trời.

Tôi có thể liên hệ đến nhiều câu chuyện để minh họa cho điều này. Nhiều lần tôi đã kinh nghiệm vinh quang này, vinh quang thật kì diệu. Nhiều lần khi tôi ở giữa một nhóm tín đồ đã đạt đến giai đoạn này, vinh quang đã giáng xuống. Ai cũng nhận biết điều đó. Khi chúng ta kinh nghiệm Đấng Christ không chỉ như chiên con của lễ Vuợt qua và như ma-na, nhưng cùng nhau kinh nghiệm Ngài một cách đầy đủ hơn và vững vàng hơn như vậy, chúng ta luôn luôn có vinh quang ở giữa chúng ta.

CÁC CỦA LỄ

Nhưng đây chưa phải là tất cả. Đây chưa phải là kết thúc câu chuyện. Cho dầu có được điều này, chúng ta vẫn chưa hội đủ điều kiện để tiến vào miền đất tốt lành. Chúng ta phải có gì hơn nữa. Chúng ta đã bắt đầu với sách Xuất Ai Cập Kí, chương 12 bằng cách vui hưởng Đấng Christ như chiên con cứu chuộc; chúng ta cũng đã thấy tiến tới và vui hưởng Ngài như ma-na hằng ngày và như vầng đá tuôn tràn nước sống nghĩa là gì; và chúng ta đã thấy sự vui hưởng Đấng Christ như Hòm giao ước, như sự bày tỏ Đức Chúa Trời hằng sống và chúng ta như biểu hiện, như sự mở rộng của Đấng Christ này, để vinh quang của Đức Chúa Trời đầy dẫy chúng ta. Chúng ta đã hoàn tất sách Xuất Ai Cập Kí và bây giờ đến sách tiếp theo là Lê-vi Kí.

Sau khi đền tạm được dựng lên, chúng ta cần phải bàn đến các của tế lễ hay các của lễ. Đấng Christ phong phú biết bao đối với chúng ta trong mọi loại của lễ khác nhau! Có lẽ anh em nói: “Ôi, chúng tôi đã thấy rất nhiều về Đấng Christ; như vậy là đủ rồi!” Nhưng không phải như vậy, chúng ta cần phải tiếp tục. Còn rất nhiều điều về Ngài. Đền tạm đã được dựng lên, nhưng làm thế nào chúng ta tiếp xúc được với đền tạm này? Đây là chứng cớ, đây là sự bày tỏ Đức Chúa Trời, đây là biểu hiện của Đấng Christ, nhưng làm thế nào chúng ta tiếp xúc được với những điều này? Chúng ta không thể tự mình tiến tới để tiếp xúc với chứng cớ này được. Không bao giờ. Có một lối vào, nhưng cách đúng đắn duy nhất để chúng ta tiến đến lối vào này và tiếp xúc với đền tạm là nhờ các của lễ. Tiếp xúc với đền tạm mà không có của lễ là chết ngay lập tức. Khi đến tiếp xúc với đền tạm này, chúng ta phải có một số của lễ. Ôi, Đấng Christ thật là phong phú! Về một mặt Ngài là biểu hiện của Đức Chúa Trời, và về mặt khác Ngài là con đường nhờ đó chúng ta có thể tiếp xúc với Đức Chúa Trời này: Ngài là các của lễ. Ngài chính là phương tiện nhờ đó chúng ta có thể tiếp xúc với biểu hiện của Đức Chúa Trời, là chính Ngài. Ngài là mọi sự.

Các của lễ là gì? Có năm của lễ: của lễ thiêu, của lễ chay, của lễ bình an (của lễ bình an), của lễ chuộc tội, của lễ chuộc sự mắc lỗi. Tất cả đều là Đấng Christ. Bất cứ khi nào đụng chạm đến chứng cớ, bất cứ khi nào muốn tiếp xúc với sự biểu hiện của Đấng Christ, chúng ta phải dâng Đấng Christ một lần nữa, chúng ta phải áp dụng Ngài một lần nữa. Đôi lúc chúng ta cần áp dụng Ngài như của lễ chuộc sự mắc lỗi, đôi lúc như của lễ chuộc tội, đôi lúc như của lễ chay, đôi lúc như của lễ bình an và hơn nữa đôi lúc như của lễ thiêu.

Khi nào chúng ta nên áp dụng Đấng Christ như của lễ chuộc tội? Điều này khá rõ ràng. Tôi xin minh họa như sau. Chẳng hạn như chúng ta đang có một buổi nhóm và anh em đang đến nhóm; anh em đang đến tiếp xúc với đền tạm, có Đấng Christ là trung tâm của đền tạm ấy. Nhưng trong lòng mình, anh em ghi nhận mình đã làm điều gì sai phạm. Có thể anh em đã sai phạm với một người trong các anh em. Vâng, hôm nay anh em đã gặp và còn cười với anh ấy, nhưng ấy là một kiểu cười bày tỏ sự ghét bỏ. Khi anh em đến tiếp xúc với đền tạm và chứng cớ, Thánh Linh làm cho anh em cảm biết sự vi phạm của mình. Anh em đã phạm tội, anh em đã vi phạm. Chúa bảo anh em phải yêu thương anh ấy, nhưng anh em yêu thương anh ấy cách giả dối; anh em cười với lòng ghét bỏ. Như vậy, anh em phải áp dụng Đấng Christ như của lễ chuộc sự mắc lỗi.

Nhiều lúc anh em nói thật nhưng với một sự giả dối. Nói cách khác anh em nói dối bằng một sự thật. Đôi khi tôi hỏi một anh em về tình trạng của một anh em khác. Anh ấy đáp rằng anh em kia khá tốt, nhưng qua giọng nói và sự cảm nhận của linh, tôi có thể khám phá rằng về một mặt anh ấy nói thật, nhưng về mặt khác đó là một lời nói dối. Có thể tôi hỏi anh em có yêu một anh em nào đó không, và anh em có thể đáp rằng nhờ ân điển Chúa anh em yêu anh ấy. Nếu vậy tôi biết anh em không yêu anh ấy. Tôi có thể hỏi anh em có phải là một anh em tốt không và có thể anh em sẽ đáp mình không được tốt như vậy. Nghe dường như anh em khiêm nhường và chân thật. Nhưng trong lòng, anh em đang nói rằng mình là người anh em tốt nhất. Ôi, anh chị em chúng ta vi phạm luôn luôn!

Chúng ta ích kỉ biết bao! Chúng ta ích kỉ đến nỗi khi đến buổi nhóm, chúng ta chọn chỗ ngồi tốt nhất. Tại nước Mĩ này, anh em có ghế ngồi riêng biệt, nên anh em không thể dành chỗ với người khác, nhưng tại Đài Loan, người ta có những băng ghế dài. Tất cả các băng ghế đều dài đủ cho bốn người ngồi trong các buổi nhóm bình thường. Nhưng đến khi có hội đồng, người ta yêu cầu các anh chị em ngồi sát vào để mỗi băng ghế ngồi được năm người. Tuy nhiên, khi biết như vậy vài người cố ngồi dang ra và chiếm một phần tư băng ghế, bắt buộc người khác phải ngồi chật lại. Cách tiếp xúc đền tạm và chứng cớ của Chúa như vậy thuộc loại nào? Chúng ta tội lỗi biết bao! Chúng ta cần áp dụng Chúa như của lễ chuộc sự mắc lỗi nhiều lần là dường bao!

Các anh chị em ơi, tôi tin nếu chúng ta trung tín và chân thật trước mặt Chúa, khi đến tiếp xúc với đền tạm này, chứng cớ này, Linh của Ngài sẽ làm cho chúng ta cảm biết mọi tội lỗi và mọi vi phạm của mình. Chúng ta sẽ cảm biết điều mình đã làm và sẽ nói: “Ôi, Chúa, xin tha thứ cho con. Tẩy sạch con. Ngài đã chết trên thập tự giá như Đấng Cứu chuộc con; cho nên một lần nữa, con áp dụng Ngài như của lễ chuộc sự mắc lỗi”. Ôi, thật kì diệu! Bất cứ khi nào chúng ta áp dụng Đấng Christ như vậy, ngay lập tức chúng ta cảm biết mình được tha thứ và tẩy sạch. Chúng ta được bình an trong lương tâm. Chúng ta có mối tương giao tốt đẹp với Chúa và với Thân thể. Đây là sự áp dụng Đấng Christ như của lễ chuộc sự mắc lỗi của chúng ta. Anh em có kinh nghiệm này không?

Không lúc nào chuẩn bị giảng mà tôi không xin Chúa tẩy sạch mình thêm một lần nữa. Nếu không, do sự cáo trách trong lương tâm, tôi sẽ không được xức dầu và không thể giảng một cách sống động được. Mỗi lần như vậy, tôi phải áp dụng Đấng Christ như của lễ chuộc sự mắc lỗi để lương tâm được tinh sạch và tôi được bình an. Khi ấy, tôi có sự dạn dĩ để đòi hỏi sự xức dầu của Đức Chúa Trời. Nơi nào có huyết tẩy sạch, nơi ấy sẽ có sự xức dầu. Sự xức dầu luôn luôn theo sau sự tẩy sạch của huyết. Chúng ta có huyết làm nền tảng để đòi hỏi được xức dầu, được Thánh Linh hành động, để chúng ta có thể phục vụ một cách sống động. Khi tôi áp dụng Đấng Christ như của lễ chuộc sự mắc lỗi, cho dầu tôi đã vi phạm bao nhiêu, ngợi khen Chúa, tôi vẫn được tha thứ và tẩy sạch. Bất cứ khi nào tôi rao giảng, bất cứ khi nào tôi phục vụ và ngay cả khi tiếp xúc với một vài anh em, tôi phải nói: “Chúa ơi, xin tha thứ cho con và tẩy sạch con một lần nữa. Con áp dụng Ngài như của lễ chuộc sự mắc lỗi”.

Đôi lúc dường như tôi không vi phạm gì. Nhờ sự bảo vệ của Chúa, chúng ta được gìn giữ suốt cả ngày trong sự hiện diện của Ngài và không vi phạm gì. Chúng ta có thể được như vậy. Chúng ta không cảm biết mình đã vi phạm, nhưng chúng ta có một cảm giác sâu hơn. Đây là một điều khá lạ lùng. Khi chúng ta nói: “Chúa ơi, con ngợi khen Ngài, Ngài đã gìn giữ con suốt cả ngày; nhờ sự bảo vệ của Ngài, con đã không vi phạm”, chúng ta cảm thấy sâu xa bên trong có một điều gì tội lỗi. Chúng ta cảm thấy sâu xa bên trong có một điều tội lỗi hơn là sự vi phạm. Ấy là Tội, Tội viết hoa. Đây là bản chất tội. Dầu được cứu và được bình an với Đức Chúa Trời và với người khác, chúng ta vẫn có một bản chất tội bên trong. Đây là Tội được bàn đến rất nhiều trong La Mã chương 5, 6, 7 và 8. Tội cư trú trong tôi. Tôi không đang nói về các tội lỗi, nhưng về Tội, Tội viết hoa, Tội số ít. Tôi ghét điều tôi làm. Không phải tôi là người làm ra nhưng là Tội ở trong tôi. Có một điều gian ác nhưng mạnh mẽ đang sống động trong tôi gọi là Tội. Nó có thể xâm chiếm tôi, nó có thể đánh bại tôi; nó có thể xui tôi làm những điều tôi ghét. Nó là một bản chất sống động; đó là bản chất của điều ác. Vì vậy, cần có một của lễ: của lễ chuộc tội.

Một ngày kia khi đang đọc báo về một người cướp ngân hàng. Tôi nói: “Ôi Chúa, con cảm tạ Ngài vì nhờ sự thương xót và ân điển của Ngài con chưa bao giờ làm một điều như vậy; con chưa bao giờ trộm cướp của người khác”. Nhưng sâu xa trong lòng, tôi có cảm nhận mình không nên nói như vậy, vì chính yếu tố trộm cướp có trong tôi. Đúng vậy, tôi không có một hành vi trộm cướp, nhưng tôi có bản chất trộm cướp. Một mặt, tôi có thể nói: “Chúa ơi, con cảm tạ Ngài, nhờ sự bảo vệ của Ngài, con không vướng vào một hành vi cướp bóc người khác”; nhưng mặt khác, tôi phải nói: “Chúa ơi, con có một bản chất tội, bản chất trộm cướp, nhưng Ngài là của lễ chuộc tội của con. Mặc dầu con không vi phạm ở bên ngoài, nhưng con có một bản chất tội lỗi ở bên trong. Mặc dầu bây giờ con không cần áp dụng Ngài như của lễ chuộc sự mắc lỗi của con, nhưng con vẫn cần Ngài như của lễ chuộc tội”.

Các anh chị em ơi, bất cứ khi nào chúng ta là những tạo vật sa ngã đến tiếp xúc với chứng cớ của Chúa, ít nhất chúng ta phải áp dụng Đấng Christ như của lễ chuộc tội. Trong Kinh Thánh, chúng ta thấy dân Israel phải dâng của lễ chuộc tội để tiếp xúc với Chúa. Cho dầu cảm thấy mình tốt bao nhiêu, anh em cũng phải nhận biết rằng vì mình vẫn còn ở trong bản chất tội, anh em vẫn phải áp dụng Đấng Christ như của lễ chuộc tội.

Ngợi khen Chúa vì Ngài cũng là của lễ bình an (của lễ bình an). Mỗi một ngày và ngay cả từng giây phút, khi vui hưởng Ngài như của lễ chuộc sự mắc lỗi và của lễ chuộc tội của mình, chúng ta cũng vui hưởng Ngài như của lễ bình an. Nhờ Ngài và trong Ngài chúng ta có sự bình an với Đức Chúa Trời và với các anh chị em. Chính Đấng Christ là sự bình an của chúng ta. Chúng ta vui hưởng Ngài như sự bình an đối với Đức Chúa Trời và sự bình an đối với loài người của chúng ta. Ngài thật ngọt ngào, Ngài làm cho chúng ta thỏa mãn; mỗi người chúng ta đều có thể vui hưởng Ngài trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời và vui hưởng Ngài cùng với Đức Chúa Trời. Đây là Đấng Christ như của lễ bình an.

Đôi lúc chúng ta cũng áp dụng Đấng Christ như của lễ chay. Nhiều lúc sau khi đã áp dụng và kinh nghiệm Ngài như của lễ chuộc sự mắc lỗi và như của lễ chuộc tội, ngay sau đó chúng ta sẽ áp dụng Ngài như của lễ chay. Chúng ta chỉ vui hưởng Đấng Christ. Chúng ta vui hưởng đời sống của Ngài trên đất – Ngài trọn vẹn, tinh tế, thuần khiết và thuộc linh biết bao! Chúng ta vui hưởng Ngài là một Đấng như vậy. Chúng ta nói: “Chúa ơi, chúng con vui hưởng Ngài như của lễ chay dâng lên cho Đức Chúa Trời”. Đây là cách dâng Đấng Christ như của lễ chay.

Nhiều lúc, chúng ta cũng phải áp dụng Đấng Christ như của lễ thiêu. Chúng ta phải nói: “Ôi Chúa, con nhận biết thế nào Ngài đã hoàn toàn dâng chính mình cho Đức Chúa Trời như một sinh tế để làm theo ý muốn Đức Chúa Trời, để làm thỏa lòng Đức Chúa Trời, để có một cuộc đời tuyệt đối vì Đức Chúa Trời. Con vui hưởng Ngài là một Đấng như vậy”. Nhiều lúc tại Bàn của Chúa, chúng ta có kinh nghiệm này. Chúng ta áp dụng Ngài như của lễ chay và như của lễ thiêu. Chúng ta thấy cuộc đời kì diệu của Chúa khi Ngài ở trên đất. Chúng ta thấy Ngài mười hai tuổi. Chúng ta thấy Ngài là người thợ mộc trong gia đình nghèo nàn ấy ở Na-xa-rét. Chúng ta thấy Ngài đã hành động như thế nào khi Ngài thi hành chức vụ vì Đức Chúa Trời, thế nào Ngài cư xử trước mặt người khác, và thế nào Ngài đã đối xử với họ thật nhân từ, hòa nhã, khiêm nhường và thánh khiết. Chúng ta áp dụng Ngài như sự vui hưởng của chúng ta, như của lễ chay và như của lễ thiêu để làm thỏa lòng Đức Chúa Trời. Chúng ta có thể nói với Chúa: “Ngài đã sống trên đất này tuyệt đối vì Đức Chúa Trời. Ngài là của lễ thiêu. Con áp dụng Ngài như là sự vui hưởng của con. Ngài là sự vui thỏa của con và là sự thỏa mãn của Đức Chúa Trời, không những ở tại Bàn của Ngài, nhưng suốt cả ngày. Đôi khi vào buổi sáng và có lúc vào buổi tối, con vui hưởng Ngài như của lễ chay và như của lễ thiêu”.

Ô, ngợi khen Chúa vì Ngài là tất cả của lễ này để chúng ta vui hưởng! Anh em và tôi càng áp dụng Đấng Christ như của lễ chuộc sự mắc lỗi, của lễ chuộc tội, của lễ bình an, của lễ chay và của lễ thiêu, chúng ta càng cảm thấy mình ở trong đền tạm. Chúng ta càng áp dụng Đấng Christ theo cách như vậy, chúng ta càng cảm thấy mình ở trong sự hiện diện vinh diệu của Đức Chúa Trời. Đây không phải là giáo lí, nhưng là một điều rất thực tiễn. Anh em có thể minh chứng điều này, anh em có thể kinh nghiệm điều này. Nếu không có kinh nghiệm như vậy, chúng ta đã có điều gì sai lầm.

Bây giờ anh em thấy chúng ta phải kinh nghiệm Đấng Christ nhiều biết bao. Chúng ta cần phải kinh nghiệm Ngài như chiên con của lễ Vuợt qua, như ma-na, như vầng đá, như Hòm giao ước với đền tạm và như tất cả các loại của lễ – của lễ chuộc sự mắc lỗi, của lễ chuộc tội, của lễ bình an, của lễ chay và của lễ thiêu. Chúng ta cần phải kinh nghiệm Đấng Christ và áp dụng Ngài từng giờ một, từng trường hợp một, đến nỗi chúng ta sẽ đủ điều kiện, đủ khả năng và sức mạnh để tiến tới và chiếm hữu Đấng Christ bao-hàm-tất-cả. Việc sở hữu miền đất tốt lành này không diễn ra bất ngờ hay ngay tức khắc. Đây là một tiến trình diễn ra từng bước. Trước hết, chúng ta phải vui hưởng Ngài như chiên con; kế đến, chúng ta phải vui hưởng Ngài như ma-na, như vầng đá, như Hòm giao ước với đền tạm; và rồi hằng ngày, từng giây phút chúng ta phải vui hưởng Ngài như tất cả các loại của lễ khác nhau. Khi ấy chúng ta sẽ đủ điều kiện và trưởng thành để sở hữu miền đất bao-hàm-tất-cả này. Nhưng chúng ta còn cần bước theo những điều khác nữa.

CHỨC VỤ TẾ LỄ

Ngay sau các của lễ trong phần đầu của sách Lê-vi Kí, chức vụ tế lễ được giới thiệu với chúng ta. A-rôn và các con trai ông được trang sức và hội đủ các điều kiện để phục vụ Đức Chúa Trời như các thầy tế lễ. Chúng ta phải có điều này; chúng ta phải có Đấng Christ như A-rôn của chúng ta, Đấng Christ như thầy tế lễ thượng phẩm của chúng ta và tất cả chúng ta phải là con của Ngài, là những thầy tế lễ phục vụ Ngài. Đây là một điều còn hơn cả sự vui hưởng, còn hơn cả kinh nghiệm và ứng dụng. Khi đến buổi nhóm để vui hưởng Chúa, anh em có phục vụ, có thi hành chức năng của mình, có phụng sự không? Có lẽ anh em sẽ đáp: “Thưa anh, vì tôi không phải là mục sư, tôi không thể phụng sự. Anh mới là mục sư”. Nhưng nếu anh em nói mình không phải mục sư, tôi sẽ nói với anh em rằng tôi cũng không phải là mục sư. Anh em là ai tôi cũng là người ấy. Anh em là một anh em, tôi cũng là một anh em. Nhưng các anh chị em ơi, anh em phải nhận thức rằng mình phải phụng sự. Tất cả chúng ta đều phải phụng sự. Anh em phải phụng sự điều gì? Anh em biết điều đó. Nếu anh em chân thật và trung tín với Chúa, anh em sẽ biết mình cần phụng sự điều gì. Anh em là một thầy tế lễ.

Nếu anh em không phục vụ như các thầy tế lễ, anh em không bao giờ có thể chiếm hữu Đấng Christ bao-hàm-tất-cả. Nếu anh em muốn bước vào miền đất tốt lành ấy, anh em phải là một thầy tế lễ. Cần phải có chức vụ tế lễ giữa vòng dân Chúa trước khi chúng ta ở trong tình trạng sẵn sàng bước vào miền đất này. Có thể anh em sẽ nói nhiều dân Israel không phải thầy tế lễ. Nhưng anh em thật sự nhận biết rằng họ đều được ích lợi nhờ chức vụ tế lễ. Dầu sao đi nữa, có một chức vụ tế lễ giữa vòng họ và cũng phải có chức vụ tế lễ giữa vòng chúng ta.

Một thầy tế lễ nghĩa là gì? Xin đừng nghĩ rằng các thầy tế lễ ngày nay giữa vòng dân Đức Chúa Trời là những người được gọi là ông mục sư, thầy giảng v.v. Tôi e rằng nhiều người trong số họ không phải là những thầy tế lễ thật. Ai là những thầy tế lễ ngày nay? Họ là những người đang sống trong Đấng Christ và sống bởi Ngài để bày tỏ Ngài. Anh em đang làm gì hay làm nghề gì không thành vấn đề. Anh em có thể là thầy giáo, thương gia, bác sĩ, y tá, học sinh hay một người nội trợ. Điều thiết yếu và cơ bản là anh em sống trong Đấng Christ, bước đi trong Đấng Christ, vui hưởng Đấng Christ, kinh nghiệm Đấng Christ và áp dụng Ngài cho cả đời sống mình. Đây là điều làm cho anh em trở thành thầy tế lễ. Hãy xem các con trai A-rôn khi họ được đưa đến Môi-se. Môi-se đã làm gì? Ông cởi bỏ y phục của họ và mặc áo tế lễ cho họ. Áo tế lễ là gì? Áo tế lễ là sự biểu lộ Đấng Christ. Đấng Christ được bày tỏ qua anh em như áo của thầy tế lễ. Những gì các thầy tế lễ ăn tượng trưng cho Đấng Christ, những gì họ mặc tượng trưng cho Đấng Christ và cả cuộc sống của họ cũng tượng trưng cho Ngài. Là một thầy tế lễ, anh em phải sống trong Đấng Christ và phục vụ bằng Đấng Christ. Khi dạy học ở trường, anh em dạy trong Đấng Christ; khi làm việc, anh em làm việc trong Đấng Christ; khi chăm sóc nhà cửa, anh em cũng làm điều đó trong Đấng Christ. Anh em ở trong áo của một thầy tế lễ.

Gần đây, từ một thành phố xa xôi một chị em đến gặp chúng tôi. Chị ấy đã gởi cho chúng tôi một bức điện tín, cho biết giờ chị đến và số chuyến bay của chị, nhưng không ai trong chúng tôi biết mặt chị hay từng gặp chị trước đây. Khó khăn hơn nữa là khi ấy vào dịp cuối năm, phi trường đầy du khách. Các anh em lo lắng nói với tôi: “Thưa anh, làm thế nào chúng ta nhận ra chị được? Làm thế nào chị ấy biết chúng ta được?” Tôi đáp: “Các anh cứ yên tâm, sẽ có một vài dấu hiệu; chúng ta sẽ biết chị”. Khi máy bay đến, hành khách bắt đầu đi xuống, chúng tôi chờ ở lối vào. Một vài người phụ nữ đi qua và rồi vài người nữa. Đang khi thấy họ đi qua, tôi nói với một anh em: “Không phải người này. Người này cũng không phải chị ấy. Không phải người kia. Không,.. không...”. Sau đó một người bước tới và tôi nói với anh em này: “Đây là chị ấy; người này chắc hẳn là chị ấy đây. Anh đến nói chuyện với chị ấy đi”. Và chính người này mỉm cười với chúng tôi. Chị đúng là người chúng tôi đang chờ. Tôi nhận ra chị nhờ “áo tế lễ”.

Khoảng ba mươi năm trước, một chị em khác đi tàu thủy từ Thượng Hải đến gặp chúng tôi tại miền Bắc Trung Quốc. Tàu không thể cập bến tại hải cảng; nên nhiều chiếc phà nhỏ đưa hành khách vào bờ. Một đám đông gồm những bạn bè và bà con có mặt tại đó, la lớn chào mừng người này, người kia. Nhưng chúng tôi chưa bao giờ gặp chị em này; chúng tôi chưa biết chị. Chúng tôi nhìn hết người này đến người nọ. Chúng tôi xem và tìm tòi cẩn thận từng chiếc phà cập bến, nhưng chúng tôi không thể nhận ra chị em ấy. Cuối cùng một chiếc phà khác đến chở theo một thiếu phụ, vừa thấy chị chúng tôi đều nói đó chính là chị em ấy và chúng tôi đã nói đúng. Làm thế nào chúng tôi biết được? Chỉ bởi một biểu hiện nào đó. Tôi không thể giải thích các dấu hiệu, nhưng tôi có thể nhận biết, tôi có thể cảm nhận được.

Có nhiều câu chuyện tương tự như vậy. Nếu anh em là một thầy tế lễ, anh em sẽ có một điều gì đó không phải là tầm thường, anh em có những đặc điểm riêng biệt và nổi bật. Anh em được trang bị bằng Đấng Christ và trang sức bằng Đấng Christ; Ngài là y phục của anh em. Anh em phải kinh nghiệm Đấng Christ theo cách như vậy; khi ấy anh em sẽ là một thầy tế lễ. Bất cứ giải quyết điều gì, anh em giải quyết với Đấng Christ; bất cứ làm điều gì, anh em làm với Đấng Christ. Anh em bày tỏ Ngài. Nếu chị em là một người tiếp xúc với Đấng Christ suốt cả ngày, hãy nghĩ xem chị em sẽ có thể phụng sự Chúa biết bao nhiêu. Chị em sẽ có thể giúp đỡ người khác biết Đấng Christ; chị em sẽ cung ứng Đấng Christ cho gia đình mình. Khi đến buổi nhóm, chị em sẽ có thể chia sẻ nhiều điều. Dầu chị em dọn dẹp hay sắp đặt chỗ ngồi, hoặc cùng quỳ xuống với vài chị em khác để cầu nguyện cho buổi nhóm, tất cả đều là một chức vụ, một chức vụ được hoàn thành trong Đấng Christ, với Đấng Christ và bởi Đấng Christ. Có lẽ chị em sẽ chuẩn bị một ít thức ăn cho những người khách đến dự những buổi nhóm đặc biệt. Đây cũng là một chức vụ phải được đầy dẫy Linh. Trong sách Công vụ các Sứ đồ, chúng ta được biết những người phục vụ bàn ăn phải được đầy dẫy Linh. Làm công việc chuẩn bị thức ăn không phải là một chuyện dễ. Đây là cơ hội tuyệt hảo để áp dụng Đấng Christ và cung ứng Đấng Christ.

Có nhiều chức vụ để các thầy tế lễ thực hiện. Anh em có thể đến và ngồi đây trong buổi nhóm, và mặc dầu có thể anh em không lãnh một nhiệm vụ tích cực công khai trong buổi nhóm, tuy nhiên anh em vẫn có thể có một chức vụ quyền năng và thắng thế từng giây phút. Tại Thượng Hải, trong thời kì từ năm 1946 đến 1948, tôi chia sẻ phần lớn các bài giảng. Tôi có thể nói với anh em rằng bất cứ khi nào tôi đang chia sẻ, một số anh chị em, không phải một số ít, có lẽ là một hay hai trăm anh chị em ngồi đó đang phụng sự. Họ đang phụng sự bởi linh, bởi linh cầu nguyện, bởi linh tiếp nhận. Họ ngồi đó tiếp thu bài giảng của tôi bằng linh của họ. Đó là chức vụ của họ và đó là điều hiệu quả và có giá trị hơn hết. Có hàng trăm người ngồi đầy phòng nhóm, nhưng họ là những người hỗ trợ tôi, ủng hộ tôi. Họ là một với tôi. Không có họ, tôi không thể chia sẻ một cách sống động và tuôn đổ như vậy.

Một ngày kia tôi sắp đặt một vài buổi nhóm đặc biệt để giảng phúc âm cho những người chưa tin. Tất cả các anh chị em đều cho rằng tốt nhất họ nên dành chỗ cho những người bạn chưa tin của mình; cho nên họ rút qua một phòng khác. Vì vậy, cả phòng nhóm, đặc biệt là ở phía trước đầy những người chưa tin. Khi đứng lên chia sẻ, tôi nhìn quanh và thật sửng sốt. Không một người hỗ trợ tôi, không một người ủng hộ tôi có mặt ở đó. Tôi phải đánh trận một mình mà thôi. Gánh nặng của những người chưa tin ấy, những con cái của ma quỷ ấy nặng vô cùng. Họ chen chúc quanh tôi, và tội lỗi họ dấy lên nghịch lại tôi. Ngày hôm sau, tôi nói với các anh chị em: “Không, không được, các anh chị em đừng bao giờ làm như vậy nữa! Ít nhất hai trăm anh em phải ở lại đó để ủng hộ tôi. Tôi không thể một mình chiến đấu với hàng trăm người. Anh em phải trở lại. Anh em phải ngồi với họ để cầu nguyện và tiếp nhận lời giảng”.

Với một linh hỗ trợ như vậy, tôi sẽ dạn dĩ và có uy quyền biết bao! Mọi người đều chịu khuất phục, không phải do tôi, nhưng do Thân thể, do chức vụ tế lễ. Vào ngày lễ Ngũ tuần, Phi-e-rơ không đứng một mình, nhưng ông đứng với mười một người. Hãy xem sự dạn dĩ của ông, uy quyền của ông và hãy xem kết quả chiến thắng ấy.

Một năm nọ, tại Đài Loan, chúng tôi có một kì hội đồng với hơn hai ngàn người tham dự. Khi tôi đối diện với điều ấy, một gánh nặng lớn lao đè nặng trên mình. Tôi có một gánh nặng sâu xa. Tôi nói với các trưởng lão: “Tất cả anh em phải cùng lên bục giảng với tôi”. Vì vậy, khi tôi đến buổi nhóm, họ đều lên bục giảng và trong khi tôi chia sẻ các bài giảng, có tiếng “A-men! A-men!” vang dội. Họ hỗ trợ tôi, họ nâng đỡ tôi. Tôi rất dạn dĩ và toàn thể hội chúng đều bị bắt phục. Sự kính sợ Chúa và lòng yêu Chúa được khuấy động lên trong bầu không khí này. Đây là chức vụ. Các anh chị em ơi, chúng ta không bao giờ có thể đánh lừa kẻ thù, chúng ta cũng không bao giờ có thể đánh lừa lương tâm mình và chúng ta không bao giờ có thể đánh lừa Chúa. Nếu các trưởng lão trên bục giảng không phải là các thầy tế lễ, nếu họ là những người thế giới, họ không thể nói “A-men” như vậy. Lương tâm họ sẽ không bình an. Họ có thể nói “A-men” nho nhỏ và yếu ớt, nhưng như vậy thì vô nghĩa, không có sự hỗ trợ. Nhưng họ đang phục vụ Chúa trong Đấng Christ; họ đang sống trong Đấng Christ, với Đấng Christ và bởi Đấng Christ. Vì vậy, họ rất dạn dĩ. Khi một anh em có cơ hội giảng dạy, họ có thể nói: “Chúng ta hãy lên bục giảng với anh ấy như một đạo quân”. Không phải chỉ một anh em ấy chia sẻ, nhưng là một đội ngũ, một đạo quân. Khi anh ấy nói, tất cả đều đáp “A-men” với một linh mạnh mẽ và đuổi kẻ thù chạy trốn. Không có chỗ cho kẻ thù, cả buổi nhóm với toàn thể hội chúng đều bị Chúa xâm chiếm và bắt phục. Nếu anh em từng có một kinh nghiệm như vậy hay từng tham dự một buổi nhóm như vậy, anh em có thể làm chứng cho thực tại này.

Các anh chị em ơi, đây là chức vụ thật. Tất cả đều tùy thuộc vào mức độ anh em sống trong Đấng Christ, bước đi trong Ngài, tiếp nhận Ngài làm lương thực, y phục và làm mọi điều của mình.

Bây giờ chúng ta đã hoàn tất sách Lê-vi Kí. Chúng ta phải kinh nghiệm biết bao nhiêu điều của Đấng Christ! Ngài phong phú, phong phú một cách tuyệt vời biết bao! Chúng ta phải kinh nghiệm Ngài càng ngày càng hơn. Bây giờ chúng ta không chỉ có Hòm giao ước với đền tạm, mà còn có các của lễ và chức vụ tế lễ. Chúng ta thừa sức hội đủ điều kiện để tiến vào miền đất ấy, nhưng chúng ta đừng kiêu ngạo. Chúng ta phải thực hành tất cả những điều này hằng ngày và kinh nghiệm chúng một cách thực tế. Bằng cách vui hưởng Đấng Christ như chiên con, tiệc Vuợt qua, ma-na hằng ngày, vầng đá với nước sống, Hòm giao ước với đền tạm, tất cả các của lễ khác nhau, mọi trang thiết bị và sự cung ứng của chức vụ tế lễ thật, chúng ta hội đủ điều kiện để tiến vào miền đất tốt lành ấy.

<