Thông tin sách

Sự Tiến Triển Của Đường Lối Mới

Tác giả: Witness Lee
Dịch từ bản tiếng Anh: The Furtherance of the New Way
ISBN:
Mua sách tại:

Đang đọc: Bài 1

Untitled Document

CHƯƠNG MỘT

SỰ PHỐI HỢP ĐẶC BIỆT GIỮA CÁC HỘI THÁNH ĐỂ THỰC HÀNH PHƯƠNG CÁCH MỚI

Kinh Thánh: Lu. 19:9; Công. 10:22-24; 16:13-15, 29-34; 18:8; La. 16:3-5; 1 Cô. 1:16; 16:19; Côl. 4:15; Plm. 2; Hê. 11:7; 2 Phi. 2:5

Khi bàn về sự đẩy mạnh phương cách mới để giúp cho sự khôi phục của Chúa, chúng tôi có ý nói rằng mục tiêu duy nhất khi chúng tôi thực hành phương cách mới là để đẩy mạnh sự khôi phục của Chúa.

CHUYỂN ĐỘNG CỦA SỰ KHÔI PHỤC CỦA CHÚA

Điều được gọi là sự khôi phục của Chúa bắt đầu vào giai đoạn sau cùng của Cuộc Cải Chánh xảy ra vào thế kỷ thứ mười sáu qua Martin Luther. Thật ra trước thời gian ấy, thậm chí vào những năm từ 200 đến 300 S.C., đã có sự khôi phục của Chúa rồi. Trong thời gian đó, có những nhóm nhỏ, hết nhóm này đến nhóm kia, thấy rằng Hội thánh đương thời đã bị biến dạng. Vì vậy, tận đáy lòng và trong linh họ có một gánh nặng trọng đại và một niềm hy vọng mãnh liệt là muốn đưa Hội thánh trở về tình trạng ban đầu. Đây là bước đầu của sự khôi phục. Trải qua các thời đại, dòng chảy khôi phục không bao giờ ngừng. Vào đầu thế kỷ này, dòng chảy xoay chiều từ Tây Phương đến Trung Quốc. Vào năm 1922, Hội thánh đầu tiên trong sự khôi phục của Chúa được bắt dầu tại Foochow, quê nhà của anh Watchman Nee. Từ đó đến nay đã sáu mươi bốn năm, và suốt khoảng thời gian ấy, bằng nhiều cách Chúa đã chuyển động trong sự khôi phục của Ngài và đồng thời tuôn đổ nhiều lẽ thật và ánh sáng.

Cũng như các công tác khác của Chúa, sự khôi phục của Chúa được thực hiện qua lời của Ngài và theo lời của Ngài, tức là lẽ thật. Theo lịch sử Hội thánh, thành tựu quan trọng nhất của các thánh đồ, tức những người đã bắt đầu chú trọng đến sự khôi phục của Chúa, trong thế kỷ thứ hai và ba chính là sự khôi phục lẽ thật, tức lời Chúa. Khi Chúa dấy sự khôi phục lên giữa vòng chúng tôi tại Trung Quốc, chúng tôi cũng không làm gì ngoài điều ấy. Chúng tôi chỉ tìm biết lẽ thật và hiểu rõ sự phán dạy của Chúa. Kinh Thánh chỉ cho chúng ta thấy rõ ràng rằng công tác của Đức Chúa Trời được hoàn thành qua sự phán dạy của Ngài. Ngay sau khi Ngài phán thì sẽ có sự chuyển động của Ngài. Nếu không phán, Ngài sẽ không chuyển động. Không những công việc của cõi sáng tạo mới được thi hành theo cách này mà thậm chí công việc của cõi sáng tạo cũ, tức sự sáng tạo trời, đất, và muôn loài muôn vật, đều được hoàn thành bởi lời phán của Đức Chúa Trời. Tân Ước nói với chúng ta rằng toàn bộ cõi sáng tạo hiện hữu, hay được sản sinh, bởi lời của Đức Chúa Trời (Hê. 1:2-3; Gi. 1:3; 2 Phi. 3:5). Lời Đức Chúa Trời là lẽ thật. Đây là vấn đề vô cùng quan trọng.

Người chính yếu hướng dẫn sự khôi phục của Chúa tại Trung Quốc là anh Watchman Nee, là người đặc biệt có khả năng nhìn thấy ánh sáng lẽ thật và khôi phục lại đường lối. Từ thời điểm ấy trở đi, Chúa không bao giờ ngừng khôi phục ánh sáng lẽ thật giữa vòng chúng tôi. Sau đó, tôi được sai phái ra khỏi Trung Quốc lục địa, và có thể nói sự khôi phục lẽ thật của Chúa thậm chí còn mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Trong vòng hai mươi năm vừa qua, đặc biệt là sau khi sự khôi phục của Chúa lan rộng sang Tây Phương, ánh sáng và lẽ thật của Chúa đã tuôn đổ như thác nước. Sách vở chúng ta ấn hành thì vô cùng phong phú về nội dung và số lượng sách xuất bản nhiều hơn bao giờ hết. Nhờ đó, phần lớn chuyển động của Chúa đã được thực thi.

Sự chuyển động của Chúa không chỉ tùy thuộc vào lẽ thật nhưng thậm chí còn tùy thuộc nhiều hơn vào sức sống của lẽ thật, tức là sự sống. Trong sự chuyển động của Chúa, nếu chỉ có lẽ thật còn chính con người lại chết chóc, không sống động, thì mọi sự vẫn trống rỗng. Vì vậy, hễ khi Chúa mặc khải và tuôn đổ lẽ thật thì hành động sẽ theo sau, và sức sống bên trong hành động ấy chính là sự sống. Tất cả chúng ta có thể thấy được sự kiện này: Một mặt, chúng ta phải thừa nhận rằng mình yếu ớt, nhỏ bé, thiếu hiểu biết, bày tỏ chứng cớ yếu ớt; nhưng mặt khác, chúng ta phải thấy rằng nếu so sánh sự khôi phục của Chúa về ánh sáng lẽ thật và tình trạng sự sống giữa vòng chúng ta với những gì được tìm thấy giữa vòng đại đa số Cơ Đốc nhân ngày nay, chúng ta chỉ có thể cúi đầu thờ phượng và cảm tạ Chúa vì nhờ sự thương xót lớn lao của Ngài mà chúng ta thật sự được thăng tiến trong vấn đề lẽ thật và sự sống.

Suốt hai mươi năm qua, công tác của tôi chính yếu được thực hiện tại Tây Phương, và phần lớn các văn phẩm của tôi được viết ra bằng Anh ngữ. Khải thị cập nhật nhất mới vừa được ấn hành trong quyển Gia Tể Tân Ước Của Đức Chúa Trời. Quyển sách này bao gồm bốn mươi bốn chương, mà mười chín chương sau cùng bàn về Giê-ru-sa-lem Mới. Chúng ta có thể nói rằng Giê-ru-sa-lem Mới là lẽ thật tối hậu vĩ đại nhất trong Kinh Thánh. Hơn nữa, trước đây không lâu, chúng tôi đã phát hành bảy quyển sách mới, ba quyển chính yếu nói về phương cách đẩy mạnh sự khôi phục của Chúa, trong khi bốn quyển kia là bộ sưu tập các bài giảng mà tôi đã chia sẻ trong vòng hai mươi năm tại Mỹ Quốc. Dầu đã gần một phần tư thế kỷ, các bài giảng này vẫn còn tươi mới, sống động, và đầy sự cung ứng. Đây là ân điển ngọt ngào và kỳ diệu mà Chúa đã ban cho chúng ta.

SỰ THIẾU SÓT TRONG SỰ KHÔI PHỤC CỦA CHÚA NGÀY NAY

Tóm lại, chúng ta có thể nói rằng lẽ thật chưa bao giờ phong phú như thế giữa vòng chúng ta. Nói một cách tương đối, về vấn đề sự sống, chúng ta đang ở một đỉnh cao. Tuy nhiên, chúng ta vẫn còn thiếu sót rất nhiều vì sau sáu mươi bốn năm, số người trong sự khôi phục của Chúa không đông lắm. Nhờ sự thương xót của Chúa, từ lúc sự khôi phục của Chúa bắt đầu tại Trung Quốc cho đến năm 1949 khi chúng tôi rời lục địa, có nhiều sự nhóm họp trong sự khôi phục của Chúa tại tất cả ba mươi lăm tỉnh, nhưng số người không đông lắm. Sau khi đến Đài Loan, chúng tôi lao tác tích cực trong mười hai năm. Từ năm 1960 đến 1962, khi Chúa đưa chúng tôi đến thế giới Tây Phương thì công tác khôi phục của Chúa cũng bước vào thế giới Anh ngữ. Nhờ lợi thế địa dư của Hoa Kỳ và việc sử dụng Anh ngữ rộng khắp, trong hơn hai mươi năm, sự khôi phục của Chúa đã từ Hoa Kỳ lan rộng đến bốn lục địa. Lúc đầu, sự khôi phục bị giới hạn tại Á Châu. Rồi sau đó sự khôi phục đến Bắc Mỹ và từ đó lan rộng đến Nam Mỹ, Âu Châu, Phi Châu và Úc Châu.

Cách đây vài năm, chúng tôi tính đã có trên sáu trăm Hội thánh khắp sáu lục địa. Con số này không nhỏ, nhưng cũng không lớn. Số người trong buổi nhóm vẫn còn quá ít; trung bình mỗi địa phương chỉ có hai trăm người trong các buổi nhóm. Như vậy, toàn bộ nhân số trong tất cả Hội thánh có khoảng 120.000 người. Phần lớn ở tại Đài Loan, vì chỉ riêng Đài Loan đã có hơn 40.000 người, tức là một phần ba của toàn bộ nhân số. Trong các địa phương khác, phần lớn các buổi nhóm có khoảng 50 đến 60 người, có địa phương 20 hay 30 người, và cũng có địa phương 100 người. Không bao nhiêu địa phương có được 200 người hay đông hơn số ấy. Đó là sự thiếu sót lớn trong sự khôi phục của Chúa ngày nay, và đây là điều chúng ta cần phải đặc biệt chú tâm trong chuyển động khôi phục của Chúa bằng phương cách mới.

Trong sáu mươi năm vừa qua, lẽ thật trong sự khôi phục của Chúa không thiếu, và mặc dầu sự sống của chúng ta không phong phú lắm nhưng cũng vẫn đầy đủ. Chỉ có một điều thật sự đã trở thành nan đề, ấy là vấn đề gia tăng và lan rộng. Theo lẽ thật Chúa đã bày tỏ cho chúng ta và theo sự sống Chúa đã ban cho chúng ta, sự gia tăng và lan rộng của chúng ta còn quá nghèo nàn. Điều này đặc biệt đúng trong mười năm từ 1974 đến 1984 khi mức gia tăng trung bình của chúng ta trên thế giới không tới hai phần trăm. Chính vì lý do đó mà tôi đã bị thúc ép và nặng lòng đến mức không thể chịu nổi.

Vì thế, trong năm 1984, tưởng như là do quyết định riêng của tôi nhưng thật ra là dưới sự hướng dẫn của Chúa, tôi đã trở về Đài Loan. Tôi cảm thấy tình trạng không thể tiếp tục như thế được nữa. Tôi thấy rõ rằng lẽ thật giữa vòng chúng ta không thể nào có thể thay đổi và sự sống của chúng ta không thể nào bị rúng động, nhưng đường lối chúng ta công tác cần phải thay đổi để đáp ứng nhu cầu. Thật vậy, quả địa cầu không ai có thể thay đổi vì đã được Chúa dựng nên. Tuy nhiên, tiêu chuẩn sống trên trái đất đã được cải thiện trải qua các thời đại. Một trăm năm trước đây phải mất ít nhất sáu tháng đi tàu thủy từ bờ phía Tây của Hoa Kỳ đến bờ phía Đông của Trung Quốc. Thế nhưng ngày nay phương tiện giao thông đã cải thiện đến nỗi một chuyến bay vừa đi vừa về chỉ mất một ngày. Điều này không có nghĩa là trái đất thay đổi hay bị thu nhỏ lại nhưng có nghĩa là các phương tiện giao thông đã được cải thiện rất nhiều khiến cho việc đi lại dễ dàng hơn.

Hơn thế nữa, sự phát triển về truyền hình, điện thoại và các kỹ thuật truyền thông được gia tăng để lan truyền tin tức. Để sửa soạn cho việc huấn luyện toàn thời gian, hầu như mỗi ngày chúng tôi phải gọi điện thoại viễn liên nhiều lần. Điều này không phải như khi tôi mới đến Hoa Kỳ; thời ấy tôi phải suy nghĩ kỹ càng về những gì tôi muốn nói trước khi gọi điện thoại vì tôi không muốn phí giây phút nào. Bây giờ chúng tôi có khoảng bảy trăm khóa sinh chịu huấn luyện trọn thời gian tại trung tâm huấn luyện. Họ ngủ, ăn và nhóm tại trung tâm mà không có nan đề gì cả. Đó không phải là chuyện nhỏ. Chỉ riêng việc nấu ăn ba bữa mỗi ngày và sắp đặt chỗ ngủ nghỉ cũng đã đòi hỏi phải sửa soạn rất khó nhọc, phần lớn mọi điều ấy được hoàn tất qua việc tương giao bằng điện thoại. Điều đó cho thấy quả địa cầu không thay đổi nhưng các hoạt động, các phương tiện giao thông, các kỹ thuật truyền thông đã liên tục được cải tiến. Bài giảng chúng tôi chia sẻ ở Đài Bắc đây cùng một lúc có thể nghe ở nhiều nơi tại Hoa Kỳ bằng điện thoại.

Đó là lý do chúng ta cần phải thay đổi hệ thống. Mười năm vừa qua tôi đã liên tục cách không mệt nhọc khuyên bảo các đồng công trẻ tuổi tại Đài Loan rằng họ phải thực hiện một sự thay đổi. Hầu như mỗi lần họ đến Hoa Kỳ, tôi đều đề cập việc này với họ. Tôi đã bảo họ rằng Đài Loan đã cải tiến và vẫn còn đang cải tiến về mặt thương mãi, kỹ nghệ, giáo dục, và về tất cả các phương diện khác nhưng trong nếp sống Hội thánh chúng ta đã không cải tiến hay sửa đổi. Hãy lấy Phòng Sách Phúc Âm làm thí dụ. Tại các nhà sách khác, phương cách đóng thùng, gói sách đã được cải tiến và sửa đổi cho tốt hơn, nhưng ở Phòng Sách chúng ta thì chúng ta vẫn còn làm theo phương pháp mình đã làm cách đây ba mươi năm mà không một chút thay đổi. Tôi thật không bao giờ tưởng tượng rằng cuối cùng tôi phải trở lại Đài Loan để hướng dẫn mọi Hội thánh tiến hành một sự thay đổi.

Tôi rất bận rộn với công tác tại Hoa Kỳ và tôi mang một gánh nặng rất lớn không thể rời bỏ nước ấy, nhưng đến năm 1984, khi viết xong lời phụ chú cho sách cuối cùng của bộ Nghiên Cứu Sự Sống trong Tân Ước, tôi tự nhủ phải trở về Đài Loan. Tất cả các thánh đồ tại Hoa Kỳ đều có thể làm chứng rằng việc tôi trở về Đài Loan lần này không phải là chuyện dễ. Tôi bỏ qua một bên mọi công việc của tôi tại Anaheim và tận hiến lòng tôi cho Đài Loan. Gánh nặng của tôi là thay đổi hệ thống sự khôi phục của Chúa tại Đài Loan. Chúng ta không thể nào thay đổi chính sự khôi phục của Chúa, cũng không thể thay đổi lẽ thật và sự sống, nhưng chắc chắn chúng ta phải thay đổi mức độ gia tăng trong các Hội thánh. Tôi hy vọng rằng trong vấn đề thay đổi hệ thống, Đài Loan có thể trở nên một “trung tâm tương giao” cho cả địa cầu.

Tôi rao giảng Lời Chúa cho Ngài đã hơn năm mươi năm, nhưng chưa bao giờ dùng chữ thúc đẩy vì tôi tin rằng chữ ấy chỉ về nỗ lực con người. Tuy nhiên, bây giờ, tôi đã thay đổi, và có ý định dùng chữ này rất nhiều. Tất cả những người hầu việc Chúa trọn thời gian sẽ là những người giúp đỡ tôi thúc đẩy các anh em trưởng lão và Hội thánh tại Đài Bắc. Hội thánh tại Đài Bắc cũng giống như một chiếc xe cũ kỹ không thể nào kéo hay đẩy tới được; thế nên tôi cần hơn bảy trăm người người hầu việc Chúa trọn thời gian cùng đẩy với tôi. Khi nói ra điều này tôi có thể làm buồn lòng các anh em trưởng lão tại Đài Bắc, nhưng ý định của tôi là tốt và đúng đắn. Chúng ta đã và sẽ không sửa đổi lẽ thật hay sự sống. Trái lại, chúng ta vẫn rất quí trọng lẽ thật hay sự sống như trong quá khứ. Chúng ta chỉ sửa đổi đường lối làm việc bằng cách sửa đổi các lỗi lầm và cải tổ nhiều điều. Nếu thúc đẩy không có hiệu quả thì chúng ta phải “khơi động” và “thúc giục”. “Thúc đẩy” là dành cho những gì có thể chuyển động được, khơi động dành cho những gì sống động, còn thúc giục dành cho những gì yếu kém. Nếu lúc ấy Hội thánh tại Đài Bắc vẫn không lay chuyển thì tôi phải nhờ đến hơn bảy trăm người hầu việc Chúa trọn thời gian khiêng Hội thánh này lên và đặt trên vai chúng tôi.

Tất cả chúng ta đều là một gia đình. Tôi như người lớn tuổi nhất trong gia đình ấy. Khi thấy các thế hệ thứ hai, thứ ba, thậm chí đến thế hệ thứ tư giữa vòng các anh em đây được dấy lên, tôi đầy cảm xúc trong lòng. Đặc biệt là giữa vòng các trưởng lão đây có nhiều anh em chỉ hơn ba mươi tuổi, tôi rất hãnh diện về các anh em ấy. Tuy nhiên, nếu anh em không lay chuyển thì cũng như “giội nước lạnh” vào sự hãnh diện ấy của tôi. Tôi không đổ lỗi cho anh em đâu. Tôi chỉ đổ lỗi cho sự kiện chúng ta đã đợi quá lâu để thay đổi hệ thống, vì lẽ ra tôi nên thúc đẩy việc sửa đổi này từ năm 1974. Dù cho đến bây giờ đã trễ mười năm nhưng tôi tin Chúa sẽ ban cho tôi một thời gian để chúng ta được thành công. Vợ tôi rất quan tâm đến tình trạng sức khỏe của tôi và hy vọng rằng trong thời gian ở đây, tôi sẽ làm việc ít đi mà nghỉ ngơi nhiều hơn. Thế nhưng tôi chỉ quan tâm đến một điều, ấy là thay đổi hệ thống. Chúng ta tuyệt đối phải thay đổi hệ thống.

TIÊU ĐIỂM CỦA VIỆC SỬA ĐỔI HỆ THỐNG: GIA ĐÌNH

Tiêu điểm của việc sửa đổi hệ thống là gia đình. Trong Tân Ước, chúng ta thấy nhiều gia đình đáng quý như gia đình Sê-sa (Phil. 4:22), gia đình Cọt-nây (Công. 10:22-24), gia đình Ly-đi, người buôn hàng vải nhuộm (16:13-15) và gia đình người cai ngục vô danh (cc. 29-34). Cũng có gia đình Sê-pha-na (1 Cô. 1:16), gia đình Cơ-rít-bu (Công. 18:8). Thêm vào đó, còn có nhà dùng để nhóm họp, như nhà của A-qui-la và Bê-rit-sin (La. 16:3-5; 1 Cô. 16:19), nhà của Nim-pha (Côl. 4:15) và nhà của Phi-lê-môn (Plm. 1-2). Những thí dụ trên cho chúng ta thấy rõ đơn vị cứu rỗi của Đức Chúa Trời và đơn vị phục vụ là gia đình.

Thậm chí trong Cựu Ước, hai biểu tượng lớn về cứu rỗi bày tỏ gia đình là đơn vị của sự cứu rỗi. Thứ nhất là biểu tượng cơn nước lụt mà trong đó tám thành viên của nhà Nô-ê vào trong tàu, nhờ đó họ được cứu khỏi sự phán xét của Đức Chúa Trời giáng trên thế gian (Sáng. 7:1; Hê. 11:7; 2 Phi. 2:5). Thứ nhì là biểu tượng lễ Vượt Qua mà trong đó mỗi gia đình Israel phải bắt một con chiên giết đi, bôi huyết nó trên các trụ cửa và mày cửa rồi ăn thịt của nó. Không phải một con chiên cho mỗi người nhưng là một con chiên cho mỗi gia đình là một đơn vị (Xuất. 12:3-8). Trong quá khứ, chúng ta đã bỏ qua các lẽ thật minh bạch này trong Kinh Thánh; chúng ta đã bị Cơ Đốc giáo ảnh hưởng, bị phân tâm và bị trôi giạt.

Từ khi sự khôi phục của Chúa bắt đầu tại Trung Quốc, anh Watchman Nee đã nêu lên rằng Hội thánh cần phải được xây dựng với gia đình là đơn vị. Tôi tiếp nhận điều này từ anh ấy và thực hành ở Đài Loan. Thêm vào đó, tôi đã giới thiệu cách thực hành “nhóm tổ”. Tuy nhiên, vào năm 1984, khi tôi trở lại Đài Loan, hai điều ấy hầu như không còn nữa. Chúng ta đã ở dưới ảnh hưởng của các nước và đi theo lề thói của họ (2 Vua. 17:33), bước theo đường lối giáo phái trong Cơ Đốc giáo bằng cách bắt chước điều họ thực hành là nhóm các buổi nhóm lớn mà trong đó chỉ một người nói còn những người khác ngồi nghe. Lối thực hành này tạo ra “hàng giáo phẩm” và “giáo dân”, ngăn cản mỗi thánh đồ thi hành chức năng của mình. Thấy được điều này, tôi muốn trình bày một phương cách cụ thể để chúng ta thực hành vào thời điểm có tính cách quyết định này.

CÁC BƯỚC CỤ THỂ CẦN THIẾT ĐỂ SỬA ĐỔI HỆ THỐNG

Trung Bình Cứ Hai Mươi Thánh Đồ Thì Có Một Người Hầu Việc Chúa Trọn Thời Gian

Cứ hai mươi thánh đồ nhóm trong sự khôi phục của Chúa thì cần phải có một người hầu việc Chúa trọn thời gian. Dầu tôi không thể nói điều này là từ Chúa khải thị, nhưng tôi cảm thấy rất rõ bên trong rằng đây là một đường lối tuyệt hảo. Tôi cũng đã công bố lời kêu gọi ấy cách rõ ràng tại Hoa Kỳ, với hy vọng rằng sáu trăm Hội thánh trên sáu lục địa sẽ có thể thực thi điều này. Đây là nguyên tắc đầu tiên để thi hành việc sửa đổi hệ thống, ấy là cứ hai mươi thánh đồ thì phải có một người hầu việc Chúa trọn thời gian.

Có tin từ hai Hội thánh địa phương kia. Một địa phương có một trăm tám mươi người nhóm lại bằng lòng dâng chín người hầu việc Chúa trọn thời gian, và một địa phương khác có tám mươi người nhóm lại bằng lòng dâng bốn người hầu việc Chúa trọn thời gian. Hiện nay Hội thánh tại Đài Bắc có bốn ngàn người nhóm họp thường xuyên đã dâng hai trăm người hầu việc Chúa trọn thời gian. Điều này hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc cứ hai mươi người thì có một người. Tôi rất vui về điều này.

Trung Bình Cứ Bốn Thánh Đồ Thì Có Một Người Đi Gõ Cửa

Nguyên tắc thứ nhì là cứ bốn thánh đồ thì có một người đi gõ cửa. Đây không chỉ về việc gõ cửa mà những người hầu việc Chúa trọn thời gian sẽ thi hành nhưng mỗi ngày trong tuần, một trong bốn thánh đồ phải dành ra hai tiếng đồng hồ đi gõ cửa. Việc này không đòi hỏi anh em phải làm gì nhiều, anh em chỉ đi ra mỗi tuần một lần. Tuy nhiên, anh em phải kiên trì và ra đi mỗi tuần. Ngoại trừ anh em hay người trong gia đình anh em bị đau yếu cần phải nghỉ ngơi và chăm sóc, tất cả anh em cần phải giữ nguyên tắc này, ra đi gõ cửa hai giờ đồng hồ mỗi tuần.

Lu-ca chương 9 nói khi Chúa Jesus kêu gọi người ta theo Ngài, có người nói với Ngài: “Thưa Chúa, xin cho tôi về chôn cha tôi trước đã”. Chúa bảo: “Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết của họ; còn ngươi hãy đi truyền bá nước Đức Chúa Trời”. Có người khác nói: “Thưa Chúa, tôi sẽ theo Chúa, song xin cho tôi về từ giã người nhà trước đã”. Chúa bảo: “Không ai đã tra tay cầm cày, còn ngó lại đằng sau, mà lại xứng đáng với nước Đức Chúa Trời” (cc. 59-62). Theo phân đoạn này trong lời Chúa, chúng ta cũng có thể nói rằng không cần biết những gì xảy ra trong nhà mình, chúng ta phải luôn luôn giữ nguyên tắc dùng hai tiếng đồng hồ mỗi ngày để đi ra gõ cửa. Thật không thể viện lý do nào, không có gì quan trọng đến nỗi ngăn trở chúng ta ra đi. Dù có bận rộn thế nào chăng nữa chúng ta cũng phải ra đi mỗi tuần hai giờ đồng hồ. Một năm có năm mươi hai tuần lễ, và hễ còn có thể đi được, chúng ta nên thực hành nguyên tắc này mỗi tuần không ngưng nghỉ.

Tôi nói lời này không phải với những người hầu việc Chúa trọn thời gian nhưng với tất cả các thánh đồ. Tất cả chúng ta đều ao ước được hầu việc Chúa vì chúng ta yêu Ngài. Bây giờ Ngài muốn chúng ta dành cho Ngài hai giờ một tuần, làm sao chúng ta có thể nói Ngài đòi hỏi quá đáng? Một tuần có một trăm sáu mươi tám giờ, và hai giờ chỉ khoảng chừng một phần trăm. Nếu thật sự yêu Ngài, sao chúng ta lại từ chối? Nếu không thể làm chỉ chừng ấy thì chúng ta lấy lý do nào mà bào chữa? Dầu anh em là ai hay có bận rộn đến mức nào, anh em cũng cần phải dâng cho Chúa mỗi tuần hai giờ để không làm gì khác hơn là ra đi gõ cửa.

PHƯƠNG CÁCH NHẬN LÃNH PHƯỚC HẠNH

Giờ này tôi không ao ước chia sẻ giáo lý nào cả. Tôi chỉ muốn đẩy mạnh phương cách mới để giúp cho sự khôi phục của Chúa. Điểm đầu tiên của phương cách mới ấy là trong số các thánh đồ thường xuyên nhóm họp, cứ mỗi hai mươi người phải có một người hầu việc Chúa trọn thời gian, và điểm thứ hai là cứ mỗi bốn người phải có một người ra đi gõ cửa hai giờ mỗi tuần. Nếu một Hội thánh địa phương bằng lòng thực hành hai nguyên tắc này, Hội thánh ấy chắc chắn sẽ được phước lớn.

Người hầu việc Chúa trọn thời gian cũng phải ra đi gõ cửa từ thứ hai đến thứ bảy, tối thiểu mỗi ngày ba giờ. Nếu một người hầu việc Chúa trọn thời gian bằng lòng làm theo điều này, tôi tin rằng tối thiểu mỗi tuần người ấy sẽ gặt hái được một người và làm báp-têm cho người ấy. Theo cách này, người ấy sẽ gặt hái được khoảng năm mươi người trong một năm. Với mức độ như thế, Hội thánh tại Đài Bắc với hai trăm người hầu việc Chúa trọn thời gian có thể được mười ngàn người trong vòng một năm.

Tôi hy vọng tất cả chúng ta có thể nghe và tiếp nhận lời này. Hai trăm người hầu việc Chúa trọn thời gian được bốn ngàn người hỗ trợ phải dành thì giờ nghiên cứu lẽ thật mỗi ngày, phụng sự Hội thánh và chăm sóc thánh đồ. Thêm vào đó, họ cần phải để ra hai hay ba giờ đồng hồ mỗi ngày để đi ra gõ cửa. Mỗi người trong số hai trăm người này có thể được năm mươi người mỗi năm. Điều ấy có nghĩa là hai trăm người này có thể đưa về hàng ngàn người qua việc gõ cửa. Thật là một điều ích lợi.

Đó là kết luận mà chúng tôi đã rút tỉa từ việc nghiên cứu thực tiễn. Nếu Chúa cho phép, quyển Tân Ước tiếng Hoa, Bản Khôi Phục, sẽ hoàn thành năm tới và tôi sẽ đi khắp năm châu mà nói về chính điều này. Một mặt, điều tôi không thích ấy là mình đã quá cao tuổi, không đủ điều kiện làm một người lính, nhưng mặt khác, chắc chắn tôi đang mang quá nhiều gánh nặng. Nếu không, tôi dứt khoát đã đi ra gõ cửa mỗi ngày.

PHƯƠNG CÁCH MỚI VÀ HIỆU QUẢ

Tuy nhiên, chúng ta cần phải sáng tỏ rằng khi Hội thánh sắp tiến tới, chúng ta sẽ không tránh khỏi một số người thổi gió lạnh hoặc tạt nước lạnh vào chúng ta vì họ nghĩ rằng có thêm người mới cũng chẳng ích lợi gì. Họ nói rằng sanh nhiều thì chết cũng nhiều. Vì thế, họ tin rằng tốt hơn là sanh ít đi cho đỡ rắc rối. Thật ra, thậm chí nếu chúng ta trừ đi phần trăm số người bị rơi rớt mất, những người hờ hững và không tin cậy được, chúng ta vẫn có được một số vững vàng và trái còn đậu lại là sự gia tăng, là kết quả bội phần của chúng ta.

Hơn sáu mươi năm trước, anh Watchman Nee và tôi thường nói với các thánh đồ rằng mỗi năm chúng ta cần phải tăng số lượng của mình lên gấp đôi. Sau khi đến Đài Loan, tôi cũng nói điều này, ấy là mỗi năm chúng ta phải gia tăng gấp đôi. Đến năm 1984, khi tôi trở về đây để tương giao về phương cách mới, và thực hành việc thay đổi hệ thống, tôi lại đề cập đến vấn đề này một lần nữa. Lần ấy thì ở trong một vận động trường công cộng, tất cả anh em đều đứng lên đáp ứng lời tương giao của tôi, hứa sẽ mang một người đến sự cứu rỗi mỗi năm và cũng nói rằng nhân số của Hội thánh sẽ tăng gấp đôi. Đến nay, sau hai năm, kết quả như thế nào? Anh em không cứu được nhiều người vì không có một phương cách hiệu quả. Anh em đã dùng nhiều thì giờ và năng lực, nhưng anh em đã uổng phí nhiều công sức. Lần này, tôi muốn tương giao với anh em về một phương cách thực hành cụ thể. Nếu anh em chịu làm việc theo cách này, chắc chắn chúng ta có thể gia tăng con số của mình gấp đôi trong vòng một năm. Hơn thế nữa, sự gia tăng ấy sẽ là trái còn đậu lại và vững vàng. Nếu thật như thế, chỉ cần có bốn năm thì bốn ngàn người sẽ tăng lên sáu mươi bốn ngàn. Làm sao chúng ta không phấn khởi về điều này?

Nói theo kiểu thông thường, nếu chúng ta không chịu tiến hành cuộc giao dịch này, chúng ta thật ngu dại. Theo lời Chúa, nếu chúng ta từ khước lời tương giao này thì khi gặp Chúa, chúng ta sẽ không thể nào khai trình trước mặt Ngài (Mat. 25:14-30). Chúng ta không chịu trách nhiệm với người ta nhưng là với Chúa. Đây không phải là một lời khinh suất hay cẩu thả. Đây là lời Chúa sẽ được ứng nghiệm tại ngai phán xét của Ngài (2 Cô. 5:10; La. 14:10). Ngày nay, giữa vòng chúng ta, lẽ thật thì minh bạch và phong phú, và sự hướng dẫn của Thánh Linh thì rõ ràng và đáng tin cậy. Chắc chắn chúng ta không được chậm trễ đáp ứng hay ngần ngại chuyển động. Sự gia tăng ở mức độ gấp đôi mỗi năm chưa bao giờ xảy ra trong lịch sử Cơ Đốc giáo. Chỉ vấn đề này thôi cũng đáng cho chúng ta đem hết sức lực và dốc đổ toàn bản thể mình.

Tôi đề nghị tất cả trưởng lão tại Đài Loan hãy chuyển giao gánh nặng này cho tất cả các thánh đồ, và yêu cầu mỗi người viết một tờ dâng mình vào buổi nhóm bẻ bánh tại bàn của Chúa vào Chúa Nhật. Ai có lòng yêu Chúa phải dâng mình đặc biệt cho việc ra đi gõ cửa hai giờ mỗi tuần. Bắt đầu từ tuần tới, tôi sẽ huấn luyện những ai đã dâng mình, nhen lên ngọn lửa yêu thương của họ, trao cho họ một phương cách cụ thể để thực hành, và dạy họ làm thế nào để đi ra gõ cửa.

SỰ PHỐI HỢP GIỮA CÁC HỘI THÁNH VỀ PHƯƠNG CÁCH MỚI

Trong học kỳ đầu của Khóa Huấn Luyện Trọn Thời Gian, có bảy trăm người dự. Theo sự quan sát của tôi, khóa sinh đã học được bước đầu làm thế nào đi gõ cửa, hướng dẫn người ta tin Chúa và chịu báp-têm. Nhưng sau khi những người này được cứu, có ba bước nữa mà chúng ta cần phải tiến vào cách sâu xa. Bước thứ hai là chúng ta phải đến nhà người ta sau khi họ chịu báp-têm để nhóm họp với họ. Chúng ta cần phải có các buổi nhóm tại nhà họ. Bước thứ ba là sau khi sắp xếp một buổi nhóm tại nhà họ, chúng ta phải dạy dỗ họ lẽ thật và giúp đỡ họ tăng trưởng trong sự sống. Điều này không dễ. Bước thứ tư là trong khi dạy dỗ họ lẽ thật và giúp họ tăng trưởng trong sự sống, chúng ta phải giúp họ hiểu biết đầy đủ về Hội thánh, và sống trong sự thực hành nếp sống Hội thánh.

Vào học kỳ huấn luyện này, chúng ta đã làm báp-têm cho 4.800 người. Trong số ấy, 2.600 người vững vàng, và chúng ta đã thành lập 1.000 nhóm tư gia. Sau một tháng, khi kỳ huấn luyện này chấm dứt, làm thế nào Hội thánh tại Đài Bắc có thể chăm sóc cho 2.600 người và 1.000 nhóm tư gia này? Đây là một nan đề bức thiết mà chúng ta cần giải quyết. Về việc này, Hội thánh tại Đài Bắc phải dấy lên ít nhất 1.000 người ra đi thăm viếng những người mới này và chăm sóc họ. Đây là vấn đề mà chúng ta không thể trì hoãn được. Tôi hy vọng các trưởng lão sẽ mang lấy gánh nặng lớn lao này, cầu nguyện nhiều cho điều này, và tôi cũng hy vọng các thánh đồ sẽ đón nhận sự tương giao này.

Có một điểm mà chúng ta cần phải sáng tỏ. Dầu anh em đã nộp tờ hứa nguyện dâng mình bày tỏ lòng ao ước ra đi gõ cửa mỗi tuần hai giờ, việc này phải được các trưởng lão chấp thuận. Nếu một số anh em không được chọn, anh em cũng đừng thất vọng. Anh em có thể cứ tiếp tục cầu nguyện, dâng hiến tiền của, sức lực để ủng hộ và tiếp tế cho chuyển động này. Về việc ai sẽ ra đi gõ cửa mỗi tuần và ai sẽ ở nhà ủng hộ bằng cách cầu nguyên và hiến dâng tiền của, vấn đề ấy phải được các trưởng lão quyết định. Chúng tôi sẽ chịu trách nhiệm huấn luyện những người đã dâng mình. Sau này, tất cả anh em này sẽ đến trung tâm huấn luyện để hiệp thông lẫn nhau và để phối hợp thăm viếng chăm sóc những người mới hay tiếp tục ra đi gõ cửa để có được nhiều người hơn. Đây là phương cách chắc chắn và thực tiễn mà tôi hy vọng anh em sẽ thực thi một cách đều đặn.

Tôi tin rằng không một thánh đồ nào yêu Chúa và vì sự khôi phục của Chúa mà lại không tán thành hay bất đồng ý kiến với lời tương giao này. Chúng ta đã và sẽ không sửa đổi lẽ thật hay bác bỏ sự sống. Trái lại, chúng ta vừa có một bước tiến mới về phương cách truyền giảng Phúc Âm, phổ biến lẽ thật, hướng dẫn người khác theo Chúa và bước vào nếp sống Hội thánh. Chúng ta cần phải tiến triển trong vấn đề này. Trên thế giới ngày nay, không cần biết anh em thuộc lãnh vực nào, phương cách thực hành trong lãnh vực ấy luôn luôn được sửa đổi và cải tiến. Điều này cũng đúng trong lãnh vực giáo dục. Vì thế, dứt khoát chúng ta không được bám lấy phương cách cũ của mình. Vì Đài Loan luôn cập nhật hóa các ý niệm của mình nên mọi phương diện của xã hội đều được thịnh vượng, phồn vinh. Tôi hy vọng chúng ta cũng sẽ sửa đổi và đổi mới để con số của Hội thánh được gia tăng.

Muốn thực hành phương cách mới này, chúng ta phải đồng tâm hiệp ý. Con đường đã được dọn sẵn trước mắt chúng ta. Nếu cứ tiếp tục tự do bày tỏ quan niệm riêng, chúng ta sẽ gây rối, phá hỏng toàn bộ vấn đề. Sửa đổi hệ thống là điều cần thiết, và phương cách thực hành của chúng ta thì tuyệt hảo. Tất cả những gì chúng ta cần là thực hiện điều ấy cách đồng tâm hiệp ý. Cứ hai mươi thánh đồ nhóm họp thường xuyên phải sản sinh ra một người hầu việc Chúa trọn thời gian để đi ra gõ cửa mỗi ngày. Và cứ mỗi bốn thánh đồ [giữa vòng hai mươi thánh đồ ấy] thì phải có một người đi ra gõ cửa hai giờ liên tục mỗi tuần. Các trưởng lão cũng cần phải khuyến khích và khơi động các thánh đồ để họ dâng mình. Sau đó, các thánh đồ phải được huấn luyện, chia từng nhóm, đi ra gõ cửa, và chăm sóc người khác. Nếu các Hội thánh phối hợp như vậy, tôi tin rằng sự gia tăng trong các Hội thánh sẽ bảo đảm cho chúng ta một tương lai xán lạn.