Thông tin sách

Gia Tể Tân Ước Của Đức Chúa Trời

Tác giả: Witness Lee
Dịch từ bản tiếng Anh: God's New Testament Economy
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 7

Untitled Document

CHƯƠNG BẢY

SỰ THĂNG THIÊN CỦA CON VÀ SỰ BÁP-TÊM TRONG LINH (1)

Kinh Thánh: Công. 1:3; Lu. 1:15; Công. 1:12-15; 2:1-4, 17-18; Lu. 24:49

Đến đây, chúng ta thấy Đức Chúa Trời Tam Nhất đã trở nên một Con Người sống trên đất này trong ba mươi ba năm rưỡi. Sau đó Đấng Thần-nhân ấy đã chết một cái chết kỳ diệu, bao-hàm-tất-cả trên thập tự giá để giải quyết tất cả những nan đề tiêu cực và giải phóng sự sống thần thượng. Rồi Ngài đắc thắng sự chết bằng cách bước ra khỏi sự chết trong sự phục sinh. Trong sự phục sinh Ngài đã được sinh ra như Con Trưởng của Đức Chúa Trời (Công. 13:33; La. 8:29), và đồng thời Ngài sinh ra nhiều con của Đức Chúa Trời, là nhiều người em của Ngài (1 Phi. 1:3; La. 8:29; Hê. 2:11-12). Ngoài ra, qua sự phục sinh của Ngài một con trẻ mới được sinh ra (Gi. 16:20-22), và Ngài đã trở nên Linh ban-sự-sống, bao-hàm-tất-cả (1 Cô. 15:45) để áp dụng chính Ngài và tất cả những gì Ngài đã hoàn thành, đạt được và có được cho con trẻ mới ấy. Vì vậy, vào ngày phục sinh Ngài đã trở lại với các môn đồ như là Đấng Christ ở-thể-linh, và thở chính Ngài vào trong họ như Linh sự sống.

Hơi Thở Thánh ấy bao hàm tất cả. Trong hơi thở ấy có tất cả những yếu tố của Thân vị Đấng Christ và tất cả những yếu tố của những gì Ngài đã hoàn thành, đạt được và có được. Hơi thở ấy là Linh tổng-hợp, bao-hàm-tất-cả, Linh ấy thật sự là chính Chúa, là Đấng Christ tổng-bao-hàm được thở vào trong các môn đồ Ngài. Vào buổi tối ngày phục sinh, Chúa đã thở chính Ngài ra như hơi thở, và các môn đồ hít nhận Ngài vào như hơi thở. Bởi sự thở ra và hít vào này, Đấng kỳ diệu ấy vào trong các môn đồ. Ngài đã vào trong các môn đồ để làm sự sống của họ, làm yếu thể tính của bản thể mới của họ. Việc họ nhận lấy hơi thở này hoàn toàn là vấn đề sự sống về mặt yếu thể tính. Họ đã nhận lấy Ngài làm sự sống mình, làm chính yếu thể tính nội tại của bản thể mình. Đây là một sự thật lạ lùng, tuyệt hảo và kỳ diệu nhất. Chúng ta phải cảm ơn Chúa vì trong những ngày sau cùng này Ngài đã cất bức màn đi để bày tỏ cho tất cả chúng ta những điều này một cách chi tiết.

Đấng kỳ diệu ấy, tức Đức Chúa Trời Tam Nhất được hòa lẫn với nhân tính, đã liên hệ mật thiết với cuộc sống làm người và bước vào một sự chết bao-hàm-tất-cả để xử lý tội và các tội lỗi, hầu hủy diệt Sa-tan cùng hệ thống thuộc Sa-tan của hắn là thế gian, vô hiệu hóa mọi luật định thuộc tôn giáo, kết liễu cõi sáng tạo cũ, và giải phóng sự sống thần thượng của Ngài. Tất cả những phương diện trên của sự chết Ngài đã trở nên những yếu tố của Bản Thể tổng hợp của Ngài. Ngài đã đắc thắng Sa-tan cùng sự chết, và Ngài đã bước vào sự phục sinh. Ngài trở nên Con Trưởng của Đức Chúa Trời, và sinh ra nhiều người em để đem đến một con trẻ mới. Sau tất cả những điều này, Con Người kỳ diệu như vậy trở nên Linh ban-sự-sống, tổng-hợp, bao-hàm-tất-cả để được thở vào trong các môn đồ Ngài làm chính hơi thở của họ. Hơi thở này không phải là một việc nhỏ, nhưng là điều bao-hàm-tất-cả, ban-sự-sống và ngự-bên-trong. Hơi thở ấy, tức sự hiện diện ngự-bên-trong của Ngài, là sự sống cho chúng ta; đó là bản thể của chúng ta về mặt yếu thể tính. Bây giờ chúng ta là một với Ngài về mặt yếu thể tính của sự sống. Tất cả tín đồ trong Đấng Christ đều là những hữu thể mới, những con người mới, thậm chí là những con người có nhân tính thần thượng.

CHÚA HUẤN LUYỆN CÁC MÔN ĐỒ

Trước khi thăng thiên, Chúa đã ở với các môn đồ bốn mươi ngày (Công. 1:3). Con số bốn mươi chỉ về một thời gian thử nghiệm (Phục. 9:9, 18; 1 Vua. 19:8; Hê. 3:9; Mat. 4:2). Trong bốn mươi ngày trước khi thăng thiên, Ngài đã thử nghiệm các môn đồ Ngài. Ngài đã huấn luyện họ để họ biết bản thể mới của mình, để nhận biết rằng yếu thể tính của Ngài đã trở nên yếu thể tính của họ. Ngài đã huấn luyện họ để nhận biết rằng Ngài đã trở nên họ, Ngài đã vào trong họ, và Ngài đã đem họ vào trong Ngài. Ngài cũng huấn luyện họ nhận thức rằng Ngài ở trong Cha, họ ở trong Ngài, và Ngài ở trong họ (Gi. 14:20). Cuối cùng, loại huấn luyện ấy giúp các môn đồ nhận thức rằng họ được hòa lẫn với Đức Chúa Trời Tam Nhất, họ không chỉ là con người nữa mà là con người thần thượng, ngay cả là “con người mang tính chất Jesus”. Họ không còn cách biệt khỏi Đức Chúa Trời Tam Nhất nữa, nhưng bây giờ họ có thể sống một sự sống mà trong đó họ là một với Đức Chúa Trời Tam Nhất đã-trải-qua-các-quá-trình. Họ không chỉ là những con người nữa, mà là những Thần-nhân, những con người thần thượng, với Đức Chúa Trời Tam Nhất là yếu thể tính nội tại của họ để trở nên bản thể thần thượng của họ.

Bây giờ sự hiện diện vô hình của Đức Chúa Trời Tam Nhất đã-trải-qua-các-quá-trình ở trong họ. Họ phải được huấn luyện để thực hành sự hiện diện ấy, để sống và cư xử trong sự sống ấy, và để làm những con người trong sự sống ấy. Chúa huấn luyện họ để làm những con người thần thượng trên đất này. Thật là kỳ diệu! Chúa đã tạo dựng toàn bộ vũ trụ trong sáu ngày, nhưng Ngài dành bốn mươi ngày để huấn luyện các môn đồ. Sự huấn luyện các môn đồ là một công việc lớn lao hơn so với sự tạo dựng vũ trụ. Ngài đã hiện ra cho hai môn đồ trên đường đến Em-ma-út (Lu. 24:13-35), Ngài đã hiện ra cho các môn đồ hai lần trong một căn phòng đóng kín (Gi. 20:19, 26), và Ngài cũng hiện ra cho các môn đồ tại biển Ti-bê-ri-a (Gi. 21:1). Việc Ngài xuất hiện và biến mất đã huấn luyện các môn đồ Ngài nhận biết sự hiện diện vô hình của Ngài.

Huấn luyện các môn đồ tin cậy Ngài trong cuộc sống của họ là một điều khó cho Chúa Jesus. Vì những thử thách của nhu cầu cuộc sống, Phi-e-rơ đã quay về với nghề nghiệp cũ, thối lui khỏi sự kêu gọi của Chúa (Gi. 21:3; Mat. 4:19-20; Lu. 5:3-11), và Thô-ma, Na-tha-na-ên, các con của Xê-bê-đê và hai môn đồ khác đều theo ông đi đánh cá (Gi. 21:2-3). Phi-e-rơ đã bị thử nghiệm, nhưng ông không thể vượt qua cuộc thử nghiệm ấy. Tất cả đều đi xuống biển để trở lại nghề cũ của mình, nhưng không nhận thức rằng họ đã đem Chúa Jesus đến đó với mình vì Chúa Jesus luôn luôn ở bên trong họ. Bất kể họ ở đâu, đi đâu, hay làm gì, họ không thể tách rời khỏi Ngài vì Ngài đã được hòa lẫn với họ. Vì họ không nhận thức điều này, nên Ngài phải cần đến bốn mươi ngày để huấn luyện họ.

Tại biển Ti-bê-ri-a, Chúa đã làm phép lạ. Phi-e-rơ và các con của Xê-bê-đê (Giăng và Gia-cơ) đều là những người đánh cá chuyên nghiệp, biển Ti-bê-ri-a rộng lớn và đầy dẫy cá, và ban đêm là thời điểm thích hợp để đánh cá, nhưng suốt đêm họ không bắt được gì cả (Gi. 21:3). Chắc hẳn Chúa đã ra lệnh cho tất cả cá tránh xa lưới của họ. Sau đó, vào buổi sáng (c. 4), là thời điểm không thích hợp để đánh cá, họ lại lưới được rất nhiều cá khi làm theo lời của Chúa (c. 6). Đây chắc chắn là một phép lạ! Chắc hẳn Chúa đã ra lệnh cho những con cá bơi vào lưới của họ. Nhưng dầu không có những con cá ấy, thậm chí trên bờ là nơi không có cá, Chúa đã chuẩn bị sẵn cá và ngay cả bánh cho họ (Gi. 21:9). Đây lại là một phép lạ! Qua đó, Chúa đã huấn luyện họ nhận thức rằng nếu không có sự dẫn dắt của Ngài, dầu họ có đến biển là nơi có cá, và vào ban đêm là thời điểm thích hợp để đánh cá, họ không thể bắt được gì cả; nhưng nếu có sự dẫn dắt của Chúa, thậm chí trên bờ là nơi không có cá, Chúa vẫn có thể cung ứng cá cho họ. Mặc dầu họ lưới được nhiều cá theo lời của Chúa, Ngài lại không dùng những con cá ấy cho họ ăn. Đó thật sự là một bài học cho Phi-e-rơ. Ông nên tin và trông cậy nơi Chúa là Đấng “gọi những điều không có như đã có” (La. 4:17) cho cuộc sống của mình. Các môn đồ đã học tập rằng Chúa tổng-bao-hàm ở với họ, ở trong họ và đang chăm sóc họ. Họ không cần đi đánh cá. Họ chỉ cần ở với Chúa và vui hưởng sự hiện diện ngự-bên-trong đầy ơn phước của Ngài.

Từ ngày phục sinh, Ngài đã xuất hiện nhiều lần với các môn đồ trong bốn mươi ngày để huấn luyện họ cách nhận biết sự hiện diện vô hình của Ngài. Khi Ngài ở với các môn đồ trong ba năm rưỡi, họ kinh nghiệm được sự hiện diện hữu hình của Ngài, nhưng sự hiện diện ấy đã chấm dứt bởi sự chết của Ngài. Sau sự phục sinh, do sự trở lại của Ngài với tư cách là Linh, một loại hiện diện khác bắt đầu. Đó là sự hiện diện vô hình của Ngài, và sự hiện diện ấy mang tính chất nội tại đối với các môn đồ Ngài. Sự hiện diện của Ngài trong ba năm rưỡi ấy hoàn toàn là bề ngoài chứ không phải nội tại. Đó không phải là sự sống cho họ, mà chỉ là một sự hiện diện giữa vòng họ. Tuy nhiên, sau sự phục sinh, là Đấng Christ ở-thể-linh và là Linh ban-sự-sống, Ngài đã trở lại với các môn đồ và vào trong họ. Sự vào trong này trở nên một sự hiện diện vô hình, và sự hiện diện ấy là sự sống cho các môn đồ. Sự hiện diện ấy rất là bề trong và nội tại chứ không phải bề ngoài, và sự hiện diện ấy đã đem yếu tố của Ngài vào trong bản thể của các môn đồ.

Nhờ sự hiện diện vô hình như vậy, Đấng Christ vô hình ấy trở nên yếu tố và yếu thể tính nội tại của các môn đồ. Ngài làm một với các môn đồ cách nội tại và theo yếu thể tính, nhưng các môn đồ lại không quen với sự hiện diện vô hình ấy. Họ quen với những điều thấy được. Vì sự yếu đuối của họ, Ngài đã xuất hiện cho họ và biến mất để huấn luyện họ nhận biết sự hiện diện vô hình của Ngài. Ngài muốn họ biết rằng dầu họ không thấy Ngài hay cảm nhận sự hiện diện của Ngài, Ngài vẫn luôn luôn ở với họ (Mat. 28:20). Sự hiện diện của Ngài luôn luôn ở trong bản thể họ; sự hiện diện ấy thậm chí trở nên yếu thể tính nội tại và tư tưởng của họ. Trong Ga-la-ti 2:20, sứ đồ Phao-lô nói: “Không phải tôi sống nữa, mà là Đấng Christ sống trong tôi”. Đó là sự hiện diện vô hình của Đấng Christ ở-thể-linh. Phần kết thúc của bốn sách Phúc Âm và phần mở đầu của sách Công Vụ cho thấy thể nào Chúa Jesus đã dành bốn mươi ngày với các môn đồ để huấn luyện họ làm quen với sự hiện diện vô hình của Ngài.

Chúa đã ở với các môn đồ trong ba năm rưỡi trước khi Ngài chết, và sau khi sống lại Ngài đã ở với họ một cách rất huyền nhiệm trong bốn mươi ngày. Ngài bất chợt hiện ra với họ mà họ không nhận biết (Lu. 24:15-16; Gi. 20:14; 21:4). Khi họ nhận biết Ngài có đó, Ngài lại biến mất khỏi họ (Lu. 24:31). Các môn đồ không thể phát hiện ra là Ngài đang vắng mặt hay hiện diện. Tuy nhiên, sau cùng tất cả đều được huấn luyện. Mối nghi ngờ của họ biến mất, nỗi sợ hãi của họ được cất đi, và họ hoàn toàn bình tĩnh và thỏa lòng. Họ đã được huấn luyện để nhận thức cách trọn vẹn rằng Con Người kỳ diệu ấy rất là thật, Ngài ở với họ, và thậm chí ở trong họ. Ngài có đó khi Ngài xuất hiện, và Ngài có đó khi Ngài biến mất. Họ không cần phải phiền muộn khi Ngài biến mất, và họ không cần phải kích động khi Ngài xuất hiện. Dầu Ngài xuất hiện hay biến mất, Ngài vẫn ở đó với các môn đồ để chăm sóc cho họ.

SỰ THĂNG THIÊN CỦA CON

Sau khi chấm dứt bốn mươi ngày huấn luyện ấy, Chúa đã an tâm lìa họ, vì vậy Ngài đem tất cả lên núi Ô-liu, là nơi Ngài được cất lên trời (Lu. 24:51; Công. 1:11-12). Điều đó đem Ngài vào một giai đoạn mới. Trước sự nhục hóa, Ngài chỉ là Đức Chúa Trời. Sự nhục hóa đem Ngài vào một giai đoạn mới, một giai đoạn để Ngài sống trên đất trong ba mươi ba năm rưỡi, một giai đoạn để Ngài làm một con người sống Đức Chúa Trời. Đó là giai đoạn thứ hai của Ngài. Sau đó, sự thăng thiên đem Ngài vào giai đoạn thứ ba. Giai đoạn này là của một con người phục sinh sống trên các từng trời để thi hành những điều Đức Chúa Trời đã định đoạt trên đất này. Bây giờ Đấng phục sinh ấy đang ngồi trên các từng trời để thi hành sự quản trị của Đức Chúa Trời (Hê. 12:2). Đấng trên các từng trời ấy là Đầu.

Sau khi các môn đồ tiếp nhận Linh ban-sự-sống mà Đấng Christ phục sinh đã thở vào trong họ làm sự sống, nguồn cung ứng sự sống và mọi sự của họ liên quan đến con người bề trong của mình, họ đều trở nên những Thần-nhân, những con người được hòa lẫn với Đức Chúa Trời. Sau đó họ được đầy dẫy sự sống thần thượng về mặt yếu thể tính, nhưng chưa đủ điều kiện để thi hành gia tể của Đức Chúa Trời. Vì vậy, Đấng Christ phục sinh phải thăng thiên lên các từng trời để được Đức Chúa Trời tôn cao, và ban cho quyền làm Vua, quyền làm Chúa và quyền làm Đầu trên mọi sự. Ngài cũng nhận được ngai, vinh quang và mọi uy quyền trong vũ trụ. Trong khi một trăm hai mươi người cầu nguyện trên đất trong mười ngày, Đức Chúa Trời làm Đấng Christ được tôn cao trở nên Vua, Chúa và Đầu của mọi sự. Đức Chúa Trời ban uy quyền, ngai và vinh quang cho Đấng được tôn cao của Ngài.

SỰ CẦU NGUYỆN CỦA CÁC MÔN ĐỒ

Trong bốn mươi ngày huấn luyện của Chúa phục sinh, các môn đồ đã học được bài học, nên sau khi Chúa thăng thiên lên các từng trời, họ có thể cầu nguyện với nhau mười ngày tại Giê-ru-sa-lem trong một tình huống đầy đe dọa (Công. 1:12-15). Họ đã cầu nguyện với nhau không chút sợ sệt, quên đi chuyện ăn, uống và cuộc sống của mình. Công Vụ chương 1 là một bản tường thuật kỳ diệu cho chúng ta thấy thể nào một trăm hai mươi người có thể ở với nhau mười ngày trong một tình huống đầy đe dọa, không quan tâm đến gì khác ngoại trừ mạng lệnh của Đấng Christ thăng thiên (cc. 14-15). Giữa vòng họ không có sự tranh luận, tranh chấp mà chỉ có sự hiệp nhất. Trước khi Chúa chết, mười hai môn đồ vẫn tranh nhau xem ai sẽ làm lớn hơn (Lu. 22:24). Họ còn rất thiên nhiên, ích kỷ, thuộc xác thịt và ngay cả tội lỗi. Phi-e-rơ rất thiên nhiên và ích kỷ. Hai người con trai của sấm sét, tức Gia-cơ và Giăng, đã khẩn nài Chúa ban cho họ hai địa vị cao nhất khi Ngài vào vương quốc của mình (Mác 10:35-37). Họ muốn đồng ngồi với Ngài, người này bên tay phải và người kia bên tay trái của Ngài. Khi nghe điều này, mười người còn lại đã nổi giận (c. 41). Họ phiền lòng vì họ cũng đầy tham vọng. Tuy nhiên, sau khi Chúa phục sinh, Ngài ở với họ bốn mươi ngày và thăng thiên lên các từng trời, họ và một trăm hai mươi người kia, tất cả đều trở nên khác hẳn. Họ không những được tái sinh mà còn là những người được biến đổi đến một mức độ nào đó, nhờ vậy họ có thể một lòng cầu nguyện với nhau trong mười ngày. Ngay cả đối với một vài người giữa vòng chúng ta một lòng cầu nguyện trong mười tiếng đồng hồ đã là một điều khó, nhưng một trăm hai mươi người đó lại cầu nguyện trong mười ngày tại một nơi đầy dẫy sự đe dọa. Lúc ấy, những nhà lãnh đạo tôn giáo tại Giê-ru-sa-lem hăm dọa giết chết những người theo Jesus. Mạng sống của họ đang bị đe dọa, tuy nhiên họ vẫn dám ở đó cầu nguyện trong mười ngày, và họ đã một lòng cầu nguyện. Họ không quan tâm đến an ninh hay sự bình an của mình. Họ chỉ quan tâm đến sứ mạng của Chúa, chứng cớ của Chúa (Công. 1:8; Lu. 24:48), và việc rao giảng Phúc Âm trong danh Ngài (Lu. 24:47; Mat. 28:19).

SỰ TUÔN ĐỔ CỦA LINH

Trong khi một trăm hai mươi môn đồ đang cầu nguyện và Đấng Christ được tôn cao đang ngồi trên ngai tại các từng trời, thì ngày Ngũ Tuần đến (Công. 2:1-4). Có một quang cảnh kỳ diệu trong vũ trụ đã được các thiên sứ chứng kiến như những khán giả vào ngày Ngũ Tuần. Đầu (Đấng Nguyên Thủ) ngồi trên ngai trên các từng trời thi hành quyền quản trị của Đức Chúa Trời, và Thân thể, được đại diện bởi một trăm hai mươi người, phối hợp với Đầu trong mười ngày để thực hiện sự chuyển động của Đức Chúa Trời trên đất. Sau đó, vào ngày Ngũ Tuần, Thánh Linh được tuôn đổ từ Đầu và bởi Đầu đến với các môn đồ và trên các môn đồ (Công. 2:17-18). Điều này có nghĩa là trời được mang xuống đất, và Đức Chúa Trời được tuôn đổ trên con người. Sự tuôn đổ này không phải thuộc về mặt yếu thể tính mà thuộc về mặt gia tể. Không phải vì sự sống, nhưng vì quyền năng, vì sự điều hành. Điều cần đến vào ngày Ngũ Tuần không phải là sự sống, mà là quyền năng, thậm chí quyền năng mạnh mẽ để thực hiện sự quản trị của Đức Chúa Trời. Sau khi cơn gió ào ạt thổi đến, một trăm hai mươi người ấy không những trở nên những người thuộc linh, mà còn là những người thiên thượng. Họ trở nên chính mối liên kết giữa trời và đất. Họ đã nối liền các từng trời và đất, và họ cộng tác với Đầu thần thượng để thực hiện sự điều hành đời đời của Đức Chúa Trời. Đây là sự việc Đầu thiên thượng tuôn đổ Linh đã được tổng kết trọn vẹn, tức Đấng Christ phục sinh và thăng thiên tuôn đổ sự tổng kết sau cùng của Đức Chúa Trời Tam Nhất đã-trải-qua-các-quá-trình, để thực hiện việc báp-têm Thân thể Ngài trong Linh.

Vào ngày Ngũ Tuần, năm mươi ngày sau khi Ngài phục sinh Đấng Christ được tôn cao đã được tuôn đổ ra như Linh, tức sự tổng kết sau cùng của Đức Chúa Trời Tam Nhất đã-trải-qua-các-quá-trình, trên một trăm hai mươi người đã được chuẩn bị sẵn. Vào ngày phục sinh, Ngài như hơi thở bao-hàm-tất-cả đã được thở vào trong các môn đồ như Linh sự sống. Nhưng sau bốn mươi ngày huấn luyện và mười ngày chuẩn bị, trời và đất đã sẵn sàng cho sự tuôn đổ của Đấng được tôn cao ấy như Linh quyền năng trên các tín đồ trên đất, là những người đã được chuẩn bị.

Những điều xảy ra vào ngày phục sinh và vào ngày Ngũ Tuần là những cái mốc trong vũ trụ. Vào ngày phục sinh, Đấng Christ phục sinh như hơi thở bao-hàm-tất-cả đã được thở vào trong các môn đồ. Vào ngày Ngũ Tuần, Đấng Christ được tôn cao, Đấng Christ được ủy quyền như cơn gió ào ạt đã được thổi trên các tín đồ sẵn sàng ấy. Sau ngày Ngũ Tuần, bên trong họ có hơi thở bao-hàm-tất-cả còn bên trên họ có cơn gió ào ạt. Vào ngày phục sinh, Đấng Christ phục sinh là hơi thở được thở vào trong các môn đồ Ngài, và vào ngày Ngũ Tuần, Đấng Christ được tôn cao là cơn gió ào ạt đã thổi trên các tín đồ sẵn sàng ấy. Bên trong họ có hơi thở; bên trên họ có cơn gió. Bên trong họ có Đấng Christ tổng-bao-hàm là Đấng phục sinh làm sự sống của họ, và bên trên họ có Đấng Christ thăng thiên là Đấng được tôn cao làm quyền năng, uy quyền và đồng phục của họ.

LINH TỔNG-BAO-HÀM VÀ ĐÃ-ĐƯỢC-TỔNG-KẾT LÀ HƠI THỞ VÀ GIÓ

Linh cư ngụ bên trong các tín đồ và Linh ngự xuống trên các môn đồ không phải là hai Linh, mà là một Linh trong hai phương diện. Từ khi nhục hóa cho đến khi phục sinh, Ngài trở nên Linh của hơi thở ấy, là điều dành cho sự sống cách nội tại và về mặt yếu thể tính. Rồi sau khi thăng thiên, Ngài trở nên Linh của gió, là điều dành cho quyền năng. Hơi thở rất gần với gió. Khi hơi thở được làm cho mạnh mẽ, nó có thể trở nên luồng gió. Khi luồng gió lắng dịu và chậm lại một chút, luồng gió trở nên hơi thở. Ngoài ra, từ ngữ Hi Lạp là pneuma và từ ngữ Hê-bơ-rơ là ruach có thể được dịch là Linh, gió hay hơi thở. Trong Giăng chương 3, từ ngữ Hi Lạp pneuma trước hết được dịch là Linh (Gi. 3:6), và sau đó là gió (c. 8). Trong Ê-xê-chi-ên chương 37, từ ngữ ruach, là chữ tương đương với pneuma trong tiếng Hi Lạp, được dịch trong bản tiếng Anh thành ba chữ, đó là Linh (c. 14), gió (c. 9) và hơi thở (cc. 6, 8). Chúng ta không nên xem hơi thở là điều gì đó tách biệt với gió. Khi mạnh lên, hơi thở trở nên gió. Khi lắng dịu, gió trở nên hơi thở. Gió và hơi thở là hai mặt của một điều. Ngoài ra, gió đem lại cho chúng ta không khí tươi mát để hít thở. Không khí tươi mát để chúng ta thở tùy thuộc vào luồng gió thích hợp, mạnh mẽ. Gió dành cho quyền năng, và hơi thở dành cho sự sống. Ngợi khen Chúa về hơi thở của Linh, và ngợi khen Chúa về sự thổi của Linh! Linh là hơi thở và cũng là gió. Hơi thở vào trong chúng ta, và gió ngự xuống trên chúng ta. Trong phong trào Ngũ Tuần, hơi thở bị bỏ quên, và gió bị hiểu lầm.

LINH NGỰ-BÊN-TRONG VÀ LINH BAO PHỦ BÊN NGOÀI

Vào thế kỷ trước, các giáo sư thuộc Hội Anh Em tại Anh đã thấy hai mặt này đến một mức độ nào đó. Họ gọi Linh vào ngày phục sinh là Linh ngự-bên-trong. Kế đến họ gọi Linh vào ngày Ngũ Tuần là “Linh như áo choàng”. Linh như áo choàng là Linh như cái áo, đồng phục bên ngoài. Các giáo sư người Anh thuộc Hội Anh Em đã thấy trong Lu-ca 24:49 rằng các môn đồ phải đợi tại Giê-ru-sa-lem cho đến khi họ được mặc quyền năng từ trên cao. Từ ngữ mặc gợi lên cho họ chiếc áo choàng của Ê-li, là biểu hiệu về quyền năng của Linh (2 Vua. 2:13-14). Phương diện về Linh bao-phủ bên ngoài khác với Linh ngự-bên-trong thuộc về bề trong. Sự dạy dỗ của họ đã giúp chúng ta rất nhiều, nhưng nhờ sự thương xót của Chúa, dựa trên nền tảng ấy của họ, chúng ta tiến lên thêm một chút để thấy rằng Linh ngự-bên-trong như hơi thở sự sống là chính Đấng Christ phục sinh. Các giáo sư thuộc Hội Anh Em không thấy điều này cách đầy đủ.

Linh ban-sự-sống, tức Đấng vẫn là Linh của Đức Chúa Trời, là Thánh Linh, là Đấng Christ ở-thể-linh, Đấng Christ phục sinh. Đấng Christ ấy, tức hiện thân của Đức Chúa Trời hòa lẫn với con người, bao gồm tất cả những quá trình của Ngài, là Linh ban-sự-sống, bao-hàm-tất-cả. Chúa cũng đã chỉ cho chúng ta thấy rằng Linh như áo choàng chính là Đấng Christ được tôn cao. Linh ngự-bên-trong là Đấng Christ phục sinh, và Linh đổ ra là Đấng Christ được tôn cao. Đấng Christ trong sự tôn cao ấy là Linh như áo choàng, tức Linh quyền năng và Linh uy quyền. Đấng Christ phục sinh và Đấng Christ được tôn cao đều là Linh bao-hàm-tất-cả gồm hai phương diện; đó là phương diện ngự-bên-trong và phương diện bao-phủ-bên-ngoài.

MẶC LẤY QUYỀN NĂNG TỪ TRÊN CAO

Mặc dầu một trăm hai mươi người ấy đã nhận được Chúa là sự sống về mặt yếu thể tính, họ vẫn chưa được trang bị và chưa đủ điều kiện để thi hành gia tể của Đức Chúa Trời. Họ vẫn cần mặc lấy quyền năng từ trên cao (Lu. 24:49). Buổi sáng, sau khi thức dậy, việc chúng ta ăn sáng làm đầy dẫy sự sống bên trong chúng ta về mặt yếu thể tính. Mặc dầu đã được đầy sự sống về mặt yếu thể tính, chúng ta vẫn chưa đủ điều kiện đến buổi nhóm để nói điều gì đó cho Chúa. Chúng ta cần tắm rửa, chải đầu và mặc quần áo thích hợp. Bấy giờ, chúng ta không những được cấu tạo về mặt nội tại, về phương diện yếu thể tính, mà còn được trang bị về mặt gia tể. Nếu một người cảnh sát không mặc đồng phục, thì không ai tôn trọng hay nhận biết ông. Khi một tài xế nhìn thấy cảnh sát mặc đồng phục, người ấy sẽ lái xe rất cẩn thận. Đối với một người cảnh sát, đồng phục có ý nghĩa rất nhiều vì đồng phục tượng trưng cho chính quyền mà người cảnh sát ấy đang phục vụ. Uy quyền làm cho người ấy đủ điều kiện thi hành sự quản trị của tiểu bang hay chính quyền của ông.

Sau khi Chúa đã thở chính Ngài như Linh tổng-bao-hàm, ban-sự-sống vào trong các môn đồ vào buổi tối ngày phục sinh, họ đã được đổ đầy Linh bên trong, nhưng họ vẫn chưa nhận được đồng phục của mình. Họ không có y phục thích hợp để thực hiện sự quản trị của Đức Chúa Trời, gia tể của Đức Chúa Trời. Trong Lu-ca 24:49, Chúa bảo các môn đồ: “Và này, Ta sẽ ban lời hứa của Cha Ta trên các ngươi; còn các ngươi hãy cứ ở trong thành cho đến khi được mặc lấy quyền năng từ trên cao”. Sau bốn mươi ngày được huấn luyện, một trăm hai mươi người vẫn cần đồng phục, vì vậy Chúa truyền bảo họ đợi tại Giê-ru-sa-lem cho đến khi được mặc lấy quyền năng từ trên cao. Quyền năng từ trên cao ấy là Linh được đổ xuống, tức là Đấng Christ ở-thể-linh, đã thăng thiên. Quyền năng từ trên cao ấy là đồng phục thiên thượng được mặc vào cho những người được tuyển chọn và được chuẩn bị của Đức Chúa Trời để họ hội đủ điều kiện thực hiện sự quản trị của Đức Chúa Trời.

LINH NHƯ ÁO CHOÀNG

Ê-li là một người nhận được uy quyền từ Đức Chúa Trời để điều khiển thời tiết (1 Vua. 17:1; 18:41-45). Sách Gia-cơ nói với chúng ta rằng Ê-li đã cầu nguyện cho đừng mưa, thì mưa không xuống trên đất trong ba năm rưỡi. Sau đó Ê-li lại cầu nguyện thì có mưa (Gia. 5:17-18). Ê-li có một chiếc áo choàng, và cái áo ấy là đồng phục, là uy quyền của ông, để điều khiển các từng trời vì mục đích quản trị của Đức Chúa Trời. Ông có quyền năng từ Đức Chúa Trời, và quyền năng ấy ở trong chiếc áo choàng của ông. Ê-li-sê đã nhận biết rằng mình cần chiếc áo choàng của Ê-li để thực hiện sự quản trị của Đức Chúa Trời. Khi Ê-li thăng thiên lên trời, áo choàng của ông đã được chuyển giao cho Ê-li-sê (2 Vua. 2:12-15). Vì vậy, Ê-li-sê đã thừa hưởng quyền năng và uy quyền ở trong bộ đồng phục của Ê-li.

Nếu có một người mặc y phục cảnh sát, thì tất cả chúng ta đều phải tôn trọng người ấy. Thật ra, chúng ta tôn trọng đồng phục của người ấy. Đồng phục là quyền năng và uy quyền của người ấy vì nó đại diện cho sự quản trị của chính quyền ông. Các môn đồ đã được Chúa truyền bảo phải chờ đợi tại Giê-ru-sa-lem cho đến khi một chiếc áo choàng, một bộ đồng phục như vậy giáng xuống trên họ. Khi ấy tất cả đều sẽ được mặc đồng phục thiên thượng, tức là quyền năng từ trên cao. Sau khi họ cầu nguyện mười ngày, chiếc áo choàng ấy từ trời giáng xuống và tất cả đều nhận được bộ đồng phục. Chiếc áo choàng ấy, quyền năng từ trên cao ấy là Đấng Christ thăng thiên được tôn cao đổ xuống trên họ.

UY QUYỀN CỦA ĐẤNG CHRIST ĐƯỢC TÔN CAO

Kinh Thánh nói với chúng ta rằng Đấng Christ đã thăng thiên lên trời (Êph. 4:8-9; Hê. 9:24), nhưng Kinh Thánh cũng nói rằng Ngài đã được Đức Chúa Trời cất lên và tôn cao (Mác 16:19; Lu. 24:51; Phil. 2:9). Sau khi Đức Chúa Trời đã tôn cao Ngài, Thánh Linh được đổ xuống trên các môn đồ. Con thăng thiên, Cha tôn cao Ngài, và Linh được đổ xuống. Đức Chúa Trời Tam Nhất, Cha, Con và Linh hoàn toàn liên hệ đến sự thăng thiên và sự tuôn đổ của Linh. Đức Chúa Trời Tam Nhất liên quan đến sự chết của Con, Đức Chúa Trời Tam Nhất liên quan đến sự phục sinh của Con, và Đức Chúa Trời Tam Nhất cũng liên quan đến sự thăng thiên của Con. Cha, Con và Linh hoàn toàn được bao gồm trong sự thăng thiên của Con và sự đổ ra của Linh.

Trong sự thăng thiên của Con, Đức Chúa Trời đã tôn cao Ngài, và sự tôn cao Ngài bao hàm sự thành đạt cao nhất. Trong sự thăng thiên, Ngài nhận được quyền làm vua (Công. 5:31; Khải. 17:14), quyền làm Chúa (Công. 2:36), sự đăng quang (Hê. 12:2), quyền làm đầu (Êph. 1:22), và vinh quang cùng sự tôn trọng (Hê. 2:9). Mọi uy quyền trên trời dưới đất đã được ban cho Ngài (Mat. 28:18; Êph. 1:20-21). Tất cả những sự thành đạt ấy của Đấng Christ không thiết yếu đối với chúng ta và không liên quan gì đến chúng ta cách nội tại, mà những thành đạt ấy hoàn toàn liên quan đến chúng ta về mặt gia tể. Nếu một chính quyền yếu ớt và hỗn loạn, thì đồng phục của người cảnh sát không mấy quan trọng. Nhưng nếu chính quyền mạnh mẽ, đúng đắn, đầy quyền lực và có trật tự, thì đồng phục của người cảnh sát rất quan trọng. Nếu Jesus chưa từng được tôn cao và chưa nhận được quyền làm vua, quyền làm Chúa, quyền làm đầu, sự đăng quang, vinh quang cùng sự tôn trọng, và mọi uy quyền, thì không một điều nào có thể được thực hiện về mặt gia tể. Mặc dầu Ngài đã thành công trong sự nhục hóa, cuộc sống làm người, sự chết và sự phục sinh, Ngài vẫn cần được tấn phong vào chức vụ thiên thượng của Ngài cùng với mọi thành tựu của chức vụ ấy.

Chúng ta cần ngợi khen Chúa về sự kiện Đấng Christ của chúng ta đã được thăng thiên và Đức Chúa Trời đã tôn cao Ngài. Ngài là Đấng cao nhất trong toàn vũ trụ và đang ngồi trên ngai duy nhất trong vũ trụ. Ngài là Vua của các vua, Chúa của các chúa, và là Đầu của mọi sự. Ngài đã nhận được mọi uy quyền, và Ngài có danh trên mọi danh (Phil. 2:9). Sau khi thăng thiên và được tôn cao, Ngài đã tuôn đổ chính Ngài như uy quyền trên các môn đồ Ngài. Đấng Christ được tôn cao, tuôn đổ ấy là uy quyền của toàn cõi vũ trụ, Đấng Christ được tôn cao, tuôn đổ ấy đã trở nên áo của chúng ta, đồng phục của chúng ta. Bây giờ chúng ta không những có sự sống của Ngài về mặt yếu thể tính, mà còn được trang bị và đủ điều kiện về mặt gia tể với uy quyền của Ngài để thực hiện gia tể của Đức Chúa Trời, sự quản trị của Đức Chúa Trời.

LINH LÀ SỰ SỐNG VÀ UY QUYỀN CỦA CHÚNG TA

Chính Linh sự sống (La. 8:2), tức hơi thở được thở vào trong chúng ta, thì hoàn toàn là vì sự sống. Chúng ta có Đức Chúa Trời Tam Nhất trong nhân tính của Ngài với cuộc sống làm người, sự chết bao-hàm-tất-cả và sự phục sinh tuyệt hảo của Ngài bên trong chúng ta làm sự sống của mình. Đây là điều thỏa lòng vô cùng, nhưng chúng ta vẫn cần sự trang bị, quyền năng, uy quyền, đồng phục thiên thượng. Sau mười ngày cầu nguyện, Đấng Christ ở-thể-linh, được tôn cao đã được tuôn đổ xuống trên các môn đồ. Ngài đã được thở vào trong họ vào buổi tối ngày phục sinh làm sự sống của họ về mặt yếu thể tính, và Ngài đã được đổ xuống trên họ vào ngày Ngũ Tuần như uy quyền, áo choàng, áo mặc, là đồng phục thiên thượng của họ về mặt gia tể. Bạn bè, đồng nghiệp, hàng xóm và gia đình có thể không nhận thấy chúng ta đang mặc Đấng Christ ở-thể-linh, được tôn cao làm đồng phục của mình, nhưng mọi quỉ và ác linh đều nhận biết điều này. Chúng biết rằng chúng ta được ủy quyền, và chúng ta là một phần của Đấng Christ thăng thiên.

VỀ PHƯƠNG DIỆN YẾU THỂ TÍNH VÀ VỀ PHƯƠNG DIỆN GIA TỂ

Đến nay, trong việc định nghĩa Đấng Tam Nhất thần thượng và kinh nghiệm của chúng ta về Đấng Tam Nhất thần thượng, chúng ta đã dùng hai chữ mới trong ngữ vựng thuộc linh của mình, đó là: “về phương diện yếu thể tính” chỉ về sự tồn tại, về bản thể, và về sự sống để tồn tại; “về phương diện gia tể” chỉ về công tác và chức năng. Khi chúng tôi nói Đấng Tam Nhất về phương diện yếu thể tính, chúng tôi có ý nói Đấng Tam Nhất thần thượng trong sự tồn tại của Ngài, chỉ về Bản Thể của Ngài. Khi chúng tôi nói Đấng Tam Nhất về phương diện gia tể, chúng tôi có ý nói Đấng Tam Nhất thần thượng trong gia tể của Ngài, chỉ về sự chuyển động, công tác và chức năng của Ngài. Kinh nghiệm Đức Chúa Trời Tam Nhất là sự sống cho bản thể thuộc linh, sự tồn tại thuộc linh của chúng ta là điều thuộc về yếu thể tính. Kinh nghiệm Đức Chúa Trời Tam Nhất là quyền năng cho công tác thuộc linh và chức năng thuộc linh của chúng ta là điều có tính cách gia tể. Nuôi dưỡng bằng chính Chúa là thức ăn, uống Ngài như nước và hít Ngài vào như không khí là điều thuộc về yếu thể tính vì điều đó liên hệ đến sự sống bề trong cho sự tồn tại thuộc linh của chúng ta. Mặc lấy Chúa như áo của mình, mặc lấy Linh được đổ xuống như quyền năng từ trên cao, là về mặt gia tể vì điều đó liên hệ đến sự chuyển động và công tác bên ngoài. Vào ngày phục sinh, Chúa thở Linh sự sống vào trong các môn đồ. Đó là về phương diện yếu thể tính. Vào ngày Ngũ Tuần, Chúa đã đổ xuống Linh quyền năng trên các môn đồ. Đó là về phương diện gia tể. Một mặt, họ nhận được Linh sự sống vào trong bản thể mình theo phương diện yếu thể tính, và mặt khác, họ nhận được Linh quyền năng trên họ theo phương diện gia tể. Sau cùng, họ trở nên những người đầy dẫy Linh tổng-bao-hàm là sự tổng kết của Đức Chúa Trời Tam Nhất đã-trải-qua-các-quá-trình.