Thông tin sách

Gia Tể Tân Ước Của Đức Chúa Trời

Tác giả: Witness Lee
Dịch từ bản tiếng Anh: God's New Testament Economy
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 30

Untitled Document

CHƯƠNG BA MƯƠI

GIÊ-RU-SA-LEM MỚI – CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN CỦA CẤU TRÚC THÀNH (2)

Kinh Thánh: La. 1:20; Côl. 2:9; Sáng. 1:26a, 27; Gi. 1:13; 1 Gi. 3:9; 1 Phi. 1:3; 2 Phi. 1:4; Gi. 4:24; 1 Gi. 4:8, 16; 1:5; Gi. 1:4; La. 8:2

ĐỊNH NGHĨA VỀ BẢN CHẤT THẦN THƯỢNG

Trong tất cả những bài đã chia sẻ, chúng tôi chưa bàn đến định nghĩa về bản chất thần thượng một cách tường tận và đầy đủ. Từ ngữ “bản chất thần thượng” này chỉ được nói đến một lần trong toàn bộ Kinh Thánh, ấy là trong 2 Phi-e-rơ 1:4. Câu Kinh Thánh này đề cập đến bản chất thần thượng một cách rất đặc biệt, nói rằng chúng ta đã trở nên những người dự phần trong bản chất thần thượng. Một người “nhận vào” khác với một người tiếp nhận. Chúng ta đã tiếp nhận bản chất thần thượng, nhưng câu hỏi nêu lên là chúng ta có nhận vào bản chất thần thượng chưa. Đây là lý do tại sao trong Thư thứ hai của ông, Phi-e-rơ nói với chúng ta cách nhận vào bản chất thần thượng trong chương đầu tiên. Chúng ta cần là những người nhận vào bản chất thần thượng cũng như mỗi ngày chúng ta nhận vào thức ăn. Không bao nhiêu người trong chúng ta chú tâm đúng mức đến vấn đề làm thế nào để trở nên một người vui hưởng bản chất thần thượng.

Định nghĩa về bản chất thần thượng không phải là một việc dễ dàng. Thậm chí bất cứ ai trong chúng ta cũng khó có thể đưa ra một định nghĩa thích đáng về bản chất con người. Từ sự tương giao này, tôi hi vọng tất cả chúng ta sẽ thấy được định nghĩa về bản chất thần thượng, biết làm thế nào để nhận vào và vui hưởng bản chất thần thượng mà chúng ta đã tiếp nhận nhờ sự sinh ra thần thượng của mình và thấy được kết quả của việc chúng ta nhận vào bản chất thần thượng. Trong chương này, chúng ta sẽ tập trung chú ý vào định nghĩa về bản chất thần thượng.

Khi nghiên cứu Kinh Thánh, mối quan tâm hàng đầu của nhiều Cơ Đốc nhân là sự thịnh vượng của họ hay ơn phước cùng ích lợi mà họ có thể nhận được từ Kinh Thánh. Điều quan tâm thứ hai của họ là làm thế nào thờ phượng Đức Chúa Trời, kính sợ Ngài, làm Ngài vui lòng và làm nhiều điều để tôn vinh Ngài. Thậm chí không bao nhiêu Cơ Đốc nhân nghĩ đến việc làm thế nào để tương giao với Đức Chúa Trời. Hầu hết họ đều quan tâm đến việc làm thế nào có thời giờ với Đức Chúa Trời. Mối quan tâm thực sự thứ ba của nhiều người đọc Kinh Thánh là làm thế nào để tự cải thiện hay làm cho chính mình trở nên tốt hơn. Tất cả chúng ta đều nhận thức rằng mình không được tốt lắm. Vì vậy, đối với nhiều người trong chúng ta, Kinh Thánh là một quyển sách thần thượng, thiên thượng dạy chúng ta cách tự cải thiện chính mình. Sau cùng, nhiều người đọc Kinh Thánh hi vọng Kinh Thánh là một quyển cẩm nang chỉ dẫn họ phải làm gì. Không nhiều người thật sự thấy được điều gì đó về mối quan tâm của Đức Chúa Trời, thật sự nhận thức rằng Đức Chúa Trời có ý định hành động để đem chính Ngài vào trong chúng ta để làm sự sống và bản chất của chúng ta. Tôi từng gặp một số người nói nhiều về việc thế nào Đức Chúa Trời trở nên sự sống của chúng ta, nhưng họ lại nói rất ít về việc thế nào bản chất của Đức Chúa Trời có thể trở nên bản chất của chúng ta. Để Đức Chúa Trời làm sự sống của chúng ta là một đề tài sâu nhiệm, nhưng để bản chất Đức Chúa Trời làm bản chất chúng ta thậm chí lại là một đề tài sâu nhiệm hơn.

Có ba câu làm rối trí nhiều người nghiên cứu và dịch Kinh Thánh, đó là La Mã 1:20, Cô-lô-se 2:9 và 2 Phi-e-rơ 1:4. La Mã 1:20 chỉ về quyền năng và thần tính đời đời của Đức Chúa Trời. Vài người dịch sai từ ngữ “thần tính” thành “bản chất thần thượng”. Bản King James Version dịch từ ngữ này là “Thần Cách” (tiếng Anh là Godhead). Trong Cô-lô-se 2:9, chúng ta được biết rằng mọi sự đầy trọn của Thần Cách đều cư ngụ trong Đấng Christ cách có hình thể. Từ ngữ “Thần Cách” trong Cô-lô-se và từ ngữ “thần tính” trong La Mã 1:20 biểu thị những điều khác biệt về Đức Chúa Trời và là hai từ ngữ Hi Lạp khác nhau. Kế đến, trong 2 Phi-e-rơ 1:4, chúng ta thấy bản chất thần thượng. Trong quá khứ, có thể chúng ta cảm thấy những câu Kinh Thánh này chỉ về cùng một điều, nhưng chúng ta cần một sự hiểu biết rõ ràng để phân biệt chúng. Vì vàng chỉ về bản chất thần thượng của Đức Chúa Trời để làm nền của kiến ốc Đức Chúa Trời, chúng ta cần có một khải tượng rõ ràng liên quan đến định nghĩa của bản chất thần thượng.

THẦN TÍNH

Trong chú thích về La Mã 1:20, Darby nói từ ngữ thần tính trong tiếng Hi Lạp có nghĩa là “những gì thuộc về đặc tính của Đức Chúa Trời”. Trong La Mã 1:20, từ ngữ “thần tính” (tiếng Hi Lạp là theiotes) biểu thị đặc tính của bản chất thần thượng. Chẳng hạn như bản chất của một vật dụng là gỗ và vân gỗ là một đặc tính của bản chất. Theo La Mã 1:20, cõi sáng tạo chỉ cho thấy những đặc tính, biểu hiện của bản chất thần thượng của Đức Chúa Trời. Trong cõi sáng tạo, anh em không thể thấy được chính bản chất thần thượng của Đức Chúa Trời.

BẢN THỂ ĐỨC CHÚA TRỜI TAM NHẤT

Cõi sáng tạo không thể bày tỏ hay trình bày thân vị của Đức Chúa Trời. Thân vị của Đức Chúa Trời được Jesus Christ trưng bày và bày tỏ. Cô-lô-se 2:9 nói rằng trong Đấng Christ cư ngụ mọi sự đầy trọn của Thần Cách, không phải sự đầy trọn của thần tính mà là sự đầy trọn của Thần Cách, tức của thân vị. Bởi vì cõi sáng tạo không phải là một thân vị, nên chỉ có thể bày tỏ đặc tính của Đức Chúa Trời, chứ không bày tỏ thân vị của Đức Chúa Trời. Chỉ một thân vị mới có thể trình bày hay bày tỏ một thân vị và thân vị trình bày thân vị của Đức Chúa Trời là Jesus Christ. Từ ngữ “Thần Cách” trong Cô-lô-se 2:9 chỉ về thân vị của Đức Chúa Trời. Cõi sáng tạo chỉ bày tỏ những đặc tính của Đức Chúa Trời, nhưng không bày tỏ thân vị của Đức Chúa Trời. Đấng Christ, là hiện thân của Đức Chúa Trời, bày tỏ Thần Cách, thân vị của Đức Chúa Trời và bày tỏ Ngài cách có hình thể trọn vẹn.

NHỮNG ĐẶC TÍNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI ĐƯỢC BÀY TỎ TRONG CÕI SÁNG TẠO

Tất cả chúng ta cần thấy những đặc tính của Đức Chúa Trời được bày tỏ trong cõi sáng tạo là gì. Toàn thể vũ trụ không tối tăm mà sáng ngời. Vì cả vũ trụ sáng ngời nên rất thú vị. Nếu Đức Chúa Trời tạo dựng một vũ trụ đầy dẫy sự tối tăm thì đó không phải là nơi thích thú để sống. Sự sáng làm cho chúng ta dễ chịu và làm mọi sự trở nên thú vị đối với chúng ta. Cả vũ trụ sáng ngời và đầy sự sáng biểu thị Đấng Tạo Hóa cũng như vậy. Tươi sáng là một trong những đặc tính của Đức Chúa Trời. Cả vũ trụ cũng đầy vẻ đẹp. Không ai có thể nói vũ trụ là điều gì đó xấu xí. Điều này cho thấy sự đẹp đẽ cũng là một trong những đặc tính thần thượng.

Thêm vào đó, vũ trụ còn ở trong một trật tự tốt đẹp. Mọi sự trong vũ trụ đều có trật tự. Trật tự là một đặc tính khác của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa không phải là Đấng rối loạn, mà là Đấng trật tự. Ngài gìn giữ mọi sự trong trật tự.

Khi Chúa Jesus cho năm ngàn người ăn, chúng ta có thể thấy tính trật tự của Đức Chúa Trời. Trước hết, Ngài truyền đám đông “ngồi xuống từng nhóm trên cỏ xanh. Và họ ngồi xuống từng nhóm, nhóm thì một trăm, nhóm thì năm mươi” (Mác 6:39-40). Sau khi cho năm ngàn người ăn thì còn lại nhiều thức ăn dư. Theo sự suy nghĩ của mình, chúng ta có thể quên đi những mẩu bánh dư và những con cá thừa. Nhưng sau khi đám đông đã hoàn toàn thỏa mãn, Chúa bảo môn đồ Ngài: “Hãy thu nhặt những miếng đã bẻ còn thừa, để không mất gì cả” (Gi. 6:12). Kinh Thánh ghi lại rằng các môn đồ thu nhặt được mười hai giỏ xách đầy những mẩu bánh đã bẻ và cá (Mác 6:43). Điều này cho chúng ta thấy rằng Chúa đã thực hiện một phép lạ tuyệt diệu chỉ về nguồn cung ứng dồi dào và vô tận của sự sống thần thượng của Ngài, tuy nhiên phép lạ này cũng cho chúng ta thấy một trong những đặc tính chính của Đức Chúa Trời là trật tự.

Ngoài ra, trong cõi sáng tạo của Ngài, chúng ta còn thấy đặc tính yêu thương. “Ngài làm cho mặt trời soi trên kẻ ác cùng người thiện, mưa cho người công bình cùng kẻ không công bình” (Mat. 5:45).

Sự sáng, trật tự và tình yêu thương là một vài đặc tính của Đức Chúa Trời và thật ra là những đặc tính thuộc về bản chất của Đức Chúa Trời. Những đặc tính luôn luôn bắt nguồn từ bản chất. Nếu không có bản chất thì không có đặc tính nào được bày tỏ hay phô bày. La Mã 1:20 chỉ về những đặc tính của bản chất thần thượng được thấy trong cõi sáng tạo của Đức Chúa Trời.

Trong Cô-lô-se 2:9, từ ngữ “Thần Cách” trong tiếng Hi Lạp là theotes. Trong tiếng Hi Lạp, điều khác biệt duy nhất giữa từ ngữ “thần tính” trong La Mã 1:20 và từ ngữ “Thần Cách” trong Cô-lô-se 2:9 là mẫu tự i. Theo tiếng Hi Lạp, thần tính trong La Mã 1:20 là theiotes. Tuy nhiên, theotes trong Cô-lô-se 2:9 lại chỉ về Thần Cách, tức thân vị Đức Chúa Trời. Điều cư ngụ trong Jesus Christ không chỉ là đặc tính thần thượng mà là chính Đức Chúa Trời, là thân vị thần thượng, tức Thần Cách. Là những tín đồ, chúng ta phải có những đặc tính thần thượng của bản chất thần thượng và thậm chí cũng có chính bản chất thần thượng, nhưng chúng ta không thể có được Thần Cách. Thế nhưng, trong Thần Cách, bản chất thần thượng lại được hàm ý nói đến. Trong Cô-lô-se 2:9, Thần Cách ngụ ý chỉ về bản chất thần thượng vì bản chất thần thượng là một trong những thành phần cấu tạo của Đức Chúa Trời.

CON NGƯỜI TRONG SỰ SÁNG TẠO CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Trong sự sáng tạo của Đức Chúa Trời, con người chỉ được tạo nên theo hình ảnh Đức Chúa Trời, mà không có bản chất thần thượng (Sáng. 1:26a, 27). Nếu đọc Kinh Thánh cẩn thận, anh em sẽ nhận thấy mười điều răn còn được gọi là chứng cớ của Đức Chúa Trời (Xuất. 16:34; 25:16, 21). Chứng cớ của Đức Chúa Trời đơn giản có nghĩa là sự mô tả Đức Chúa Trời. Mười điều răn là sự mô tả về Đức Chúa Trời. Luật pháp mà một người làm ra phản ảnh người ấy thuộc loại người nào. Nếu là một kẻ chuyên cướp ngân hàng, anh em có thể lập ra một điều luật hợp pháp hóa việc cướp ngân hàng. Khi đọc mười điều răn, chúng ta có thể thấy Đức Chúa Trời là tình yêu thương, Đức Chúa Trời là sự sáng, Đức Chúa Trời là sự thánh khiết và Đức Chúa Trời là sự công chính. Điều này mô tả chính Đấng ban hành luật pháp, Đấng lập nên luật pháp trong vũ trụ, là Đấng lập mười điều răn. Con người được tạo nên theo hình ảnh Đức Chúa Trời, theo hình ảnh của tình yêu thương, sự sáng, sự thánh khiết và sự công chính. Nếu Đức Chúa Trời không vào trong con người và trở nên nội dung của con người, thì đương nhiên con người chỉ có hình ảnh mà thiếu thực tại. Tình yêu thương, sự sáng, sự thánh khiết và sự công chính đều là những mỹ đức thuộc đạo đức con người. Mỗi con người đều có lòng yêu thương và một khuynh hướng thiên nhiên muốn tìm kiếm sự sáng; mỗi con người đều đang tìm kiếm điều gì đó cao hơn, điều gì đó phi thường, đó là sự thánh khiết và mỗi người đều cố gắng trở nên ngay thẳng và thực hiện những điều đúng đắn cho người khác. Điều này chứng minh con người đã được tạo nên như vậy.

Như chúng ta đã thấy, Đức Chúa Trời tạo dựng con người đạo đức với tình yêu thương, sự sáng, sự công chính và sự thánh khiết. Đó là những mỹ đức thuộc đạo đức con người do Đức Chúa Trời tạo ra, nhưng trong con người thọ tạo của Đức Chúa Trời lại không có bản chất thần thượng. Con người chỉ có hình ảnh, hình dạng của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, khi tin vào Chúa Jesus, chúng ta nhận được một thân vị làm nội dung và thực tại của mình. Hầu hết các giáo sư Cơ Đốc nói chúng ta nhận được sự cứu rỗi, sự tha thứ, sự xưng công chính, sự giải hòa và nhiều điều khác, nhưng rất ít giáo sư Cơ Đốc nhấn mạnh rằng khi tiếp nhận Chúa Jesus, chúng ta nhận được một thân vị. Sau khi rao giảng phúc âm vào ngày Ngũ Tuần, Phi-e-rơ bảo những người đã nghe ông giảng phải ăn năn và chịu báp-têm trong danh Jesus Christ để được tha tội, hầu họ có thể nhận được sự ban cho Thánh Linh (Công. 2:38). Ân tứ này là chính Thánh Linh, tức thực tại về Đấng Christ, là điều được Đức Chúa Trời ban cho những tín đồ trong Đấng Christ. Khi tin vào Chúa Jesus, chúng ta nhận được Ngài, tức thân vị ấy, làm sự cứu rỗi của mình.

BẢN CHẤT THẦN THƯỢNG – NHẬN ĐƯỢC NHỜ SỰ SINH RA THẦN THƯỢNG

Khi thân vị này vào trong chúng ta, sự tái sinh diễn ra và chúng ta được sinh “không phải bởi khí huyết, không phải bởi ý chí của xác thịt, cũng không phải bởi ý người, nhưng bởi Đức Chúa Trời” (Gi. 1:13). Tất cả chúng ta nên ngợi khen Chúa về sự kiện thần thượng là mình đã được sinh bởi Đức Chúa Trời! Trong Thư đầu tiên của mình, sứ đồ Giăng cũng nói với chúng ta rằng khi chúng ta được sinh ra bởi Đức Chúa Trời, một hạt giống thần thượng vào trong bản thể của chúng ta (1 Gi. 3:9). Là tín đồ trong Chúa, hạt giống của Đức Chúa Trời hiện tại đang ở trong chúng ta. Thân vị mà chúng ta nhận được là hạt giống thần thượng đã được trồng vào bản thể bề trong của mình. Đây không phải là sự mê tín dị đoan mà là một sự thật thần thượng tuyệt diệu.

Bất cứ hạt giống nào cũng có sự sống và trong sự sống ấy có bản chất, là điều sẽ phát triển sau đó. Một hạt lúa mì là một hạt giống của lúa mì. Khi hạt giống này được gieo xuống đất thì nó phát triển trong sự sống cùng với bản chất của nó. Sự phát triển trọn vẹn của sự sống hạt giống cùng với bản chất của nó đưa đến kết quả, ấy là sinh ra một nhánh với nhiều bông lúa, nhiều hạt giống. Sự phát triển của hạt lúa mì ra từ bản chất của hạt lúa hay hạt giống. Hạt giống của hoa cẩm chướng cũng tương tự như thế. Nếu hạt giống hoa cẩm chướng được gieo xuống đất, nó sẽ cùng với bản chất của mình phát triển thành một đóa hoa cẩm chướng tuyệt đẹp.

Chúng ta đã nhận được sự sống thần thượng nhờ sự sinh ra thần thượng và sự sống thần thượng này có một bản chất là bản chất thần thượng của Đức Chúa Trời. Giăng 1:13 nói chúng ta đã được sinh bởi Đức Chúa Trời, 1 Giăng 3:9 nói rằng vì chúng ta đã được sinh bởi Đức Chúa Trời nên chúng ta có hạt giống thần thượng trong mình, 1 Phi-e-rơ 1:3 nói chúng ta đã được Đức Chúa Trời tái sinh qua sự phục sinh của Jesus Christ và 2 Phi-e-rơ 1:4 cho thấy rằng vì chúng ta đã nhận được sự sống thần thượng nên bây giờ chúng ta là những người dự phần trong (nhận vào) bản chất thần thượng. Không phải chúng ta đang tiếp nhận bản chất thần thượng, mà chúng ta đang dự phần (nhận vào), vui hưởng những gì chúng ta đã tiếp nhận.

Nan đề ở đây là tất cả chúng ta đều đã nhận được bản chất thần thượng, nhưng lại không thường xuyên vui hưởng những gì mình đã nhận được. Không bao nhiêu người trong chúng ta có thể làm chứng rằng trọn ngày, chúng ta là những người đang nhận vào bản chất thần thượng và vui hưởng bản chất thần thượng bên trong. Chúng ta bỏ lơ bản chất thần thượng này vì quá chú tâm đến bốn điều, đó là sự thịnh vượng riêng, làm thế nào để làm Đức Chúa Trời vui lòng, làm thế nào để tự cải thiện chính mình và làm thế nào làm mọi việc một cách đúng đắn. Chúng ta cần quên đi những điều này và nhận lấy một điều là làm thế nào để vui hưởng bản chất thần thượng và nhận vào bản chất thần thượng. Để nhận vào và vui hưởng bản chất thần thượng, trước hết, chúng ta cần thấy bản chất thần thượng là gì.

BẢN CHẤT THẦN THƯỢNG – NHỮNG GÌ ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ

Linh, Tình Yêu Thương Và Sự Sáng

Bản chất thần thượng là những gì Đức Chúa Trời “là”. Bản chất của một vật dụng là những gì đồ dùng ấy “là”. Nếu vật dụng bằng gỗ thì bản chất của vật dụng ấy là gỗ. Kinh Thánh cho chúng ta biết một cách quả quyết và thẳng thắn rằng Đức Chúa Trời là Linh (Gi. 4:24), Đức Chúa Trời là tình yêu thương (1 Gi. 4:8, 16) và Đức Chúa Trời là sự sáng (1 Gi. 1:5). Tất cả những gì Đức Chúa Trời “là” này đều được sứ đồ Giăng ghi chép. Bản chất thần thượng là sự cấu thành của ba điều này – Linh, tình yêu thương và sự sáng. Nhận vào bản chất thần thượng là nhận vào Đức Chúa Trời là Linh, là tình yêu thương và là sự sáng. Linh biểu thị bản chất thân vị của Đức Chúa Trời và tình yêu thương biểu thị bản chất thuộc thể yếu của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời là một Bản Thể thần thượng với một thể yếu thần thượng. Thể yếu thì có tính cách nội tại hơn yếu tố của một điều gì đó. Bên trong yếu tố là thể yếu và thể yếu thần thượng này có tình yêu thương là bản chất. Hơn nữa, sự sáng thần thượng là bản chất của sự bày tỏ Đức Chúa Trời.

Đức Chúa Trời là một thân vị có thể yếu và biểu hiện riêng. Bản chất thần thượng là bản chất của thân vị Đức Chúa Trời, bản chất của thể yếu Đức Chúa Trời và bản chất của biểu hiện của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời là một Bản Thể, một thân vị thần thượng và bản chất của thân vị Ngài là Linh. Thân vị này cũng có một thể yếu và bản chất của thể yếu Ngài là tình yêu thương. Đức Chúa Trời là một sự cấu tạo của tình yêu thương. Ngoài ra, sự sáng là bản chất thuộc biểu hiện của Đức Chúa Trời, vì vậy, Linh, tình yêu thương và sự sáng đều là những thành phần cấu tạo bản chất thần thượng. Nhận vào bản chất thần thượng là nhận vào Linh thần thượng, tình yêu thần thượng và sự sáng thần thượng.

Giăng nói với chúng ta rằng sự sinh ra thần thượng đem một hạt giống vào trong chúng ta (1 Gi. 3:9). Trong hạt giống này có bản chất thần thượng. Hơn nữa, Phi-e-rơ còn nói Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta mọi sự liên quan đến sự sống (2 Phi. 1:3). Căn cứ trên sự kiện này, Đức Chúa Trời ban cho chúng ta những lời hứa cực kỳ lớn lao và quí báu để nhờ những lời hứa này, chúng ta có thể trở nên những người dự phần (nhận vào), những người vui hưởng bản chất thần thượng. Bây giờ, tất cả chúng ta phải học tập cách nếm biết những thành phần cấu tạo bản chất thần thượng, đó là Linh, tình yêu thương và sự sáng. Nói cách khác, khi nhận vào bản chất thần thượng, anh em vui hưởng Đức Chúa Trời là Linh, là tình yêu thương và là sự sáng.

Để minh họa điều này, chúng ta hãy xem xét việc chúng ta dành thì giờ tương giao với Chúa. Trong sự tương giao như vậy, anh em nhận thức và vui hưởng Chúa là Linh và đồng thời anh em cũng vui hưởng bản chất thuộc thể yếu của Đức Chúa Trời, tức là tình yêu thương. Sau đó, tình yêu thương dầm thấm anh em và thậm chí trở nên anh em. Trước giờ phút ấy, có thể anh em chán ghét nhiều điều. Tuy nhiên, sau khi tương giao như vậy, mọi sự đều đáng yêu. Có thể anh em chán ghét vợ mình trước giờ tương giao ấy, nhưng sau đó, anh em lại đầy dẫy tình yêu thương đối với vợ mình. Tình yêu thương này không những đầy dẫy anh em mà còn dầm thấm anh em. Lý do Cơ Đốc nhân chúng ta có thể yêu thương những người mà không ai yêu được là vì chúng ta vui hưởng Đức Chúa Trời là tình yêu thương. Chúng ta vui hưởng bản chất thần thượng của Đức Chúa Trời yêu thương này. Đó là lý do tại sao Giăng nói với chúng ta trong Thư đầu tiên của ông rằng nếu yêu thương anh em mình thì đó có nghĩa là chúng ta được sinh bởi Đức Chúa Trời vì Đức Chúa Trời là tình yêu thương (4:7-8). Khi yêu thương người khác thì anh em vui hưởng bản chất thần thượng. Một người không có Đức Chúa Trời và không nhận vào bản chất thần thượng của Đức Chúa Trời sẽ chán ghét mọi sự. Đừng tưởng người ta yêu mến mọi sự. Họ chỉ được uốn nắn và đào luyện để trở nên lịch sự. Lòng nhân từ và yêu thương của họ là một kiểu chính trị. Tình yêu thương chân thật sinh ra từ sự vui hưởng bản chất thần thượng. Người giám thị hay ông chủ có thể nói điều gì đó với nhân viên của mình một cách yêu thương. Trừ phi điều người ấy nói là sự vui hưởng bản chất thần thượng, bằng không, người ấy thật ra chỉ nói theo kiểu chính trị. Nếu đến lúc phải đuổi việc hay sa thải nhân viên đó, người ấy sẽ không thấy có gì trở ngại. Chỉ những ai nhận vào bản chất thần thượng mới thật tâm thương người. Họ không được dạy dỗ phải yêu thương người khác, nhưng họ đã trở nên tình yêu thương đối với người khác. Họ là những người dự phần (nhận vào) tình yêu thương thần thượng, là chính bản chất của thể yếu thần thượng.

Nếu dành đủ thời giờ ở với Chúa vào buổi sáng, chúng ta sẽ đầy dẫy sự sáng ở bên trong và sẽ không làm điều gì vô lý hay nói điều gì dại dột. Bất cứ những gì chúng ta nói và làm cũng sẽ đầy dẫy sự sáng. Đây là kết quả việc chúng ta vui hưởng bản chất thần thượng. Đó là vì sự sáng là một thành phần cấu tạo trong bản chất thần thượng. Nếu tất cả chúng ta đều dành thì giờ tương giao với Chúa thì chúng ta sẽ cảm nhận rằng mình đang vui hưởng Chúa là Linh và sẽ trở nên một người của tình yêu thương. Tình yêu thương sẽ dầm thấm chúng ta. Hơn nữa, bất cứ những gì chúng ta nói đều sẽ là sự sáng và bất cứ những gì chúng ta làm đều sẽ trong suốt như thủy tinh. Đây là một bằng chứng hay chứng cớ rằng chúng ta đang nhận vào bản chất thần thượng.

Tình Yêu Thương Và Sự Sáng Liên Hệ Đến Đức Chúa Trời Là Sự Sống

Kinh Thánh cũng cho biết Đức Chúa Trời là sự sống. Tình yêu thương và sự sáng liên hệ đến Đức Chúa Trời là sự sống (Gi. 1:4) và sự sống thì thuộc về Linh (La. 8:2). Đức Chúa Trời là sự sống đối với chúng ta chính yếu là trong tình yêu thương và sự sáng. Nếu không được dầm thấm bằng tình yêu thương thì anh em không sống sự sống của Đức Chúa Trời. Nếu không sáng ngời một cách trong suốt thì anh em không đang vui hưởng Đức Chúa Trời là sự sống. Khi vui hưởng Đức Chúa Trời là sự sống, anh em sẽ đầy dẫy tình yêu thương và sự sáng. Vì vậy, cả tình yêu thương lẫn sự sáng đều liên hệ đến Đức Chúa Trời là sự sống và sự sống thì thuộc về Linh. Đức Chúa Trời, Linh và sự sống thật ra là một. Đức Chúa Trời là Linh và Linh là sự sống. Bên trong một sự sống như vậy là tình yêu thương và sự sáng. Trong Thư tín của Giăng, chúng ta đến với Cha để nhận vào tình yêu thương và sự sáng của Ngài trong sự tương giao thuộc sự sống của Cha. Đây là điều sâu xa hơn trong kinh nghiệm về sự sống thần thượng. Tình yêu thương và sự sáng là chính Đức Chúa Cha để chúng ta vui hưởng sâu nhiệm hơn và tinh tế hơn trong sự tương giao của sự sống thần thượng với Cha trong Con (1 Gi. 1:3-7) bằng cách chúng ta cứ ở trong Ngài (1 Gi. 2:5, 27-28; 3:6, 24).