Thông tin sách

Kinh Nghiệm Đấng Christ Là Sự Sống

Tác giả: Witness Lee
Dịch từ bản tiếng Anh: Kinh nghiệm Đấng Christ là sự sống
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 15

Untitled Document

CHƯƠNG MƯỜI LĂM

CHỨC VỤ HÌNH THÀNH NHỜ CHỊU KHỔ

Kinh Thánh: 2 Cô. 1:4-6, 8-9; 4:8-12, 16-17; 6:3-5, 8-10; 11:23-28; 12:7-10

Trong chương này chúng ta bàn đến lẽ thật xuyên suốt sau cùng của thư Cô-rin-tô thứ nhì, ấy là lẽ thật xuyên suốt về chức vụ được nảy sinh qua sự chịu khổ. Trong sách đầu tiên có các ân tứ, nhưng trong sách thứ nhì có chức vụ.

CÁCH CHỨC VỤ ĐƯỢC HÌNH THÀNH

Cả thư Cô-rin-tô thứ nhất và thứ nhì đã được viết cho cùng một Hội thánh, tuy vậy hai thư tín ấy rất khác nhau. Thư Cô-rin-tô thứ nhất mở đầu chương một bằng cách nói rằng Đấng Christ là của họ và của chúng ta (c. 2), và Đức Chúa Trời đã kêu gọi chúng ta vào sự tương giao của Đấng Christ này (c. 9). Ngài là quyền năng của Đức Chúa Trời và là sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời (c. 24). Đấng Christ là sự công chính của chúng ta cho quá khứ, sự thánh hóa của chúng ta cho hiện tại, và sự cứu chuộc của chúng ta cho tương lai (c. 30). Những điểm này về Đấng Christ phần nhiều được trình bày theo giáo lý. Nhưng thư Cô-rin-tô thứ nhì được mở đầu theo một cách khác. Trong chương đầu tiên, Phao-lô nói thế nào ông đã chịu khổ trong hoạn nạn và đã được Đức Chúa Trời yên ủi (cc. 3-6). Điều này làm cho ông đủ tư cách để yên ủi những người khác. Vì ông đã kinh nghiệm sự yên ủi của Đấng Christ qua nhiều sự khổ sở nên ông có sự yên ủi này mà nhờ đó ông có thể yên ủi những người khác.

Trong câu 8 và 9 Phao-lô nói: “Anh em ơi, chúng tôi không muốn anh em chẳng biết gì về sự khổ sở đã xảy đến cho chúng tôi tại A-si, thế nào chúng tôi đã bị đè nén quá nặng nề, quá sức mình, đến nỗi tuyệt vọng hết mong sống sót. Thật chúng tôi có câu trả lời về sự chết trong chính mình để chúng tôi không tin cậy nơi chính mình nhưng tin cậy Đức Chúa Trời, là Đấng làm kẻ chết sống lại”. Phao-lô và các đồng công của ông đã bị đè nén vượt quá sức của họ. Họ có câu trả lời, lời tuyên án tử hình trong chính họ. Theo sự suy xét của họ thì họ phải chết. Điều này dẫn đến chỗ họ không tin cậy nơi chính mình mà tin cậy Đức Chúa Trời là Đấng làm kẻ chết sống lại. Thư Cô-rin-tô thứ nhì cho chúng ta thấy thế nào chức vụ được hình thành. Chức vụ không được hình thành bởi dạy dỗ hay học vấn. Chức vụ được hình thành qua mọi thứ đau khổ.

Trong chương bốn, Phao-lô nói rằng ông và các đồng công của ông bị khó khăn trong mọi cách (cc. 8-9). Họ bị bối rối và thất vọng. Phao-lô nói rằng họ luôn luôn bị đặt vào sự chết và họ mang sự chết của Jesus trong thân thể họ (cc. 10-11). Qua những nỗi khổ như vậy, chức vụ được hình thành. Một ân tứ được hình thành nhanh chóng, nhưng cần có thời gian để một chức vụ hình thành. Đạt được một ân tứ là điều dễ dàng. Con lừa của Ba-la-am đột nhiên nói tiếng loài người. Đó là một ân tứ thật sự đã nhận được dễ dàng. Nhưng nếu chúng ta muốn có một chức vụ thì sẽ không dễ như vậy. Một chức vụ được hình thành trong một người là nhờ người ấy kinh nghiệm được những sự phong phú của Đấng Christ qua nhiều đau khổ.

Một cây táo không thể qua đêm mà được hình thành. Cây táo sinh ra trái nhờ sự sống tăng trưởng, và cây táo kinh nghiệm được sự sống tăng trưởng bởi trải qua nhiều điều đau đớn. Tôi muốn khuyến khích tất cả hãy đọc-cầu nguyện bài thánh ca 635. Bài thánh ca này cho chúng ta biết thế nào cây nho sinh ra những trái nho nhờ nhiều điều đau đớn. Việc cây nho sinh trái là chức vụ của nó. Đó không phải là ân tứ mà là một chức vụ. Một ân tứ là khả năng hay tài năng nào đó mà anh em có thể nhận được nhanh chóng, nhưng một chức vụ là vấn đề của cả một cuộc đời.

Tôi không muốn gây thất vọng hay làm nản lòng các thanh niên, nhưng tôi phải nói rằng với những thanh niên khó mà có một chức vụ. Chúng ta không thể trông mong hoa quả từ một mầm non được. Để kết quả một người cần được trưởng thành, và sự trưởng thành được hình thành nhờ những đau khổ. Chúng ta cần những người trẻ trong nếp sống Hội thánh, nhưng chúng ta cần những người trưởng thành hơn nữa. Chúng ta cần những người có chức vụ được hình thành qua mọi thứ khổ sở. Đây không phải là một ân tứ dạy dỗ, cũng không phải là một ân tứ rao giảng, mà là một chức vụ sản-sinh-sự-sống.

Cô-rin-tô thứ nhì chương 4 nói đến thế nào người bề ngoài phải luôn luôn được tiêu trừ, phá vỡ và bị làm suy giảm (c. 16). Người bề ngoài không thể bị làm suy giảm hoàn toàn trong một thời gian ngắn được. Không bao lâu sau khi được Chúa cứu vào năm 1925, tôi tưởng rằng nếu cầu nguyện nhiều trong một hai năm tôi sẽ trở nên rất thuộc linh. Bây giờ, sau nhiều năm tháng, tôi cảm thấy mình vẫn còn quá nhiều điều cũ kỹ thuộc về người bề ngoài. Tất cả chúng ta đều cần bước vào quyền làm con một cách trọn vẹn. Ngày nay, chúng ta nếm trước để vui hưởng, và chúng ta đang trông đợi quyền làm con trọn vẹn, tức là sự cứu chuộc thân thể chúng ta (La. 8:23). Để con người cũ của chúng ta bị tàn lụi, suy giảm và tiêu trừ là một tiến trình chậm chạp.

Các thanh niên thường mơ ước được trở nên một nhân vật nào đó trong lãnh vực thuộc linh. Một thanh niên đã mong ước trở thành một nhà truyền giảng vĩ đại, nhưng thay vào đó anh đã trở nên một người tín đồ sa sút trầm trọng. Tôi yêu mến các thanh niên, nhưng chúng ta cần nhận thấy rằng họ không đáng tin cậy vì họ đang sống trong mơ mộng. Họ cần kinh nghiệm Đấng Christ qua những đau khổ.

Trong thư Cô-rin-tô thứ nhì, sứ đồ Phao-lô không nói với chúng ta ông có thể làm việc nhiều đến mức nào hay ông có loại ân tứ nào. Khi tự giới thiệu chính mình là người phụng sự Đấng Christ, ông không nói rằng mình có ân tứ lớn nhất hay là một diễn giả, một nhà truyền giảng, hoặc một nhà giải kinh vĩ đại. Thay vào đó, trong chương mười một ông đã tự giới thiệu mình là người phụng sự Đấng Christ bằng cách kể về những đau khổ ông đã chịu trong khi đi theo Chúa (cc. 16-33). Thậm chí ông nói rằng năm lần ông đã bị người Do Thái đánh, mỗi lần thiếu một roi là đầy bốn chục (c. 24). Tôi không tin rằng chúng ta có thể viết một lá thư như vậy cho các thánh đồ. Chúng ta chỉ muốn nói về những phương diện kỳ diệu của Đấng Christ, chứ không muốn nói về việc chúng ta chịu đánh đập. Phao-lô đề cập ngay cả đến những sự khổ sở và hiểm họa mà ông đã kinh nghiệm trong những cuộc hành trình của mình. Ông nói về việc mình bị nguy hiểm giữa vòng các anh em giả mạo (c. 26).

Chúng ta có thể tự hỏi tại sao Chúa lại để cho một đầy tớ quan trọng như vậy của Ngài phải chịu khổ quá nhiều. Đó là vì chức vụ được hình thành qua việc chịu nhiều đau khổ. Tôi hy vọng Chúa sớm trở lại, nhưng có lẽ Ngài trì hoãn việc trở lại chỉ vì chúng ta. Chúng ta có thể nói rằng mình yêu mến Chúa và Chúa sẽ ban phước cho mình. Chắc chắn là Ngài sẽ ban phước cho chúng ta, nhưng chúng ta có ý gì khi nói như vậy? Từ điển của chúng ta khác với từ điển của Chúa. Chúa ước ao ban phước cho chúng ta, nhưng việc Ngài ban phước cho chúng ta phải phù hợp với ý nghĩa trong tự điển thiên thượng của Ngài. Thiếu những đau khổ, chúng ta không thể kinh nghiệm Chúa là phước hạnh của mình một cách phong phú được. Điệp khúc của bài thánh ca 626 nói: “Mỗi tai họa tôi chịu đựng / Là lợi ích thật sự đối với tôi. / Tại chỗ mà Ngài đã lấy đi / Nơi ấy Ngài ban chính Ngài thế vào”. Mỗi tai họa đều lấy đi điều gì đó thuộc về chính chúng ta và đem vào điều gì đó thuộc về Chúa. Chúng ta nên ưa thích loại trao đổi này. Ngài lấy đi một phần của con người cũ và trả lại cho chúng ta điều thuộc về chính Ngài.

Nhiều anh chị em thanh niên yêu mến Chúa, nhưng hãy tin chắc rằng đường lối anh em đang đi là con đường chịu khổ. Vì anh em rất yêu Chúa, anh em sẽ luôn luôn ở trên con đường chịu khổ. Ngợi khen Chúa vì sự vui hưởng Đấng Christ, sự vui hưởng này đến nhờ những đau khổ. Không đau khổ thì khó vui hưởng Đấng Christ một cách phong phú được. Anh em chỉ có thể vui hưởng cách nông cạn. Sự vui hưởng sâu xa về Đấng Christ có được là nhờ chịu đau khổ. Tôi không thể kể cho anh em những loại đau khổ mà anh em sẽ gặp, nhưng Chúa biết điều đó. Từng bước một và hết năm này sang năm khác, Ngài biết anh em đang cần gì. Ngài biết cần có loại khổ sở nào để hình thành một chức vụ trong anh em.

Trong 2 Cô-rin-tô 6:8, Phao-lô nói rằng ông tự giới thiệu mình là người phụng sự của Đức Chúa Trời không phải chỉ nhờ những tiếng tốt mà còn nhờ những tiếng xấu. Tiếng tốt đến từ các tín đồ và những người tiếp nhận lẽ thật được rao giảng và dạy dỗ bởi các sứ đồ. Tiếng xấu đến từ những kẻ chống đối và bắt bớ. Sứ đồ Phao-lô có những tiếng xấu, và nếu chúng ta theo Chúa cách tuyệt đối, chúng ta cũng sẽ kinh nghiệm như vậy. Các tiếng xấu là một nỗi khổ sở thực sự. Phao-lô đã nói ông được giới thiệu “bởi vinh quang hay nhục nhã, bởi tiếng tốt hay tiếng xấu; như kẻ lừa dối mà lại thành thật” (c. 8). Vinh quang là từ Đức Chúa Trời và những người yêu mến Ngài; nhục nhã là từ ma quỉ và những người theo hắn. Phao-lô là một kẻ lừa dối dưới nhãn quan của những người Do Thái giáo và những người thuộc các tôn giáo và triết lý khác, nhưng ông là chân thật dưới cái nhìn của những người yêu mến lẽ thật của Đức Chúa Trời.

Trong câu 9 Phao-lô nói: “Như kẻ xa lạ mà lại là quen biết; như gần chết mà vẫn đang sống; như bị trừng phạt mà không bị giết chết”. Các sứ đồ xa lạ trong ý nghĩa là họ không phô trương chính mình, nhưng được quen biết trong ý nghĩa là họ làm chứng lẽ thật về Đức Chúa Trời. Ngày nay chúng ta cũng như vậy. Về một mặt, các sứ đồ gần chết vì chịu đựng những sự bắt bớ, nhưng về mặt khác, họ đang sống trong sự phục sinh của Chúa. Hơn nữa, họ đã bị trừng phạt theo nhận thức nông cạn của những kẻ chống đối. Chắc chắn những kẻ chống đối nói rằng Phao-lô đã làm điều gì đó sai lầm đối với Đức Chúa Trời, vì thế Ngài sửa phạt ông. Nhưng thật ra Phao-lô đang sống trong sự chăm sóc tể trị của Chúa.

Trong thời Đệ Nhị Thế Chiến, tôi bị quân đội Nhật Bản xâm lược giam cầm tại Trung Hoa, và trong thời gian ấy tôi đã kinh nghiệm Chúa cách đặc biệt và phong phú. Vì anh em ở trong bàn tay của Chúa, anh em phải sẵn lòng chịu những cảnh khổ sở. Những đau khổ này hình thành chức vụ. Vào giai đoạn đầu trong chức vụ, mỗi khi nghe đến tiếng xấu và những lời buộc tội giả dối, tôi thật là buồn bã. Nhưng ngày nay, khi nghe những điều đó, tôi lại vui mừng. Hiện nay tôi có thể cảm tạ Chúa về việc tôi bị bỏ tù và về tất cả những sự chống đối và những tiếng xấu.

Trong câu 10 Phao-lô nói: “Như buồn rầu mà luôn luôn vui mừng; như nghèo ngặt mà lại làm nhiều người được giàu có; như không có gì cả mà lại có đủ mọi sự”. Điều này mô tả con đường của các đầy tớ Chúa, con đường của những người yêu mến đường lối Chúa. Ấy là qua con đường chịu khổ này mà một chức vụ sẽ được hình thành để anh em có thể thực sự cung ứng Đấng Christ làm sự sống cho những người khác. Cô-rin-tô thứ nhì chương 11 cho chúng ta thấy rằng một người phụng sự Đấng Christ luôn luôn trải qua các khổ sở. Chúng ta không nên hi vọng rằng mình sẽ không gặp khổ sở nào cả. Đây là điều sai lầm. Đừng bao giờ ngạc nhiên khi khổ sở đến với anh em. Anh em phải sẵn sàng. Khổ sở đem phước hạnh đến và hình thành một chức vụ cho anh em.

Phao-lô nói đến những sự đau khổ trong các môi trường, hoàn cảnh và cuộc sống chung quanh ông. Sau đó, đến chương mười hai, ông nói về một cái giằm trong thân thể mình chỉ về sự đau khổ thuộc thể, riêng tư trong thân thể ông. Trong thư Cô-rin-tô thứ nhì chúng ta không thấy những sự chữa lành. Thay vào đó, chúng ta thấy một cái giằm. Phao-lô đã cầu khẩn Chúa ba lần để giằm này được lấy đi. Đây không phải là sự cầu nguyện bình thường. Chúa đã trả lời bằng cách nói rằng Ngài không muốn cất đi cái giằm này. Ngài muốn để cái giằm này lại trong Phao-lô để ông có thể kinh nghiệm ân điển của Chúa là đầy đủ thế nào và quyền năng của Ngài trong sự yếu đuối là trọn vẹn ra sao (cc. 7-9).

Sứ đồ Phao-lô đã được Chúa dùng để chữa lành nhiều người khác, nhưng ông không thể chữa lành nan đề trong thân thể của mình. Chúa đã từ chối lời cầu xin của ông và nói với ông rằng Ngài muốn để cái giằm ấy lại để ông có thể kinh nghiệm ân điển đầy đủ của Chúa và nhận biết quyền năng trọn vẹn của Ngài. Ấy là nhờ những đau khổ này mà Phao-lô có một chức vụ kỳ diệu như vậy. Phao-lô đã không kể mình như một nhà truyền giảng hay một nhà giải kinh mà là người phụng sự Chúa, ban phát Đấng Christ là sự sống cho những người khác. Chức vụ được hình thành qua những đau khổ và ngay cả được duy trì nhờ những đau khổ.

CHỨC VỤ SỰ SỐNG ĐỂ XÂY DỰNG HỘI THÁNH

Trong suốt quá trình lịch sử, Hội thánh luôn luôn bị chia rẽ bởi các ân tứ. Nhưng Hội thánh chưa bao giờ bị chia rẽ bởi chức vụ. Nếu quá chú tâm vào các ân tứ, trong vòng một thời gian ngắn chúng ta sẽ bị chia rẽ. Nhưng nếu quên đi các ân tứ và hoàn toàn chú ý vào chức vụ sự sống, chúng ta sẽ luôn luôn được gìn giữ trong sự hiệp nhất. Đây là lý do tại sao chúng tôi nhấn mạnh nhiều lần rằng các ân tứ không thể xây dựng Hội thánh địa phương, nhưng chức vụ thì có thể gây dựng.

Nếu anh em là một công nhân của Đấng Christ và luôn luôn cố tranh cãi với những người khác, điều này chứng tỏ anh em chỉ có ân tứ. Những người có chức vụ sự sống sẽ không bao giờ tranh cãi. Sự tranh cãi đi kèm với các ân tứ và sự dạy dỗ giáo lý. Nếu chúng ta chú ý đến các ân tứ và những giáo điều, chúng ta sẽ tranh cãi. Nhưng nếu chú tâm vào chức vụ sự sống, chúng ta sẽ không có gì để tranh cãi cả. Các ân tứ và những giáo điều, cùng với những sự tranh luận và bàn cãi về giáo lý phá hủy Hội thánh địa phương. Hội thánh địa phương chỉ có thể được xây dựng bởi chức vụ sự sống. Vài người có thể không thích những buổi nhóm ồn ào, trong khi những người khác lại thích. Chúng ta không nên tranh luận về điều này. Điều chúng ta cần là sự sống của Đấng Christ, chứ không phải là loại buổi nhóm nào đó. Chức vụ sự sống không đến từ việc nghiên cứu giáo lý và giảng dạy Kinh Thánh. Chức vụ được hình thành từ những đau khổ. Nếu anh em thật sự ở trong bàn tay của Chúa, Ngài sẽ hình thành một chức vụ cho anh em qua nhiều loại đau khổ khác nhau.

Thật kỳ lạ và tuyệt diệu vì thư Cô-rin-tô thứ nhì không đề cập gì đến các ân tứ cả. Thay vào đó, có một bản liệt kê các nỗi khổ của Phao-lô trong chương một, chương bốn, chương sáu và chương mười một. Sau đó trong chương mười hai ông kể cho chúng ta về một nỗi khổ riêng tư, ấy là một cái giằm trong thân thể mình. Ông đặc biệt cầu xin Chúa cất khỏi điều này, nhưng Ngài đã từ chối. Không có phép lạ, không có sự chữa lành thần thượng nào cả. Thay vào đó có sự chịu khổ. Nhờ chịu khổ, Phao-lô đã kinh nghiệm Chúa là ân điển đầy đủ, tức là quyền năng trọn vẹn trong sự yếu đuối của mình. Sau cùng Phao-lô đã học tập được để nói rằng: “Tôi thà khoe khoang về sự yếu đuối của tôi” (12:9). Ông còn nói: “Vì Đấng Christ, tôi vui lòng chịu sự yếu đuối, nhục nhã, nghèo túng, bắt bớ và khốn khổ; vì khi tôi yếu đuối, ấy là lúc tôi mạnh mẽ” (c. 10). Đây là phương cách tăng trưởng trong sự sống để một chức vụ có thể được hình thành cho sự xây dựng Thân thể của Đấng Christ.

Điều cần thiết để xây dựng Hội thánh địa phương là chức vụ sự sống, chứ không phải là các ân tứ. Để minh họa điểm này, tôi muốn kể một câu chuyện về Anh Nghê Thác Thanh và một chị em lớn tuổi tên Barber, là người đã giúp đỡ anh Nghê rất nhiều. Khi còn thanh niên, anh Nghê luôn luôn khâm phục những diễn giả tài ba. Khi anh và chị Barber đi nghe vài diễn giả, anh đã nói với chị là những người ấy tuyệt vời biết bao. Nhưng chị Barber nói rằng: “Đó chỉ là giáo lý với sự hùng biện của con người. Nơi ấy không có sự sống gì cả”. Nói cách khác, những người ấy không có chức vụ.

Anh Nghê đã kể với tôi điều này vào thời điểm tôi bắt đầu phục vụ Chúa vì anh cố gắng giúp tôi nhận biết sự khác biệt giữa chức vụ và ân tứ, ấy là sự khác biệt giữa việc bày tỏ điều gì thuộc sự sống với sự hùng biện của con người. Có thể một người bẩm sinh có tài hùng biện, nhưng lời nói của người ấy có thể chỉ là đồng la kêu lên. Nghe thì hay, nhưng nội dung không có Đấng Christ là sự sống. Một người khác có thể nói năng vụng về, nhưng anh em nhận thấy những gì anh nói “có trọng lượng” vì anh ấy có chức vụ sự sống. Điều này chỉ có thể đến từ những đau khổ. Sự xây dựng Hội thánh cần chức vụ sự sống như vậy. Tất cả chúng ta cần tiếp tục tăng trưởng trong sự sống để có thể có nhiều chức vụ hơn giữa vòng chúng ta hầu xây dựng Hội thánh.