Thông tin sách

Đấng Christ Bao Hàm Tất Cả

Tác giả: Witness Lee
Dịch từ bản tiếng Anh: Đấng Christ Bao Hàm Tất Cả
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 9

Tiếng ViệtTải về
Untitled Document

CHƯƠNG CHÍN

LÀM THẾ NÀO ĐỂ SỞ HỮU MIỀN ĐẤT (1)

NHỜ CHIÊN CON, MA-NA, HÒM BẢNG CHỨNG VÀ ĐỀN TẠM

Ê-phê-sô 3:17-18: Để Đấng Christ có thể lập nhà Ngài trong lòng anh em qua đức tin, để anh em, khi đã được châm rễ và lập nền trong tình yêu thì có thể đầy sức mạnh mà cùng với tất cả thánh đồ hiểu thấu chiều rộng, chiều dài, chiều cao, chiều sâu ấy là gì. (RcV)

Anh em cần lưu ý và nhớ kĩ một ít điều trong hai câu Kinh Thánh này. Xin chú ý từ lập nhà Ngài trong câu 17. Đây là một từ ngữ trọng đại, một từ ngữ quan trọng. Trong nguyên ngữ, từ ngữ được dịch là lập nhà Ngài, hay cư ngụ có cùng một gốc với từ ngữ được dịch là nhà hay nơi ở. Chúng tôi muốn dịch từ ngữ nguyên thủy ấy trong tiếng Hi Lạp ra là “lập nhà Ngài”. Từ ngữ này truyền đạt một ý nghĩa sâu hơn và đầy đủ hơn là “cư ngụ”. Đấng Christ muốn lập nhà Ngài trong lòng chúng ta, để chúng ta có thể được mạnh mẽ mà hiểu thấu. Bây giờ, xin anh em lưu ý: không những chúng ta chỉ có khả năng để hiểu biết mà chúng ta còn có thể “mạnh mẽ” để hiểu biết. Đây cũng là một từ ngữ mạnh mẽ và quan trọng. Trong Hi văn, nó có nghĩa là “có đầy đủ quyền năng...”. Chúng ta có thể dịch câu ấy như sau: “để chúng ta có thể có đủ quyền năng mà hiểu biết...”. Bây giờ tôi muốn anh em chú ý đến từ hiểu thấu. Chúng ta không chỉ biết hay hiểu suông, nhưng chúng ta chiếm hữu được điều gì đó qua biết và nhận được điều gì đó qua hiểu đó là hiểu thấu. Chúng ta phải hiểu biết điều gì? Ấy là chiều rộng, chiều dài, chiều cao, chiều sâu, tức là sự rộng lớn của Đấng Christ, những kích thước vô hạn của Đấng Christ. Kế đến, chúng ta phải cùng với tất cả các thánh đồ mà hiểu biết một Đấng Christ như vậy. Một con người lẻ loi không thể nào hiểu biết một Đấng vô hạn như vậy, mà phải cùng với tất cả các thánh đồ.

Tóm lại, Đấng Christ muốn lập nhà Ngài trong lòng chúng ta. Khi ấy chúng ta sẽ có đầy đủ quyền năng để cùng với các thánh đồ mà hiểu biết và nhận được nhờ hiểu biết sự rộng lớn vô hạn của Đấng Christ.

Xuất Ai Cập Kí 33:14-15: “Và Ngài phán: Sự hiện diện của ta sẽ đi cùng ngươi và ta sẽ cho ngươi yên nghỉ. Và người thưa với Ngài: Nếu sự hiện diện của Ngài không đi cùng tôi, xin đừng đưa chúng tôi lên khỏi nơi này”.

Ở đây, điều đầu tiên Chúa hứa với Môi-se là sự hiện diện của Ngài sẽ đi cùng ông và cùng dân Israel. Điều thứ hai Chúa hứa với Môi-se là Ngài sẽ cho ông yên nghỉ. Sự yên nghỉ Chúa hứa ở đây là sự yên nghỉ trong miền đất tốt lành.

Phục Truyền Luật Lệ Kí 12:10: “Nhưng khi các ngươi đi ngang qua sông Giô-đanh, ở trong xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi ban cho làm sản nghiệp và Ngài sẽ ban sự yên nghỉ cho các ngươi khỏi mọi kẻ thù chung quanh, để các ngươi được ở an toàn...”.

Phục Truyền Luật Lệ Kí: 25:19: “Vậy, khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã ban cho các ngươi sự yên nghỉ khỏi mọi kẻ thù chung quanh, tại miền đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi nhận lấy làm sản nghiệp...”.

Qua hai câu này, chúng ta thấy khi Chúa đề cập đến sự yên nghỉ, Ngài đề cập đến miền đất. Miền đất là sự yên nghỉ. Sở hữu miền đất và ở tại đó là được nghỉ ngơi.

Xuất Ai Cập Kí 40:1, 2: “Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Ngày mồng một tháng giêng, ngươi sẽ dựng đền tạm của trại nhóm họp”.

Chúa truyền cho Môi-se dựng lều tạm vào ngày đầu tháng giêng. Điều này nghĩa là một sự bắt đầu hoàn toàn mới mẻ.

Xuất Ai Cập Kí 40:17, 21, 34-35: “Đến ngày mồng một tháng giêng về năm thứ hai, thì đền tạm đã được dựng lên. Người khiêng Hòm giao ước vào đền tạm và treo tấm màn che để che Hòm giao ước, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se. Áng mây bao phủ trại nhóm họp và sự vinh quang của Đức Giê-hô-va đầy dẫy đền tạm, đến nỗi Môi-se không thể vào trong trại nhóm họp, vì mây ở trên đó và vinh quang của Đức Giê-hô-va đầy dẫy đền tạm”.

Một khi đền tạm đã được dựng lên, vinh quang của Chúa liền đầy dẫy. Vinh quang của Chúa là gì? Ấy là sự hiện diện của Chúa được bày tỏ trước mắt loài người. Mắt loài người, mắt dân Israel trông thấy sự hiện diện của Đức Chúa Trời trong vinh quang Ngài lúc ấy.

Chúng ta đã thấy phần nào về sự tốt lành, vô cùng tốt lành của miền đất Ca-na-an, và chúng ta đã thấy thế nào miền đất này tượng trưng cho Đấng Christ bao-hàm-tất-cả. Chúng ta không thể thấy hết mọi khía cạnh về tất cả sự trù phú của miền đất này, nhưng tôi tin rằng những gì chúng ta đã thấy cũng đủ làm cho chúng ta cảm thấy biết ơn Chúa. Bây giờ, chúng ta phải xem xét cách chiếm hữu mảnh đất ấy. Chúng ta phải thấy cách bước vào và vui hưởng miền đất ấy.

VẤN ĐỀ HỢP TÁC

Trước hết, sở hữu miền đất này không phải là việc của một con người riêng lẻ. Tuyệt đối không một cá nhân đơn lẻ nào có thể làm được điều này. Chúng ta phải nhớ kĩ điểm này. Không bao giờ chúng ta có thể chiếm hữu được Đấng Christ bao-hàm-tất-cả bởi chính mình với tư cách là những cá nhân. Tuyệt đối không! Các anh chị em ơi, chúng ta đừng mơ tưởng điều này. Những giấc mơ như vậy không bao giờ có thể trở thành sự thật. Đây là việc của Thân thể. Điều ấy phải được hiểu biết cùng với mọi thánh đồ. Đấng Christ quá lớn lao; sự bao la rộng lớn của Ngài là vô hạn và sự phong phú của Ngài không thể dò lường được. Chúa đã thiết lập nguyên tắc này một cách vững chắc, ấy là bước vào và sở hữu miền đất tốt lành không phải là việc dành cho các cá nhân, nhưng cho một thân thể tập thể. Chúa không bao giờ bảo con cái Israel từng người một hãy lần lượt băng qua sông Giô-đanh và tiến vào miền đất ấy. Tâm trí Đức Chúa Trời không bao giờ nghĩ rằng tháng này người này nên tiến vào, tháng sau người kia sẽ tiến vào, và tháng sau nữa một người khác lại tiến vào. Đây là điều không thể có được và trái ngược với nguyên tắc thần thượng. Miền đất ấy phải được chiếm hữu bởi một thân thể tập thể; chúng ta phải tiến vào miền đất này một cách tập thể, không phải một cách cá thể, cá nhân.

Tôi e rằng trong khi đọc những trang này anh em đang thắc mắc: “Làm thế nào tôi có thể tiến vào miền đất này?” Là một cá nhân không bao giờ anh em có thể vào đó được. Anh em phải ghi khắc điều này một cách sâu xa. Đó không phải là phương cách. Nếu muốn tiến vào miền đất này, anh em phải tiến vào như một chi thể của một thân thể tập hợp, tập thể.

CHIÊN CON

Ngay từ đầu, dân Israel thưởng thức chiên con của lễ Vuợt qua (Xuất. 12), tượng trưng cho Đấng Christ như chúng ta đã biết (1 Cô. 5:7). Trong khi vẫn còn ở trong đất Ai Cập, họ đã vui hưởng Đấng Christ. Tuy nhiên đất Ca-na-an cũng tượng trưng cho Đấng Christ. Chiên con là Đấng Christ, và miền đất ấy cũng là Đấng Christ. Như vậy, dường như có hai Đấng Christ: một Đấng Christ nhỏ bé hơn và một Đấng Christ lớn lao hơn. Một Đấng Christ nhỏ bé như chiên con lễ Vuợt qua và một Đấng Christ lớn lao như miền đất Ca-na-an. Dường như trong khi chúng ta đang vui hưởng Đấng Christ nhỏ bé này, một Đấng Christ lớn lao hơn vẫn đang chờ đợi mình, và chúng ta phải tiến tới mục tiêu này để vui hưởng một Đấng như vậy. Điều này không đúng sao? Khi còn trẻ, tôi thấy dường như là vậy. Tôi đã có sẵn một điều gì đó vì tôi đã có Đấng Christ, nhưng mặt khác tôi vẫn phải tiến tới để nhận được Ngài. Như vậy, chúng ta có hai Đấng Christ, hay chỉ là một? Dường như tôi đang hỏi một câu hỏi kì lạ. Anh em đã có Đấng Christ chưa? Tôi tin đã có rồi. Thế thì vì sao anh em còn cố gắng để nhận được Ngài? Nếu chúng ta nói mình đã có Ngài, dầu vậy chúng ta vẫn phải nhận được Ngài; nếu chúng ta nói mình đã chiếm hữu được Ngài, nhưng Ngài vẫn còn ở phía trước chúng ta. Nếu chúng ta nói mình không có Ngài, như vậy chúng ta không bao giờ có thể tiến lên hơn nữa để nhận được Ngài. Những câu hỏi này đụng đến vấn đề của những bài giảng này cách sâu xa.

Chúng ta cần nhận biết rằng trước nhất chúng ta phải vui hưởng Đấng Christ như một chiên con nhỏ bé. Đấng Christ là chiên con để cứu chuộc chúng ta. Đầu tiên chúng ta được Ngài cứu chuộc trước khi có thể nhận Ngài là Đấng bao-hàm-tất-cả. Chúng ta phải nhận Ngài như chiên con lễ Vuợt qua. Thế thì, chúng ta đang bắt đầu chương này từ phần đầu của sách Xuất Ai Cập Kí. Đây là chỗ chúng ta phải bắt đầu để có thể tiến vào đất Ca-na-an. Chúng ta phải có lễ Vuợt qua; chúng ta phải kinh nghiệm Đấng Christ là chiên con của Đức Chúa Trời. “Kìa, chiên con của Đức Chúa Trời” là ở phần đầu của Phúc Âm Giăng, nhưng vào phần kết thúc của sách này Đấng Christ là Đấng vô hạn cần được chiếm hữu bởi các môn đồ Ngài. Ngay từ đầu, Đấng Christ là chiên con được Giăng Báp-tít giới thiệu cho dân chúng, nhưng vào phần cuối Ngài là Đấng không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Không một điều gì có thể giới hạn Đấng phục sinh ấy; tuy nhiên Ngài dành cho chúng ta vui hưởng. Chúng ta phải kinh nghiệm Đấng Christ như chiên con bị giới hạn; khi ấy chúng ta mới có thể tiến tới để nhận lãnh Ngài như Đấng Christ vô hạn.

Thật ra, trong lễ Vuợt qua, không những chúng ta có chiên con, nhưng cũng có bánh không men và rau đắng (Xuất. 12:8). Một lần nữa, ở đây chúng ta có hai loại sự sống. Chiên con thuộc về sự sống động vật; bánh không men và rau đắng thuộc về sự sống thực vật. Giây phút anh em được cứu, dầu có nhận biết hay không, anh em cũng kinh nghiệm Đấng Christ như hai loại sự sống: anh em kinh nghiệm Ngài là chiên con cứu chuộc, cũng như sự sống sản sinh và tăng bội. Anh em có bao giờ lưu ý đến điều này chưa? Thế thì tôi xin phép nêu lên những điều khác nữa. (Vấn đề về miền đất tốt lành không bao giờ có thể vơi cạn. Có thể viết thêm một cuốn sách khác chứa đầy những bài giảng về đề tài này mà không cần lập lại một ý nào cả). Trong Giăng chương 6, Chúa Jesus kết hợp hai sự sống này làm một. Ngài phán: “Ta là bánh sự sống”. Bánh mì là gì? Bánh mì được làm bằng lúa mì hay lúa mạch và là một điều gì thuộc về sự sống thực vật. Nhưng khi Chúa nói một câu như vậy, người ta không thể hiểu được. Sau đó, Ngài tuyên bố: “Ai ăn thịt ta và uống huyết ta thì có sự sống đời đời... Vì xác thịt ta thật là thịt và huyết ta thật là đồ uống”. Nói cách khác, bánh sự sống là xác thịt của Ngài. Bánh mì thuộc về sự sống thực vật và xác thịt thuộc về sự sống động vật, trong chương này chính Chúa kết hợp hai điều này lại với nhau.

Vì vậy, các anh chị em ơi, chúng ta phải bắt đầu bằng cách vui hưởng Đấng Christ như chiên con cứu chuộc với quyền năng sản sinh, sức mạnh gia tăng gấp bội. Chúng ta phải nhận lấy chiên con của lễ Vuợt qua cùng với bánh không men và rau đắng.

MA-NA

Tiếp theo lễ Vuợt qua, kinh nghiệm kế tiếp của chúng ta về Đấng Christ là ma-na. Sau khi vui hưởng Ngài như chiên con, chúng ta tiếp tục vui hưởng Ngài như thức ăn hằng ngày của mình. Ma-na thuộc về sự sống thực vật hay sự sống động vật? Chúng ta hãy xem Đọc Kinh văn:

Dân Số Kí 11:7-9: “Và ma-na giống như hột ngò, sắc như trân châu. Dân chúng đi tản ra và thâu lấy, rồi nghiền bằng cối xay, hay là giã bằng cối giã và luộc trong nồi và làm bánh: nếm giống như dầu mới. Và khi sương phủ trên trại quân vào ban đêm, ma-na cũng rơi xuống nữa”.

Xuất Ai Cập Kí 16:31: “Nhà Israel đặt tên lương thực này là ma-na: nó giống như hột ngò, màu trắng; mùi như bánh ngọt pha mật ong”.

Ở đây chúng ta đọc thấy ma-na giống như một loại hạt giống, và vị của nó giống như dầu mới và mật ong. Như vậy, một lần nữa hai sự sống được kết hợp với nhau. Xin cũng hãy lưu ý điểm này, hình dạng ma-na trông giống như trân châu. Ý nghĩa đúng đắn của trân châu là ngọc trai (Bản Kinh Thánh tiếng Việt dịch là bích ngọc). Trong Khải Thị chương 21, chúng ta thấy ngọc trai là một trong những thành phần cấu tạo nên kiến ốc của Đức Chúa Trời. Vì vậy, ma-na giống như ngọc trai, tượng trưng cho những gì đã được biến đổi, trở nên vật liệu cho kiến ốc của Đức Chúa Trời. Trân châu chính là chữ được dùng trong Sáng Thế Kí chương hai. Trong phần Kinh Thánh này, cây sự sống được giới thiệu và sau đó là một dòng sông. Trong dòng nước của con sông ấy có nhiều vật liệu quý, mà một trong số đó là trân châu. Nghĩa là khi chúng ta nhận lấy cây sự sống và uống nước sự sống, thì ngọc trai, tức là vật liệu đã được biến đổi cho kiến ốc của Đức Chúa Trời, sẽ được sản sinh ra.

Thế thì ma-na là một chất có tất cả những tính chất này: bản chất của sự sống thực vật, bản chất của sự sống động vật, và bản chất của sự sống đã được biến đổi. Chúng ta cần phải vui hưởng hai khía cạnh này của Đấng Christ. Chúng ta phải vui hưởng Ngài như chiên con của lễ Vuợt qua với bánh không men và rau đắng, và chúng ta phải tiếp tục vui hưởng Ngài như ma-na, bao gồm sự sống thực vật, sự sống động vật và một bản chất đã biến đổi. Nhờ ăn uống Đấng Christ như ma-na hằng ngày, chúng ta sẽ được biến đổi thành vật liệu cho sự xây dựng của Đức Chúa Trời.

Nhưng như vậy đã đủ chưa? Vẫn chưa đủ, còn có những điều khác nữa. Con đường dẫn vào miền đất này bắt đầu từ chương thứ 12 của Xuất Ai Cập Kí và tiếp tục đến chương cuối của sách Giô-suê. Chúng ta cần đọc cẩn thận tất cả những phần Kinh Thánh này và hiểu rõ ràng; khi ấy chúng ta sẽ có cách sở hữu miền đất.

HÒM GIAO ƯỚC

Để vui hưởng Đấng Christ, bắt đầu từ chiên con của lễ Vuợt qua và tiếp tục hằng ngày với ma-na từ trời chỉ mới là bước khởi đầu. Chúng ta phải tiếp tục kinh nghiệm Ngài như Hòm giao ước (rương chứng cớ). Hòm giao ước ở trong đền tạm và được che phủ bởi đền tạm (Xuất. 25:10-22). Hòm giao ước là gì? Hòm này là chứng cớ của Đức Chúa Trời. Chứng cớ của Đức Chúa Trời chỉ là sự hiển lộ, bày tỏ của Đức Chúa Trời, là sự biểu hiện Đức Chúa Trời. Trong hòm có các bảng chép mười điều răn. Mười điều răn này là gì?

Về mười điều răn này, phần lớn các Cơ Đốc nhân có ấn tượng chúng chỉ là những đòi hỏi nghiêm khắc của Đức Chúa Trời. Các ngươi phải làm điều này và phải làm điều kia; các ngươi không được làm điều này và không được làm điều kia. Đây là ấn tượng mà sự dạy dỗ của Cơ Đốc giáo nói chung đã truyền đạt cho chúng ta. Nhưng ý nghĩa chủ yếu của mười mạng lệnh này là gì? Rõ ràng chúng là những luật lệ, nhưng ý nghĩa chính yếu của chúng không phải là luật. Luật chỉ là điều thứ yếu. Ý nghĩa chính yếu là các mạng lệnh ấy là biểu hiện của Đức Chúa Trời. Mười điều răn là sự bày tỏ Đức Chúa Trời.

Đức Chúa Trời là một Đức Chúa Trời như thế nào? Chúng ta có thể biết Ngài nhờ mười điều răn này. Anh em chưa bao giờ thấy Đức Chúa Trời, nhưng đây là “mười chữ” (Xuất. 34:28, phần chú thích) mô tả cho anh em về chính Ngài. Đặc điểm đầu tiên ấy là Đức Chúa Trời là Đấng ghen tương. Đức Chúa Trời muốn tất cả; Ngài không bao giờ để cho một ai tranh cạnh với Ngài. Ngài là một Đức Chúa Trời ghen tương. Điều thứ hai Ngài là một Đức Chúa Trời thánh khiết. Tiếp theo là những đặc điểm khác: Ngài là một Đức Chúa Trời của tình yêu, Ngài là một Đức Chúa Trời công chính, Ngài là một Đức Chúa Trời thành tín, v.v. Vậy mười điều răn là sự mô tả, sự biểu hiện và sự hiển lộ của Đức Chúa Trời ẩn giấu. Mười điều răn này cho anh em một ấn tượng về Đức Chúa Trời mà mắt chúng ta không thể thấy được và cũng bày tỏ cho anh em thấy Ngài là một loại Đức Chúa Trời như thế nào. Ngài là một Đức Chúa Trời ghen tương; Ngài là một Đức Chúa Trời thánh khiết; Ngài là một Đức Chúa Trời của tình yêu; Ngài là một Đức Chúa Trời công chính; Ngài là một Đức Chúa Trời thành tín. Nhờ mười điều răn này, anh em phân biệt được bản chất của Ngài. Đừng quá chú ý đến mười mạng lệnh này như những luật lệ. Đó là điều thứ yếu. Chúng ta phải nhận biết ý nghĩa chính yếu của mười điều răn là sự mô tả, sự bày tỏ, là chứng cớ về Đức Chúa Trời vinh hiển nhưng không thể nhìn thấy được.

Mười mạng lệnh này được đặt trong hòm. Điều này nghĩa là Đức Chúa Trời đặt chính mình Ngài trong Đấng Christ. Mười mạng lệnh này là chứng cớ về Đức Chúa Trời, và Hòm giao ước là Đấng Christ. Như vậy sự đầy đủ của Đức Chúa Trời ở trong Đấng Christ.

Hòm giao ước hiển nhiên là tượng trưng cho Đấng Christ với hai bản chất. Hòm được làm bằng gỗ bọc vàng. Gỗ là bản chất con người, và vàng là bản chất thần thượng. Đây là hình ảnh của Đấng Christ trong xác thịt hòa lẫn với bản chất thần thượng. Ngài có bản chất con người và đồng thời Ngài có bản chất của Đức Chúa Trời – bản chất con người và bản chất thần thượng. Ngài là cái hòm, nhưng bên trong Ngài là chính Đức Chúa Trời. Mười mạng lệnh được đặt trong hòm thế nào thì tất cả “những gì mà Đức Chúa Trời là” cũng được đặt trong Đấng Christ thế ấy. Y như hòm được gọi là “Hòm giao ước”, Đấng Christ là sự bày tỏ và là chứng cớ của Đức Chúa Trời. Anh em thấy không, điều này hơn là chiên con và ma-na hằng ngày. Đây là một điều vững chắc, trọn vẹn và đầy đủ. Đây là sự biểu lộ Đức Chúa Trời, sự bày tỏ của Đức Chúa Trời, chứng cớ của Đức Chúa Trời. Nhờ chiên con của lễ Vuợt qua, anh em có nhận biết Đức Chúa Trời là Đấng như thế nào không? Vâng, có lẽ anh em thấy chút ít. Nhờ ma-na hằng ngày, anh em có ấn tượng về bản chất của Đức Chúa Trời không? Điều này tương đối khó. Tôi không nói anh em không thấy gì cả, mà là anh em không thể thấy nhiều. Bây giờ đến Hòm giao ước. Hãy xem xét điều này. Hãy đọc, và ngay lập tức anh em biết ít nhiều về Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời ghen tương; Đức Chúa Trời là tình yêu; Đức Chúa Trời thánh khiết; Đức Chúa Trời công chính; Đức Chúa Trời thành tín. Nhờ Hòm giao ước, anh em có thể nhận biết ngay Đức Chúa Trời ẩn giấu là Đấng như thế nào.

Nhưng tôi muốn hỏi, Anh em có ăn được hòm này không? Anh em có uống được hòm này không? Không thể được; nhưng đây là một khía cạnh khác về Đấng Christ, một khía cạnh đầy đủ hơn về Ngài. Đấng Christ là sự bày tỏ, là sự biểu lộ, là chứng cớ về một Đức Chúa Trời mắt không thấy được. Khi chúng ta vui hưởng Đấng Christ như chiên con của lễ Vuợt qua và như ma-na hằng ngày của mình, chúng ta cũng phải có Đấng Christ tức là Đấng Christ lớn hơn này (nếu anh em cho phép tôi dùng từ này) làm trung tâm của mình. Chúng ta phải có Hòm giao ước, tức là Đấng Christ, là sự bày tỏ, sự biểu lộ và chứng cớ của Đức Chúa Trời làm chính trung tâm của chúng ta. Đây thật là điều sâu xa hơn. Không những chúng ta phải có chiên con như Đấng cứu chuộc, có ma-na hằng ngày làm thức ăn của mình, nhưng còn phải có Hòm giao ước làm trung tâm của chúng ta nữa.

Các anh chị em ơi, xin cho phép tôi nhắc lại. Tôi e rằng một vài người trong anh chị em không theo kịp. Anh em có vui hưởng Đấng Christ hằng ngày như ma-na không? Điều đó tốt, nhưng chưa đủ. Chúng ta phải có Ngài làm trung tâm của mình. Trung tâm này là gì? Đó là sự biểu lộ, là sự bày tỏ, là chứng cớ của Đức Chúa Trời. Chúng ta có một trung tâm như vậy ở giữa chúng ta không? Điều này có thật sự là trung tâm của buổi nhóm chúng ta, nếp sống của Hội thánh chúng ta không? Khi người ta đến với chúng ta, họ có nhận thức Đức Chúa Trời được biểu hiện ở giữa chúng ta không? Nếu người ta đến với chúng ta và chỉ nhận thấy chúng ta là những người được cứu, là những người vui hưởng Đấng Christ như chiên con, thì hoàn toàn không đủ. Nếu họ chỉ nhận thấy chúng ta là những người được nuôi dưỡng bởi Đấng Christ như ma-na hàng ngày, thì ngay cả điều này cũng trật mục tiêu. Chúng ta phải cho họ một ấn tượng rằng giữa vòng chúng ta, ở giữa chúng ta, là sự biểu hiện của một Đức Chúa Trời ghen tương, Đức Chúa Trời của tình yêu, Đức Chúa Trời của sự thánh khiết, Đức Chúa Trời công chính, Đức Chúa Trời thành tín. Chúng ta có một trung tâm như vậy giữa vòng chúng ta không? Khi đến với chúng ta, người ta có nhận thức rằng đây là sự bày tỏ, sự biểu hiện, sự định nghĩa, sự giải thích về Đức Chúa Trời không? Họ có nhận thức rằng chúng ta là chứng cớ của Đức Chúa Trời, chúng ta đang làm chứng từ thực tại của kinh nghiệm mình về Đấng Christ rằng Ngài là một Đức Chúa Trời ghen tương, Đức Chúa Trời thánh khiết, Đức Chúa Trời yêu thương, Đức Chúa Trời công chính và là Đức Chúa Trời thành tín không? Chúng ta phải có chứng cớ này làm trung tâm của mình.

Anh em thấy không, sở hữu miền đất không phải là chuyện đơn giản. Anh em có nghĩ rằng ngay sau khi vui hưởng chiên con và vượt qua Biển Đỏ, chúng ta có thể tiến vào miền đất này không? Không được như vậy đâu. Sau Xuất Ai Cập Kí chương 12, 13 và 14, sau lễ Vuợt qua và sau khi vượt Biển Đỏ, còn có nhiều kinh nghiệm khác chúng ta phải đạt đến. Phần còn lại của Xuất Ai Cập Kí và toàn bộ Lê-vi Kí, Dân Số Kí, Phục Truyền Luật Lệ Kí và Giô-suê vẫn ở trước mặt chúng ta. Có nhiều điều khác phải được xử lí, nhiều điều khác để kinh nghiệm, nhiều điều khác cần chiếm hữu trước khi chúng ta tiến vào miền đất này.

Chúng ta cần phải thấy đầy đủ ý nghĩa của Hòm giao ước. Chắc chắn có khía cạnh của các điều răn là những luật lệ mà chúng ta không thể bàn đến ở đây. Nhưng quan trọng hơn điều ấy, mười mạng lệnh này là định nghĩa, là sự giải thích, sự diễn giải về Đức Chúa Trời mà mắt trần không thể nhìn thấy được. Và sự diễn giải, giải thích này ở trong Chúa Jesus Christ, Đấng Thần-nhân ấy, Đấng nhục hóa với bản chất thần thượng và con người của Ngài. Ngài là sự giải thích về Đức Chúa Trời, sự bày tỏ của Đức Chúa Trời; Ngài là chính Đức Chúa Trời. Chính Đấng này phải là trung tâm của chúng ta. Ngài là sự bày tỏ, là chứng cớ của Đức Chúa Trời và chúng ta cần có Ngài là chứng cớ của chúng ta. Chúng ta phải làm chứng không điều gì khác hơn là chính Đức Chúa Trời được bày tỏ trong Đấng Christ.

ĐỀN TẠM

Hòm giao ước này được bao gồm trong đền tạm. Mười điều răn được bao gồm trong hòm, và hòm được bao gồm trong đền tạm (Xuất. 40:20-21). Thế thì đền tạm là gì? Đền tạm là sự mở rộng của hòm, sự gia tăng của hòm. Hòm được làm bằng gỗ bọc vàng, và phần chính của đền tạm cũng gồm có những vật liệu giống như vậy, đó là gỗ bọc vàng (Xuất. 26:15-30). Vì vậy đền tạm là sự mở rộng của Hòm giao ước. Nói cách khác, Hòm giao ước được mở rộng trở thành đền tạm. Đền tạm được xây dựng với cùng một hình dạng và cùng một vật liệu, và được cấu tạo bằng Đấng Christ nhiều hơn và bên trong chứa đựng Đấng Christ nhiều hơn.

Chúng ta hãy xem thêm một ít điều về Đấng Christ trong đền tạm. Chúng ta đã đọc thấy có bốn lớp che phủ bên trên đền tạm (Xuất. 26:1-14). Điều này nghĩa là Đấng Christ trở nên một trong các tạo vật vì số bốn là dấu hiệu của các tạo vật. Bốn lớp che phủ khác nhau này là gì? Lớp ngoài cùng là da hải cẩu để bảo vệ chắc chắn khỏi mưa gió và sức nóng mặt trời. Dưới lớp da hải cẩu là lớp da chiên đực nhuộm đỏ, nghĩa là Đấng Christ đã chịu chết và đổ huyết Ngài vì tội lỗi chúng ta; bên dưới lớp này là tấm che làm bằng lông dê, nghĩa là Đấng Christ đã trở nên tội lỗi vì chúng ta. Tấm che phủ trong cùng bằng vải gai, rất đẹp, rất mịn, đầy vinh quang, có thêu hình chê-ru-bim. Tất cả các tấm che phủ này đầy ý nghĩa, đòi hỏi phải giải thích nhiều. Tất cả đều có liên quan đến Đấng Christ.

Từ bên trong chúng ta nhìn thấy vinh quang của Ngài. Ôi, từ bên trong, Đấng Christ đầy vinh hiển! Từ bên ngoài anh em thấy sự thấp hèn của Ngài, sự khiêm nhường của Ngài, sự đơn sơ của Ngài; anh em thấy sức mạnh và quyền năng chịu khổ của Ngài, nhưng không có sự đẹp đẽ. Đây là Chúa Jesus, bị người khác khinh miệt, một con người thấp hèn. Nhưng bên trong Ngài là Đấng Christ vinh quang.

Ngợi khen Chúa, chúng ta được bao phủ bởi một Đấng Christ như vậy! Theo kích thước của đền tạm, cần có mười bức màn để hình thành tấm che phủ này. Như vậy, tấm che phủ trong cùng bằng vải gai mịn được làm bằng mười bức màn. Nhưng tấm che phủ bằng lông dê được hình thành bằng mười một bức màn. Không phải năm cộng năm, mà là năm cộng sáu và sáu không phải là một con số tốt. Số sáu liên quan đến người và có liên hệ đến tội lỗi. Như vậy, nó mang ý nghĩa Đấng Christ đã trở nên tội lỗi vì chúng ta. Tấm trong cùng là Đấng Christ vinh hiển; tấm thứ hai là Đấng Christ đã trở nên tội lỗi vì chúng ta; tấm thứ ba là Đấng Christ đã chết, đổ huyết Ngài; và tấm thứ tư, lớp ngoài cùng là Đấng Christ, Đấng tự hạ mình xuống để trở nên một con người thấp hèn. Đấng Christ này, Đấng Christ bốn-phương-diện này đang bao phủ chúng ta. Thật là một sự bao phủ, một sự bảo vệ, một biện pháp an toàn biết bao!

Trong đền tạm này, Đấng Christ được kết hợp bằng nhiều tấm ván. Chúng ta là những tấm ván gỗ, những chi thể phần tử vốn là con người: anh em là một tấm ván và tôi là một tấm ván khác. Hòm giao ước được ở trong một đền tạm như vậy, tức là Đấng Christ kết hợp với chúng ta và kết hiệp tất cả chúng ta lại trong bản chất thần thượng y như tất cả các tấm ván hiệp lại với nhau trong vàng. Có ít nhất bốn mươi tám tấm ván, tất cả đều bọc vàng và nối kết lại với nhau bằng những khoen vàng và những thanh ngang bọc vàng (Xuất. 26:26-29). Nếu chúng ta lấy vàng đi, bốn mươi tám tấm ván sẽ rời nhau ra; không một tấm nào nối kết với tấm nào. Chúng ta không nối kết với nhau trong xác thịt, chúng ta cũng không bao giờ có thể kết hợp như vậy. Chính bản chất thần thượng là điều đã kết hợp chúng ta. Vàng là sự kết hợp; vàng là sự hiệp nhất giữa vòng chúng ta. Không có vàng, chúng ta sẽ rời ra từng mảnh. Tôi sẽ không đồng ý với anh em, anh em sẽ không đồng ý với tôi. Nhưng ngợi khen Chúa vàng bao phủ anh em, và vàng bao phủ tôi. Có một vài khoen vàng trên anh em và một khoen vàng trên tôi. Chúng ta không thể tách rời nhau. Ngay cả nếu anh em muốn bỏ chạy, anh em cũng không chạy được. Anh em đã bị ràng buộc. Anh em với tôi đã bị ràng buộc với nhau và chúng ta không bao giờ có thể tách rời. Chúng ta không gắn bó với nhau do tánh khí thiên nhiên của mình – nói một cách tự nhiên, tôi không bao giờ có thể hòa hợp với anh em. Ngay cả nếu chúng ta có xứng hợp với nhau về mặt thiên nhiên, đó không phải là sự hiệp một thật và vững bền. Nhưng ngợi khen Chúa, chúng ta ràng buộc với nhau trong một sự hiệp nhất thật và bền vững do một điều thần thượng, do bản chất của chính Đức Chúa Trời. Không những chúng ta được ràng buộc bởi vàng, mà chúng ta còn được vàng bao phủ, chúng ta được bảo vệ bởi vàng. Vàng là chính Đức Chúa Trời.

Một ngày kia, khi đang ở trong phòng, tôi tự nhủ: “Mình thật không may! Mình đã bị bản chất thần thượng bắt giữ và không thể chạy thoát. Mình có thể cố gắng, nhưng không bao giờ có thể ra khỏi đội ngũ ‘vàng’ này!” Đây là sự hiệp nhất. Các anh chị em ơi, phải có một sự hiệp nhất như vậy giữa vòng chúng ta. Khi ấy, chúng ta sẽ mạnh mẽ và đủ điều kiện bước vào miền đất này. Nếu chúng ta có thể trốn thoát khỏi nhau, nếu chúng ta có thể tách rời nhau, chúng ta không có cách nào tiến vào miền đất tốt lành. Chúng ta phải có đền tạm này, là sự thể hiện của Hòm giao ước. Chúng ta phải được ràng buộc với nhau trong bản chất thần thượng này như đền tạm đối với Hòm giao ước. Hòm giao ước, tức là Đấng Christ ở trong trung tâm của chúng ta, và chúng ta là sự mở rộng của Đấng Christ này như đền tạm bao gồm Hòm giao ước.

Chúng ta đã thấy thế nào mình phải vui hưởng Đấng Christ như chiên con của lễ Vuợt qua, như ma-na hằng ngày và như Hòm giao ước ở trong đền tạm. Tất cả những điều này là điều kiện để chúng ta có thể bước vào miền đất ấy.

<