Thông tin sách

Gia Tể Tân Ước Của Đức Chúa Trời

Tác giả: Witness Lee
Dịch từ bản tiếng Anh: God's New Testament Economy
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 3

Untitled Document

CHƯƠNG BA

SỰ CHẾT CỦA CON TRONG NHÂN TÍNH CÙNG VỚI THẦN TÍNH CỦA NGÀI QUA LINH

Kinh Thánh: Côl. 1:22; Gi. 3:14; La. 8:3; Êph. 2:15; Lu. 1:35; Gi. 1:14; La. 9:5; Mat. 27:45-46; 1 Gi. 1:7; Gi. 12:24, 31-33; Hê. 9:14, 12; 1 Phi. 1:19-20; Khải. 13:8

SỰ HOÀI THAI VÀ RA ĐỜI CỦA CON

Chúng ta phải có ấn tượng sâu xa rằng Tân Ước khải thị cho chúng ta một Con Người kỳ diệu vì sự ban phát thần thượng. Con Người ấy là Đức Chúa Trời Tam Nhất nhục hóa làm người (Gi. 1:14). Các sách Phúc Âm cho chúng ta thấy sự hoài thai và ra đời của Con Người ấy. Sự hoài thai Ngài được thực hiện bởi Đức Chúa Trời Tam Nhất. Cả ba thuộc Đức Chúa Trời Tam Nhất là Cha, Con và Linh đều kết hiệp và tham dự vào sự hoài thai ấy. Nhiều người trong chúng ta có quan niệm thiếu sót về việc Ngài được hoài thai. Chúng ta quen nghĩ rằng sự Ngài hoài thai chỉ là sự hoài thai Con Đức Chúa Trời; tuy nhiên, chúng ta phải nhận thức rằng cả Cha và Linh đều kết hiệp trong sự hoài thai ấy. Thể yếu thần thượng của Cha được hòa lẫn với thể yếu con người bởi Linh (Mat. 1:18, 20; Lu. 1:35). Vì vậy, cả ba thuộc Đức Chúa Trời Tam Nhất đều dự phần vào sự hoài thai ấy, là điều được hình thành trong tử cung của một trinh nữ, kết quả sinh ra một con trẻ gồm hai bản chất, đó là bản chất thần thượng và bản chất con người. Ngài được sinh ra làm một Đấng Thần-nhân. Từ khi mới sinh ra, Ngài đã là Đức Chúa Trời trọn vẹn (La. 9:5) và Con Người hoàn hảo. Từ sự hoài thai và ra đời như vậy, chúng ta thấy cả ba [Thân vị] của Đức Chúa Trời Tam Nhất trong nhân tính. Không lời lẽ loài người nào có thể giải thích được một sự hoài thai và ra đời huyền nhiệm, tuyệt hảo và kỳ diệu như vậy. Con Người được sinh ra bởi một sự hoài thai như vậy cũng huyền nhiệm, tuyệt hảo và kỳ diệu. Trong lịch sử nhân loại chưa từng có Người nào như vậy.

CUỘC SỐNG CỦA CON

Sau đó, Tân Ước nói với chúng ta rằng Con Người tuyệt hảo và kỳ diệu ấy đã sống một sự sống rất huyền nhiệm, tuyệt hảo và kỳ diệu. Sự sống ấy kết hợp và hòa lẫn sự sống con người với sự sống thần thượng. Trong sự sống ấy chúng ta có thể nhận thấy tất cả những thuộc tính thần thượng và những mỹ đức con người, trong sự sống này chúng ta không thể tìm thấy bất cứ dấu vết tội lỗi nào cả, và trong sự sống ấy không có chỗ cho Sa-tan và yếu tố của thế gian. Sự sống ấy không những là một sự sống huyền nhiệm, tuyệt hảo và kỳ diệu, mà còn là một sự sống đắc thắng, một sự sống đắc thắng đến tận cùng. Một sự sống như vậy hoàn thành mục đích đời đời của Đức Chúa Trời và đã tạo nên một tấm gương, một khuôn mẫu để tất cả những Cơ Đốc nhân sống. Đó là một khuôn mẫu trọn vẹn cho nếp sống Hội thánh.

SỰ CHẾT CỦA CON

Trong những chương trước, chúng ta đã thấy hai điều căn bản về gia tể Tân Ước của Đức Chúa Trời: sự nhục hóa của Lời và cuộc sống của Con. Bây giờ chúng ta đến với điều thứ ba trong gia tể Tân Ước của Đức Chúa Trời, đó là sự chết của Con. Một sự chết có vinh dự hay không, một sự chết có cao trọng hay không tùy thuộc vào nguyên nhân của sự chết ấy. Cái chết của con muỗi không có ý nghĩa gì cả, nhưng một vị vua băng hà lại có một ý nghĩa lớn lao. Trong Tân Ước có một cái chết đầy ý nghĩa. Sự chết ấy huyền nhiệm, tuyệt hảo, lạ lùng và kỳ diệu vì đó là cái chết của một Con Người huyền nhiệm, tuyệt hảo, lạ lùng và kỳ diệu. Đó là sự chết của Đấng Thần-nhân. Đó là cái chết của một Con Người mà Đức Chúa Trời đã được đưa vào bản chất nội tại của người ấy, một Con Người đã được hòa lẫn với Đức Chúa Trời Tam Nhất. Đức Chúa Trời Tam Nhất, Cha, Con và Linh, tất cả đều gồm tóm trong Người này, vì vậy Người ấy là Đấng Tam-Nhất Thần-nhân. Một Người như vậy đã chết một sự chết kỳ diệu, tuyệt hảo, huyền nhiệm, lạ lùng và đắc thắng.

NHỮNG NGUYÊN NHÂN ĐÒI HỎI CẦN CÓ SỰ CHẾT CỦA CON

Bây giờ chúng ta cần thấy tất cả những nguyên nhân đòi hỏi sự chết của Con Người kỳ diệu ấy. Nguyên nhân đầu tiên là tội (Gi. 1:29). Trong vũ trụ này, tội đã bước vào (La. 5:12) xen giữa Đức Chúa Trời và con người. Nhiều tội lỗi ra từ tội (1 Phi. 2:24). Bên cạnh hai nguyên nhân trên, một nguyên nhân khác là có một kẻ thù, không những là kẻ thù của Đức Chúa Trời, mà còn là kẻ thù của loài người. Kẻ thù ấy là Ma Quỉ, tức Sa-tan (Hê. 2:14). Sa-tan đã tạo ra một hệ thống gọi là thế gian, chiếm đoạt con người mà Đức Chúa Trời tạo dựng vì mục đích của Ngài (Gi. 12:31). Thế gian là một nguyên nhân khác đòi hỏi sự chết của Đấng Thần-nhân, là Jesus. Khi Con Người kỳ diệu ấy sống trên đất này, Ngài đã đối đầu với hệ thống thuộc Sa-tan, là thế gian. Thêm vào những nguyên nhân trên là cõi sáng tạo cũ. Mọi điều Đức Chúa Trời sáng tạo đều trở nên cũ kỹ. Khi nói điều nào đó cũ kỹ thì Kinh Thánh ngụ ý rằng điều đó bại hoại. Cõi sáng tạo của Đức Chúa Trời đã trở nên bại hoại vì yếu tố sự chết đã xâm chiếm và làm bại hoại cõi sáng tạo ấy. Mọi điều trong vũ trụ đều bị hư hỏng do bị sự chết xâm chiếm, làm cho mọi sự trở nên cũ kỹ. Vũ trụ đã được Đức Chúa Trời sáng tạo, nhưng lại bị Sa-tan phá hủy và sự chết làm cho trở nên cũ kỹ. Cõi sáng tạo cũ ấy bao gồm nhân loại (La. 6:6). Chúng ta thuộc về cõi sáng tạo cũ. Một nguyên nhân khác đòi hỏi sự chết kỳ diệu của Đấng Christ là những điều lệ, lễ nghi và luật định của tôn giáo (Êph. 2:15). Những luật lệ tôn giáo đã trở nên nhân tố chia rẽ con người với nhau. Người Do Thái có nhiều luật định phân rẽ họ khỏi dân Ngoại.

Nguyên nhân sau cùng đòi hỏi sự chết của Đấng Christ là một nguyên nhân tích cực. Ngài đã chết để giải phóng sự sống thần thượng (Gi. 12:24). Nếu sự chết Ngài chỉ cất đi sáu nguyên nhân tiêu cực, thì sự chết ấy làm sạch vũ trụ, nhưng kết quả sẽ chỉ là trống không. Nếu tội và các tội lỗi không còn nữa, Sa-tan bị kết liễu, thế gian chấm dứt, cõi sáng tạo cũ bị tiêu trừ, và tất cả những luật định tôn giáo đều bị cất đi, thì chỉ còn lại sự trống không. Tuy nhiên, có một nguyên nhân tích cực, kỳ diệu. Sự chết của Đấng Christ đã giải phóng sự sống thần thượng vì sự ban phát thần thượng. Nếu sự sống thần thượng chưa từng được giải phóng thì sự sống ấy không bao giờ có thể ban phát. Một khi sự sống thần thượng được giải phóng, sự sống ấy dành cho sự ban phát thần thượng. Tội, những tội lỗi, Sa-tan, thế gian, cõi sáng tạo cũ, những luật định tôn giáo và sự giải phóng sự sống thần thượng là bảy nguyên nhân đòi hỏi sự chết kỳ diệu của Đấng Christ.

TRONG NHÂN TÍNH CỦA NGÀI

Trong lịch sử nhân loại chỉ có một Người có đủ điều kiện để chết một cái chết như vậy, đó là Con Đức Chúa Trời, tức Jesus Christ. Ngài đã chết một cái chết như vậy trong nhân tính Ngài. Ngài là Con Đức Chúa Trời, có sự sống thần thượng (Gi. 1:4; 14:6). Ngài là Đức Chúa Trời (Gi. 1:1), thậm chí là hiện thân của Đức Chúa Trời Tam Nhất (Côl. 2:9), là tổng hợp của Cha, của Con và của Linh. Trong Ngài có sự sống, và sự sống ấy đã được giải phóng nhờ sự chết của Ngài. Tuy nhiên, nếu Ngài chỉ là Đức Chúa Trời trọn vẹn mà không phải là một con người, thì Ngài không thể chết cho con người. Để chết cho loài người, hoàn thành sự cứu chuộc cho loài người, Ngài phải là một con người với huyết của con người (Êph. 1:7; Hê. 9:22) vì chỉ huyết của con người mới chuộc được con người. Vì vậy, Ngài không những là Con Đức Chúa Trời mà còn là một con người, Jesus Christ. Đức Chúa Trời có sự sống thần thượng, nhưng Ngài lại không có huyết của con người. Đức Chúa Trời, tự chính Ngài, đủ điều kiện cho mọi sự, nhưng lại không đủ điều kiện để chuộc con người. Sự cứu chuộc của loài người cần huyết thật của một con người thật.

Ngợi khen Chúa vì có một Đấng huyền nhiệm, tuyệt hảo, lạ lùng và kỳ diệu vừa là Đức Chúa Trời vừa là con người. Ngài có sự sống thần thượng và huyết của con người. Cứu Chúa, Đấng Cứu Chuộc của chúng ta, là Đức Chúa Trời trọn vẹn và con người hoàn hảo. Là Đức Chúa Trời trọn vẹn, Ngài có sự sống thần thượng, và là một Con Người hoàn hảo, Ngài có huyết của con người. Vì có sự sống thần thượng, Ngài có thể giải phóng sự sống thần thượng dành cho sự ban phát thần thượng, và máu huyết con người của Ngài khiến Ngài hội đủ điều kiện làm Đấng Cứu Chuộc của chúng ta, chết một cái chết thay thế cho chúng ta. Sự chết của Đấng Thần-nhân ấy cất đi tội và những tội lỗi của chúng ta (Gi. 1:29; 1 Cô. 15:3), và huyết của Ngài làm sạch mỗi một tội của chúng ta (1 Gi. 1:7). Ngài đã hoàn tất sự cứu chuộc cho chúng ta là những con người tội lỗi trong nhân tính của Ngài, tức là trong xác thịt Ngài (Côl. 1:22).

Lời Trở Nên Xác Thịt

Khi Đức Chúa Trời đã trở nên một con người, Ngài không trở nên một người mới. Giăng 1:14 không chép là Lời đã trở nên một con người, nhưng chép là Lời đã trở nên xác thịt. Con người đã trở nên cũ kỹ và đã trở thành xác thịt trước khi Con Đức Chúa Trời trở nên một con người. Trong Kinh Thánh, đặc biệt là trong Tân Ước, xác thịt chỉ về con người sa ngã. Kinh Thánh nói với chúng ta rằng Đức Chúa Trời đã tạo dựng con người, chứ không tạo ra xác thịt. Sáng Thế Ký chương 1 nói với chúng ta rằng sau khi Đức Chúa Trời tạo dựng con người, Ngài “thấy mọi việc Ngài đã làm, kìa, thật rất tốt lành” (c. 31), điều này cho thấy rằng con người mà Đức Chúa Trời đã dựng nên rất tốt lành. Tuy nhiên, trong Sáng Thế Ký chương 3, con người được Đức Chúa Trời dựng nên ấy đã sa ngã, và trong Sáng Thế Ký chương 6, con người sa ngã ấy đã trở thành xác thịt bại hoại, sa ngã do tội (c. 3). La Mã 3:20 nói rằng “không có xác thịt nào được xưng là công chính trước mặt Ngài” bởi những công việc của luật pháp. Ở đây xác thịt chỉ về con người sa ngã. Theo nhãn quan của Đức Chúa Trời, “nhân loại sa ngã” chính là xác thịt.

Mặc dầu Giăng 1:14 nói Lời đã trở nên xác thịt, nhưng trong sự hiểu biết của mình, chúng ta lại luôn luôn nói Lời đã trở nên một con người. Có một sự khác biệt lớn lao giữa con người được Đức Chúa Trời dựng nên và xác thịt, là điều chỉ về con người sa ngã. Lý do Đức Chúa Trời khiến xảy ra một trận lụt trong thời Nô-ê là vì con người đã trở nên xác thịt. Vì con người được Đức Chúa Trời dựng nên đã trở nên xác thịt nên Đức Chúa Trời muốn tiêu diệt con người (Sáng. 6:7).

Hình Dạng Của Xác Thịt Tội Lỗi

La Mã 8:3 nói: “Vì điều gì luật pháp không làm được, bởi xác thịt đã làm cho nó ra yếu đuối, thì Đức Chúa Trời sai chính Con Ngài trong hình dạng của xác thịt tội lỗi và kết án tội trong xác thịt tội lỗi”. Đức Chúa Trời đã đến trong hình dạng của xác thịt tội lỗi. Mặc dầu Đấng Christ chỉ ở trong hình dạng của xác thịt tội lỗi, chúng ta vẫn phải nhận thấy rằng xác thịt là điều gì đó liên quan đến tội. Trong Giăng 1:14 chỉ có xác thịt được nói đến. Giăng không cho chúng ta bổ ngữ nào cho xác thịt. Thế nhưng, Phao-lô lại dùng từ ngữ “hình dạng của xác thịt tội lỗi”. Tại đây ba điều trong La Mã 8:3 là hình dạng, xác thịt và tội. Nếu Phao-lô nói rằng Đức Chúa Trời đã sai Con Ngài đến trong hình dạng của một thiên sứ, thì điều ấy sẽ không gây nan đề cho ai cả. Nhưng Đức Chúa Trời đã sai Con Ngài đến trong hình dạng của xác thịt tội lỗi.

Con Rắn Bằng Đồng

Trong Giăng 1:4 chúng ta thấy xác thịt, và trong Giăng 3:14 chúng ta thấy con rắn. Giăng 3:14 nói: “Và như Môi-se đã treo con rắn lên nơi đồng vắng thể nào, thì Con Người cũng cần phải chịu treo lên thể ấy”. Trong câu này, Đấng Christ được tượng trưng bằng một con rắn. Câu 15 nói tiếp: “Để mọi người tin Ngài đều được sự sống đời đời”. Kinh Thánh ví Đấng Christ như một con rắn. Trong Giăng 1:29 Đấng Christ được tượng trưng như Chiên Con của Đức Chúa Trời để cất đi tội của thế gian. Chiên Con là một biểu tượng về Đấng Christ và con rắn cũng là một biểu tượng về Đấng Christ. Dân Số Ký chương 21 nói với chúng ta rằng không phải Môi-se treo lên một con rắn thật có nọc độc, nhưng ông đã treo lên một con rắn bằng đồng (cc. 4-9).

Nếu có một con rắn trong phòng chúng ta, thì tôi nghĩ hầu hết chúng ta sẽ không thể ngủ ngon. Dầu anh em cho tôi một con rắn bằng vàng, tôi vẫn không đặt nó trong phòng mình. Vàng thì rất quí, nhưng tôi không thích vàng trong hình dạng một con rắn. Anh em có bao giờ nhận thức rằng Kinh Thánh ví sánh Đấng Christ như một con rắn chưa? Chính xác thịt mà Đấng Christ đã trở thành có liên quan đến con rắn ấy. Con rắn xưa ở trong xác thịt chúng ta. Đấng Christ đã trở nên xác thịt, và Sa-tan tức con rắn liên quan đến xác thịt ấy. Theo nhãn quan của Đức Chúa Trời, khi Đấng Christ bị đóng đinh trên thập tự giá, Ngài giống như một con rắn nhưng chỉ trong hình thể, trong hình dạng, chứ không có bản chất độc hại, tội lỗi. Nói Đấng Christ ở trong hình thể của con rắn cũng giống như nói Ngài ở trong hình dạng của xác thịt tội lỗi.

Đấng Christ đã đến trong hình dạng của xác thịt tội lỗi, và trong xác thịt ấy là Sa-tan. Nếu nói Đấng Christ đã trở nên xác thịt, và trong xác thịt của Ngài là Sa-tan thì đó là tà thuyết. Tuy nhiên, nếu nói Đấng Christ đã trở nên xác thịt, và trong xác thịt (không phải xác thịt của Đấng Christ) có Sa-tan thì lại là đúng. Để giảng dạy lẽ thật, chúng ta phải học hỏi nơi những luật sư. Họ dùng nhiều bổ ngữ trong cách nói của họ, và họ rất cẩn thận, thận trọng và chi tiết. Ví dụ, Kinh Thánh nói rằng Lời đã trở nên xác thịt, nhưng điều này không có nghĩa là Lời đã trở nên điều gì đó tội lỗi. Kinh Thánh cũng ví Đấng Christ như là một con rắn, nhưng không có nghĩa là Kinh Thánh ví Đấng Christ như một điều gì đó có bản chất độc hại. Trong La Mã 8:3, Phao-lô bổ túc ý nghĩa cho từ ngữ xác thịt. Ông nói rằng Đức Chúa Trời đã sai Con Ngài đến trong hình dạng của xác thịt tội lỗi. Ngoài ra, con rắn trong Giăng 3:14 được định nghĩa trong Dân Số Ký chương 21. Chính con rắn được Môi-se treo lên là con rắn bằng đồng. Nó chỉ có hình thể, hình dạng của con rắn chứ không có bản chất độc hại.

Đấng Christ là Con Đức Chúa Trời đã trở nên một con người trong hình dạng của xác thịt tội lỗi. Con người sa ngã có tội, nhưng Đấng Christ thì không có tội (2 Cô. 5:21; 1 Phi. 2:21-22). Ngài ở trong hình dạng của con người sa ngã nhưng không có bản chất sa ngã của con người sa ngã. Khi trở nên xác thịt, Ngài đã trở nên một phần của cõi sáng tạo cũ vì xác thịt là một phần của cõi sáng tạo cũ. Kết quả, sự chết của Ngài là sự chết của cõi sáng tạo cũ.

Đấng kỳ diệu ấy đủ điều kiện theo ba phương diện để chết một cái chết tuyệt diệu, bao-hàm-tất-cả. Là Con Đức Chúa Trời, Ngài đủ điều kiện để giải phóng sự sống thần thượng, là một con người Ngài đủ điều kiện để đổ huyết của con người thật sự, và là xác thịt, A-đam sau cùng (1 Cô. 15:45) của cõi sáng tạo cũ, Ngài đủ điều kiện để kết liễu cõi sáng tạo cũ bao gồm con người cũ (La. 6:6).

Chúng ta cũng phải nhận thấy rằng kẻ thù của Đức Chúa Trời tức Sa-tan đã vào trong xác thịt sa ngã của con người qua sự sa ngã. Trong xác thịt sa ngã của con người có Sa-tan, và cùng với Sa-tan là hệ thống thuộc Sa-tan tức thế gian. Ấy là trong hình dạng của xác thịt sa ngã đó mà Đấng Christ đã chết trên thập tự giá như một Con Người. Vậy nên, qua sự chết của Ngài trong xác thịt, Ngài đã tiêu diệt Ma Quỉ tức Sa-tan (Hê. 2:14) và phán xét thế gian (Gi. 12:31-33).

Sa-tan Là Tội Trong Xác Thịt

Chúng ta đã nói rằng Đấng Christ đã trở nên xác thịt (Gi. 1:14), và trong xác thịt (không phải xác thịt của Đấng Christ) có Sa-tan. Nếu chúng ta nói Sa-tan ở trong xác thịt của Đấng Christ thì đó là tà thuyết. Tuy nhiên, vài người trong chúng ta có thể vẫn có nan đề liên quan đến lời tuyên bố Đấng Christ đã trở nên xác thịt và trong xác thịt là Sa-tan. Biểu đồ sau có thể giúp chúng ta thấy phạm vi xác thịt theo La Mã chương 7, ấy là Sa-tan như là Tội được nhân cách hóa trong xác thịt ấy.

Căn cứ vào La Mã chương 7, chúng tôi nói rằng Sa-tan và tội ở trong xác thịt. La Mã chương 7 nói rằng tội ở trong xác thịt chúng ta, và trong La Mã chương 7 tội được nhân cách hóa. Chương ấy cho chúng ta thấy rằng tội có thể lừa gạt và giết chết người ta (c. 11), và nó có thể cư ngụ trong người ta và làm những điều trái với ý muốn của họ (cc. 17, 20). Tội thật sống động (c. 9) và vô cùng năng động; vì vậy tội phải là bản chất gian ác của Sa-tan, tức kẻ gian ác đang cư ngụ, hoạt động và hành động trong nhân loại sa ngã. Tội trong La Mã chương 7 là một thân vị. Thân vị ấy là nguồn cội của tội, gốc rễ của tội. Tội ấy, tức Sa-tan vẫn ở trong xác thịt của chúng ta, đó là nơi hắn sống, làm việc và chuyển động, ngay cả sau khi chúng ta đã được cứu. Tội trong xác thịt của chúng ta là một thân vị, cũng giống như sự sống thần thượng trong linh chúng ta là một Thân vị. Thân vị ấy là sự sống của chúng ta, tức Đấng Christ (Côl. 3:4), là hiện thân của Đức Chúa Trời Tam Nhất. Đức Chúa Trời Tam Nhất là sự sống ở trong linh của chúng ta, và Sa-tan là tội ở trong xác thịt của chúng ta. Là những người được cứu, nếu chúng ta không cảnh giác, không tỉnh thức và cầu nguyện, thì kẻ gian ác ấy sẽ xúi giục chúng ta làm những điều tội lỗi. Trong xác thịt của chúng ta có dục vọng (Ga. 5:17), và dục vọng ấy liên quan đến Sa-tan trong xác thịt của chúng ta.

Đấng Christ Kết Hiệp Chính Ngài Với Xác Thịt Tội Lỗi Mà Không Có Tội

Một ngày kia, Lời đã trở nên xác thịt. Nên nhớ rằng Jesus không được sinh ra bởi người cha, nhưng bởi người mẹ (Mat. 1:18). Nhân tính của Ngài là xác thịt; tuy nhiên, nhân tính của Ngài không phải của người nam, mà của người nữ. Xác thịt của chúng ta là một xác thịt tội lỗi vì nó thuộc về người nam hiệp với người nữ. Nhưng xác thịt của Jesus chỉ thuộc về người nữ chứ không phải thuộc về người nam; do đó, xác thịt của Ngài không tội lỗi. Xác thịt của chúng ta không những là xác thịt mà là xác thịt tội lỗi, nhưng xác thịt của Đấng Christ không liên quan gì đến người nam cả nên không phải là xác thịt tội lỗi. Xác thịt của Jesus chắc chắn kết hiệp với xác thịt tội lỗi như được thấy trong biểu đồ trên. Tuy nhiên, yếu tố của tội có trong phạm vi xác thịt ở dưới đường chấm, chứ không có trong vùng ở trên đường chấm. Đức Chúa Trời ở bên trong phần ở trên đường chấm! Trong phạm vi xác thịt ở dưới đường chấm là Sa-tan, nhưng trong phạm vi xác thịt ở trên đường chấm là Đức Chúa Trời!

Biểu đồ cho thấy hai phạm vi ấy được nối kết với nhau bằng một đường chấm phân rẽ chúng. Vì Đức Chúa Trời có trong phạm vi xác thịt ở trên đường chấm, tội không thể xuyên qua đường phân rẽ ấy vì Đức Chúa Trời quá mạnh mẽ đối với kẻ thù của Ngài, tức Sa-tan. Sa-tan bị giới hạn bên trong lãnh vực, phạm vi của xác thịt ở dưới đường chấm. Sa-tan đã nhiều lần cố gắng vào trong xác thịt của Jesus, nhưng hắn đã không thể xâm nhập được. Thậm chí Linh đã dẫn Jesus vào trong đồng vắng để bị Ma Quỉ cám dỗ. Sau khi kiêng ăn bốn mươi ngày đêm, Ngài đã bị Ma Quỉ cám dỗ ba lần (Mat. 4:1-11). Sa-tan đã ba lần cố gắng vào trong xác thịt của Jesus, nhưng hắn không thể xâm nhập được.

Biểu đồ trên minh họa hai phần của xác thịt. Phần chính là tội lỗi, còn phần nhỏ thì không tội lỗi. Trong phần chính có Sa-tan; trong phần nhỏ có Đức Chúa Trời. Trong ba mươi ba năm rưỡi của cuộc đời Jesus, Sa-tan đã chiến đấu vượt ranh giới để vào xác thịt của Jesus. Tuy nhiên, hắn không bao giờ có thể vượt qua được vì Đức Chúa Trời luôn luôn chống lại hắn, và Ngài mạnh mẽ hơn hắn. Khi Lời trở nên xác thịt, Ngài đã kết hiệp mình với xác thịt. Rồi khi Đấng Christ đến thập tự giá, Ngài đã đặt toàn bộ phạm vi xác thịt vào sự chết, xác thịt ấy bao gồm Sa-tan và tội, bằng cách tiêm sự chết vào trong nó. Khi Jesus đem xác thịt của Ngài đến thập tự giá, Ngài cũng đã đem Sa-tan và tội ở trong xác thịt đến thập tự giá, và Ngài đã tiêm sự chết vào trong xác thịt, là điều bao gồm Sa-tan và tội, đó là xác thịt mà Ngài đã được kết hiệp. Sa-tan đã không có cách nào để khước từ sự chết ấy. Hê-bơ-rơ 2:14 nói với chúng ta rằng sự chết của Jesus trên thập tự giá đã tiêu diệt Ma Quỉ, là kẻ có quyền lực của sự chết. Sự chết lạ lùng, kỳ diệu, bao-hàm-tất-cả, đắc thắng ấy đã tiêu diệt xác thịt mà trong đó Sa-tan và tội đang cư trú.

Cất Bỏ Tội, Giải Phóng Sự Sống Thần Thượng Và Tiêu Diệt Ma Quỉ

Đấng Christ đã chết trên thập tự giá không những là Chiên Con của Đức Chúa Trời để cất tội chúng ta đi, mà còn là hạt lúa mì để giải phóng sự sống thần thượng từ bên trong Ngài ra (Gi. 12:24). Ngài cũng đã chết như con rắn để tiêu diệt con rắn xưa là Ma Quỉ (Hê. 2:14). Ngài đã tiêu diệt Sa-tan bằng cách chết đi trong xác thịt. Bên trong xác thịt có Sa-tan, vì vậy khi Ngài chết trong xác thịt thì sự chết của Ngài đã tiêu diệt Sa-tan. Sự chết của Ngài bao hàm tất cả.

Đã Trở Nên Tội Vì Chúng Ta

2 Cô-rin-tô 5:21 nói: “Đức Chúa Trời đã khiến cho Đấng Christ vốn chẳng biết tội trở nên tội vì cớ chúng ta”. Đúng là ba tiếng đồng hồ sau cùng, từ mười hai giờ trưa đến ba giờ chiều (Mat. 27:45), trong khi Ngài đang chết cái chết thay thế cho tội nhân chúng ta là xác thịt, thì Đức Chúa Trời đã khiến Đấng Christ trở nên tội vì chúng ta, và nhờ sự chết trong xác thịt của Ngài, Đức Chúa Trời đã kết án tội (La. 8:3), là điều ở trong xác thịt của con người. Khi Đức Chúa Trời kết án Đấng Christ trên thập tự giá trong xác thịt của Ngài, Đức Chúa Trời đã kết án tội trong xác thịt. Khi xác thịt Ngài bị kết án, Sa-tan ở trong xác thịt con người cũng bị tiêu diệt.

VỚI THẦN TÍNH CỦA NGÀI

Khi con người Jesus bị đóng đinh trên thập tự giá, Đức Chúa Trời Tam Nhất, Cha, Con và Linh đều liên quan đến việc ấy. Sự chết của Con là với Cha và bởi Linh. Phải, ấy là trong nhân tính của Ngài, trong xác thịt, mà Đấng Christ đã chết trên thập tự giá. Tuy nhiên, Ngài cũng chết với thần tính của Ngài. Khi Đấng Christ chết trên thập tự giá, Ngài không những là Con Loài Người, mà cũng là Con Đức Chúa Trời. Chúng ta phải ghi nhớ rằng Ngài là một Người với hai bản chất, đó là bản chất con người và bản chất thần thượng. Chúng ta không thể nói rằng khi Đấng Christ chết trên thập tự giá thì bản chất thần thượng bị cất đi, vì chính Con Người chết trên thập tự giá, vừa là Con Loài Người vừa là Con Đức Chúa Trời, vẫn sở hữu bản chất thần thượng và bản chất con người. Đây là chính bản thể của Ngài và điều này liên hệ đến bản chất nội tại của Ngài.

Thí dụ như một người có thể lấy đi cái áo ngoài tôi đang mặc, nhưng người ấy không thể lấy đi bản chất nội tại của tôi. Bản chất nội tại của Jesus là bản chất của cả Con Loài Người và Con Đức Chúa Trời. Jesus là một Người vừa là Con Loài Người vừa là Con Đức Chúa Trời. Khi Ngài đi lại trên đất, sống trên đất, khi Ngài bị bắt, khi Ngài bị xét xử, khi Ngài bị đóng đinh trên thập tự giá, Ngài luôn luôn là cả Con Loài Người lẫn Con Đức Chúa Trời. Trên thập tự giá Ngài chết như Con Loài Người và Con Đức Chúa Trời.

Con Đức Chúa Trời

Ngài là Con Đức Chúa Trời nhờ được hoài thai bởi Thánh Linh về mặt thể yếu (Lu. 1:35). Thể yếu đây có nghĩa là có tính chất nội tại. Bản chất nội tại của một người không thể thay đổi. Một người Đức không trở nên người Nhật chỉ nhờ mặc áo kinomo của người Nhật; người ấy vẫn là người Đức. Về mặt thể yếu, người ấy là người Đức. Về phương diện bề ngoài, người ấy mặc y phục Nhật Bản. Về phương diện thể yếu, Jesus là Con Đức Chúa Trời vì Ngài được hoài thai bởi Linh của Đức Chúa Trời. Không điều gì có thể thay đổi bản chất của thể yếu Ngài.

Việc Ngài Được Hoài Thai Là Sự Nhục Hóa Của Đức Chúa Trời

Sự Ngài được hoài thai là sự nhục hóa của Đức Chúa Trời (Gi. 1:14); vì vậy, Ngài là Đức Chúa Trời (La. 9:5). Jesus là Đức Chúa Trời khi Ngài ở trong máng cỏ như một em bé. Ê-sai 9:5 nói với chúng ta rằng một Con Trẻ được sinh ra cho chúng ta và danh của Ngài sẽ được gọi là Đức Chúa Trời quyền năng. Về mặt thể yếu, em bé trong máng cỏ là Đức Chúa Trời. Chúng ta có thể nói khi Ngài bị đặt trên thập tự giá, Ngài không còn là Đức Chúa Trời nữa không? Nếu nói trên thập tự giá Ngài không còn là Đức Chúa Trời nữa thì không hợp lý vì không gì có thể thay đổi thể yếu của Ngài. Ngài luôn luôn ở với Cha và bởi Linh.

Trên Phương Diện Gia Tể Đức Chúa Trời Rời Ngài Khi Ngài Chết

Về phương diện thể yếu, trên thập tự giá, Đấng Christ là Đức Chúa Trời. Về phương diện gia tể, Đức Chúa Trời đã rời Ngài khi Ngài chết cái chết thay thế cho những tội nhân (Mat. 27:45-46). Nhiều Cơ Đốc nhân chưa từng thấy sự khác biệt giữa phương diện thể yếu và phương diện gia tể của Đấng Tam Nhất. Jesus đã được hoài thai bởi Linh và yếu tố thần thượng của Thánh Linh đã trở nên chính thể yếu của Ngài. Từ khi sinh ra, Thánh Linh luôn luôn ở trong bản thể của Ngài, nhưng lúc Ngài ba mươi tuổi sau khi được báp-têm, Thánh Linh đã ngự xuống trên Ngài như một con chim bồ câu (Mat. 3:16). Trước khi Thánh Linh ngự xuống trên Ngài, Ngài đã có Thánh Linh là thể yếu nội tại của Ngài về mặt thể yếu (Mat. 1:18, 20). Nếu vậy thì tại sao Thánh Linh vẫn cần ngự xuống trên Ngài? Lý do là vì về phương diện thể yếu Jesus đã sẵn có Linh của sự sống để tồn tại, nhưng nói về phương diện gia tể đối với chức vụ của Ngài thì Ngài chưa có Linh của quyền năng. Ngài đã có Thánh Linh là thể yếu sự sống của Ngài rồi, nhưng Ngài lại chưa có Thánh Linh là quyền năng. Vào lúc được báp-têm, Thánh Linh đã ngự xuống trên Ngài về phương diện gia tể, và Linh gia tể ấy đã ở lại với Ngài trong ba năm rưỡi cho đến khi Ngài bị đóng đinh để chết cho chúng ta là những tội nhân. Vào thời điểm ấy, Đức Chúa Trời đã rời Ngài về phương diện gia tể (Mat. 27:45-46), y như Đức Chúa Trời đã đến với Ngài bởi Linh như là quyền năng trong phương diện gia tể ba năm rưỡi về trước.

Dầu Đức Chúa Trời có đến với Ngài hay rời Ngài trong phương diện gia tể, thể yếu nội tại hay bản chất của Ngài vẫn không thay đổi. Dầu tôi có mặc vào cái áo ngoài hay cởi nó ra, điều đó vẫn không thay đổi thể yếu của tôi. Đức Chúa Trời đã đến trên Ngài vào lúc Ngài được báp-têm theo phương diện gia tể, và Đức Chúa Trời cũng đã rời Ngài trên thập tự giá theo phương diện gia tể. Điều này không thay đổi thể yếu của Ngài. Khi đứng trong dòng nước báp-têm, Ngài là Con Loài Người và Con Đức Chúa Trời. Khi bị đóng đinh trên thập tự giá, Ngài vẫn là Con Đức Chúa Trời và Con Loài Người. Về thể yếu không thay đổi gì cả, nhưng về gia tể thì có sự thay đổi nào đó. Lúc Ngài được báp-têm, Đức Chúa Trời đã đến trên Ngài, và trên thập tự giá Đức Chúa Trời đã rời Ngài. Nhưng việc đến và đi trong phương diện gia tể ấy đã không thay đổi thể yếu của Ngài. Khi Jesus chết trên thập tự giá, Đức Chúa Trời chết tại đó. Một câu trong bài thánh ca nổi tiếng của Charles Wesley chép: “Tình yêu lạ lùng! Làm sao Ngài là Đức Chúa Trời tôi lại chết cho tôi?” (xem Thánh Ca 296, tiếng Anh). Jesus là Đức Chúa Trời, và Ngài đã chết trên thập tự giá không những như một Con Người mà còn là Đức Chúa Trời. Vì vậy, ngay cả khi đang ở trên thập tự giá, Ngài vẫn là Con cùng với Cha và bởi Linh.

Đức Chúa Trời Tam Nhất đã có ở đó vào lúc hoài thai Jesus. Đức Chúa Trời Tam Nhất đã sống trên đất, và Ngài cũng chết trên thập tự giá. Đức Chúa Trời Tam Nhất đã liên hệ đến sự hoài thai Jesus, cuộc sống của Jesus trên đất và sự chết của Ngài trên thập tự giá. Đức Chúa Trời Tam Nhất liên hệ mật thiết với Jesus.

Công Hiệu Đời Đời Của Sự Chết Ngài

Sự chết của Jesus trên thập tự giá như một con người cung ứng huyết cần thiết của con người để tha thứ chúng ta trong sự cứu chuộc. Nhưng nếu Ngài chỉ chết như là một con người thì hiệu lực của sự chết Ngài sẽ không có tính chất đời đời. Công hiệu của sự chết Jesus là đời đời, không bị giới hạn trong không gian và thời gian. Sự chết công hiệu của Ngài có thể bao trùm hàng triệu tín đồ. Nhân tính của Ngài làm cho Ngài đủ điều kiện để chết cho chúng ta, và thần tính của Ngài bảo đảm tính công hiệu đời đời của sự chết Ngài.

MỘT SỰ CỨU CHUỘC ĐỜI ĐỜI

Một sự cứu chuộc đời đời đã được hoàn thành bởi huyết của Con Đức Chúa Trời qua Linh đời đời (Hê. 9:12, 14; 1 Gi. 1:7). Huyết mà Ngài đổ trên thập tự giá không những là huyết của Con Người Jesus, mà cũng là huyết của Con Đức Chúa Trời. 1 Giăng 1:7 nói với chúng ta rằng huyết của Jesus Con Đức Chúa Trời làm sạch mỗi một tội của chúng ta. Huyết của Con Người Jesus làm cho Ngài hội đủ điều kiện để cứu chuộc chúng ta là con người. Ngài là một con người thật đã chết cho chúng ta và đổ huyết thật vì chúng ta. Nhưng công hiệu của sự cứu chuộc Ngài phải được bảo đảm bởi thần tính của Ngài, và điều đó đã được bảo đảm đời đời vì Ngài là Con Đức Chúa Trời. Vì vậy, sự cứu chuộc của Ngài là sự cứu chuộc đời đời (Hê. 9:12) vì sự cứu chuộc ấy được hoàn thành không những bởi huyết của Jesus là con người mà còn bởi huyết của Jesus là Con Đức Chúa Trời mà sứ đồ Phao-lô thậm chí đã gọi là “huyết của Đức Chúa Trời” (Công. 20:28). Điều này thật kỳ diệu!

NHỜ LINH

Sự chết của Con cũng nhờ Linh (Hê. 9:14). Ngài đã dâng chính mình cho Đức Chúa Trời để [hoàn thành] sự chết Ngài nhờ Linh đời đời. Ngài đã chết với Cha trong bản chất của Đức Chúa Trời Tam Nhất, và Ngài đã dâng chính mình cho sự chết nhờ Linh. Điều này lại cho thấy rằng thậm chí trong sự chết của Ngài với tư cách là Con Đức Chúa Trời, Ngài đã ở với Cha và bởi Linh. Thế nên, sự chết của Ngài đã hoàn thành sự cứu chuộc đời đời bởi huyết của Con Đức Chúa Trời và nhờ Linh đời đời. Sự cứu chuộc đời đời ấy không có yếu tố thời gian. Ngài được biết đến trước khi sáng thế là Chiên Con cứu chuộc (1 Phi. 1:19-20), và đã bị giết từ buổi sáng thế (Khải. 13:8). Theo mắt chúng ta, Đấng Christ chết hai ngàn năm trước, nhưng trong mắt Đức Chúa Trời, Ngài bị giết từ buổi sáng thế. Sự chết của Ngài là đời đời, không có yếu tố thời gian.

SỰ CHẾT CỦA ĐẤNG CHRIST LÀ CƠ NGHIỆP CỦA CHÚNG TA

Một sự chết bao-hàm-tất-cả như vậy đã được kết hợp vào trong Linh tổng-bao-hàm (Phil. 1:19). Ý định của chúng ta là thấy, biết và nhận thức được Linh tổng-hợp vì những yếu tố của sự hoài thai, cuộc sống làm người và sự chết của Đấng Christ đều được tổng hợp trong Linh ấy. Khi chúng ta ứng dụng Linh tổng-bao-hàm cho chính mình thì sự chết bao-hàm-tất-cả ấy là của chúng ta. Sự chết ấy không chỉ là sự chết của con người, mà còn là sự chết thần thượng. Đó là sự chết của Cha, Con, Linh và Con Người. Trong sự chết ấy, tội bị kết án, Sa-tan bị tiêu diệt, thế gian bị phán xét, và con người cùng xác thịt tội lỗi bị đóng đinh. Đó là một sự chết huyền nhiệm, tuyệt hảo, lạ lùng, kỳ diệu và đắc thắng. Chúng ta phải quí trọng sự chết ấy vì đó là một cơ nghiệp lớn lao dành cho chúng ta. Đó là một trong những di sản to tát của Tân Ước. Đức Chúa Trời Cha đã để lại cho chúng ta kho tàng của Đấng Christ (2 Cô. 4:7) cùng sự phong phú không dò lường được của Ngài (Êph. 3:8). Trong sự phong phú không dò lường được ấy là sự chết kỳ diệu của Ngài. Nguyện Chúa ban cho chúng ta một cái nhìn thích đáng và hiểu biết đúng đắn về sự chết lạ lùng, bao-hàm-tất-cả, kỳ diệu ấy, để chúng ta có thể được đem đến chỗ vui hưởng cơ nghiệp Tân Ước của mình.