Thông tin sách

Gia Tể Tân Ước Của Đức Chúa Trời

Tác giả: Witness Lee
Dịch từ bản tiếng Anh: God's New Testament Economy
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 31

Untitled Document

CHƯƠNG BA MƯƠI MỐT

GIÊ-RU-SA-LEM MỚI – CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN CỦA CẤU TRÚC THÀNH (3)

Kinh Thánh: Gi. 1:13; 1 Gi. 3:9; 1:2-3; 4:8, 16; 1:5-7; 2 Phi. 1:3a, 4-7

Tất cả chúng ta cần ghi nhớ rằng Giê-ru-sa-lem Mới có một nền và nền ấy bằng vàng ròng, chỉ về bản chất thần thượng của Đức Chúa Trời trong biểu tượng học. Tín đồ chúng ta đều đã được làm cho trở nên những người dự phần trong (nhận vào) bản chất thần thượng này (2 Phi. 1:4). Định nghĩa về bản chất thần thượng là một việc rất khó. Nói cách đơn giản, bản chất thần thượng là những gì Đức Chúa Trời “là”, cũng như bản chất của bất cứ điều gì là những gì điều ấy “là”. Chúng ta đã thấy Kinh Thánh cho chúng ta biết Đức Chúa Trời là Linh (Gi. 4:24), Đức Chúa Trời là tình yêu thương (1 Gi. 4:8, 16) và Đức Chúa Trời là sự sáng (1 Gi. 1:5). Nói cách tổng quát, Kinh Thánh cho biết Đức Chúa Trời là sự sống (Gi. 1:4; 5:26; 14:6). Bốn điều về những gì Đức Chúa Trời “là” này rất cơ bản. Linh, tình yêu thương và sự sáng chính là những thành phần cấu tạo của bản thể Đức Chúa Trời và sự sống là chính Đức Chúa Trời. Chính Đức Chúa Trời, bản thể của Đức Chúa Trời là sự sống của chúng ta và Ngài được cấu tạo bởi Linh, tình yêu thương và sự sáng. Linh là bản chất của thân vị Đức Chúa Trời, tình yêu thương là bản chất thể yếu của Đức Chúa Trời và sự sáng là bản chất của biểu hiện về Đức Chúa Trời.

Đức Chúa Trời là Linh trong thân vị, là tình yêu thương trong thể yếu, là sự sáng trong biểu hiện và Đức Chúa Trời là sự sống trong tình yêu thương, tức thể yếu của sự sống ấy và trong sự sáng như biểu hiện của sự sống ấy. Khi chạm đến Đức Chúa Trời, chúng ta chạm đến Ngài là Linh trong thân vị, là tình yêu thương trong thể yếu và là sự sáng trong biểu hiện của Ngài. Sau khi chạm đến Đức Chúa Trời, chúng ta bước đi, sống, đặt trọn bản thể của chúng ta trong Linh Ngài là thân vị của mình, trong tình yêu thương của Ngài là thể yếu của mình và trong sự sáng Ngài là biểu hiện của mình.

DỰ PHẦN VÀ VUI HƯỞNG BẢN CHẤT THẦN THƯỢNG

Vì đã định nghĩa bản chất thần thượng, chúng ta cần thấy phương cách nhận vào bản chất này. 2 Phi-e-rơ 1:4 là câu Kinh Thánh duy nhất trực tiếp nói với chúng ta rằng chúng ta là những người dự phần trong (nhận vào) bản chất thần thượng. Chúng ta không chỉ nhận vào bản chất thần thượng, mà còn phải là những người nhận. Chúng ta không chỉ ăn, mà còn là những người ăn. Nếp sống Cơ Đốc là một nếp sống vui hưởng bản chất thần thượng.

Có thể chúng ta đã có vài kinh nghiệm về sự vui hưởng bản chất thần thượng mà chưa nhận thức về điều đó. Hai trăm năm về trước, người ta đã ăn uống những sinh tố mà không có kiến thức nào về chúng. Tuy nhiên, ngày nay, thậm chí trẻ em cũng biết sinh tố là gì. Tôi hi vọng một ngày kia, ngay cả con cái của chúng ta cũng biết bản chất thần thượng là gì và điều này sẽ trở nên kiến thức phổ thông. Đó là lý do vì sao chúng tôi có gánh nặng muốn xem xét yếu tố cơ bản là vàng trong Giê-ru-sa-lem Mới. Giê-ru-sa-lem Mới là kiến ốc của Đức Chúa Trời và vàng, tức là chính biểu tượng về bản chất thần thượng, là nền của kiến ốc ấy. Thật ra, trải qua các thế hệ, bản chất thần thượng là nền tảng mọi công trình xây dựng của Đức Chúa Trời.

Chúng ta có thể thấy việc nhận vào và vui hưởng bản chất thần thượng trong đường hướng của Giăng và trong đường hướng của Phi-e-rơ. Đây là hai đường hướng được viết ra bàn về việc vui hưởng bản chất thần thượng. Trong mười bốn Thư tín của Phao-lô có chỗ ngụ ý chỉ về việc vui hưởng bản chất thần thượng, nhưng lại không có lời nào rõ ràng vì chức vụ của Phao-lô không tập trung vào việc vui hưởng bản chất thần thượng mà hoàn toàn chú tâm vào luật sự sống. Là điều chủ yếu chỉ về sự cấu tạo của sự sống thần thượng tức sự cấu tạo của Đức Chúa Trời, bản chất thần thượng được cấu tạo bằng Linh, tình yêu thương và sự sáng. Tuy nhiên, gánh nặng của Phao-lô là bày tỏ cho chúng ta nguyên tắc hành động của sự sống thần thượng, nguyên tắc ấy là luật sự sống. Luật của một sự sống thì sâu xa hơn yếu tố của sự sống ấy. Giăng và Phi-e-rơ bàn đến bản chất, nhưng Phao-lô lại nói về luật. Trong La Mã 8:2, ông nói rằng luật của Linh sự sống giải phóng chúng ta khỏi luật của tội và sự chết. Luật này là nguyên tắc tự nhiên của sự hành động thần thượng.

Trong Đường Hướng Của Giăng

Trong Giăng thứ nhất, trước hết, chúng ta thấy sự sống đời đời, là điều Giăng đã nghe, thấy, ngắm xem và rờ đến là Lời sự sống. Rồi Giăng làm chứng và tường thuật cho chúng ta về sự sống đời đời để chúng ta có thể có sự tương giao (1:1-3). Thư đầu tiên của Giăng chính yếu là giữ chúng ta sống trong sự tương giao thần thượng của sự sống thần thượng. Là tín đồ, chúng ta có sự sống thần thượng và sự sống này đem chúng ta vào trong sự tương giao thần thượng. Tất cả chúng ta đều cần phải lưu lại trong sự tương giao này. Nếu ở lại trong sự tương giao này, chúng ta sẽ chạm đến Đức Chúa Trời là sự sáng (1 Gi. 1:5) và là tình yêu thương (1 Gi. 4:8-16). Đây là việc chúng ta vui hưởng Đức Chúa Trời là sự sáng và tình yêu thương trong sự tương giao với Ngài. Chúng ta đã thấy tình yêu thương và sự sáng là những thành phần cấu tạo bản chất thần thượng của Đức Chúa Trời. Khi lưu lại trong sự tương giao thần thượng với Đức Chúa Trời, chúng ta trực tiếp vui hưởng Đức Chúa Trời là sự sáng và tình yêu thương, tức vui hưởng bản chất thần thượng. Nhận vào bản chất thần thượng là tương giao với Đức Chúa Trời, vui hưởng Đức Chúa Trời là tình yêu thương và sự sáng, vì tình yêu thương và sự sáng là hai thành phần cấu tạo bản chất của Đức Chúa Trời.

Trong Phúc âm Giăng, chúng ta thấy Đấng Christ đến với ân điển và lẽ thật (1:17). Khi tin vào Đấng Christ, chúng ta nhận được Ngài là ân điển và lẽ thật. Ân điển là Đức Chúa Trời trong Con là sự vui hưởng của chúng ta; lẽ thật, tức thực tại là Đức Chúa Trời, được chúng ta nhận biết trong Con. Trong Thư thứ nhất của Giăng, chúng ta thấy rằng tình yêu thần thượng là nguồn của ân điển và sự sáng thần thượng là nguồn của lẽ thật. Khi tình yêu thần thượng này đến với chúng ta thì tình yêu ấy trở nên ân điển và khi sự sáng thần thượng này chiếu rọi trên chúng ta thì sự sáng ấy trở nên lẽ thật. Phúc âm Giăng mặc khải rằng Chúa Jesus đã đem ân điển và lẽ thật đến với chúng ta để chúng ta có được sự sống thần thượng (3:14-16); trong khi Thư của ông lại bày tỏ rằng sự tương giao của sự sống thần thượng đem chúng ta đến với nguồn của ân điển và lẽ thật, tức là tình yêu thần thượng và sự sáng thần thượng. Trong sách Phúc Âm của ông, Đức Chúa Trời trong Con đến với chúng ta là ân điển và lẽ thật để chúng ta có thể trở nên con cái của Ngài (1:12-13); trong Thư của ông, chúng ta là con cái trong sự tương giao của sự sống của Cha, đến với Cha để dự phần trong tình yêu và sự sáng của Ngài. Phúc âm Giăng là Đấng Christ đến với chúng ta mang ân điển và lẽ thật đến cho chúng ta và Thư tín Giăng là trong Đấng Christ chúng ta trở về nguồn trong sự tương giao của mình và chúng ta chạm đến Đức Chúa Trời là tình yêu thương và sự sáng. Tình yêu thương và sự sáng sâu xa hơn ân điển và lẽ thật vì hai điều ấy là nguồn. Đây là sự lưu thông thần thượng hai chiều giữa Đức Chúa Trời và chúng ta. Nhận vào bản chất thần thượng là chạm đến nguồn của ân điển và lẽ thật vì bản chất thần thượng là nguồn của ân điển và lẽ thật.

Phương cách chạm đến nguồn này là lưu lại trong sự tương giao với nguồn. Chúng ta ở trong sự tương giao rồi, nhưng chúng ta cần lưu lại, cứ ở trong sự tương giao. Một khi điện được bắt vào một ngôi nhà thì có một dòng điện chạy [trong nhà] và dòng điện ấy là hình ảnh minh họa thích hợp về sự tương giao thần thượng. Sự tương giao thần thượng là dòng điện thiên thượng. Nếu những đồ dùng bằng điện ở trong dòng điện thì những đồ dùng ấy sẽ hoạt động. Nếu không ở trong dòng điện thì những đồ dùng ấy thật sự bị cắt khỏi sự “vui hưởng” điện năng. Là tín đồ, chúng ta đều có một dòng điện thiên thượng và chúng ta cần ở trong dòng điện này, lưu lại trong sự tương giao này. Khi lưu lại trong sự tương giao thì chúng ta chạm đến Đức Chúa Trời là nguồn; chúng ta chạm đến Ngài là Linh, tình yêu thương và sự sáng. Chạm đến Đức Chúa Trời là Linh, tình yêu thương và sự sáng là nhận vào bản chất thần thượng. Điều này không phải là một lý thuyết hư không hay một lời dạy dỗ suông, mà là điều chúng ta có thể kinh nghiệm.

Tất cả chúng ta đều đã kinh nghiệm việc nhận vào bản chất thần thượng với những mức độ khác nhau. Nếu anh em dành mười hay mười lăm phút để tiếp xúc với Chúa, lưu lại với Ngài, cầu nguyện một cách chân thật và thành tâm, xưng nhận những thất bại, lỗi lầm, thiếu sót, khiếm khuyết, sự sai quấy và tội lỗi của mình, thì anh em sẽ chạm đến Đức Chúa Trời là Linh trong thân vị Ngài. Sâu thẳm bên trong bản thể mình, anh em cảm nhận được Linh. Vào lúc ấy, mọi sự trong nhà, ngoài sân, ngoài đường, trên các từng trời và ở dưới đất đều rất dễ chịu và đáng yêu. Đây là kết quả việc nhận vào tình yêu thương là bản chất của thể yếu Đức Chúa Trời.

Trước khi tiếp nhận Chúa, tôi dễ chán ghét người khác. Sau khi được cứu rỗi, dù không ai dạy dỗ tôi nhưng tôi biết rằng mình phải đến với Đức Chúa Trời trong sự cầu nguyện và tương giao. Sau khi cầu nguyện một vài phút và ăn năn, xưng nhận tội lỗi mình, tôi trở nên vui vẻ và mọi người cùng mọi sự đều dễ chịu và đáng yêu đối với mình. Lý do là vì tôi đã nhận vào bản chất thần thượng. Mặc dầu khi ấy tôi không hiểu biết, nhưng tôi vẫn kinh nghiệm được điều đó.

Có một lần, khi đang ở nhà của con trai tôi, tôi thấy ba đứa cháu nội mình đang học bài trên bàn. Hai cháu gái đứa lên bảy và đứa lên chín, còn cháu trai thì được mười một tuổi. Khi trông thấy các cháu, tôi hỏi: “Hôm nay, các con đã cầu nguyện chưa?” Hai đứa cháu gái nói rằng chúng chưa cầu nguyện vì chúng thường cầu nguyện trước khi đi ngủ. Rồi cháu lớn nói với tôi rằng cháu thấy anh mình cầu nguyện và trong khi cầu nguyện, anh ấy khóc. Hai đứa cháu gái này luôn luôn quan sát để tìm những lỗi lầm của anh mình, nhưng thay vào đó lại thấy anh của mình cầu nguyện và khóc. Nếu đứa cháu trai ấy tiếp tục tiếp xúc với Chúa như vậy thì mọi người và mọi sự sẽ trở nên đáng yêu đối với nó. Không cần phải dạy cháu trai ấy yêu thương em mình vì tình yêu thương sẽ ở bên trong nó. Trong sự cầu nguyện và tương giao với Chúa, nó nhận vào bản chất thần thượng.

Tất cả chúng ta có thể làm chứng rằng mình đã vui hưởng Chúa như vậy, ít nhất ở một mức độ nào đó. Đó là việc chúng ta nhận vào bản chất thần thượng, là điều được cấu tạo bằng tình yêu thần thượng trong thể yếu và bằng sự sáng thần thượng trong biểu hiện. Tôi tin rằng sau khi đứa cháu nội nhỏ của tôi cầu nguyện như vậy, nó trở nên trong suốt và ở trong sự sáng. Chỉ nhờ tiếp xúc với Đức Chúa Trời từ mười đến mười lăm phút, sau khi đứng dậy, chúng ta sẽ trở nên một người trong suốt và không còn ở trong tình trạng tối tăm và vẩn đục nữa. Những gì chúng ta nên nói và làm cũng trở nên trong suốt đối với chúng ta. Thậm chí anh em có thể không có lời diễn đạt hay không biết cách giải thích một vấn đề, nhưng bên trong anh em có sự sáng. Anh em biết mình nên ở đâu và đang ở đâu. Điều này là kết quả của việc nhận vào bản chất thần thượng.

Sau khi dành thì giờ ở với Chúa, anh em cảm nhận rằng Đấng ở bên trong anh em đang sống, hành động trong anh em cùng hướng dẫn và dẫn dắt anh em. Đấng ấy là thân vị thần thượng, tức là Linh và Linh ấy cũng là một trong những thành phần cấu tạo của bản chất thần thượng. Bất cứ người nào thật đã được tái sinh đều kinh nghiệm như vậy ít nhất là một hay hai lần. Trong sự tương giao của mình với Chúa, anh em chạm đến đến nguồn của ân điển, là tình yêu thần thượng và chạm đến nguồn của thực tại, là sự sáng thần thượng và cả hai nguồn này đều là những thành phần cấu tạo của bản chất thần thượng để anh em vui hưởng.

Trong Đường Hướng Của Phi-e-rơ

Tất cả chúng ta cần nhận thức rằng Đức Chúa Trời ở với bản chất thần thượng của Ngài để chúng ta vui hưởng. Anh em không bao giờ có thể thưởng thức được thịt bò cho đến khi anh em thưởng thức bản chất của thịt bò. Khi thưởng thức cá, anh em thưởng thức bản chất của cá. Đây là lý do tại sao theo kinh nghiệm của mình Phi-e-rơ đã nói rằng chúng ta nhận vào bản chất thần thượng. Nếu nói chúng ta chỉ nhận vào Đức Chúa Trời thì quá tổng quát, nhưng nếu nói chúng ta nhận vào bản chất thần thượng thì mới cụ thể.

Là một người đánh cá thất học ở Ga-li-lê, Phi-e-rơ đã viết điều này theo kinh nghiệm của mình. Mặc dầu không phải là người học thức, Phi-e-rơ lại có thể viết một Thư tuyệt diệu như vậy, bức thư ấy bao hàm nhiều điểm thần thượng kỳ diệu. Ông nói rằng tất cả chúng ta đều đã được phân định cùng một đức tin quí báu và quyền năng thần thượng đã ban cho chúng ta mọi sự liên quan đến sự sống và sự tin kính. Căn cứ trên điều này, Phi-e-rơ nói rằng Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta những lời hứa quí báu và cực kỳ lớn lao đến nỗi chúng ta được trở nên những người nhận vào bản chất thần thượng. Hơn nữa, ông còn nói rằng trong đức tin đã được phân định cho chúng ta, chúng ta phải phát triển mỹ đức, trong mỹ đức phát triển tri thức, trong tri thức phát triển tiết chế, trong tiết chế phát triển nhẫn nại, trong nhẫn nại phát triển sự tin kính, trong sự tin kính phát triển tình yêu mến anh em và trong tình yêu mến anh em phát triển lòng yêu thương (2 Phi. 1:1, 5-7). Bài viết của Phi-e-rơ hàm ý điều gì đó cao cả hơn, thậm chí ngàn lần cao cả hơn nền triết học cao siêu nhất. Phi-e-rơ viết điều này vì kinh nghiệm. Khi ông viết, chắc chắn là Linh cư-trú-bên-trong đương nhiên là ở trong ông ban cho ông lời diễn đạt và những cách diễn tả thích hợp.

Theo kinh nghiệm của mình, Phi-e-rơ cho biết quyền năng thần thượng của Đức Chúa Trời đã truyền cho các tín đồ mọi sự liên quan đến sự sống (2 Phi. 1:3a). Hơn nữa, ông còn nói với chúng ta rằng Đức Chúa Trời đã ban cho các tín đồ những lời hứa quí báu và cực kỳ lớn lao để các tín đồ có thể trở nên những người dự phần (nhận vào) và vui hưởng bản chất thần thượng nhờ sự phát triển của bản chất ấy (2 Phi. 1:4-7). Trước hết, bởi quyền năng thần thượng của Ngài, Đức Chúa Trời đã truyền vào chúng ta mọi sự liên quan đến sự sống và sự tin kính. Thứ hai, căn cứ trên điều này, Ngài ban cho chúng ta những lời hứa của Ngài. Phần đầu của 2 Phi-e-rơ 1:4 nói: “Bởi đó Ngài đã ban cho chúng ta những lời hứa quí báu và cực kỳ lớn lao”. “Đó” chỉ về vinh quang và mỹ đức trong câu 3. Nhờ vào và căn cứ trên vinh quang cùng mỹ đức của Chúa, mà bởi đó và hướng đến điều đó chúng ta đã được gọi, Ngài đã ban những lời hứa quí báu và cực kỳ lớn lao của Ngài, chẳng hạn như trong Ma-thi-ơ 28:20; Gi. 6:57; 7:38-39; 10:28-29; 14:19-20, 23; 15:5; và 16:13-15. Tất cả những điều này được thực hiện trong các tín đồ Ngài bởi quyền năng sự sống của Ngài, là mỹ đức tuyệt hảo, cho vinh quang Ngài.

Căn cứ trên những gì Ngài đã truyền vào trong chúng ta, Đức Chúa Trời ban cho chúng ta những lời hứa của Ngài. Nhờ những lời hứa này, chúng ta có thể là những người nhận vào bản chất thần thượng. Điều này có nghĩa là chúng ta có thể vui hưởng và biết Đức Chúa Trời trong những gì Ngài “là”, trong Linh, trong tình yêu thương và trong sự sáng. Theo kinh nghiệm của mình, Phi-e-rơ nói tiếp với chúng ta là có một tiến trình phát triển. Tất cả chúng ta đều có phần đức tin được phân định và nhờ đức tin này, chúng ta phải phát triển những mỹ đức.

Đức tin là sự thực thể hóa thực chất của lẽ thật (Hê. 11:1), tức là thực tại của nội dung gia tể Tân Ước của Đức Chúa Trời. Nội dung trong gia tể Tân Ước của Đức Chúa Trời bao gồm “mọi sự liên hệ đến sự sống và sự tin kính” (2 Phi. 1:3), đó là Đức Chúa Trời Tam Nhất ban phát chính Ngài vào trong chúng ta như là sự sống ở bên trong và sự tin kính ở bên ngoài (xin xem điểm 1, 2, 5 và phân đoạn sau cùng của chú thích 11 trong 1 Ti-mô-thê chương 1 – Bản Kinh Thánh Khôi Phục). Cùng một đức tin quí báu được phân định cho chúng ta bởi Đức Chúa Trời nhờ lời của gia tể Tân Ước của Đức Chúa Trời và qua Linh, đáp ứng thực tại của nội dung ấy và đem chúng ta vào trong thực tại, làm cho thực chất của thực tại trở thành chính yếu tố của nếp sống và kinh nghiệm Cơ Đốc của mình. Một đức tin như vậy đã được phân định cho mọi tín đồ trong Đấng Christ làm phần của họ, là điều quí báu như nhau cho mọi người đã nhận được phần ấy. Là một phần như vậy từ Đức Chúa Trời, đức tin này đối với chúng ta có tính cách khách quan trong lẽ thật thần thượng. Nhưng đức tin này lại đem toàn bộ nội dung về sự thực thể hóa của nó vào trong chúng ta, nhờ đó làm cho toàn bộ nội dung cùng với đức tin trở nên chủ quan cho chúng ta trong kinh nghiệm của mình. Điều này giống như phong cảnh (lẽ thật) và sự nhìn thấy (đức tin) thì ở bên ngoài máy chụp hình (chúng ta). Nhưng khi ánh sáng (Linh) mang phong cảnh đến với phim (linh chúng ta) bên trong máy chụp hình, thì cả sự nhìn thấy lẫn quang cảnh đều trở nên “kinh nghiệm nội tại” đối với máy chụp hình.

Đức tin đã được phân định này là sự thực thể hóa, sự đáp ứng của hạt giống thần thượng, tức Đức Chúa Trời Tam Nhất được ban phát vào trong chúng ta, là điều đã được gieo vào trong bản thể chúng ta, như được nói đến trong 1 Giăng 3:9. Chúng ta phải cộng tác với hạt giống này để nó được phát triển. Trong đức tin của mình, trong sự thực thể hóa của hạt giống thần thượng, mỹ đức cần được cung ứng và phát triển. Mỹ đức chỉ về năng lực của sự sống thần thượng sinh ra hành động hăng hái để đắc thắng mọi chướng ngại vật và thực hiện mọi thuộc tính tuyệt hảo. Mỹ đức này cùng với mọi điều liên quan đến sự sống đã được quyền năng thần thượng ban cho chúng ta, nhưng cần được phát triển trên đường tiến đến vinh quang. Khi tiếp xúc với Chúa, anh em có cảm nhận là điều gì đó bên trong mình đang thêm năng lực, dức dấy và chỗi dậy. Điều này là mỹ đức, là năng lực sự sống. Rồi trong năng lực sự sống này có thêm sự phát triển và chúng ta bắt đầu biết Chúa nhiều hơn trong tri thức.

Hơn nữa, trong tri thức này, chỉ nhờ tiếp xúc với Chúa, anh em có một nhận thức là mình cần tự kiểm chế. Anh em bắt đầu nhận thức rằng mình còn quá ngông cuồng, quá tự do, đặc biệt là trong những đam mê, ham muốn, dục vọng và trong bản ngã. Sự tự giới hạn chính mình này là sự tiết chế. Đây là một loại chừng mực. Sau đó, anh em sẽ phát triển hơn nữa từ sự tự tiết chế đến sự nhẫn nại. Tự tiết chế là tự giới hạn chính mình còn nhẫn nại là chịu đựng những người khác và những hoàn cảnh. Nếu không tiếp xúc với Chúa thì anh em sẽ rất ngông cuồng và tự do trong khi làm mọi điều và anh em sẽ không chịu nổi bất cứ điều gì hay bất cứ người nào. Thậm chí anh em có thể cảm thấy rằng cả trái đất này là thế giới và vương quốc của anh em và anh em có thể nổi giận với bất cứ người nào. Tuy nhiên, khi anh em lưu lại với Chúa trong sự tương giao thì bản chất thần thượng bên trong anh em sẽ phát triển và anh em sẽ tự giới hạn chính mình, dung chịu những người khác và chịu đựng bất cứ loại tình huống nào.

Sau đó, trong sự nhẫn nại, sự tin kính được phát triển. Khi bản chất thần thượng phát triển bên trong anh em, tự phát anh em sẽ là một người giống Đức Chúa Trời và bày tỏ Đức Chúa Trời. Khi chúng ta luyện tập kiểm chế chính mình và chịu đựng những người khác, sự tin kính cần được phát triển và được phát triển trong sự sống thuộc linh của mình để chúng ta có thể giống Đức Chúa Trời và bày tỏ Ngài. Trong sự tin kính này, bản chất thần thượng phát triển thêm hơn trong tình yêu dành cho các anh em. Chung cuộc của sự phát triển này là lòng yêu thương cao quí hơn được phát triển trong tình yêu anh em.

Một vài chị em ở với nhau có thể yêu mến lẫn nhau khi họ tiếp xúc với Chúa. Tuy nhiên, trong loại tình yêu này, có thể một chị sẽ than phiền. Có lẽ chị ấy nói: “Tại sao tôi phải rửa tất cả chén bát, còn chị kia chẳng bao giờ phụ giúp tôi”. Điều này chứng minh chị ấy cần phải được phát triển hơn nữa. Tình yêu mến anh em của chúng ta cần được phát triển thêm thành một tình yêu cao quí, cao cả hơn và thậm chí là tình yêu siêu việt, tình yêu này trong tiếng Hi Lạp là agape, là chữ được dùng trong Tân Ước dành cho tình yêu thần thượng, tức chính Đức Chúa Trời trong bản chất của Ngài (1 Gi. 4:8, 16). Khi bản chất thần thượng bên trong chúng ta phát triển đến mức độ đó thì chúng ta sẽ yêu thương mọi người. Chúng ta trở nên giống như Cha thiên thượng của mình, là Đấng yêu những người yêu Ngài và thậm chí yêu những kẻ ghét Ngài. Nếu là Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ chỉ ban mưa xuống cho những người yêu thương mình mà không ban mưa cho những kẻ ghét mình. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời “làm cho mặt trời soi sáng trên người ác cùng người thiện, mưa cho người công bình cùng người không công bình” (Mat. 5:45). Đây là tình yêu siêu việt và cao quí hơn và tình yêu cao quí này chính là thành phần cấu tạo cơ bản của bản chất thần thượng của Đức Chúa Trời.

Tôi hi vọng tất cả chúng ta đều thấy rằng có hai đường hướng bày tỏ cho chúng ta việc nhận vào và vui hưởng bản chất thần thượng. Đường hướng của Giăng là cứ ở trong sự tương giao và đường hướng của Phi-e-rơ là phát triển hạt giống thần thượng được gieo trong chúng ta, cho đến khi đạt đến tình trạng hoàn hảo của hạt giống ấy trong tình yêu cao quí hơn, tức agape, là một trong những thành phần cấu tạo bản chất thần thượng của Đức Chúa Trời. Chúng ta cần ở lại trong sự tương giao thần thượng và cần cộng tác để hạt giống thần thượng tự phát triển. Chúng ta không nên chống lại hay giữ những chướng ngại vật cản trở sự phát triển này. Chúng ta phải cộng tác với sự phát triển của ơn phước thần thượng cơ bản này, là hạt giống thần thượng được gieo vào trong chúng ta và được thực thể hóa bởi đức tin đã được định phần. Rồi chúng ta sẽ đạt đến đỉnh cao của sự vui hưởng bản chất thần thượng, đó là dự phần trong (nhận vào) tình yêu cao quí hơn. Vào thời điểm này, chúng ta không những yêu mến những người cư xử phải phép đang sống chung trong nhà tập thể của các anh em mà còn yêu mến những người cư xử không tốt.

Ê-phê-sô 5:25 truyền bảo các người chồng phải thương yêu vợ mình. Có thể một người chồng nọ cảm thấy rằng vì vợ mình không đáng yêu nên anh không thể yêu vợ mình được. Hơn nữa, có lẽ anh nghĩ rằng nếu vợ mình giống như chị em kia thì anh sẽ yêu vợ. Tuy nhiên, ngay cả nếu chị em kia có thành hôn với anh ấy đi nữa thì anh vẫn không thỏa lòng. Điều anh cần kinh nghiệm là tình yêu cao quí hơn. Tình yêu nghèo nàn thuộc về con người của chúng ta luôn luôn thiếu sót. Nói ra hay nghĩ rằng anh em không thể yêu vợ mình là điều chứng tỏ rằng anh em chưa nhận vào bản chất thần thượng đến mức kinh nghiệm và vui hưởng tình yêu thần thượng. Nếu đã nhận vào bản chất thần thượng đến mức độ như vậy thì dầu vợ mình có thế nào đi nữa anh em vẫn sẽ yêu nàng. Tình yêu cao quí hơn không đòi hỏi bất cứ sự lựa chọn nào cả.

Khi ở lại trong sự tương giao, chúng ta sẽ đụng đến nguồn, chúng ta sẽ vui hưởng tình yêu thần thượng là thể yếu và vui hưởng sự sáng thần thượng là biểu hiện. Điều này có nghĩa là chúng ta nhận vào bản chất thần thượng. Trong sự vui hưởng này, chúng ta để hạt giống thần thượng của đức tin đã được định phần cho mình phát triển đến mức hoàn hảo của hạt giống ấy, là tình yêu thần thượng cao quí hơn.