Thông tin sách

Gia Tể Tân Ước Của Đức Chúa Trời

Tác giả: Witness Lee
Dịch từ bản tiếng Anh: God's New Testament Economy
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 24

Untitled Document

CHƯƠNG HAI MƯƠI BỐN

BẢY LINH (5)

Kinh Thánh: Khải. 1:9, 11-12

SINH RA NHỮNG CHÂN ĐÈN BẰNG VÀNG

Gia tể Tân Ước của Đức Chúa Trời được kết thúc trong những chân đèn bằng vàng và Giê-ru-sa-lem Mới. Trong chương này, chúng ta cần nhìn thấy rằng sự dò xét và truyền dẫn bởi bảy Linh, là bảy mắt của Chiên Con cứu chuộc, sinh ra những chân đèn bằng vàng trong thời đại này (1:11-12). Như chúng ta đã thấy, sách Khải Thị là kết luận của toàn bộ Kinh Thánh. Trong sách này, chúng ta thấy cả những điều mới lẫn những điều cũ. Một số điều được mặc khải trong sách này hoàn toàn mới mẻ, và những điều khác đã được bày tỏ trong Cựu Ước rồi. Sách Sáng Thế Ký là một cánh đồng mà tại đó những hạt giống của hầu hết tất cả các lẽ thật thần thượng đã được gieo ra. Tất cả những hạt giống ấy lớn lên trong những sách tiếp theo cho đến khi chúng ta đến sách sau cùng của Kinh Thánh là Khải Thị. Sách này là sự gặt hái, là mùa thu hoạch của tất cả những lẽ thật đã được gieo như những hạt giống trong sách Sáng Thế Ký.

CHÂN ĐÈN TRONG CỰU ƯỚC

Kết quả đầu tiên của gia tể Tân Ước của Đức Chúa Trời là những chân đèn bằng vàng, tức dấu hiệu hay biểu tượng về các Hội thánh. Chân đèn không phải là một điều mới mẻ vì trong Xuất Ai Cập Ký chương 25, chúng ta đã thấy chân đèn trong Nơi Thánh của đền tạm (cc. 31-40). Trong Xuất Ai Cập Ký chương 25, chúng ta thấy trong đền tạm, tức nơi cư ngụ của Đức Chúa Trời trên đất này, không có ánh sáng được Đức Chúa Trời tạo ra từ các từng trời cũng không có ánh sáng do con người tạo ra một cách phàm tục. Không có ánh sáng thiên nhiên, nhưng lại có một ánh sáng đặc biệt tại đó chiếu sáng và soi sáng cả Nơi Thánh. Ánh sáng ấy là ánh sáng của chân đèn. Chân đèn trong Xuất Ai Cập Ký chương 25 là một biểu tượng về Đấng Christ, là ánh sáng từ Đức Chúa Trời đến với chúng ta. Trường hợp thứ hai liên quan đến chân đèn trong Kinh Thánh là việc xây dựng đền thờ trong 1 Các Vua 7:49. Trường hợp thứ ba liên hệ rất mật thiết đến việc xây dựng lại đền thờ của Đức Chúa Trời trong Xa-cha-ri 4:2-10. Chân đèn trong Xa-cha-ri chương 4 không chỉ về Đấng Christ, mà tượng trưng cho con dân Israel. Con dân Israel cần phải làm một chân đèn tỏa sáng Đức Chúa Trời ra.

SỰ GIA TĂNG GẤP BỘI CỦA ĐẤNG CHRIST

Trong sách Khải Thị, chúng ta thấy chân đèn lại được nói đến, nhưng lần này chân đèn ở thể số nhiều (1:11-12) vì bảy chân đèn này là những hình ảnh tượng trưng, là dấu hiệu, là biểu tượng về bảy Hội thánh địa phương. Điều này cho chúng ta thấy rằng dưới mắt của Đức Chúa Trời, mỗi Hội thánh địa phương là một chân đèn, và nhờ điều này chúng ta có thể thấy rằng một Hội thánh địa phương là bản sao của Đấng Christ. Khi tất cả những chân đèn hay các Hội thánh địa phương được hiệp lại với nhau, các Hội thánh ấy là sự gia tăng bội phần của Đấng Christ. Trong Xuất Ai Cập Ký chương 25, Đấng Christ là chân đèn độc nhất, nhưng trong sách Khải Thị, chân đèn này đã được tái sản xuất, được “sao” lại, và do đó gia tăng gấp bội. Thật ra, có nhiều hơn bảy Hội thánh địa phương trên đất khi sách Khải Thị được viết ra, vì vậy số bảy là một con số tượng trưng.

Mỗi chân đèn là một bản sao của chân đèn được khải thị trong Xuất Ai Cập Ký chương 25. Chân đèn là một điều cũ, nhưng lại mang nhiều đặc điểm mới. Trong Xuất Ai Cập Ký chỉ có một chân đèn, nhưng trong Khải Thị lại có đến bảy. Chân đèn đã có trong Xuất Ai Cập Ký, nhưng phương diện gấp-bảy-lần của chân đèn thì chưa có trong sách ấy. Phương diện mới về chân đèn là sự gia tăng bội phần của nó.

KHẢI THỊ CỦA PHAO-LÔ VỀ HỘI THÁNH

Trong Kinh Thánh, sứ đồ Phao-lô là một trong những giáo sư lớn dạy dỗ về vấn đề Hội thánh. Ê-phê-sô là sách nói về Hội thánh, ông cho chúng ta biết Hội thánh là Thân thể của Đấng Christ (1:22-23), là sự đầy trọn của Đấng làm đầy dẫy tất cả trong tất cả (1:23), là con người mới để hoàn thành mục đích của Đức Chúa Trời trên đất này (2:15), là vương quốc của Đức Chúa Trời, nhà của Đức Chúa Trời tức gia đình của Ngài (2:19), là nơi cư ngụ của Đức Chúa Trời trong linh chúng ta (2:22), là người vợ, cô dâu để làm thỏa lòng Đấng Christ (5:23-32), và sau cùng là chiến sĩ đánh trận cho vương quốc Đức Chúa Trời (6:10-20). Bảy điều được bày tỏ rõ ràng trong Thư bàn về Hội thánh của vị giáo sư lớn này. Khi nói về Hội thánh, Giăng đem đến một điều mới mẻ mà Phao-lô chưa từng bàn đến, và điều mới mẻ ấy là chân đèn. Phao-lô bày tỏ bảy điều kỳ diệu về Hội thánh trong sách Ê-phê-sô, nhưng theo ý kiến của tôi, Giăng đã vượt hẳn Phao-lô với khải thị về Hội thánh là một chân đèn.

Phương diện huyền nhiệm nhất về Hội thánh mà Phao-lô đưa ra cho chúng ta là Thân thể, là sự đầy trọn của Đấng làm đầy dẫy tất cả trong tất cả. Trong Ê-phê-sô chương 1, sự đầy trọn là sự đầy trọn của Đấng Christ tức là Đấng làm đầy dẫy tất cả trong tất cả, nhưng chính sự đầy trọn trong Ê-phê-sô chương 3 lại là sự đầy trọn của Đức Chúa Trời vô hạn (c. 19). Trong Ê-phê-sô chương 3, Phao-lô cầu nguyện để Đấng Christ có thể lập gia cư Ngài trong lòng chúng ta hầu chúng ta có thể biết được các chiều kích của Ngài, tức chiều rộng, chiều dài, chiều cao và chiều sâu, để chúng ta có thể được đổ đầy mà đạt đến sự đầy trọn của Đức Chúa Trời vô hạn. Trước hết sự đầy trọn này thuộc về Đấng Christ vô hạn, chính Đấng Christ làm đầy dẫy tất cả trong tất cả, và sau đó là sự đầy trọn của Đức Chúa Trời vô hạn. Sự đầy trọn ấy là một huyền nhiệm mà nhiều giáo sư giải thích sai lầm là sự phong phú của Đấng Christ. Tuy nhiên, sự đầy trọn trong sách Ê-phê-sô không phải là sự phong phú, nhưng là kết quả của việc chúng ta vui hưởng sự phong phú của Đấng Christ. Việc chúng ta vui hưởng sự phong phú của Đấng Christ đưa đến kết quả là sự đầy trọn huyền nhiệm này.

Ý NGHĨA CỦA SỰ KIỆN CÁC CHÂN ĐÈN ĐƯỢC LÀM BẰNG VÀNG

Hội thánh là sự đầy trọn thì huyền nhiệm và trừu tượng, nhưng các chân đèn lại rất cụ thể. Một chân đèn không huyền nhiệm, nhưng lại rất cụ thể. Khi cầu nguyện nhiều và đào sâu điều này trong Lời thánh, anh em sẽ nhận thức rằng dấu hiệu, biểu tượng chân đèn không huyền nhiệm, nhưng ý nghĩa của chân đèn lại vượt quá sự hiểu biết của chúng ta. Từ khi còn trẻ, tôi chú ý nhiều đến điều này trong Tân Ước. Tôi từng đọc một tờ báo thuộc linh xuất bản tại Luân Đôn, và bìa phía trước luôn luôn có hình ảnh một chân đèn. Khi đọc tờ báo ấy, tôi luôn luôn tự hỏi chân đèn là gì. Tác giả báo ấy viết nhiều bài về chân đèn bằng vàng ròng, và hầu như chỉ nhấn mạnh đến một điểm, ấy là tính chất tinh ròng của vàng thuộc chân đèn. Điều này rất có ích trong sự sống thuộc linh, nhưng tôi vẫn không biết ý nghĩa chính của chân đèn là gì. Về sau, tôi được giúp đỡ thấy rằng chân đèn là để chiếu sáng trong đêm tối, soi sáng trong thời đại tối tăm. Cần có ánh sáng trong màn đêm tăm tối, và các Hội thánh là những chân đèn mang những ngọn đèn để chiếu sáng và soi sáng. Mặc dầu đây là một sự hiểu biết đúng đắn, nhưng tôi vẫn cảm thấy điều này còn quá nông cạn. Thậm chí trẻ con cũng biết một chân đèn là để soi sáng. Tôi vẫn muốn thấy tại sao lại là một chân đèn bằng vàng. Tại sao những chân đèn không được làm bằng thủy tinh hay bằng vật liệu nào khác?

Các chân đèn là những dấu hiệu chỉ về các Hội thánh được làm ra bằng vàng ròng. Khi đọc đến đây, có thể một số thánh đồ cảm thấy họ chưa bao giờ thấy một Hội thánh bằng vàng như thế. Có thể họ cảm thấy rằng các Hội thánh mình đã thấy là bằng “bùn” hay tốt nhất là bằng “gỗ”. Hội thánh tại địa phương của anh em là bằng bùn, gỗ hay vàng? Vào buổi tối, khi Hội thánh có một buổi nhóm đầy vinh hiển, anh em có thể cảm thấy Hội thánh bằng vàng, nhưng hôm sau một điều gì đó xảy ra làm anh em cảm thấy Hội thánh hoàn toàn là bằng bùn. Chúng ta phải nhận thức rằng chúng ta có cái nhìn của mình về Hội thánh, và Đức Chúa Trời có cái nhìn của Ngài. Chúng ta tưởng rằng cái nhìn của mình rất sáng suốt, tinh tường và xác đáng, nhưng cái nhìn của Đức Chúa Trời hoàn toàn khác với cái nhìn của chúng ta.

Tôi vẫn còn nhớ một việc xảy ra tại một buổi nhóm cầu nguyện ở Thượng Hải gần bốn mươi năm trước. Một chị em lớn tuổi cầu nguyện một cách rất chân thành, kêu la với Chúa. Lời cầu nguyện của chị dài, tha thiết, và thậm chí anh em có thể nói là đầy quyền năng. Chị than van về sự kiện Hội thánh còn quá yếu đuối với nhiều khiếm khuyết. Theo lời cầu nguyện của chị, Hội thánh tại Thượng Hải là bằng bùn. Lập tức sau lời cầu nguyện của chị, anh Nee cầu nguyện với lời ngợi khen Chúa về Hội thánh. Anh ngợi khen Chúa về sự kiện Hội thánh của Ngài thật kỳ diệu, và trích dẫn lời cầu nguyện của Ba-la-am về dân Israel trong Dân Số Ký chương 23. Trong chương này, Ba-la-am nói rằng Đức Chúa Trời “chẳng xem tội ác nơi Gia-cốp, và không thấy sự ương ngạnh trong Israel” (c. 21). Ba-la-am cũng nói tiếp về Israel rằng: “Phước cho kẻ nào chúc phước ngươi, rủa sả những người rủa sả ngươi” (24:9). Việc xảy ra này làm cho tất cả các thánh đồ sững sờ. Có hai loại cầu nguyện. Một lời cầu nguyện mô tả Hội thánh tại đó yếu đuối, và lời cầu nguyện kia nâng cao Hội thánh lên các từng trời. Trong hai lời cầu nguyện này, anh em nói lời cầu nguyện nào đúng? Thật ra, một lời cầu nguyện đúng theo cái nhìn con người, và lời cầu nguyện kia đúng từ góc cạnh thiên thượng. Tôi được biết chị em lớn tuổi đã dâng lên lời cầu nguyện ấy về nhà khóc lóc và ân hận vì quan niệm thiên nhiên của mình về Hội thánh.

Nhiều khi tôi cảm thấy chính mình còn tệ hại hơn bùn đất. Khi được Đức Chúa Trời kêu gọi, Môi-se bảo Chúa rằng người Ai Cập sẽ không tin rằng Chúa đã hiện ra với ông (Xuất. 4:1). Một trong những dấu hiệu mà Chúa cho Môi-se thực hiện được chép trong Xuất Ai Cập Ký 4:6-7. Chúa bảo Môi-se đặt bàn tay vào lòng ông. Môi-se làm điều này, và khi ông lấy bàn tay ra, nó bị nổi phung. Khi Môi-se lại đặt tay của mình vào lòng và lấy nó ra, thì bàn tay của ông trở lại như cũ. Nhờ dấu hiệu này, Môi-se khám phá ra rằng bản chất bên trong của ông bị phung. Làm thế nào một người bị phung lại được Đức Chúa Trời kêu gọi? Tuy nhiên, trong cái nhìn thiên thượng của Đức Chúa Trời, Môi-se là một bình chứa lớn lao để Đức Chúa Trời sử dụng. Đức Chúa Trời đã ban cho Môi-se khải tượng về ngọn lửa rực cháy trong một bụi gai, tuy vậy bụi gai ấy không bị tàn lụi (Xuất. 3:2). Đức Chúa Trời không dùng những gì chúng ta có làm chất đốt. Chính Đức Chúa Trời là nhiên liệu, là lửa, đốt cháy bên trong chúng ta. Chúng ta không nên nhìn vào chính mình vì chúng ta không đáng để nhìn. Bất cứ nhóm anh em nào nếu phải ở với nhau khoảng một tuần, họ sẽ khám phá ra rằng không ai trong họ là “những anh em bằng vàng” cả. Mặt khác, tất cả chúng ta đều phải nhận thức rằng vì đã tiếp nhận Chúa, chúng ta có điều gì đó bằng vàng bên trong mình. Tất cả chúng ta phải ngợi khen Chúa vì chúng ta đều có một mức lượng vàng nào đó trong mình.

Nhiều người chúng ta đã ở trong nếp sống Hội thánh nhiều năm mà không nhận thức mấy rằng mình đã tăng trưởng nhiều như vậy. Theo cái nhìn con người của chúng ta, thì giờ bị lãng phí quá nhiều. Chúng ta phải ghi nhớ rằng đối với Chúa, một ngàn năm như một ngày (2 Phi. 3:8). Theo cái nhìn của Đức Chúa Trời, thậm chí năm mươi năm cũng không dài lắm đâu. Không ai trong chúng ta nên thất vọng về sự tăng trưởng sự sống của mình.

Không phải tôi khuyến khích anh em đừng tăng trưởng, nhưng sự tăng trưởng sự sống của chúng ta không tùy thuộc vào mình. Phao-lô nói trong 1 Cô-rin-tô 3:6 rằng: “Tôi trồng, A-bô-lô tưới, nhưng Đức Chúa Trời làm cho lớn lên”. Đêm qua trong buổi nhóm, có lẽ tất cả anh em đã hô lớn rằng Hội thánh tại địa phương của mình là bằng vàng. Tuy nhiên, sáng hôm sau, một câu chuyện điện thoại của anh em có thể đầy dẫy những lời nói hành, coi thường Hội thánh. Tất nhiên, tất cả chúng ta nên ghét nói hành trong nếp sống Hội thánh, nhưng đôi khi những vấn đề như vậy có thể thuộc về quyền tể trị tối cao của Chúa. Không phải tôi khuyến khích người ta nói hành, nhưng chúng ta phải nhận thức rằng Chúa có quyền tể trị tối cao trên mọi điều xảy ra trong nếp sống Hội thánh.

Chúng ta phải nhận thức rằng thậm chí vào thời Phao-lô, không có Hội thánh nào tốt như vậy cả. Nhiều năm về trước, có lần tôi được nghe một bài giảng mà người giảng nói với hội chúng rằng Hội thánh tại Phi-líp là Hội thánh tốt nhất. Tuy nhiên, khi nghiên cứu sách Phi-líp, tôi khám phá ra rằng ngay cả Hội thánh tại Phi-líp cũng không tốt vì giữa vòng họ có những kẻ bất hòa (4:2; 2:2). Nói về mặt con người, không Hội thánh nào là không vấy bùn. Ngoài ra, theo quan điểm con người không Hội thánh nào bằng vàng cả. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời biết rằng trong anh em và trong tôi có một mức lượng vàng (2 Cô. 4:7).

HIỆN THÂN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI TAM NHẤT ĐƯỢC GIA TĂNG GẤP BỘI

Sau nhiều năm nghiên cứu, tôi đi đến chỗ nhận thức rằng chân đèn bằng vàng trong Xuất Ai Cập Ký không chỉ là một biểu tượng về Đấng Christ là ánh sáng từ Đức Chúa Trời cho con người. Chân đèn còn là hiện thân của Đức Chúa Trời Tam Nhất. Điều này tương ứng với Cô-lô-se 2:9, câu ấy nói: “Trong Ngài cư ngụ mọi sự đầy trọn của Thần Cách Tam Nhất cách có hình thể”. Là hiện thân của Đức Chúa Trời, chân đèn có ba phương diện trọng yếu. Trước hết, chất liệu của chân đèn là vàng. Thứ hai, vàng ấy không chỉ là một khối vàng, nhưng còn có hình thù, hình dạng một chân đèn. Thứ ba, chân đèn có bảy ngọn đèn chiếu sáng. Ba phương diện trọng yếu của chân đèn là yếu tố, hình dạng và biểu hiện. Khi xem xét ba phương diện này của chân đèn, tôi bắt đầu nhận thức đây là một bức tranh về hiện thân của Đức Chúa Trời Tam Nhất. Theo biểu tượng học, nguyên tố vàng luôn luôn tượng trưng cho bản chất thần thượng của Đức Chúa Trời Cha. Hình dạng của chân đèn chỉ về Đấng Christ là hiện thân của Đức Chúa Trời mà mắt trần không thể thấy được. Hình dạng của chân đèn chắc chắn chỉ về Đức Chúa Trời Con là chính hiện thân của Đức Chúa Trời (Côl. 2:9). Bảy ngọn đèn của chân đèn là bảy Linh chiếu sáng trong thời đại tăm tối. Vì vậy, đó là biểu hiện về Đức Chúa Trời Linh. Yếu tố chỉ về Đức Chúa Trời Cha, hình dạng chỉ về Đức Chúa Trời Con, và biểu hiện là Đức Chúa Trời Linh. Chân đèn tượng trưng cho Đấng Christ cũng là hiện thân của Đức Chúa Trời Tam Nhất.

Sự hiện thân này, vốn là độc nhất trong Xuất Ai Cập Ký chương 25, đã được gia tăng gấp bội bởi các Hội thánh địa phương, là điều bao gồm mọi tín đồ. Tất cả các tín đồ cũng là sự gia tăng bội phần của Đấng Christ. Trong Giăng 12:24, Chúa Jesus cho thấy rằng Ngài là một hạt lúa mì, rơi xuống đất để chết đi, và khi chết đi, Ngài sẽ kết quả nhiều. Khi Chúa chết trên thập tự giá thì nhiều hạt lúa mì được sinh ra trong sự phục sinh của Ngài, và nhiều hạt lúa là sự gia tăng bội phần của một hạt lúa. Ngoài ra, Phao-lô còn nói trong Phi-líp 1:21a: “Vì đối với tôi, sống là Christ”. Đây là một dấu hiệu khác về sự gia tăng bội phần của Đấng Christ. Hơn nữa, 1 Cô-rin-tô 12:12 nói với chúng ta rằng Đấng Christ không những là Đầu mà còn là Thân thể. Chân đèn trong Xuất Ai Cập Ký là Đấng Christ, và những chân đèn trong Khải Thị là các Hội thánh. Điều này cho thấy không những chính Đấng Christ là một chân đèn, mà mỗi Hội thánh địa phương cũng là một chân đèn; vì vậy, các chân đèn như các Hội thánh địa phương là sự gia tăng bội phần của chân đèn độc nhất.

Với Bản Chất Của Đức Chúa Trời Cha Làm Yếu Tố Thần Thượng

Chúng tôi đã nêu lên rằng tất cả chúng ta đều có một mức lượng vàng trong mình, và vàng chỉ về Đức Chúa Trời trong bản chất của Ngài. Khi tin vào Chúa Jesus, chúng ta nhận được Đức Chúa Trời vào trong mình (1 Gi. 4:15). Tất cả các tín đồ đều đã được sinh bởi Đức Chúa Trời (Gi. 1:13). Vấn đề được sinh ra này cho thấy rằng điều thuộc về tố chất của Đức Chúa Trời đã vào trong con cái mà Ngài sinh ra. Khi người cha sinh ra một đứa con thì điều gì đó của cha được truyền vào trong đứa con ấy. Là những người được Đức Chúa Trời sinh ra, chúng ta phải tin và nhận thức rằng tố chất thần thượng đã được sinh vào trong bản thể của mình.

Trong Giăng 4:24, Chúa nói với chúng ta rằng Đức Chúa Trời là Linh. Điều này có nghĩa là Đức Chúa Trời là Linh trong tố chất. Nói cái bàn bằng gỗ có nghĩa là chất liệu của cái bàn là gỗ. Chúa cũng nói tiếp rằng vì Đức Chúa Trời là Linh nên những ai thờ phượng Ngài phải thờ phượng Ngài trong linh của họ. Nhiều người trong chúng ta nghĩ rằng thờ phượng có nghĩa là quì xuống hay sấp mình trước Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, toàn bộ văn cảnh của Giăng chương 4 lại không cho chúng ta loại khái niệm ấy (cc. 13-14). Khi anh em uống Chúa là nước sống, đó là sự thờ phượng thật của anh em dành cho Đức Chúa Trời. Thờ phượng Đức Chúa Trời là tiếp xúc với Ngài trong linh anh em. Chính Đức Chúa Trời, tức Đấng anh em thờ phượng trong Giăng chương 4 là nước sống. Tiếp xúc với nước sống bằng cách quì lạy nước ấy là điều không hợp lý. Nước sống đây là để chúng ta uống, và việc chúng ta uống nước sống là sự thờ phượng thật dành cho Đức Chúa Trời, tức Đấng là nước sống. Khi uống nước sống, chúng ta nhận được điều gì đó, là một loại yếu tố vào trong chúng ta. Hơn nữa, trong Giăng chương 6, Chúa nói với chúng ta rằng Ngài là bánh sự sống (c. 35). Sự sống rất trừu tượng, nhưng bánh lại cụ thể. Khi anh em ăn bánh, chắn chắn một yếu tố nào đó vào trong bản thể của anh em. Tân Ước cho chúng ta thấy rằng tín đồ chúng ta đã nhận vào trong bản thể của mình điều gì đó của Đức Chúa Trời về phương diện tố chất, và sau khi tin, chúng ta nên uống Ngài và ăn Ngài, liên tục tiếp nhận tố chất của Ngài vào trong bản thể mình.

Khi còn trẻ, tôi được dạy dỗ và khuyến khích cầu nguyện mỗi ngày, và nói với Đức Chúa Trời những gì tôi cần và muốn. Tuy nhiên, sau cùng tôi học tập rằng điều đầu tiên trong sự cầu nguyện không phải là cầu xin những gì anh em mong muốn. Cầu nguyện là uống Đức Chúa Trời và ăn Đức Chúa Trời (Gi. 6:57). Càng cầu nguyện, anh em càng ăn và uống Đấng Christ, càng ăn và uống Đấng Christ; anh em sẽ càng nhận được Đức Chúa Trời về mặt tố chất. Phao-lô nói rằng ông trồng và A-bô-lô tưới nhưng Đức Chúa Trời là Đấng làm cho lớn lên. Sự lớn lên ra từ điều gì đó có thực chất. Nếu cây cối không được bón phân, chúng sẽ không lớn lên bao nhiêu. Nếu anh em không cho con cái mình ăn, chúng sẽ không tăng trưởng. Nhiều trẻ em Mỹ lớn lên mạnh mẽ nhờ ăn thức ăn bổ dưỡng của Mỹ. Sau khi ăn những thứ bổ dưỡng của Mỹ và được cấu tạo bằng những thứ bổ dưỡng ấy, những đứa trẻ ấy trở nên “sự đầy trọn của Mỹ”. Chúng ta chỉ có thể tăng trưởng trong Đấng Christ bằng cách liên tục nhận thêm tố chất thần thượng vào trong bản thể của mình. Bản chất thần thượng mà chúng ta nhận lãnh (2 Phi. 1:4) được tượng trưng bởi vàng. Là những tín đồ, chúng ta cần ăn (Gi. 6:57), uống (Gi. 7:37; 1 Cô. 12:13), và “hít” nhận Chúa vào (Gi. 20:22; Ca. 3:55-56). Khi làm như vậy, chúng ta sẽ uống nước “vàng”, ăn bánh “vàng” và “hít” nhận hơi thở “vàng”. Bất cứ những gì chúng ta uống, ăn hay “hít” nhận đều là vàng vì điều đó thì thần thượng.

Nói về mặt con người, mặc dầu tôi có thể thấy nhiều sự yếu đuối trong Hội thánh, nhưng tôi phải làm chứng rằng tôi thấy Đức Chúa Trời gia tăng trong mọi thánh đồ. Chắc chắn sự tăng trưởng của chúng ta rất tiệm tiến cũng như về mặt thuộc thể chúng ta lớn lên rất tiệm tiến. Ngày này qua ngày kia, cha mẹ thấy con cái mình tăng trưởng chút ít. Tuy nhiên, sau năm năm nhìn lại, họ có thể nhận thấy chúng đã thật sự lớn lên rất nhiều. Sau hai mươi hai năm, có vài đứa con cao lớn hơn cha mẹ mình. Sau khi trồng, tưới và bón cây, chúng ta có thể về nhà nghỉ ngơi vì Đức Chúa Trời làm cho lớn lên. Điều này cũng áp dụng cho sự tăng trưởng sự sống trong Đấng Christ. Tất cả các Hội thánh đang tăng trưởng trong Chúa.

Với Đức Chúa Trời Con Là Hiện Thân Của Đức Chúa Trời Tam Nhất

Trong khi tăng trưởng bằng yếu tố thần thượng, chúng ta đang được uốn nắn, tạo hình. Sự sống luôn luôn có thể yếu sự sống, là năng lực sự sống và hình thể sự sống. Chúng ta không cần phải lo rằng cây táo sẽ sinh ra trái chuối. Không cần làm một cái khuôn để trái của cây táo có hình thể của một trái táo. Sự sống táo có hình thể trái táo, cũng giống như sự sống thần thượng có hình thể thần thượng. Hình thể thần thượng là Đấng Christ. Đấng Christ là khuôn, hình thể và hình dạng. Tân Ước nói rằng: là nhiều anh em của Ngài, chúng ta sẽ được đồng hóa theo hình ảnh Ngài (La. 8:29). Trong Phi-líp 3:10, Phao-lô cũng nói rằng khi kinh nghiệm Đấng Christ, chúng ta được đồng hóa theo sự chết của Ngài. Càng tăng trưởng, chúng ta càng ở trong hình dạng của Đấng Christ. Theo kinh nghiệm của tôi, hình dạng của Đấng Christ chủ yếu ở trong khuôn của sự chết và sự phục sinh của Ngài. Càng tăng trưởng trong sự sống thần thượng, chúng ta càng không sống theo sự sống thiên nhiên. Chúng ta không chuyển động, hành động hay làm việc trong sự sống thiên nhiên, nhưng chuyển động, hành động và sống trong sự sống phục sinh. Người ta có thể thấy là trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta không sống sự sống thiên nhiên vì sự sống thiên nhiên đang ở dưới thập tự giá. Chúng ta sống một sự sống khác, đó là sự sống phục sinh. Kết quả là trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta, có một hình thể, hình dạng của sự chết và sự phục sinh của Đấng Christ. Mọi thánh đồ trong các Hội thánh đều đang được uốn nắn nên hình ảnh của Đấng Christ, vì vậy tất cả các Hội thánh đang được đúc theo một hình thể. Khi còn là một thanh niên nghiên cứu Kinh Thánh, tôi được vài giáo sư dạy rằng trong nếp sống Hội thánh không nên có sự mất trật tự. Lời dạy dỗ ấy đúng, nhưng thật ra đây không phải là vấn đề trật tự, mà là vấn đề hình dạng. Tất cả chúng ta đều phải được sự sống thần thượng tạo hình theo hình thể của sự sống ấy, và hình thể của sự sống thần thượng là Đấng Christ. Tất cả chúng ta cần để Đấng Christ hình thành trong mình (Ga. 4:19). Với Đức Chúa Trời Linh là Bảy Linh Chiếu Sáng Những chân đèn bằng vàng cũng được đổ đầy Đức Chúa Trời Linh là bảy Linh chiếu sáng, tức biểu hiện đầy trọn của Đức Chúa Trời Tam Nhất. Trong Tân Ước, chúng ta được truyền bảo hãy được đầy dẫy Linh (Êph. 5:18), bước đi theo Linh (La. 8:4; Ga 5:16), và kết trái của Linh (Ga. 5:22-23). Trong sự hầu việc và chức vụ của mình, chúng ta cần có sự biểu lộ của Linh, vì vậy trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta cần có trái của Linh là sự biểu hiện của mình. Trong sự phục vụ Hội thánh, chúng ta chỉ có thể có sự biểu lộ của Linh làm biểu hiện của mình bằng cách cầu nguyện trong linh mình (Êph. 6:18). Tất cả chúng ta cần liên tục cầu nguyện (1 Tê. 5:17) để có thể được đổ đầy trong linh. Ê-phê-sô 5:18 truyền bảo chúng ta đừng để rượu đầy dẫy thân thể mình, nhưng hãy được đổ đầy bằng yếu tố và sự phong phú thần thượng trong linh mình. Kết quả là Linh sẽ tự nhiên chiếu sáng ra từ chúng ta. Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta sẽ có trái của Linh. Trong công tác, sự phục vụ và chức vụ của chúng ta, Linh sẽ là sự biểu lộ. Trái của Linh và sự biểu lộ của Linh, cả hai đều là biểu hiện, sự chiếu sáng của những chân đèn. Sau cùng, Hội thánh phải là chân đèn với bản chất của Đức Chúa Trời Cha là yếu tố, khuôn của Đức Chúa Trời Con là hình dạng, và biểu hiện của Đức Chúa Trời Linh là sự chiếu sáng. Sự chiếu sáng này đơn giản là chứng cớ của Jesus. Đây là nếp sống Hội thánh, và là điều Chúa theo đuổi trong sự khôi phục của Ngài ngày nay. Gia tể Tân Ước của Đức Chúa Trời tập trung vào một thân vị kỳ diệu, tức Đấng đã trải qua mọi quá trình, sinh ra chân đèn bằng vàng trong thời đại này để chiếu sáng ra chứng cớ của Jesus. Sau cùng, trong cõi đời đời sắp đến, kết quả là Giê-ru-sa-lem Mới, và điều ấy phong phú hơn nhiều so với chân đèn bằng vàng.