Thông tin sách

Tự Biết Mình Và Ánh Sáng Của Đức Chúa Trời

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Tự biết mình và ánh sáng của Đức Chúa Trời
ISBN:
Mua sách tại:

Untitled Document

TỰ BIẾT MÌNH VÀ ÁNH SÁNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Hôm nay, tôi tin rằng Đức Chúa Trời muốn tôi chia sẻ một bài về vấn đề làm thế nào để biết chính mình. Nếu không biết chính mình thì một Cơ Đốc nhân không bao giờ có thể tiến bộ về mặt thuộc linh. Và về mặt thuộc linh, một Cơ Đốc nhân không bao giờ có thể tiến bộ vượt quá những gì người ấy biết. Người ấy nhận được ánh sáng (chứ không phải kiến thức) đến mức độ nào thì bày tỏ sự sống đến mức độ đó. Không một Cơ Đốc nhân nào có thể tiến bộ vượt quá ánh sáng mà Đức Chúa Trời đã ban cho người ấy. Nếu một Cơ Đốc nhân không biết những lỗi lầm hay tình trạng thật của mình, thì người ấy sẽ không theo đuổi những gì mới mẻ hay tiếp tục tiến lên trên con đường trước mặt.

Điều quan trọng nhất trong cuộc sống của một Cơ Đốc nhân là tự xét đoán mình. Người ấy phải xem xác thịt của mình không đáng tin cậy và xem chính mình là hoàn toàn vô dụng. Chỉ nhờ cách đó, người ấy mới hết lòng trông cậy Đức Chúa Trời. Và chỉ khi đó người ấy mới có thể bước đi theo Thánh Linh chứ không theo xác thịt. Thiếu sự tự xét đoán thì đời sống thuộc linh không thể có được. Ở một chỗ khác tôi đã bàn về vấn đề này, nên tại đây tôi sẽ không khai triển thêm. Nếu một người không biết chính mình, thì người ấy sẽ không tự xét đoán mình được và sẽ không có các ơn phước thuộc linh đến từ sự tự xét đoán. Đức Chúa Trời muốn chúng ta biết xác thịt của mình bại hoại thể nào và nó không thể thỏa mãn sự đòi hỏi của Ngài ra sao. Vì không biết như vậy nên chúng ta không có được một cuộc sống thuần ở trong Thánh Linh. Vô tình chúng ta đầy lòng tự đắc và tự tin vì thiếu hiểu biết về chính mình. Chúng ta tự coi mình là đáng tin cậy và không hiểu được ý nghĩa của lời Chúa rằng: “Ở ngoài Ta các ngươi không thể làm gì được” (Gi. 15:5). Tuy Thánh Linh được ban cho để giúp đỡ sự yếu đuối của chúng ta, nhưng vì không biết những sự yếu đuối của chính mình nên chúng ta bị làm cho mù lòa mà không tìm kiếm sự giúp đỡ của Ngài, vì vậy chúng ta vẫn yếu đuối. Nếu không biết chính mình, thì không những chúng ta sẽ tự tin và tự đắc, mà còn đầy tự mãn, nghĩ rằng mình tuyệt diệu và đầy lòng kiêu ngạo, đó là điều làm cho Đức Chúa Trời buồn lòng nhất. Vì không biết chính mình nên cuộc sống hằng ngày của chúng ta có nhiều thiếu sót. Chúng ta sẽ không có cảm giác gì đối với trách nhiệm chưa làm tròn, những sự không công chính đối với người khác, những lúc thiếu tình yêu thương, những khi nổi giận, lo âu và không thương xót. Mặc dầu hoàn cảnh ngày càng tệ, chúng ta vẫn cảm thấy yên tâm và hài lòng. Vì không biết chính mình nên chúng ta không biết sự thiếu sót của mình lớn lao biết bao và sự cứu rỗi trong Đấng Christ là trọn vẹn và quí báu thế nào. Kết quả là chúng ta hụt mất rất nhiều ơn phước thuộc linh. Tự biết mình là điều kiện đầu tiên để được tốt hơn; đúng vậy, thậm chí là được điều tốt nhất của Đức Chúa Trời. Những người không biết chính mình sẽ không có tấm lòng đói khát, và sẽ không được đổ đầy Thánh Linh. Tự biết mình là tuyệt đối cần thiết đối với một Cơ Đốc nhân.

CÓ PHẢI TỰ BIẾT MÌNH NHỜ TỰ XÉT MÌNH KHÔNG?

Làm sao những người thế gian biết các lỗi lầm của họ? Họ biết nhờ phương pháp tự xem xét nội tâm. Họ xem xét những hành động của mình và nhớ lại quá khứ của mình. Họ “xoay vào bên trong” để xét những động cơ và việc làm của mình. Nội hướng thường được mô tả là sự tự xét mình hay tự đánh giá mình. Nếu những người thế gian không tự xét chính mình, thì họ không cách nào tự biết chính mình. Tôi thường nghe nhiều Cơ Đốc nhân nói rằng họ phải tự xét xem mình có phạm lỗi lầm nào không. Nhưng tôi xin nói với anh em rằng: tự xét mình không phải là trách nhiệm của một Cơ Đốc nhân. Tự xét mình là một sự lừa gạt lớn; nhiều Cơ Đốc nhân bị sự tự xét mình làm hại. Chúng ta cần hỏi rằng: (1) Kinh Thánh có dạy về sự tự xét mình không? (2) Tự xét mình có thể làm cho chúng ta biết chính mình không? (3) Tự xét mình có ích lợi không? Từ những điểm này, chúng tôi sẽ chứng minh rằng tự xét mình thật ra không phải là trách nhiệm của một Cơ Đốc nhân.

1. Kinh Thánh Có Dạy Về Sự Tự Xét Mình Không?

Kinh Thánh có truyền cho Cơ Đốc nhân phải tự xét chính mình không? Không! Griffith Thomas nói rằng trong toàn bộ Kinh Thánh chỉ có hai chỗ đề cập đến sự tự xét, nhưng cả hai chỗ ấy đều chỉ về một điều gì đó cụ thể. Chúng ta hãy xem qua hai trường hợp ấy. “Vậy, mỗi người phải tự xét lấy mình, và như thế mới ăn bánh uống chén ấy được” (1 Cô. 11:28). Việc xem xét trong câu này không phải là sự xem xét mà những Cơ Đốc nhân có trong việc theo đuổi sự thánh khiết; trái lại điều ấy chỉ về việc đến trước mặt Chúa để ăn bánh và uống chén. Chúng ta cần phải tự xét lấy mình xem chúng ta có thừa nhận bánh và chén là thân Chúa và huyết Chúa không. Ăn bánh và uống chén là một chứng cớ. Vì vậy, chúng ta phải tự xét lấy mình xem chúng ta có nhớ lại ý nghĩa thuộc linh của việc ăn bánh và uống chén không; nếu không thì điều ấy sẽ trở nên một nghi thức. Tự xét trong câu này liên quan đến việc chúng ta có đến bàn của Chúa để tưởng nhớ Chúa hay không. Câu này không đòi hỏi chúng ta xoay vào bên trong để tìm những lầm lỗi nhờ đó chúng ta có thể theo đuổi sự tiến bộ thuộc linh.

“Hãy tự thử nghiệm chính mình xem anh em có ở trong đức tin không; hãy tự xét lấy mình” (2 Cô. 13:5). Thậm chí còn hơn câu đầu tiên, câu này không bảo chúng ta xem xét tình trạng bên trong của mình. Câu này chỉ về một điều gì đó cụ thể. Bấy giờ tại Cô-rin-tô có nhiều người vu cáo rằng Phao-lô không phải là sứ đồ. Vì vậy, Phao-lô yêu cầu họ: “Hãy tự xét lấy mình xem anh em có đức tin hay không. Nếu anh em có đức tin, thì đó là bằng chứng cho sự kiện tôi là một sứ đồ. Nếu Đức Chúa Trời không kêu gọi tôi làm sứ đồ cho dân Ngoại-bang, thì làm sao anh em có thể được cứu? Hỡi những người Cô-rin-tô, Đức Chúa Trời kêu gọi tôi để rao giảng phúc âm cho anh em. Sự cứu rỗi của anh em chứng tỏ tôi là một sứ đồ thật. Nếu anh em không có đức tin, thì tôi là một sứ đồ giả”. Tự xét được nói đến ở đây không phải là sự tự xét trong việc chúng ta theo đuổi sự thánh khiết. Trái lại, đó là một trường hợp cụ thể của một tình trạng cụ thể tại Cô-rin-tô – tự xét xem có đức tin hay không.

Trong bản Kinh Thánh tiếng Hoa, ở phần Cựu Ước có ít nhất một chỗ nữa nói đến sự tự xét. “Hãy xét các đường lối của các ngươi” (Agh. 1:5, 7). Trước hết, xin lưu ý rằng câu này không nói anh em phải xét chính mình; nhưng nói anh em phải xét các đường lối của mình. Điều này thuộc bên ngoài. Thứ hai, chữ “xét” trong nguyên ngữ có nghĩa là “để ý đến”. Câu ấy nói anh em phải để ý đến hành vi cử chỉ bên ngoài của mình, chứ không nói anh em cần phải xem xét tình trạng bên trong của mình.

Khi đọc văn cảnh của ba câu Kinh Thánh được đề cập ở trên, chúng ta cần phải nhận thấy rằng những phần ấy không nói về sự nội hướng. Trái lại, những phần ấy nói đến sự xem xét về một vấn đề cụ thể. Do đó, chúng tôi tin tưởng chắc chắn mà kết luận rằng Kinh Thánh không dạy Cơ Đốc nhân tự xét mình.

2. Tự Xét Mình Có Thể Làm Cho Chúng Ta Biết Chính Mình Không?

Cho dầu có tự xét mình, kinh nghiệm của chúng ta cho biết chúng ta vẫn không thể nào biết chính mình. Chúng ta hãy xem Kinh Thánh nói gì về chúng ta.

Giê-rê-mi 17:9 chép rằng: “Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật, và rất là xấu xa: ai có thể biết được?” Vì tấm lòng chúng ta dối trá nên sự tự xét của chúng ta không đáng tin cậy. Vì dùng một tấm lòng dối trá để tự xét lấy mình nên chúng ta không thể nào tránh bị tấm lòng dối trá ấy đánh lừa. Có lẽ anh em sai trật, nhưng lòng anh em có thể nói rằng mình không sai trật. Hay có lẽ anh em không sai trật, nhưng vì một vài sự yếu đuối nên lòng anh em nói rằng anh em sai trật. Nếu tấm lòng đúng đắn, thì nó có thể được dùng làm tiêu chuẩn; nhưng nếu tấm lòng dối trá, thì làm sao có thể dùng nó làm tiêu chuẩn được? Nếu anh em dùng một tiêu chuẩn không chính xác, thì chắc chắn anh em khó mà không bị đánh lừa.

Người kia muốn lắp một cái ống khói, và sau khi người ấy đã lấy thước của mình đo đạc rồi thì yêu cầu một người thợ nguội làm cái ống khói dài ba mét. Khi làm xong, người thợ nguội giao cái ống khói cho người ấy. Dầu người lắp ống khói có đo cái ống khói đó thế nào đi nữa thì nó vẫn dài hơn ba tấc. Người ấy than phiền với người thợ nguội. Người thợ nguội đo cái ống khói bằng cây thước riêng của mình. Cái ống khói dài đúng ba mét. Thế nhưng người lắp ống khói một mực nói rằng cái ống khói ấy dài hơn ba tấc. Cuối cùng, người thợ nguội xem qua cái thước của người lắp ống khói và nhận thấy một phần mười của cây thước đã bị đứa con trai của người ấy tiện đứt khi nó lấy cây thước chơi. Vì vậy mà người ấy luôn luôn thấy cái ống khói dài hơn ba tấc. Nếu muốn tự xét mình, trước hết chúng ta phải tự hỏi xem mình có đáng tin cậy không. Chúng ta vốn bại hoại, và rất gian ác trước mặt Đức Chúa Trời. Làm sao chúng ta có thể tự xét mình? Nhiều người nghĩ rằng tự xét mình là một mỹ đức. Nhưng tôi xin nói với anh em rằng: tự xét mình là một việc sai lầm lớn.

Chúng ta phải biết rằng cấu trúc của những phần thuộc tâm lý bên trong chúng ta thật phức tạp. Những ước ao, suy nghĩ, cảm xúc và những biểu hiện khác của tấm lòng chúng ta rất phức tạp. Chúng ta không thể phân tích rõ ràng chúng ảnh hưởng và tương tác với nhau như thế nào. Trong một tình trạng phức tạp như vậy, cho dầu chúng ta có thể tự xét mình, sự tự xét ấy sẽ không bao giờ cho chúng ta biết mình cách chính xác. Trong khi xem xét những cảm giác của mình, anh em không biết các khu vực khác ảnh hưởng và liên quan đến những cảm giác ấy như thế nào. Vì vậy, sự hiểu biết có được nhờ cảm xúc của anh em thì không đáng tin cậy. Chỉ một ảnh hưởng nhỏ cũng có thể hoàn toàn thay đổi cảm xúc của anh em. Đối với một vấn đề nào đó, nhiều lúc chúng ta mất quan điểm thích đáng và không hiểu biết chính xác về ý định của chính mình vì một tội ẩn tàng, một ý tưởng sai trật hoặc một chút định kiến ở bên trong chúng ta, hay vì tính khí bẩm sinh của chúng ta và vô số nguyên nhân nhỏ khác. Bất cứ sự hiểu biết nào chúng ta có được từ chính mình đều không chính xác vì nó quá phức tạp và không đáng tin cậy.

Chúng ta thường gặp trường hợp một người rất mạnh ở một điểm nào đó nhưng lại không nhận biết điều đó; trái lại người ấy còn nghĩ là mình yếu tại điểm đó. Mặt khác, người ấy yếu ở một điểm khác, nhưng không nhận thấy như vậy mà tự coi mình là mạnh ở điểm ấy. Điều này cho chúng ta thấy rằng tuy con người có thể tự xét mình nhưng vẫn không thể nào biết chính mình. Con người không thể biết chính mình nhờ tự xét mình. Tôi có một người bạn, sau khi được cứu, anh ấy nói rất nhiều về tình yêu Cơ Đốc. Theo cái nhìn của anh thì anh tự xem mình là có nhiều tình yêu thương, nhưng ở nhà, anh không thể sống hòa thuận được với vợ mình. Hãy nghĩ xem! Nếu một người muốn tự xét mình, thì bản ngã của người ấy có đáng tin cậy không? Nếu bản ngã của người ấy không đáng tin cậy, thì có tự xét mình cũng vô ích.

Thi Thiên 19:12 đặt câu hỏi: “Ai có thể biện biệt những lầm lỗi của mình?” Không người nào có thể biết được. Tự mình chúng ta không thể biết chắc những lỗi lầm của mình.

3. Tự Xét Có Ích Lợi Không?

Chẳng những không có sự dạy dỗ nào trong Kinh Thánh về sự tự xét mình và chẳng những kinh nghiệm của chúng ta cho biết rằng chúng ta không có khả năng tự xét mình, mà thậm chí cuộc sống thuộc linh của chúng ta cũng sẽ bị tổn hại lớn nếu chúng ta tự xét mình. Tự xét mình sẽ phát sinh hai hậu quả: tự mãn hoặc nản lòng. Khi một người cảm thấy mình khá tốt sau khi tự xét mình, thì người ấy trở nên tự mãn; khi một người cảm thấy mình sai trật sau khi tự xét mình, thì người ấy nản lòng. Không có hậu quả thứ ba nào ngoài tình trạng tự mãn hay nản lòng. Đức Chúa Trời đã dạy tôi nhận biết rằng không ai có thể thật sự biết chính mình nhờ tự xét mình.

Hê-bơ-rơ 12:2 chép: “Nhìn xem Giê-su...” Trong nguyên ngữ, giữa chữ nhìn xem và Giê-su còn có vài chữ nhỏ. Chúng ta phải dịch là: “Quay đi mà ngắm xem Giê-su”. Điều ấy có nghĩa rằng để ngắm xem, trước hết anh em phải xoay hướng. Trước hết anh em phải quay đi đừng nhìn những gì anh em không nên nhìn; rồi anh em mới có thể ngắm xem điều anh em nên nhìn. Trong tiếng Hoa, chúng ta có thành ngữ “quay hẳn đi”, [chú thích của chủ bút: Wang Duan]. Do đó, tôi nghĩ mệnh đề này có thể được dịch là “quay hẳn đi mà ngắm xem Giê-su”. Đời sống thuộc linh của chúng ta dựa vào việc ngắm xem Giê-su chứ không phải xoay vào chính mình. Nếu chúng ta không vâng theo mạng lịnh của Kinh Thánh mà ngắm xem Giê-su nhưng thay vào đó lại xoay nhìn vào bên trong chính mình, thì chúng ta sẽ bị tổn hại nhiều về mặt thuộc linh. Trong phần trước tôi đã nói rằng sự nội hướng, tức tự phân tích chính mình cùng cảm giác, ý định và tư tưởng của mình, là tai hại nhất. Griffith Thomas nói: “Ngày nay có một câu nói phổ biến rằng nếu anh nhìn vào chính mình một lần thì phải ngắm xem Đấng Christ mười lần. Nhưng tôi nghĩ câu ấy phải được đổi thành hãy ngắm xem Đấng Christ mười một lần và đừng nhìn vào chính mình lần nào cả”.

Hai năm về trước, tôi có đọc một bài thơ ngụ ngôn kể về một con rết nói chuyện với con cóc. Con cóc hỏi con rết: “Anh có quá nhiều chân như vậy thì anh bước đi như thế nào? Khi đi, chân nào của anh bước đi trước? Con rết cố gắng xác định xem khi mình chuyển động thì chân nào bước đi trước. Cho dầu có cố gắng thế nào đi nữa, nó vẫn không thể đặt chân mình cho đúng được. Sau đó, nó trở nên mệt mỏi và nói: “Mặc kệ, tôi đi đây”. Khi bắt đầu đi, nó lại nghĩ xem chân nào của mình bước đi trước và điều đó ngăn cản nó không đi được bước nào. Một lúc sau, mặt trời chiếu xuyên qua đám mây. Khi nhìn thấy tia nắng, con rết bỗng vui mừng, chạy về hướng mặt trời, quên cả thứ tự bước chân của mình. Ngụ ngôn ấy chỉ là một hình ảnh về đời sống Cơ Đốc của chúng ta. Càng xoay lại nhìn vào chính mình, chúng ta càng không thể chuyển động và đi giật lùi. Khi ngắm xem ánh sáng của Chúa, chúng ta sẽ tiến lên cách không có ý thức.

Vài năm trước, tôi có đọc một bài báo trong một tạp chí tiếng Anh tên là The Overcomers (Những Người Đắc Thắng); tạp chí ấy bàn về những vấn đề thuộc linh rất sâu nhiệm. Tựa đề của bài báo ấy là “Bản Ngã Là Gì?” Tác giả nói rằng: “Bản ngã không gì khác hơn là một người ngẫm nghĩ về chính mình và xem xét chính mình?” Câu này thật sự sâu xa và xác đáng. Thời điểm mà bản ngã chúng ta hoạt động là lúc chúng ta xoay qua suy nghĩ về chính mình. Chúng ta phải ghi nhớ rằng hồn là cảm xúc của bản ngã. Sau cuộc phục hưng tại Wales có một giáo sư đại học đến gặp sứ giả phục hưng là ông Roberts. Vị giáo sư ấy dành trọn một ngày nói chuyện với ông về nhiều vấn đề. Sau khi ra về, vị giáo sư viết một bài đăng trên báo kể lại ấn tượng mình ghi nhận được về ông Roberts. Vị giáo sư nói rằng ông Roberts là một người hoàn toàn không có ý thức về bản thân. Thất bại của chúng ta bắt nguồn từ việc chúng ta xem xét chính mình quá nhiều; tất cả những gì chúng ta nhớ đến là chiến thắng và thất bại của mình. Hậu quả là Đấng Christ không thể hoàn toàn bày tỏ trong chúng ta.

Cách để chúng ta chiến thắng không phải là nhờ liên tục, không ngừng phân tích chính mình, mà là nhờ quay đi mà ngắm xem Giê-su. Đó không phải là cất đi những tư tưởng gian ác, mà là giữ được những tư tưởng tốt đẹp; đó không phải là xóa bỏ một điều gì đó trong chính mình, mà là nhường chỗ cho sự đổ đầy Đấng Christ trong chúng ta đến mức chúng ta hoàn toàn quên chính mình. Mỗi khi chúng ta xoay lại suy nghĩ về chính mình, bước đi của chúng ta liền bị dừng lại. Kinh Thánh không bảo chúng ta xét xem mình chạy thế nào. Trái lại, Kinh Thánh bảo chúng ta chạy bằng cách quay đi mà ngắm xem Giê-su. Nếu quay lại xem xét chính mình, chúng ta sẽ nhận thấy mình ở trong đám sương mù; càng xem xét thì chúng ta càng mờ mịt. Nếu quay đi mà ngắm xem Giê-su, tự nhiên chúng ta sẽ có khả năng chạy giỏi.

Khi mới tập chạy xe đạp, nhiều lần tôi chạy quá gần vách tường nên bị va vào tường. Mỗi ngày tay tôi đều bị trầy trụa, thương tích. Về sau tôi yêu cầu một người bạn cùng trường biết chạy xe đạp chỉ vẽ cho tôi biết nan đề của mình. Khi chạy xe đạp, tôi nhìn chăm chú vào tay lái phía trước xe đạp, hi vọng bàn tay mình có thể vững hơn để chiếc xe không bị đảo. Nhưng làm như vậy không có kết quả. Càng nhìn tay lái và cố gắng giữ cho tay mình vững, tay tôi càng run và chiếc xe đạp càng bị loạng choạng. Người bạn ấy bảo rằng tôi chạy loạng choạng và va vào tường là vì tôi nhìn vào tay lái chứ không nhìn con đường. Muốn không bị đảo tay lái và va vào tường nữa thì mắt cứ phải nhìn vào con đường phía trước. Đời sống chúng ta cũng vậy. Mỗi khi quay lại nhìn vào chính mình thì chúng ta sẽ thất bại. Chúng ta phải nhìn phía trước.

Nhiều Cơ Đốc nhân thất bại là do nội hướng và tự xét mình. Khi Cơ Đốc nhân xoay lại xem xét chính mình, cho dầu không bị tổn hại gì đi nữa, họ vẫn bị mất ít nhất một bước. Kinh Thánh không truyền dạy Cơ Đốc nhân xem xét chính mình, vì tự xét mình không những không ích lợi mà còn cản trở bước tiến nữa. Sau một ngày trôi qua, nhiều Cơ Đốc nhân ôn lại những sự việc trong ngày và xem xét chính mình. Họ chỉ lãng phí thời giờ. Sứ đồ Phao-lô không quan tâm đến việc người khác đoán xét mình như thế nào. Ngay cả ông cũng không đoán xét chính mình. Ông nói: “Đừng nên xét đoán sớm quá, hãy đợi Chúa đến, Ngài sẽ phơi sáng những điều giấu kín ở nơi tối tăm, và bày tỏ các mưu định của mọi lòng. Bấy giờ ai nấy sẽ được Đức Chúa Trời ngợi khen” (1 Cô. 4:5). Phao-lô biết rằng chỉ khi nào Chúa chiếu rọi ánh sáng của Ngài thì một người mới biết được điều gì đúng và điều gì sai. Nếu một Cơ Đốc nhân cứ liên tục xem xét chính mình, thì chắc chắn người ấy sẽ thất bại. Khi nghĩ là mình không có lỗi gì, thì người ấy sẽ kiêu ngạo và tự coi mình tốt hơn các đồng bạn của mình. Khi nghĩ đến những lỗi lầm của mình, thì người ấy sẽ nản lòng và không thấy lối thoát. Nếu việc chúng ta tự biết mình bắt nguồn từ sự soi sáng của Đức Chúa Trời, thì kết quả sẽ khác hẳn.

PHƯƠNG CÁCH ĐÚNG ĐẮN

Phải chăng chúng tôi có ý nói rằng chúng ta có thể bất cẩn trong cuộc sống hằng ngày của mình và không cần tra vấn bước đi của mình đúng hay sai, hoặc ý định của mình thuần khiết hay pha trộn? Theo chúng tôi hiểu thì Kinh Thánh không dạy về sự tự xét mình, nhưng chúng tôi chưa từng đọc thấy Kinh Thánh cấm chúng ta biết chính mình. Xoay vào bên trong và suy nghĩ về chính mình là có hại, nhưng buông thả trong sự phóng túng thậm chí còn có hại hơn nữa. Đức Chúa Trời không bao giờ cho phép chúng ta phóng túng. Tuy Đức Chúa Trời không muốn chúng ta tự xét mình, nhưng Ngài muốn chúng ta biết chính mình vì Thánh Linh đến để khiến con người tự trách về tội lỗi của mình. Theo Kinh Thánh, chúng ta không nên theo đuổi sự thánh khiết nhờ tự xét mình. Thế nhưng, điều đó không có nghĩa là Kinh Thánh không muốn chúng ta theo đuổi sự thánh khiết. Kinh Thánh không muốn chúng ta biết chính mình nhờ tự xét mình, nhưng điều đó không có nghĩa là Kinh Thánh không muốn chúng ta biết về chính mình. Lầm lẫn của con người là xem sự tự xét mình và sự tự biết mình là hai điều không thể tách rời. Vì lý do đó, người ấy nghĩ rằng không chịu tự xét mình có nghĩa là không cần biết chính mình. Người ấy không nhận thức rằng sự tự biết mình vẫn cần thiết, nhưng sự tự biết mình ấy không được bắt nguồn từ sự tự xét mình. Mục tiêu thì vẫn y như vậy, nhưng chỉ có phương cách mới phải thay đổi.

Nếu Kinh Thánh không bảo chúng ta tự xét mình, vậy phương cách để chúng ta biết chính mình là gì?

Xin chúng ta đọc Thi Thiên 26:2: “Đức Giê-hô-va ơi, xin xem xét tôi và rèn thử tôi; xin tra xét các phần bề trong và tấm lòng tôi”. Còn Thi Thiên 139:23-24b thì chép rằng: “Đức Chúa Trời ơi, xin dò xét tôi, và biết lòng tôi; xin thử nghiệm tôi, và biết những tư tưởng tôi: và xin xem có lối ác nào trong tôi không”. Hai phân đoạn Kinh Thánh này cho chúng ta biết phương cách đúng đắn để biết chính mình. Chúng ta không cần cố gắng tự xét mình hay tự tra vấn xem chúng ta cảm thấy thế nào về chính mình để biết các phần bề trong và tấm lòng của chúng ta. Chúng ta cũng không cần phải cố gắng biết tấm lòng và những tư tưởng của mình để xem có lối ác nào trong chính mình không. Trái lại, phương cách đúng đắn là cầu xin Đức Chúa Trời dò xét và thử thách chúng ta. Chỉ khi nào Đức Chúa Trời dò xét và rèn thử chúng ta, thì chúng ta mới có thể hiểu biết chính xác về mình. Tự biết mình không tùy thuộc vào sự tự xét mình của chúng ta, mà tùy thuộc vào sự tra xét của Đức Chúa Trời.

Các phân đoạn Kinh Thánh ấy nói rằng nếu muốn hiểu biết về chính mình, thì chúng ta phải cầu xin Đức Chúa Trời cho chúng ta biết sự hiểu biết của Ngài về chúng ta. Đó là sự hiểu biết chính xác nhất. Đức Chúa Trời biết chúng ta rõ ràng và chính xác hơn chúng ta biết chính mình. Mọi sự đều được phơi trần trước mặt Ngài. Ngài thấy và biết ngay cả phần sâu kín nhất của lòng chúng ta, mà tự mình chúng ta không thể cảm thấy hay phân tích được. Khi có ánh sáng của Ngài, thì chúng ta sẽ không bị lừa dối và sẽ biết tình trạng thật của mình.

Thật ra, chỉ sự hiểu biết của Đức Chúa Trời về chúng ta mới chính xác. Anh em có biết Đức Chúa Trời nghĩ thế nào về anh em không? Khi anh em nghĩ mình rất tốt lành, Đức Chúa Trời có nghĩ như vậy không? Khi anh em nghĩ mình rất tồi tệ, Đức Chúa Trời có nghĩ như vậy không? Khi cảm thấy mình tốt, thì đừng xem là mình tốt; khi cảm thấy mình không tốt, thì đừng xem là mình không tốt. Cảm nhận ấy không chính xác. Khi Đức Chúa Trời xem anh em là tốt lành, thì anh em mới tốt lành. Và khi Đức Chúa Trời xem anh em là gian ác, thì anh em mới gian ác.

Khi Đức Chúa Trời không muốn chúng ta tự xét mình, thì điều ấy không có nghĩa là Ngài không muốn chúng ta biết chính mình hay muốn chúng ta sống cách cẩu thả. Nếu tự xét mình, chúng ta vẫn không thể biết chính mình. Có lẽ điều Ngài xem là sai trật, chúng ta lại nghĩ là tốt; điều Ngài xem là ô uế thì chúng ta lại nghĩ là một lỗi nhỏ. Ngài muốn chúng ta có cùng một quan điểm với Ngài. Vì vậy, Ngài muốn chúng ta khước từ những cảm xúc không đáng tin cậy của mình trong việc nhận định tình trạng bản thân mà nhận lấy tư tưởng của Ngài và hiểu sự đoán xét của Ngài để chúng ta có thể đánh giá chính xác về chính mình.

ÁNH SÁNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI VÀ SỰ TỰ BIẾT MÌNH

Như vậy, làm sao chúng ta có thể biết được quan điểm của Đức Chúa Trời về chúng ta? Làm thế nào chúng ta có thể bước vào trong những suy nghĩ của Đức Chúa Trời về chúng ta? Thi Thiên 36:9 chép: “Trong ánh sáng Ngài, chúng tôi thấy ánh sáng”. Câu này nói đến ánh sáng hai lần, và mỗi lần đều có một ý nghĩa khác. Ánh sáng thứ nhất thì cụ thể, đó là “ánh sáng Ngài”, tức ánh sáng của Đức Chúa Trời. Ánh sáng thứ hai có tính chất chung, cho nên chỉ nói “ánh sáng” mà không kèm theo một tính từ. Ánh sáng của Đức Chúa Trời là sự hiểu biết của Đức Chúa Trời; cái nhìn của Đức Chúa Trời là quan điểm của Đức Chúa Trời. Được ở trong ánh sáng của Đức Chúa Trời là được Đức Chúa Trời phơi bày, tức được Đức Chúa Trời cho biết những gì Ngài biết. Ánh sáng thứ hai có nghĩa là tình trạng thật của vấn đề. Vậy, “trong ánh sáng Ngài tôi thấy ánh sáng” có nghĩa là khi chúng ta nhận được khải thị của Đức Chúa Trời, tức sự chiếu rọi ánh sáng thánh khiết của Đức Chúa Trời, thì chúng ta có thể biết tình trạng thật của một vấn đề nào đó. Vấn đề sẽ được sáng tỏ như ánh sáng trong mắt của lòng chúng ta. Trong ánh sáng của riêng mình, chúng ta không bao giờ nhìn thấy ánh sáng. Chỉ trong ánh sáng Ngài chúng ta mới có thể thấy ánh sáng.

Ê-phê-sô 5:13 nói rõ về chức năng của ánh sáng: “Nhưng tất cả những điều bị quở trách đều được bày tỏ ra bởi sự sáng; vì bất cứ điều gì làm cho bày tỏ ra đều là sự sáng cả” (RcV). Câu này cho biết rằng chức năng của ánh sáng là làm cho bày tỏ ra. Ánh sáng thứ nhất được nói đến trong Thi Thiên 36:9 thì khách quan, thuộc về Đức Chúa Trời. Trong ánh sáng ấy, chúng ta được phơi bày để nhận thấy tình trạng thật của mình. Đó là ánh sáng được nhìn thấy trong ánh sáng. Chúng ta không biết tình trạng của mình, nhưng khi ánh sáng Đức Chúa Trời chiếu rọi, thì chúng ta nhận thấy tình trạng của mình. Nhiều điều chúng ta từng xem là rất tốt, một ngày kia khi bị phơi bày dưới ánh sáng Đức Chúa Trời, thì chúng ta thấy thật kinh khủng. Có lẽ chúng ta nghĩ mình tốt hơn mọi người, nhưng khi ánh sáng Đức Chúa Trời chiếu trên chúng ta, chúng ta không những thấy tội là tội, mà nhiều điều chúng ta từng xem là tốt lại bị phơi bày là tội lỗi. Chúng ta không nên tự xét mình rồi báo cáo kết quả lại cho Chúa; trái lại, chúng ta phải được ánh sáng chiếu rọi, rồi xưng nhận trước mặt Chúa. Vì vậy, tự xét mình không phải là một mỹ đức, mà là một sai lầm lớn. Chúng ta đạt đến chỗ biết chính mình không phải nhờ tự xét mình mà nhờ ánh sáng Đức Chúa Trời. Chỉ khi nào ở trong ánh sáng Đức Chúa Trời, chúng ta mới có sự hiểu biết để biết chính mình. Khi mọi ánh sáng của Đức Chúa Trời về chúng ta trở nên sáng tỏ, chúng ta sẽ thấy những gì Ngài thấy trong ánh sáng ấy.

Anh em không cần phải hỏi khi nào ánh sáng Đức Chúa Trời đến. Anh em cũng không cần phải hỏi làm sao tôi biết đó là ánh sáng của Đức Chúa Trời. Anh em không cần dùng đèn cầy hay đèn lồng để nhận biết mặt trời ở trên bầu trời. Hễ khi nào anh em có thể nhìn thấy chính mình, thì anh em biết mình đang ở dưới ánh nắng và mặt trời đã mọc. Vậy, bất cứ khi nào sự hiểu biết về chính mình trở nên rất thông suốt và anh em nhìn thấy hình ảnh thật về chính mình, tức là thấu hiểu sự suy đồi của xác thịt mình, thì anh em biết rằng Đức Chúa Trời đã ban cho mình ánh sáng của Ngài. Khi ấy, anh em ở trong ánh sáng Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, nếu cái nhìn của anh em về chính mình không đúng mức và chín chắn như cái nhìn của Kinh Thánh, nếu anh em không cảm thấy xác thịt mình bại hoại như Kinh Thánh nói, và nếu anh em không tin rằng mình yếu đuối và đáng khinh như Kinh Thánh bày tỏ, thì điều đó chứng tỏ anh em vẫn chưa nhận được ánh sáng Đức Chúa Trời. Anh em chưa ở trong ánh sáng Đức Chúa Trời. Anh em không cần phải hỏi ánh sáng là gì và ở đâu. Hễ nhận thấy tác dụng của ánh sáng, thì anh em biết ánh sáng là gì và ở đâu.

Sau khi A-đam ăn trái của cây kiến thức về thiện và ác, điều đầu tiên ông nhìn thấy là sự xấu hổ của mình – sự trần truồng. Đó là cảm giác từ lương tâm của chính ông. Ông cảm thấy sự xấu hổ của chính mình. Nhưng ông có kính sợ Đức Chúa Trời không? Không, ông vẫn có cách thức riêng của mình. Ông lấy lá vả làm một cái khố để che đậy sự xấu hổ của mình. Khi tiếng nói của Đức Chúa Trời đến tra vấn ông rằng: “Ngươi ở đâu?”, ông núp giữa cây cối trong vườn để tránh mặt Đức Chúa Trời. Nhưng ông không còn cách nào khác. Ông không thể cậy nơi cái khố mình vừa tạo ra. Ông đã phải thừa nhận rằng mình đang trần truồng. Kết quả của sự tự xét mình cùng lắm là giống như A-đam, nhận thấy sự xấu hổ của chính mình. Không những ông không cảm thấy hối tiếc về tội của mình, mà còn cố gắng che đậy nó nữa. Khi Đức Chúa Trời hỏi ông, thì A-đam mới thật sự biết chính mình. Đức Chúa Trời hỏi A-đam: “Ngươi ở đâu?” Đức Chúa Trời không biết A-đam ở nơi nào sao? Đương nhiên là Ngài biết. Đức Chúa Trời hỏi vậy để chính A-đam biết mình đang ở chỗ nào. Những người có kinh nghiệm giữa vòng chúng ta có thể làm chứng rằng khi tự xét mình, cho dù có thể nhìn thấy một điều gì đó sai trật, chúng ta chỉ che đậy điều đó bằng phương pháp riêng của mình. Nhưng mỗi khi ánh sáng Đức Chúa Trời chiếu rọi trên chúng ta thì không còn cách nào để che giấu.

Một người tín đồ hỏi người Do Thái kia có muốn được cứu không, thì người ấy đáp là không. Sau đó, người tín đồ nài ép người ấy quì xuống cầu nguyện để Đức Chúa Trời cho người ấy biết chính mình. Khi ánh sáng Đức Chúa Trời chiếu rọi, người ấy nhận thấy mình bẩn thỉu biết bao. Người ấy nhận thấy tội lỗi của mình và ước gì sàn nhà nứt ra nuốt lấy mình. Trường hợp này cho thấy một tội nhân cần ánh sáng Đức Chúa Trời để biết mình là một tội nhân.

Trước khi được cứu, nhiều tội nhân thấy khó thừa nhận chính mình là tội nhân. Tuy nhiều tội nhân thật sự là tội nhân theo cái nhìn của những người khác, nhưng chính họ lại không cảm thấy mình là tội nhân. Chỉ khi nào ánh sáng Đức Chúa Trời đến, thì họ mới biết mình tội lỗi và gian ác thế nào. Sự tự trách mà ánh sáng Đức Chúa Trời gây nên sẽ làm cho họ cảm thấy không còn chỗ để che giấu. Nhiều tội nhân biết mình có tội. Họ cảm nhận điều ấy trong lòng mình và xưng nhận điều ấy bằng môi miệng mình. Đối với người khác, những người ấy dường như khôn ngoan vì họ biết chính mình. Nhưng khi Thánh Linh chiếu ra ánh sáng Đức Chúa Trời, thì họ mới nhận thấy rằng tội lỗi mà họ từng xưng nhận chỉ là nông cạn và họ đã không ghét tội như Đức Chúa Trời ghét tội. Sau khi được soi sáng, họ cảm thấy rõ ràng rằng tội lỗi thật đáng ghét và họ cần tìm sự giải cứu. Ở đây, tôi xin thêm một lời: những người trong chúng ta đang lao khổ công tác cho Đức Chúa Trời đừng lấy lý lẽ thuyết phục người khác về tội lỗi của họ, mà chỉ có thể cầu xin Thánh Linh thực hiện công việc cáo trách người ta về tội lỗi của họ. Mọi loại tự xét mình đều nông cạn, thiếu sót và sai lầm như nhau. Chỉ ánh sáng Đức Chúa Trời mới có thể làm cho con người nhìn thấy bức tranh về bản ngã thật của mình y như Đức Chúa Trời thấy về họ.

Là Cơ Đốc nhân, hằng ngày chúng ta biết chính mình không phải nhờ tự xét mình mà nhờ ánh sáng Đức Chúa Trời. Khi ánh sáng Đức Chúa Trời chiếu rọi trên chúng ta, chúng ta nhận thấy mình bại hoại đến cùng cực. Có lẽ chúng ta tỏ ra rất yêu thương người khác. Nhưng khi ánh sáng Đức Chúa Trời chiếu rọi, chúng ta nhận thấy mình đã không yêu người khác đủ. Chúng ta nhận thấy mình vẫn còn thiếu sót đối với người khác trong nhiều điều. Chúng ta chinh phục nhiều người và xem công việc của mình là thành công. Nhưng khi ánh sáng Đức Chúa Trời chiếu rọi, chúng ta nhận thấy các công việc của mình không gì khác hơn là công việc của xác thịt. Các công việc ấy hư không và vô ích. Chúng ta bắt đầu nhận biết các công tác của mình đã không được Đức Chúa Trời thực hiện. Nhiều khi chúng ta tưởng mình đang hết lòng thực hiện ý chỉ của Đức Chúa Trời và không theo đuổi bất cứ điều gì cho chính mình; thế nhưng, khi ánh sáng Đức Chúa Trời chiếu rọi, chúng ta nhận thấy mình không tuân theo ý chỉ của Đức Chúa Trời. Có lần tôi hỏi chị Barber về kinh nghiệm của chị trong việc tuân theo ý chỉ của Đức Chúa Trời. Chị đáp rằng: “Mỗi lần Đức Chúa Trời trì hoãn không bày tỏ cho tôi ý chỉ của Ngài, thì tôi kể như trong mình vẫn còn một tấm lòng chưa sẵn sàng vâng phục ý chỉ của Đức Chúa Trời. Bên trong tôi chắc vẫn còn một mục tiêu sai trái. Tôi nhận thức được điều này qua nhiều kinh nghiệm”. Khi tìm kiếm ý chỉ của Đức Chúa Trời mà không được đáp lời, chúng ta cần phải xin Đức Chúa Trời dò xét chúng ta xem còn chút nào miễn cưỡng bên trong mình không. Khi ánh sáng Đức Chúa Trời chiếu rọi, chúng ta sẽ nhận thấy tình trạng ở bên trong. Chúng ta nghĩ mình không có chút nào miễn cưỡng ở bên trong đối với việc vâng phục Đức Chúa Trời. Nhưng chúng ta tự lừa dối mình. Khi rửa mặt, chúng ta có tự xét xem còn phấn trắng, chấm đen hoặc đất dơ trên mặt, hay chúng ta soi gương để phát hiện những điều ấy? Nếu muốn biết chính mình, chúng ta không nên nghĩ xem mình như thế nào, mà phải cầu xin sự chiếu rọi của ánh sáng Đức Chúa Trời. Chỉ khi ấy chúng ta mới biết tình trạng của mình. Nhiều lúc chúng ta nghĩ ý định của mình không sai trật, nhưng khi ánh sáng Đức Chúa Trời chiếu trên chúng ta, thì chúng ta mới nhận thấy bên trong mình ích kỷ, tự lực và thậm chí bất chính biết bao. Không có sự soi sáng của Đức Chúa Trời, chúng ta nghĩ cuộc sống của mình vẫn có thể chấp nhận được. Nhưng khi được Đức Chúa Trời chiếu rọi, chúng ta mới nhận thấy là mình đã thất bại. Trong ánh sáng Đức Chúa Trời, chúng ta mới có thể nhìn thấy ánh sáng.

Sự khác biệt giữa một Cơ Đốc nhân sâu nhiệm và một Cơ Đốc nhân nông cạn tùy thuộc vào lượng ánh sáng của Đức Chúa Trời họ nhận được và cũng tùy thuộc vào lượng ánh sáng ấy có tính lâu bền hay tạm thời. Dưới ánh sáng Đức Chúa Trời, một người thấy rõ đen ra đen và trắng ra trắng. Chỉ khi nào một Cơ Đốc nhân nông cạn được Đức Chúa Trời phơi bày vào một thời điểm cụ thể, người ấy mới có thể nhận thấy những thiếu hụt của mình trong một vấn đề nào đó. Cơ Đốc nhân sâu nhiệm liên tục ở dưới sự chiếu sáng của Đức Chúa Trời, và người ấy biết chính mình. Một số người trong chúng ta tại đây có thể từng có kinh nghiệm như sau: chúng ta nghe một Cơ Đốc nhân trẻ nói về tình yêu của mình dành cho Chúa và mình đã dâng mọi sự cho Chúa như thế nào. Nhưng chúng ta cảm thấy người ấy không biết mình đang nói gì. Người ấy vẫn chưa biết rằng dâng mình cho Đức Chúa Trời là khó khăn thế nào và kết quả của sự dâng mình sẽ ra sao trong tương lai. Người ấy chỉ nói theo cảm xúc nhất thời.

Trường hợp ấy cũng giống như câu trả lời của Chúa Giê-su với Gia-cơ và Giăng khi họ xin Ngài rằng: “Xin cho chúng tôi được ngồi một người bên hữu, một người bên tả Thầy trong vinh quang của Thầy. Nhưng Giê-su nói với họ rằng: Các ngươi không biết điều mình đang xin. Các ngươi có thể uống được chén Ta uống, hay chịu được báp-têm Ta chịu chăng? Họ thưa với Ngài rằng: Chúng tôi có thể uống được” (Mác 10:37-39). Họ đã không nhận biết những điều bao gồm trong hai câu ấy sâu xa thế nào. Họ vội trả lời rằng: “Chúng tôi có thể”. Khi không có ánh sáng Đức Chúa Trời, chúng ta cũng giống như hai môn đồ ấy. Chúng ta không nhận biết mình yếu đuối ra sao, và không biết mức độ Đức Chúa Trời đòi hỏi nơi mình. Chúng ta tưởng mình có khả năng trong mọi việc. Khi ánh sáng Đức Chúa Trời chiếu rọi, lúc ấy chúng ta mới biết rằng đối với nhiều vấn đề liên quan đến lẽ thật thuộc linh, tất cả những gì chúng ta nói chỉ là chữ nghĩa suông. Chúng ta tuyệt nhiên không hiểu ý nghĩa của những lời ấy.

Không những sự tốt lành của chúng ta được phơi bày ra dưới ánh sáng Đức Chúa Trời là không tốt lành, mà thậm chí điều chúng ta thường xem là không tốt, dưới ánh sáng Đức Chúa Trời, chúng ta cũng sẽ được đem đến chỗ nhận thức sâu xa hơn mức độ không tốt của điều ấy. Chúng ta thường biết rất rõ rằng mình yếu đuối ở những điểm nào đó. Chúng ta cảm thấy như vậy. Chúng ta nói với người khác những điểm ấy, và thưa với Đức Chúa Trời về những điều ấy khi cầu nguyện. Tuy nhiên, chúng ta không cảm nhận sâu xa đúng mức về sự yếu đuối của mình; chúng ta không cảm thấy nó rất đáng khinh. Hơn nữa, mặc dầu nhận biết sự yếu đuối ấy, chúng ta vẫn vô tâm để ngày tháng trôi qua. Khi ánh sáng Đức Chúa Trời đến, chúng ta nhận biết sự yếu đuối của mình đến tận gốc rễ. Chỉ khi ấy chúng ta mới cảm thấy vô cùng đau đớn vì sự yếu đuối ấy và chỉ khi ấy chúng ta mới có lòng lên án sự yếu đuối ấy. Hơn nữa chúng ta sẽ cảm thấy rằng nếu không được giải cứu khỏi sự yếu đuối ấy thì chúng ta không thể tiếp tục sống nữa. Sự khác biệt về mức độ sâu xa giữa sự tự biết mình có được nhờ tự xét mình và sự biết mình có được nhờ ánh sáng Đức Chúa Trời thì quá lớn không sao lường được. Vậy, các bạn ơi, nếu các bạn biết chính mình mà không cần đến ánh sáng Đức Chúa Trời, thì các bạn vẫn chưa thật sự biết chính mình. Sự tự biết mình có được nhờ tự xét mình chỉ cho thấy những gì anh em nói về chính mình. Sự tự biết mình có được nhờ ánh sáng Đức Chúa Trời mới cho thấy rõ Đức Chúa Trời nhìn thấy anh em như thế nào. Sự phán đoán của chúng ta về chính mình không bao giờ có thể chính xác bằng sự phán đoán của Đức Chúa Trời về chúng ta.

Ở đây chúng ta thấy sự khác biệt giữa ánh sáng Đức Chúa Trời và sự hiểu biết. Sự hiểu biết là những gì chúng ta biết, và hiểu trong tâm trí mình. Ánh sáng Đức Chúa Trời là những gì Đức Chúa Trời biết, và được mặc khải cho chúng ta qua Linh Ngài. Nhiều người lầm tưởng ánh sáng được nói đến trong Kinh Thánh có nghĩa là sự hiểu biết. Do đó, chúng ta thường nghe người ta nói rằng một người nào đó có nhiều ánh sáng, nhưng cuộc sống người ấy lại rất tệ. Không thể có trường hợp như vậy. Ánh sáng không phải là sự hiểu biết. Kinh Thánh nói sự hiểu biết làm cho lên mặt. Nhưng khi ánh sáng Đức Chúa Trời chiếu vào lòng của một người, ánh sáng ấy không làm cho người đó lên mặt. Trái lại, ánh sáng ấy làm cho người đó tự trách mình, ăn năn về dĩ vãng, ghét xác thịt, và ở trong tro bụi mà khẩn nài Đức Chúa Trời giải cứu mình khỏi tình trạng ô uế. Rất có thể một người đầy dẫy kiến thức Kinh Thánh mà đồng thời không có chút ánh sáng nào của Đức Chúa Trời trong lòng mình. Nếu bị thối lui, một người vẫn có thể nói với người ta về Kinh Thánh từ sự hiểu biết trước kia của mình, nhưng lại không có ánh sáng Đức Chúa Trời. Ánh sáng Đức Chúa Trời là sự hiểu biết tìm được trong quyền năng của Thánh Linh, và sự hiểu biết là ánh sáng Đức Chúa Trời được con người giữ lại trong tâm trí mình. Sự hiểu biết có chỗ của nó trong cả Kinh Thánh lẫn trong các kinh nghiệm thuộc linh, nhưng sự hiểu biết tách rời khỏi quyền năng của Thánh Linh là chết chóc. Scofield nói rằng: “Không gì nguy hiểm hơn là khi lẽ thật tách rời khỏi quyền năng”. Cho dầu chúng ta có thể biết nhiều lẽ thật và nhận được nhiều sự hiểu biết, chúng ta vẫn không có ánh sáng, không thể biết tình trạng thật của mình, cũng không thể tiến lên trên con đường [thuộc linh] nếu những điều ấy không ở trong quyền năng của Thánh Linh. Nếu đã nhận được ánh sáng từ Đức Chúa Trời, thì chúng ta phải canh giữ những gì mình đã nhận được qua Thánh Linh, tức Đấng đã ban cho chúng ta ánh sáng, và phải làm cho nó trở nên ánh sáng lâu bền cho con đường của mình, đừng để ánh sáng ấy mất đi quyền năng của nó.

Đôi khi Đức Chúa Trời ban cho chúng ta ánh sáng và nhận thức thật về một vấn đề nào đó. Khi ấy chúng ta dường như biện biệt được phần sâu xa nhất và cốt lõi nhất của vấn đề. Có vẻ như mọi sự đều phơi bày và bày tỏ một cách trần trụi trước mắt chúng ta. Ít lâu sau, tuy chúng ta vẫn nhớ kinh nghiệm ấy và vẫn hiểu biết việc ấy, nhưng cảm nhận của chúng ta về vấn đề ấy dường như không còn sâu xa bằng, như thể những gì chúng ta thấy bây giờ không rõ ràng như trước kia. Lúc ấy, ánh sáng Đức Chúa Trời đã biến mất. Điều còn lại không gì khác hơn là sự hiểu biết. (Chú thích: Tối thiểu chúng ta phải bước đi theo sự hiểu biết mình có. Tuy nhiên, đó không có nghĩa chỉ cần có sự hiểu biết là đủ. Chúng ta cũng cần ánh sáng). Ánh sáng có thể làm cho con người có cảm nhận sâu xa nhất, còn sự hiểu biết thì không làm được như vậy.

Do đó, nếu chúng ta muốn bước đi trên con đường ấy, sự soi sáng của Đức Chúa Trời là điều không thể thiếu được. Những cảm giác của chính chúng ta hoặc hoàn toàn đánh lừa chúng ta hoặc làm suy giảm sự lên án tội lỗi của chúng ta. Nếu chúng ta muốn theo đuổi sự thánh khiết nhờ những cảm xúc của mình, thì chúng ta đang đi theo một người hướng dẫn mù lòa. Cần phải có ánh sáng của Đức Chúa Trời. Chỉ khi ấy tình trạng thật của vấn đề mới được tỏ ra. Ánh sáng có nghĩa là Đức Chúa Trời nhìn thấy tình trạng của chúng ta thế nào và Đức Chúa Trời nói gì. Khi Đức Chúa Trời nói tình trạng ấy sai trật, thì nó sai trật. Khi Đức Chúa Trời nói tình trạng ấy sai trật một trăm phần trăm, thì nó sai trật một trăm phần trăm. Trước khi ánh sáng đến, đó chỉ là những gì anh em suy nghĩ và không đáng tin cậy. Ấy không phải là anh em nói gì về cuộc đời mình, mà là Đức Chúa Trời nói gì về cuộc đời anh em.

Khi chị Barber qua đời, chị để lại cho tôi một quyển Kinh Thánh. Trong đó có viết hàng chữ sau đây: “Đức Chúa Trời ơi, xin ban cho con một khải thị thông suốt và không giới hạn về chính con”. Lời ấy sâu xa biết bao! Chúng ta thường nghĩ rằng hễ mình không nhìn thấy điều gì sai trật là ổn thỏa rồi. Chúng ta ít nhận thức được là Đức Chúa Trời có một cái nhìn khác về chúng ta. Nếu chưa nhận được ánh sáng của Đức Chúa Trời, thì chúng ta chỉ tự lừa dối mình. Chúng ta phải mạnh dạn để Đức Chúa Trời chiếu rọi ánh sáng của Ngài để Ngài có thể bày tỏ cho chúng ta bức tranh thật về chính chúng ta. Trừ phi có sự chiếu sáng của Đức Chúa Trời, chúng ta không cách nào biết chính mình. Sự đánh giá của chúng ta về chính mình không đáng tin cậy.

ÁNH SÁNG ĐẾN TỪ ĐÂU?

Trước hết, Đấng Christ là ánh sáng của chúng ta. Giăng 8:12 chép: “Giê-su lại phán cùng chúng rằng: Ta là sự sáng của thế gian; ai theo Ta hẳn chẳng đi trong tối tăm, nhưng có sự sáng của sự sống”. Chúa Giê-su là ánh sáng. Khi tới gần Chúa, chúng ta sẽ thấy ánh sáng. Chúng ta thường tưởng cái này thì khá tốt còn cái kia thì không tệ lắm. Nhưng khi chúng ta thưa với Chúa các sự kiện trong một hoàn cảnh nào đó và cầu xin Ngài soi sáng, thì chúng ta ngạc nhiên nhận thấy mọi sự đều sai trật cả. Ngày tháng trôi qua, chúng ta nghĩ không có gì sai trật. Nhưng khi chúng ta đến gần Chúa, mỗi một điều đều được bày tỏ ra là sai trật. Một bên là tiêu chuẩn riêng của chúng ta, còn bên kia là tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời. Khi đến gần Chúa, chúng ta sẽ nhận thấy tiêu chuẩn của mình vẫn chưa đủ. Nếu một Cơ Đốc nhân không cầu nguyện nhiều để được khải thị về tình trạng thật của mình, trong mười trường hợp hết chín trường hợp anh em có thể bảo đảm rằng Cơ Đốc nhân ấy đang mắc lỗi lầm. Càng tới gần Chúa, chúng ta sẽ càng nhận được ánh sáng của Đức Chúa Trời.

Thứ hai, Lời của Đức Chúa Trời là ánh sáng của chúng ta. Thi Thiên 119:105 chép: “Lời Chúa là ngọn đèn cho chân tôi, ánh sáng cho đường lối tôi”. Câu 130 chép: “Sự bày giãi lời Chúa, soi sáng cho”. Có lẽ hai câu ấy rất quen thuộc với chúng ta, nhưng nếu đọc kỹ hai câu ấy trước mặt Đức Chúa Trời thì chúng ta sẽ nhận biết các câu ấy sâu xa biết bao. Con đường chúng ta bước đi được loài người xem là chính đáng hay được Đức Chúa Trời xem là chính đáng? Công việc của xác thịt không thể thoát khỏi sự chiếu rọi của ánh sáng Đức Chúa Trời. Không phải con người nói gì, mà là Lời của Đức Chúa Trời nói gì. Hằng ngày chúng ta không nên theo cảm nhận của mình đánh giá một vấn đề đúng hay sai. Trái lại, chúng ta phải để Lời của Đức Chúa Trời quyết định vấn đề ấy đúng hay sai. Chính mình chúng ta không nên xét đoán. Thay vào đó, chúng ta nên để Lời của Đức Chúa Trời định đoạt. Hãy đặt chính anh em trong Lời của Đức Chúa Trời, và hãy để Lời của Đức Chúa Trời xét đoán, chỉ ra tình trạng thật của mình. Do đó, chúng ta phải càng đọc Kinh Thánh, và tin tưởng rằng Thánh Linh sẽ bày tỏ Lời của Đức Chúa Trời cho chúng ta để có thể biết chính mình.

Thứ ba, các Cơ Đốc nhân là ánh sáng của chúng ta. Ma-thi-ơ 5:14 chép: “Các ngươi là ánh sáng của thế gian”. Chúng ta rất quen thuộc với câu này. Thông thường chúng ta nghĩ câu này chỉ nói đến phẩm hạnh tốt của một Cơ Đốc nhân. Nhưng ở đây thật ra có một ý nghĩa rất sâu xa. Câu ấy nói Cơ Đốc nhân là ánh sáng. Một Cơ Đốc nhân có thể làm sáng tỏ tình trạng thật của người khác. Nhiều Cơ Đốc nhân ở trong ánh sáng của Đức Chúa Trời, làm cho các Cơ Đốc nhân khác sợ thấy họ vì một khi trông thấy họ thì các Cơ Đốc nhân khác sẽ [cảm thấy] bị kết án về những tội lỗi của mình. Một Cơ Đốc nhân yếu đuối không sợ gặp một Cơ Đốc nhân khác đang ở trong tình trạng giống mình. Nhưng khi đến gần một Cơ Đốc nhân đang ở trong ánh sáng Đức Chúa Trời, anh em sẽ cảm thấy hổ thẹn. Anh em vốn kiêu ngạo, nhưng khi được người ấy chiếu sáng thì anh em cảm thấy hổ thẹn. Anh em vốn không thành thực, nhưng khi được người ấy chiếu sáng thì anh em cảm thấy xấu hổ. Anh chị em ơi, chúng ta là các công tác viên của Đức Chúa Trời, hầu việc Đức Chúa Trời. Nếu không có ánh sáng của Đức Chúa Trời, thì anh em không thể nào công tác. Nếu anh chị em không có ánh sáng để soi sáng người khác, thì họ không thể tới gần Đức Chúa Trời qua anh chị em. Nếu anh chị em tới gần Đức Chúa Trời và liên tục được ánh sáng Đức Chúa Trời kiểm chế, thì tự phát anh chị em sẽ làm sáng tỏ tình trạng thật của những người tiếp xúc với anh chị em. Nếu muốn vâng theo ý chỉ của Đức Chúa Trời và thực hiện công tác của Đức Chúa Trời, thì chúng ta cần làm ánh sáng.

Khi anh em đến gần các Cơ Đốc nhân là những người gần gũi Đức Chúa Trời, họ sẽ làm cho anh em cảm nhận Đức Chúa Trời. Họ không khiến anh em cảm thấy sự nhân hậu và khiêm nhường của họ, mà làm cho anh em cảm nhận về Đức Chúa Trời. Khi mới bắt đầu công tác, tôi quyết định vâng phục ý chỉ của Đức Chúa Trời bằng mọi giá. Tôi đã tưởng mình đang vâng phục ý chỉ của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, mỗi khi đến gặp chị Barber, sau khi nói chuyện và cùng đọc với chị một vài câu Kinh Thánh, tôi nhận thấy là mình vẫn thiếu sót. Mỗi lần gặp chị, tôi luôn luôn cảm thấy một điều gì đó thật đặc biệt, ấy là Đức Chúa Trời hiện diện tại đấy. Khi đến gần chị, anh em sẽ cảm nhận được Đức Chúa Trời. Chị có ánh sáng và được ánh sáng Đức Chúa Trời kiểm chế; vì vậy, khi anh em đến gần chị, ánh sáng từ chị lên án tội lỗi của anh em.

Một điều chúng ta phải ghi nhớ, ấy là dầu tới gần Đấng Christ, đọc Lời của Đức Chúa Trời hay gần gũi các Cơ Đốc nhân khác, mọi ánh sáng chúng ta nhận được đều đến từ sự khải thị của Thánh Linh. Thánh Linh là Đấng bày tỏ ra ánh sáng không ai có thể đến gần được mà trong đó Đức Chúa Trời cư ngụ. Ngài là Đấng biểu lộ vinh quang, sự thánh khiết và sự công chính của Ngài. Nhờ đó, chúng ta nhận thấy tiêu chuẩn tuyệt đối của Đức Chúa Trời, đến nỗi chúng ta nhìn thấy chính mình, biết tình trạng thật của mình, và nhận biết mình thiếu hụt tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời thể nào.

QUYỀN NĂNG CỦA ÁNH SÁNG

Quyền năng của ánh sáng là sự tự biết mình mà ánh sáng ấy ban cho con người. Khi một người vào trong ánh sáng ấy, thì ánh sáng ấy bày tỏ cho người đó tình trạng thật của mình. Nhiều tín đồ thường xuyên tự biện hộ, tự mãn và tự cao tự đại. Trong tình trạng ấy, không lời nói, lời giải thích, lời khuyên bảo, lời cảnh cáo hay lời quở trách nào của con người có thể làm cho họ nhìn thấy tình trạng sa ngã của chính mình. Chỉ khi nào Đức Chúa Trời qua Thánh Linh ban cho ân điển và chiếu rọi ánh sáng Ngài trên người ấy, thì người ấy mới nhận thấy mình bại hoại, sa ngã và giả hình như thế nào. Khi ánh sáng Đức Chúa Trời đến, mọi sự đều thay đổi màu sắc. Trong ánh sáng Đức Chúa Trời, mọi sự đều lộ ra màu sắc thật của chúng.

Thật ra, nếu Đức Chúa Trời không chiếu sáng thì không ai có thể được cứu. Không được Đức Chúa Trời chiếu sáng thì không người nào có thể tiến bộ trên bước đường thuộc linh và không người nào có thể công tác hữu hiệu.

Làm thế nào một tội nhân có thể biết Chúa Giê-su là Cứu Chúa? Chắc chắn không phải nhờ tranh luận. Làm sao người ấy có thể biết mình là tội nhân? Chắc chắn không phải do quở trách. Bất kể anh em sử dụng phương pháp nào, hoặc là biện luận với những lời lẽ hợp lý nhất, hoặc là tranh luận bằng đủ mọi lý luận hay cảnh cáo bằng những lời lẽ nghiêm khắc nhất, không điều nào có thể làm cho một tội nhân thấy những tội lỗi của chính mình và nhìn nhận Giê-su làm Cứu Chúa. Tôi không nói tất cả những phương pháp ấy đều vô dụng. Chúng có chỗ của chúng. Tuy nhiên, các phương pháp ấy chỉ có thể cho người ta biết họ là tội nhân và Giê-su là Cứu Chúa theo lãnh vực tâm trí. Các phương pháp không bao giờ có thể khiến họ nhìn thấy. Mọi tội nhân đều mù lòa, và loại mù lòa ấy làm cho họ không sao thấy được ánh sáng phúc âm của Đức Chúa Trời. Thánh Linh mở mắt tội nhân qua ánh sáng của Đức Chúa Trời, khiến người ấy nhìn thấy ánh sáng của Đức Chúa Trời. Nhìn thấy là một ơn phước đặc biệt trong Tân Ước. Đức Chúa Trời bày tỏ Con Ngài trong tôi. Đó là một kinh nghiệm chung cho mỗi tội nhân được cứu. Làm cho người ta “tiếp nhận Đạo Đấng Christ”, “tin nơi Giê-su” và “trở nên một Cơ Đốc nhân” bằng những ý tưởng cao đẹp, lý do, cảm xúc ấm áp, tình cảm, âm nhạc, nước mắt hay sự biện luận thì hoàn toàn vô hiệu. Ánh sáng của Đức Chúa Trời, tức ánh sáng Đức Chúa Trời phát ra qua Thánh Linh, là yếu tố tất yếu đầu tiên. Nhu cầu cơ bản là một tội nhân phải nhìn thấy tình trạng của chính mình và nhìn thấy vinh quang của Giê-su. Làm cho người ấy nhỏ nước mắt, ăn năn, nhiệt thành, xưng tội và có những cảm xúc tốt đẹp đều vô ích. Chỉ nhìn thấy trong Thánh Linh mới có thể làm cho một tội nhân thật sự tin và tiếp nhận Chúa Giê-su là Cứu Chúa. Đó là vì anh em không bao giờ có thể tin những gì mình chưa từng thấy, và không bao giờ có thể tiếp nhận những gì mình không thấy. Vì từ bên trong anh em đã nhìn thấy, nên anh em tin. Chỉ có loại đức tin này mới không thể lay chuyển được. Chỉ điều này mới chịu được các thử thách.

Sự tiến bộ trong đời sống Cơ Đốc không tùy thuộc vào nhiều lời khích lệ, cảnh cáo và dạy dỗ. Đó không phải là vấn đề bảo một tín đồ phải nhiệt thành, làm bổn phận của mình, đọc Kinh Thánh thêm hay cầu nguyện thêm. Tất cả những điều ấy đều là thứ yếu, chứ không phải chủ yếu. Yếu tố chủ yếu là nhìn thấy. Vì vậy, khi Phao-lô viết thư cho người Ê-phê-sô, mặc dầu ông biết rằng trong Chúa họ rất tốt, chứ không như người Cô-rin-tô, là những người sa bại về mặt đạo đức, nhưng điều đầu tiên ông cầu nguyện cho họ là xin Đức Chúa Trời soi sáng mắt của lòng họ bởi Thánh Linh. Đời sống Cơ Đốc tiến bộ được là do nhận được ánh sáng của Đức Chúa Trời, là điều mở mắt một Cơ Đốc nhân và làm cho người ấy nhận biết sự phong phú của vinh quang Đức Chúa Trời, cùng sự vĩ đại của quyền năng Đức Chúa Trời, mà người ấy đã được ban cho qua sự phục sinh của Giê-su Christ. Nếu một Cơ Đốc nhân không thể nhìn thấy những điều ấy và không nhận biết những điều mình đã nhận được từ Đức Chúa Trời phong phú như thế nào, thì không thể nào tiến bộ được.

Người làm công tác đặc biệt cho Đức Chúa Trời phải là người từng được Đức Chúa Trời chiếu sáng. Chỉ người nào từng được Đức Chúa Trời chiếu sáng mới có thể đoán xét xác thịt mình. Chỉ người nào đã đoán xét xác thịt mình mới có thể được Đức Chúa Trời sử dụng. Khi ánh sáng Đức Chúa Trời đến, vì nhìn thấy sự thánh khiết của Đức Chúa Trời, thì người tín đồ mới có thể nhận thấy mình ô uế ra sao. Vì đã nhìn thấy sự công chính của Đức Chúa Trời nên người ấy mới có thể nhận biết mình không công chính như thế nào. Vì đã nhìn thấy vinh quang của Đức Chúa Trời, nên người ấy có thể nhận biết mình bại hoại ra sao. Sau khi một tín đồ đã biết chính mình như vậy, người ấy sẽ giống như một người thật sự được cắt bì, tuyệt đối không tin cậy nơi chính mình (chẳng những không tin cậy mà còn ghét cách sâu đậm), nhưng hoàn toàn phụ thuộc vào Linh Đức Chúa Trời. Chỉ loại người hầu việc Chúa ở trong bàn tay Đức Chúa Trời như vậy mới có thể được Đức Chúa Trời sử dụng. Và chỉ loại người hầu việc Chúa như vậy mới có được cái nhìn của Đức Chúa Trời, thấy được kế hoạch của Đức Chúa Trời và hiểu biết mục tiêu của Đức Chúa Trời.

Vì nhiều người không có ánh sáng của Đức Chúa Trời, nên họ tự xem mình là tuyệt diệu. Sa-tan thường lừa gạt người ta bằng cách làm cho họ tưởng rằng mình đã có được sự thánh khiết và vô tội. Họ ít nhận thức rằng lý do họ nói như vậy là vì họ không có ánh sáng của Đức Chúa Trời; do đó, họ không nhận biết sự bại hoại của xác thịt. Tôi là người tin sâu xa vào sự kiện Đấng Christ là sự sống của chúng ta và Ngài có thể làm cho chúng ta hoàn toàn đắc thắng tội lỗi. Không Cơ Đốc nhân nào có thể viện cớ gì mà nói rằng con người không thể nào tránh khỏi phạm tội trên trái đất này. Nhưng cho dầu đắc thắng, chúng ta vẫn không thể nói xác thịt của mình không bại hoại. Ngày nay có một sai lầm chung: con người rơi vào thái cực này hoặc thái cực kia. Một số người nghĩ rằng vì quá bại hoại nên họ không thể nào không phạm tội. Những người khác thì nghĩ rằng vì họ đã nhận được Đấng Christ làm sự đắc thắng của mình nên từ bên trong tội đã được tiêu trừ, nhờ đó, họ không còn bại hoại nữa. Thật ra, cả hai đều sai lầm. Chúng ta thật sự đắc thắng trong Đấng Christ, nhưng chúng ta bại hoại trong chính mình. Một tín đồ nhờ Đấng Christ mà có thể có một cuộc sống hoàn toàn đắc thắng tội lỗi hằng ngày, và đồng thời người ấy cũng có thể cảm thấy rằng mỗi ngày mình đều bại hoại đến cùng cực. Cảm nhận về tình trạng suy đồi và bại hoại không thể ngăn cản người ấy đắc thắng vì ấy là Đấng Christ đắc thắng trong người ấy chứ không phải chính người ấy. Cũng vậy, sự toàn thắng của người ấy không thể cất đi cảm nhận về sự bại hoại toàn diện vì sự giải cứu của Đấng Christ không thay đổi bản chất bại hoại của xác thịt.

Vì quá nhiều người bị lừa gạt trong chút ánh sáng lờ mờ của mình mà tưởng rằng họ rất thánh khiết, không có tội và hoàn hảo trong tình yêu thương, nên chúng ta cần phải nhìn xem nhiều thánh đồ ưu tú nhất và sâu nhiệm nhất trong Kinh Thánh đã đánh giá chính mình như thế nào trong ánh sáng của Đức Chúa Trời.

Gióp

Gióp là một người công chính. Đó là lời nhận xét của Đức Chúa Trời về ông. Trong lúc ông chịu khổ, ba người bạn của ông nghĩ rằng ông đã phạm tội và xúc phạm đến Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, ông phủ nhận điều đó và hết sức tranh luận với họ để chứng minh mình trong sạch và công chính. Tất cả chúng ta đều biết rằng khi Đức Chúa Trời bày tỏ chính Ngài cho ông, thì Kinh Thánh chép ông nói rằng: “Trước lỗ tai tôi có nghe đồn về Chúa, nhưng bây giờ, mắt tôi đã thấy Ngài: Vì vậy, tôi lấy làm gớm ghê tôi, và ăn năn trong tro bụi” (Gióp 42:5-6). Khi ánh sáng Đức Chúa Trời đến, ông nhận thấy mình ghê tởm biết bao. Lời lẽ của con người không làm cho ông tự trách mình, nhưng ánh sáng của Đức Chúa Trời khiến ông phải khiêm nhường.

Ê-sai Trước khi sai Ê-sai đi, Đức Chúa Trời trước hết bày tỏ vinh quang của Ngài cho ông. Trong vinh quang ấy, vị tiên tri của Đức Chúa Trời không thể không kêu lên rằng: “Khốn nạn cho tôi, xong đời tôi rồi! Vì tôi là người có môi dơ dáy, ở giữa một dân có môi dơ dáy, bởi mắt tôi đã thấy Vua, tức là Đức Giê-hô-va vạn quân!” (Ês. 6:5). Trước khi nhìn thấy khải tượng ấy, môi miệng Ê-sai đã ô uế, và ông đã ở giữa một dân có môi miệng ô uế rồi. Tuy nhiên, ông không cảm thấy như vậy, mà có lẽ nghĩ rằng mình có thể làm một tiên tri hầu việc Đức Chúa Trời. Khi ánh sáng chói lòa của Đức Chúa Trời chiếu rọi đến, ông có thể nhận thấy tình trạng thật của dân chúng quanh mình. Ông cũng có thể nhận thấy tình trạng thật của bản thân, môi miệng mình ô uế biết bao và mình thật không xứng đáng làm môi miệng cho Đức Chúa Trời. Vì vậy, ông kêu lên rằng: “Khốn nạn cho tôi, xong đời tôi rồi!” Thật vậy, sự thánh khiết của Đức Chúa Trời sẽ làm lộ ra tình trạng “khốn nạn” của chúng ta. Sau khi ông nhận biết chính mình như vậy, thì Sê-ra-phin lấy than hồng làm sạch môi miệng của ông. Ở đây chúng ta nhận thấy một trình tự rất hay: trước hết là tình trạng ô uế, rồi đến ánh sáng Đức Chúa Trời, kế đến là tự biết tình trạng ô uế, sau đó là được tẩy sạch, và cuối cùng là tình trạng sẵn sàng được sai đi.

Đa-ni-ên

Trong Kinh Thánh có hai người không thấy ghi chép gì về tội lỗi của họ. Đa-ni-ên là một trong hai người ấy. Từ điểm đó, chúng ta nhận biết rằng đối với Đức Chúa Trời, ông đã làm đẹp lòng Ngài. Tuy nhiên, Kinh Thánh nói với chúng ta rằng khi ông nhìn thấy Chúa và được Đức Chúa Trời soi sáng, thì ông nói rằng: “[Ta] chẳng còn sức nữa. Mặt ta biến sắc cho đến tái đi, và ta không còn sức nữa. Song ta còn nghe tiếng của những lời Người, và vừa nghe xong, ta ngủ mê đi, nằm sấp mặt xuống đất” (Đa. 10:8-9). Trong ánh sáng Đức Chúa Trời, dầu là người thánh đồ ưu tú nhất cũng không thể đứng vững. Người ấy phải sấp mình xuống đất.

Ha-ba-cúc

Khi Ha-ba-cúc được Đức Chúa Trời soi sáng, ông cũng có cùng một kinh nghiệm. Ông nói rằng: “Tôi đã nghe, thì thân tôi run rẩy; nghe tiếng Ngài thì môi tôi rung động; sự mục nát nhập vào xương tôi; và tôi run rẩy trong chỗ tôi” (Ha. 3:16).

Phi-e-rơ

Chúng ta đều biết Phi-e-rơ là một người tự phụ và tự tin. Nhưng khi Đức Chúa Trời qua Chúa Giê-su chiếu một chút ánh sáng để Phi-e-rơ thoáng thấy chính mình, thì ông không thể không thừa nhận tình trạng ô uế của mình. Chúng ta đều biết câu chuyện các môn đồ lao nhọc suốt đêm mà không được gì. Khi ấy, Chúa truyền họ thả lưới chỗ sâu. Họ vâng theo và lưới được nhiều cá, thậm chí đầy ắp hai chiếc thuyền. Qua đó, Chúa chiếu ra một tia sáng của vinh quang Ngài và khiến Phi-e-rơ phục xuống nơi đầu gối Giê-su, mà thưa rằng: “Chúa ơi, xin lìa khỏi tôi, vì tôi là người có tội” (Lu. 5:8).

Phao-lô

Phao-lô là một người đã đánh trận tốt đẹp, đã hoàn tất cuộc đua, và đã giữ được đức tin. Khi gần lìa khỏi thế gian này, ông nói với chúng ta rằng: “Tôi là người đứng đầu” trong các tội nhân. Điều tôi muốn lưu ý ở đây ấy là chữ “là” trong nguyên ngữ ở thì hiện tại. Điều này cho chúng ta biết lúc gần chết Phao-lô xem chính mình như thế nào. Ông xét thấy rằng Chúa Giê-su đến thế gian để cứu tội nhân và giữa vòng tội nhân ông là người đứng đầu. Ông không có gì để khoe khoang. Ông không đạt được thành quả gì, và ông không có gì đặc biệt cả. Ông cũng giống như các tội nhân khác, được ân điển của Đấng Christ cứu. Không những vậy, ông còn tự xem mình tệ hơn những người khác; vì vậy, so với họ, ông cần ân điển của Chúa thậm chí còn nhiều hơn nữa. Có ai nhận được ánh sáng của Đức Chúa Trời nhiều hơn Phao-lô không? Vì ông nhận được nhiều ánh sáng hơn so với người khác, nên ông tự biết mình sáng tỏ hơn so với người khác, và ông xét đoán chính mình cũng nghiêm khắc hơn so với người khác. Chỉ những người không tự biết mình mới xem chính họ là rất thánh khiết, tiến bộ và đặc biệt. Lý do họ không biết chính mình là vì họ chưa nhận được ánh sáng của Đức Chúa Trời.

Giăng

Môn đồ này là người Chúa yêu và cũng là người gần gũi với Chúa hơn hết so với những người khác trong thời gian Chúa giấu kín vinh quang Ngài trong xác thịt Ngài. Nên nhớ ông chính là môn đồ dựa vào ngực Chúa. Sau khi Chúa sống lại, ông đã thực hiện những công tác tốt đẹp cho Chúa trong vài thập niên, và Chúa đã đặc biệt dùng ông để viết một thư tín nói rõ về sự tương giao, và cụ thể về tình yêu thương của Đức Chúa Trời và ánh sáng của Đức Chúa Trời. Nói theo quan điểm con người, nếu môn đồ ấy đã nhìn thấy ánh sáng của Đức Chúa Trời, thì lẽ ra ông không phải sợ hãi như nhiều người khác. Thế nhưng hãy nhớ lại khi ở trên đảo Pát-mô, ông mô tả việc Chúa Giê-su bày tỏ vinh quang Ngài với những lời lẽ như sau: “Mặt Người như mặt trời chói sáng hết sức” (Khải. 1:16); và khi nhìn thấy Ngài, thì ông “ngã xuống chân Người như chết” (c. 17). Chưa từng có ai nhìn thấy ánh sáng Đức Chúa Trời mà không ngã xuống đất.

Không những chúng ta nhìn thấy trong Kinh Thánh thể nào con người tự hạ mình, xưng nhận tội lỗi và hiểu biết về chính mình nhờ thấy ánh sáng Đức Chúa Trời; mà thậm chí từ lịch sử Hội thánh, chúng ta cũng nhận thấy có nhiều thánh đồ thật sự thánh khiết khám phá ra sự yếu đuối và bại hoại của mình nhờ họ gần gũi ánh sáng Đức Chúa Trời. Trong số những người chúng tôi sẽ nêu lên, ai có thể phủ nhận sự kiện họ là những người nổi bật nhất trong Hội thánh? Tuy nhiên, cái nhìn của họ về chính mình khiêm nhường biết bao. Đó không vì lý do gì khác hơn là càng đến gần Đức Chúa Trời, chúng ta càng khám phá ra sự yếu đuối của mình. Càng nhận được ánh sáng của Đức Chúa Trời, chúng ta càng nhận thấy sự bại hoại của mình. Những người ra vẻ kiêu ngạo và tự phụ là vì họ chưa nhìn thấy ánh sáng của Đức Chúa Trời.

Martin Luther

Khi bị cầm giữ trong bảo cung, ông viết một lá thư gởi cho một người rất có quyền thế trong Giáo hội La Mã rằng: “Có lẽ ngài tưởng tôi hiện bất lực. Hoàng đế có thể dễ dàng bác bỏ lời thỉnh cầu của một thầy tu đáng thương như tôi. Tuy nhiên, ngài phải biết rằng tôi chắc chắn sẽ làm tròn trách nhiệm mà tình yêu thương của Đấng Christ đã đặt trên tôi. Tôi không chút sợ hãi quyền lực của Âm phủ, huống chi Giáo Hoàng và các vị giám mục của ông ấy”. Nhưng khi ông nhìn thấy chính mình trong ánh sáng Đức Chúa Trời, con người can đảm nhất trong vòng các nhà cải cách đã không thể nào không kêu lên rằng: “Tôi sợ tấm lòng của mình còn hơn là sợ Giáo Hoàng và tất cả các giám mục của ông ấy. Bên trong tôi có vị Giáo Hoàng lớn nhất – ấy là bản ngã!”

John Knox

Người Xcốt-len này, vì cớ Đấng Christ, đã từng làm giáo sư, nhà truyền giáo, tù nhân, nô lệ, người đi lang thang, nhà cải cách và chính khách; đồng thời, ông còn là một vị thánh đồ hiếm có nhất. Trong lời cầu nguyện cuối cùng, ông thưa rằng: “Lời cầu nguyện này là những gì mà tôi, tức John Knox, lấy lưỡi hấp hối và tâm trí tỉnh táo của mình mà khẩn cầu Đức Chúa Trời tôi”. Trong lời cầu nguyện ấy có những câu sau đây: Chúa ơi, xin thương xót con, đừng đoán xét vô số tội lỗi của con; trong những tội lỗi ấy, xin Ngài đặc biệt tha những tội lỗi mà thế gian không thể khiển trách. Hồi còn trai trẻ, lúc ở tuổi trung niên và cho đến bây giờ, con đã trải qua biết bao nhiêu là giằng co xung đột. Con đã khám phá rằng bên trong mình không có gì khác ngoại trừ sự dối trá và bại hoại. Chúa ơi, chỉ duy Ngài là Chúa, là Đấng biết những bí ẩn của lòng người. Xin nhớ rằng tất cả những tội lỗi mà con vừa nêu lên, không một tội lỗi nào làm con hài lòng. Con thường cảm thấy rất ân hận về chúng: người bề trong của con cực kỳ ghét những tội lỗi ấy. Giờ này, con khóc than ảo não vì sự bại hoại của mình. Con chỉ có thể đơn sơ nương tựa nơi sự thương xót của Ngài. Đó là lời cầu nguyện của một người đã được Đức Chúa Trời soi sáng.

John Bunyan

John Bunyan bị cầm tù mười ba năm vì ông muốn rao giảng phúc âm. Trong tù, ông viết một tác phẩm nổi tiếng là Hành Trình Của Lữ Khách. Ngoại trừ Kinh Thánh, Hành Trình Của Lữ Khách có thể đã được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất trên thế giới. Spurgeon nói về ông rằng: “Theo cái nhìn của tôi, phong cách của John Bunyan thì giống với phong cách của Chúa Giê-su nhất; không ai có thể sánh với ông”. Nhưng khi viết về chính mình, thì Bunyan nói rằng: Sau lần ăn năn trước lại có một điều làm cho tôi buồn rầu; ấy là nếu tôi hết sức khắt khe xem xét điều tốt nhất tôi hiện đang làm, thì trong đó tôi lại khám phá ra những tội lỗi, những tội lỗi mới trộn lẫn với điều tốt nhất tôi làm. Vì vậy, bây giờ tôi không thể không kết luận rằng dầu tôi có tự hào về chính mình đến đâu và coi mình và công việc mình là lý tưởng như thế nào, và thậm chí nếu cuộc sống trước kia của tôi không có chỗ nào đáng trách, thì các tội lỗi mà tôi phạm trong một ngày cũng đủ đẩy tôi vào địa ngục. Trong cảm nhận sâu xa về tội lỗi như vậy, ông kêu lên rằng: “Trừ khi Ngài là một Cứu Chúa vĩ đại, chắc chắn Ngài không thể cứu được một tội nhân hạng nặng như tôi”.

George Whitefield

Nhà truyền giảng phúc âm phi thường, người nổi tiếng ngang hàng với John Wesley, khi gần chết đã nói rằng: Ôi, nguyện tôi có thể nằm xuống và chết trong sự lao khổ của Chúa tôi, vì tôi xét thấy chết như vậy là đáng. Nếu tôi có một ngàn thân thể, thì mỗi thân thể ấy đều sẽ là một nhà truyền giảng phúc âm đi đây đó vì cớ Giê-su. Lần cuối cùng ông lui về để nghỉ ngơi, [trong tay] cầm một cây nến, thì có một đám đông đứng quanh nơi cửa nhà của ông, yêu cầu ông rao giảng cho họ một lần nữa. Ông biết mình sẽ chết vào hôm ấy, nhưng vẫn giảng cho họ đến khi ngọn nến cháy tàn, rồi ông đi lên gác mà qua đời. Khi nói về chính mình, ông nói rằng: Trong việc thực hiện tất cả trách nhiệm của chúng ta luôn luôn có sự bại hoại trộn lẫn trong đó; vì vậy, sau khi chúng ta ăn năn, nếu Giê-su Christ chỉ tiếp nhận chúng ta theo các việc làm của mình thì các việc làm ấy chắc chắn sẽ buộc tội chúng ta vì chúng ta không thể dâng lên lời cầu nguyện hoàn hảo theo như luật đạo đức của Đức Chúa Trời đòi hỏi. Tôi không biết anh em nghĩ sao, nhưng tôi thì có thể nói mình không thể cầu nguyện, mà chỉ có thể phạm tội; tôi không thể giảng cho anh em hay những người khác, mà chỉ có thể phạm tội; tôi chỉ có thể nói là: ngay cả sự ăn năn của tôi cũng lại cần sự ăn năn; thậm chí nước mắt của tôi cũng cần được rửa trong huyết báu của Đấng Cứu Chuộc tôi. Hành động tốt nhất của chúng ta không gì khác hơn là tội lỗi khi được xem xét dưới cặp kính.

Augustus Toplady

Khi người vô cùng tin kính này đếm các tội lỗi của mình, thì nhận thấy mỗi giây mình phạm một tội. Nói vậy có nghĩa là trong mười năm có ba trăm triệu tội. Vì thế, ông viết một bản thánh ca vinh diệu khiến cho hàng triệu người bị tội áp bức và làm cho mệt mỏi tìm thấy sự an nghỉ – đó là bài “Vầng Đá của Các Thời Đại, được đập vỡ vì tôi, xin cho tôi ẩn mình trong Ngài”! Ông viết rằng: Ôi, có một người đáng thương như tôi trên thế gian này! Ngoại trừ sự yếu đuối và tội lỗi, tôi không có gì cả. Trong xác thịt tôi không có gì tốt lành, và đáng ngạc nhiên biết bao khi tôi lại có thể bị cám dỗ coi mình quá cao. Công việc tốt nhất tôi đã hoàn thành trong cuộc đời mình chỉ làm cho tôi đủ điều kiện để bị kết án. Nhưng khi sắp chết vì bệnh lao phổi tại Luân-đôn, ông dựa cái đầu tội lỗi của mình trên ngực Cứu Chúa và nói rằng: “Tôi là người hạnh phúc nhất trên thế giới”.

Jonathan Edwards

Ông là một người rất thuộc linh và được Chúa đại dụng. Mỗi khi ông rao giảng, vô số người khóc lóc vì tội lỗi của mình, như thể bị cắn rứt trong lòng, và cầu xin sự tha thứ của Cứu Chúa. Ông là một người thành thật nhất, nên ông viết những hàng sau đây cách rất khiêm nhường: Tôi thường cảm nhận sâu xa thể nào chính mình còn đầy dẫy tội lỗi và sự ô uế; nhiều khi vì cảm nhận ấy quá mạnh, nên tôi thường không thể tự chủ được mà phải lớn tiếng khóc lóc. Đôi khi tôi khóc rất lâu, đến nỗi tôi không còn sự lựa chọn nào khác hơn là tự giam mình [trong phòng]. Bấy giờ tôi cảm nhận rất sâu xa tình trạng gian ác của mình và sự bại hoại của lòng mình, thậm chí còn khốc liệt hơn so với lúc tôi chưa hoán cải. Về chính mình, đã từ lâu tôi cảm thấy sự gian ác của mình hoàn toàn “vô phương cứu chữa”; sự gian ác này đầy ắp trong những suy nghĩ và trí tưởng tượng của tôi. Nhưng đồng thời, tôi thấy sự nhạy cảm của mình đối với tội lỗi còn quá ít và quá hời hợt; tôi ngạc nhiên thấy mình thật sự không thể nhạy cảm hơn đối với tội. Bây giờ, điều tôi mong mỏi hơn hết là có một tấm lòng thống hối và có thể cực kỳ khiêm nhường sấp mình trước mặt Đức Chúa Trời.

David Brainerd

Những điều được nghe thấy nơi con người phi thường này, như đức thánh khiết, lòng hướng thượng, sự lao khổ, sự từ chối chính mình trong cuộc sống, việc ông cống hiến chính mình và tất cả của mình một cách đặc biệt, trong tấm lòng lẫn trong hành động, cho vinh quang Đức Chúa Trời, và tâm trạng kỳ diệu được tỏ ra, trong một cung cách rất kiên định, trong khi trông chờ cái chết, và những sự đau đớn cùng nỗi thống khổ đem đến cái chết ấy, có thể làm hưng phấn trong tất cả chúng ta một cảm nhận thích đáng về tính cách lớn lao của công tác mà chúng ta phải làm trên thế giới, tính tuyệt hảo và đáng yêu của tôn giáo thuần túy về mặt kinh nghiệm cùng thực hành, và phước hạnh của kết cuộc ấy. Đó là những lời Jonathan Edwards phát biểu trong buổi lễ an táng David Brainerd, là người đã trở nên con trai ông qua phúc âm. Năm hai mươi lăm tuổi, Brainerd lao khổ giữa vòng những thổ dân da đỏ nghèo nàn trong rừng sâu tại nước Mỹ. Ông đã lao nhọc, chịu khổ, cầu nguyện, kiêng ăn, cho đến khi Linh Đức Chúa Trời đổ xuống trên họ, đến nỗi nhiều người ăn năn, quay về với Chúa, và sống cho Chúa. Năm năm sau, ông được yên nghỉ.

Nhưng về chính mình, ông than thở rằng: “Ồ, sự dơ bẩn ở bên trong tôi! Ồ, những hổ thẹn và tội lỗi của tôi trước mặt Đức Chúa Trời! Ồ, tính kiêu ngạo, ích kỷ, giả hình, ngu dốt, cay đắng, nhiệt thành cho phe phái, và tình trạng thiếu tình yêu, ngay thẳng, hòa nhã và hòa thuận cứ đeo theo nỗ lực của tôi trong việc xúc tiến ích lợi của tôn giáo!”

Hudson Taylor

Ông Frost là người đứng đầu Hội Truyền giáo Trung Hoa Lục địa tại Ca-na-đa, vốn là người đồng công của Hudson Taylor trong nhiều thập niên. Ông nói rằng ông từng cùng cầu nguyện với Hudson Taylor cả trăm lần thậm chí cả ngàn lần, nhưng không lần nào ông nghe ông Taylor cầu nguyện mà không xưng nhận tội lỗi của mình. Đó là những người đến gần Đức Chúa Trời hơn so với những người khác; nhưng điều đáng ngạc nhiên là họ đều có loại cảm nhận như vậy về chính mình. Tôi xin đưa ra một câu hỏi; có thể nào các tín đồ thường, tức những người không gần gũi với Đức Chúa Trời như những người vừa nêu trên và không cảm thấy sự bại hoại của bản thân, lại tiến bộ hơn so với những người ấy không? Mọi người đều sẽ trả lời là không. Nếu họ không cảm thấy sự thiếu hụt của mình, thì điều ấy không có nghĩa là họ tốt lành. Ngược lại, điều ấy chỉ cho thấy họ thiếu sự soi sáng để biết chính mình. Lý do những người ấy cảm thấy tình trạng không xứng đáng của bản thân là vì họ đặc biệt gần gũi Đức Chúa Trời. So với những người khác, họ nhận được nhiều ánh sáng của Đức Chúa Trời hơn. Họ nhận biết tiêu chuẩn tuyệt đối về sự thánh khiết của Đức Chúa Trời. Vì vậy, so với những người khác, họ cảm thấy sự thiếu hụt của chính mình nhiều hơn. Thư Giăng thứ nhất chép rằng: “Nhưng nếu chúng ta ăn ở trong sự sáng... huyết của Giê-su Con Ngài làm sạch mọi tội chúng ta” (1:7). Vì chúng ta ở trong ánh sáng, nên tội lỗi được bày tỏ ra và huyết của Giê-su trở nên cần thiết. Tiếp theo câu ấy là: “Ví bằng chúng ta nói mình không có tội, thì chúng ta lừa dối mình, và lẽ thật không ở trong chúng ta” (c. 8). Những người nói mình không có tội là những người tự lừa dối mình. Lý do họ có thể lừa dối chính mình là vì lẽ thật – lẽ thật ra từ ánh sáng của Đức Chúa Trời – không ở trong lòng họ. Chỉ những người chưa được Đức Chúa Trời soi sáng mới tự xem mình là tốt lành, thánh khiết, hoàn hảo và không có tội. Nếu chúng ta đến gần Đức Chúa Trời như các thánh đồ đã nêu trên, thì chắc chắn chúng ta cũng cảm thấy sự dơ bẩn của mình. Càng đến gần Đức Chúa Trời, tiêu chuẩn về sự thánh khiết của chúng ta càng cao và chúng ta sẽ càng nhận biết những gì dơ bẩn, bại hoại và bất chính.

Mức độ sâu xa của cảm nhận chúng ta có đối với tội thì thay đổi tùy theo lượng ánh sáng của Đức Chúa Trời mà chúng ta nhận được. Lúc mới bắt đầu đời sống Cơ Đốc, có nhiều điều chúng ta không xem là tội lỗi. Khi đã tiến triển trong ân điển, chúng ta mới hiểu ra những điều ấy cũng là tội lỗi. Nhiều điều năm ngoái chúng ta xem là đúng đắn, nhưng năm nay vì nhận được thêm ánh sáng của Đức Chúa Trời nên chúng ta khám phá thấy những điều ấy là sai trật. Có lẽ nhiều điều chúng ta hiện xem là có thể chấp nhận được sẽ tỏ ra là sai trật một khi chính Đức Chúa Trời và ý định của Ngài được mở ra cho anh em nhiều hơn. Không một Cơ Đốc nhân nào trên thế giới hoàn toàn không có lỗi lầm. Chúng ta phải cẩn thận và đừng để xác thịt lừa dối mà tưởng rằng hiện tại mình đã đạt tới “tình trạng hoàn hảo đến mức không còn tội”.

SỰ PHÁN XÉT TRONG TƯƠNG LAI

Chúng ta đều biết rằng trong tương lai, Cơ Đốc nhân chúng ta phải đứng trước tòa án của Đấng Christ và bị phán xét. Sự phán xét ấy không phải để quyết định xem chúng ta sẽ được cứu rỗi đời đời hay không, mà để định đoạt xem chúng ta có thể vào trong vương quốc hay không và chỗ của chúng ta trong vương quốc sẽ thế nào. Những gì Chúa phán xét đều liên quan đến cuộc sống hằng ngày và công việc của chúng ta sau khi chúng ta đã được cứu. Chúng ta có được Đức Chúa Trời khen thưởng trong tương lai hay không tùy thuộc vào việc chúng ta có vâng theo ý chỉ của Ngài ngày nay hay không. Ngoại trừ ý chỉ của Ngài, Đức Chúa Trời không hài lòng với điều gì cả. Chúng ta có nhận được phần thưởng hay không là vấn đề nhỏ, nhưng lòng Đức Chúa Trời có được vui thỏa hay không là vấn đề lớn. Tôi tin rằng mỗi người đã được cứu đều có một niềm khao khát chung là muốn làm vui lòng Chúa, tuy nhiên mức độ sốt sắng của lòng khao khát này thì khác nhau.

Giữa vòng các tín đồ là những người muốn “được Đấng Christ”, một số người thường khinh xuất nói rằng điều này hay điều kia là ý chỉ của Đức Chúa Trời; hoặc tôi cảm thấy điều này hay điều kia là sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời. Anh em yêu dấu ơi, anh em có biết rằng những điều ấy phải đi qua sự phán xét của Đức Chúa Trời trong tương lai không? Không phải những gì chúng ta nói và những gì chúng ta cảm thấy sẽ có giá trị. Không phải những gì chúng ta xem xét và tin sẽ có giá trị; trái lại, vấn đề là công việc của chúng ta có thật sự ra từ ý chỉ của Đức Chúa Trời hay không. 1 Cô-rin-tô chương 3 cho biết cách chúng ta sẽ bị phán xét trong tương lai; “công trình của mỗi người đều sẽ bộc lộ; vì ngày đó sẽ biểu thị nó ra, nó phải hiển lộ trong lửa, chính lửa ấy sẽ thử nghiệm công trình của mỗi người là thuộc thứ nào” (c. 13). Lửa ấy là gì? Chúng ta đều biết chức năng của lửa. Có khi lửa dùng để thiêu hủy, nhưng thường thì dùng để chiếu sáng. Đối với công trình thuộc gỗ, cỏ khô và rơm rạ thì lửa là để thiêu hủy. Nhưng đối với công trình thuộc vàng, bạc và đá quí thì lửa là để làm sáng tỏ. Nếu chúng ta đặt câu này chung với Khải Thị 1:14, tức câu mô tả thể nào mắt phán xét của Chúa giống như một ngọn lửa, thì chúng ta có thể hiểu thêm về ý nghĩa của lửa ấy. Trong tương lai, khi chúng ta được phán xét, Chúa sẽ dùng lửa của Ngài chứng nghiệm công việc của chúng ta, phơi bày công việc của chúng ta. Lửa ấy là mắt Ngài, là mắt giống như lửa phừng cháy. Điều ấy có nghĩa là Chúa sẽ phán xét qua ánh sáng Ngài và theo quan điểm Ngài đối với mọi công việc mà chúng ta đã làm sau khi được cứu. Ánh sáng của Ngài sẽ bày tỏ điều nào phù hợp và điều nào không phù hợp với ý chỉ của Ngài.

Chúng ta hãy tin chắc rằng trước mặt Chúa chỉ có đúng hay sai, và chỉ có một tiêu chuẩn đúng sai. Tiêu chuẩn ấy thì tuyệt đối, hoàn hảo, bất biến và bất di bất dịch. Trong tương lai, chúng ta sẽ được phán xét theo tiêu chuẩn ấy. Bất kể chúng ta nói gì, cảm thấy ra sao, tin gì hay nghĩ gì đi nữa, nếu ngày nay bước đi của chúng ta không thật sự thuộc về ý chỉ của Đức Chúa Trời, thì đến ngày ấy chắc chắn chúng ta sẽ bị mất mát. Trong ánh sáng của Đức Chúa Trời, chẳng những không điều gì có thể giấu kín, mà hơn nữa không điều gì có thể sai trật. Ngày nay, nếu chúng ta không có ánh sáng Đức Chúa Trời để bày tỏ tình trạng thật của mình và cho biết một vấn đề nào đó có phù hợp với ý chỉ của Ngài không, thì vào ngày Đức Chúa Trời phán xét qua ánh sáng Ngài và theo ý chỉ Ngài, chúng ta chắc chắn không thể nào đứng vững được. Nếu chúng ta có sự soi sáng của Đức Chúa Trời trong mọi phương diện và biết ý chỉ của Ngài (đối với chính mình, đối với người khác hay đối với một điều nào đó) đang khi chúng ta sống trên đất, thì vào ngày ấy công việc của chúng ta chắc chắn sẽ nhận được phần thưởng. Chúng ta hãy tin chắc rằng ánh sáng của Đức Chúa Trời mà chúng ta nhận được ngày nay sẽ là ánh sáng Đức Chúa Trời dùng để phán xét chúng ta trong tương lai. Vì vậy, nếu chúng ta muốn biết công việc của chúng ta có đứng vững trong ánh sáng Đức Chúa Trời vào ngày ấy hay không, thì phải tự vấn xem công việc của mình ngày nay có được thực hiện theo ánh sáng của Đức Chúa Trời hay không. Tôi xin nói với anh em rằng ánh sáng Đức Chúa Trời không bao giờ thay đổi. Ngày nay hễ điều gì ánh sáng Đức Chúa Trời kết tội và xem là trái với ý chỉ của Ngài, thì trong tương lai chắc chắn ánh sáng Đức Chúa Trời sẽ kết tội và xét điều ấy là trái với ý chỉ của Ngài. Ngày nay bất cứ điều gì ánh sáng Đức Chúa Trời tán thành và xem là phù hợp với ý chỉ của Ngài, thì trong tương lai ánh sáng của Đức Chúa Trời cũng sẽ tán thành và xem điều ấy là phù hợp với ý chỉ của Ngài. Chúng ta đừng bao giờ liều lĩnh bước đi trái với ánh sáng của Đức Chúa Trời, bỏ qua ý chỉ của Đức Chúa Trời và xem thường quan điểm của Đức Chúa Trời, trong khi lại muốn nhận được phần thưởng vào ngày ánh sáng của Đức Chúa Trời phơi bày mọi sự.

Chúng ta hiện sống nhờ ánh sáng của Đức Chúa Trời hằng ngày. Khi chúng tôi nói chúng ta hiện đang bước đi theo ánh sáng Đức Chúa Trời, chúng tôi có ý nói rằng chúng ta đang bước đi theo sự phán xét của Đức Chúa Trời và có một khải tượng rõ ràng về cách Đức Chúa Trời sẽ phán xét bước đi hằng ngày của chúng ta trong tương lai. Vì chúng ta rất sáng tỏ về tình hình tại ngai phán xét sắp đến, nên trước mặt Đức Chúa Trời, nhờ sự hiểu biết ấy, chúng ta cần phải được thôi thúc làm những điều sẽ được Ngài khen thưởng, thay vì làm những điều sẽ bị Ngài kết tội vào ngày ấy. Ánh sáng Đức Chúa Trời là ánh sáng ở trước ngai phán xét. Nếu chúng ta biết chính mình nhờ ánh sáng Đức Chúa Trời và bước đi theo sự hiểu biết về ý chỉ của Ngài nhờ ánh sáng của Đức Chúa Trời, thì chúng ta sẽ biết chính mình nhờ ánh sáng trước ngai phán xét và bước đi theo sự hiểu biết về ý chỉ của Ngài nhờ ánh sáng trước ngai phán xét. Chúng ta phải cảm tạ và ngợi khen Đức Chúa Trời vì chúng ta không phải đợi đến ngày ấy mới nhìn thấy ánh sáng Đức Chúa Trời và mới biết cách Ngài phán xét chúng ta. Ngày nay, chúng ta đã có khả năng nhìn thấy ánh sáng ấy rồi. Ngày nay, chúng ta đã có thể biết những gì trong tương lai Ngài sẽ kết án và những gì trong tương lai Ngài sẽ tán thành. Thánh Linh đến cư ngụ trong lòng chúng ta để bày tỏ ánh sáng Đức Chúa Trời; vì vậy, chúng ta không thể viện cớ gì để khỏi chịu trách nhiệm.

Phao-lô xem sự phán xét của Đức Chúa Trời trong tương lai là dựa theo ánh sáng Đức Chúa Trời. Ông nói những điều được thực hiện theo cảm xúc của chúng ta là vô giá trị. Vì vậy, ông nói rằng: “Vì tôi chẳng biết chính mình tôi có trái phạm điều gì; dầu vậy, tôi cũng không nhơn đó mà được xưng nghĩa đâu. Đấng xét đoán tôi, ấy là Chúa. Vậy, chớ nên xét đoán gì sớm quá, hãy đợi Chúa đến, Ngài sẽ phơi sáng những điều giấu kín ở nơi tối tăm, và bày tỏ các mưu định của mọi lòng. Bấy giờ ai nấy sẽ được Đức Chúa Trời ngợi khen” (1 Cô. 4:4-5). Phân đoạn Kinh Thánh này không thể nào làm cho sáng tỏ hơn. Anh em ơi, nếu cảm nhận của một người như Phao-lô không đáng tin cậy, tức người biết trong chính mình không có điều sai trật nào mà vẫn không xem mình là được xưng công chính, vậy anh em và tôi thì thế nào? Ông nói rằng nếu Đức Chúa Trời không lấy ánh sáng của ngày ấy mà chiếu rọi trên chúng ta, thì vẫn còn nhiều điều và những suy nghĩ ẩn giấu có thể ảnh hưởng hành động của chúng ta và khiến chúng ta bước trên con đường riêng của mình. Vào ngày Đức Chúa Trời chiếu sáng chúng ta, chúng ta sẽ nhận biết có bao nhiêu điều ẩn giấu đã ảnh hưởng đến mình. Vì vậy, ông nói trong các câu trước rằng ngoài sự trung tín, ông không có gì cả. Nếu chúng ta quyết tâm trung tín, sẵn lòng trả mọi giá để vâng theo ý chỉ của Đức Chúa Trời, thì chắc chắn Đức Chúa Trời sẽ cho biết ý chỉ của Ngài để chúng ta biết phải làm gì. Chúa Giê-su nói rằng: “Nếu ai quyết tâm làm theo ý chỉ Ngài, người ấy sẽ biết” (Gi. 7:17 – RcV).

Anh em ơi, vậy nếu bây giờ chúng ta tìm kiếm ánh sáng Đức Chúa Trời trên đất, thì khi chúng ta nhìn thấy ánh sáng ấy được tỏ ra trong tương lai, chúng ta sẽ không bị kết án, mà trái lại sẽ nhận được phần thưởng để hoàn toàn được thỏa lòng.

MỘT LỜI CẦU NGUYỆN

Chúng ta đều biết việc vâng phục ý chỉ của Đức Chúa Trời quan trọng ra sao. Nhưng nếu muốn biết ý chỉ của Ngài, trước mặt Đức Chúa Trời chúng ta phải có một tấm lòng sẵn sàng làm theo ý chỉ ấy. Lòng chúng ta phải dứt bỏ mọi sự. Chúng ta chỉ được có một niềm ao ước trước mặt Chúa, đó là nhận biết niềm ao ước của lòng Ngài. Cho dầu Đức Chúa Trời bày tỏ điều gì đi nữa, chúng ta cũng sẵn sàng nhận lấy điều đó. Trong tình trạng ấy với tấm lòng vâng phục và mềm mại như vậy, chắc chắn Đức Chúa Trời sẽ bày tỏ cho chúng ta ý chỉ của Ngài. “Ý định riêng tư của Đức Giê-hô-va thuộc về người kính sợ Ngài, Ngài bày tỏ cho họ biết giao ước của Ngài” (Thi. 25:14 – RcV). Nhiều khi chúng ta không biết lòng mình. Chúng ta không biết lòng mình xảo trá, cong quẹo và nổi loạn ra sao. Chúng ta nghĩ rằng mình sẵn sàng vâng phục, thật sự khao khát ý chỉ của Đức Chúa Trời, nhưng chúng ta không nhận biết rằng trong nơi sâu thẳm nhất của lòng chúng ta có những động cơ ẩn giấu và ý muốn của bản ngã. Vì vậy, chúng ta phải kêu lên như Đa-vít từng kêu lên rằng: “Đức Giê-hô-va ôi, xin xem xét tôi và rèn thử tôi; xin thử nghiệm các phần bề trong và tấm lòng tôi” (Thi. 26:2 – RcV). “Đức Chúa Trời ơi, xin hãy tra xét tôi, và biết lòng tôi; hãy thử thách tôi, và biết tư tưởng tôi; xin xem thử tôi có lối ác nào chăng, xin dắt tôi vào con đường đời đời.” (Thi 139:23-24). Chỉ khi nào Đức Chúa Trời dò xét chúng ta và biết lòng chúng ta thì chúng ta mới biết lòng mình. Chỉ khi nào Đức Chúa Trời thử thách chúng ta và biết những tư tưởng của chúng ta thì chúng ta mới biết những tư tưởng của mình. Khi trải qua loại dò xét và thử thách như vậy bởi Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ có thể xét xem mình có lối ác (các ý định ác) nào trong chúng ta không, để chúng ta có thể xử lý chúng và được Đức Chúa Trời dẫn dắt bước trên con đường thuộc sự sống đời đời. Nhiều tín đồ muốn hiểu ý chỉ của Đức Chúa Trời. Họ cầu xin Đức Chúa Trời cho mình biết ý chỉ của Ngài, nhưng không nhận được. Lý do không gì khác hơn là vì họ có các lối ác trong lòng mình; tình trạng như vậy khiến Đức Chúa Trời không thể dẫn dắt họ. Họ không biết chính mình. Họ không biết có bao nhiêu khuynh hướng, ý kiến, nỗi lo sợ và dục vọng ở trong lòng mình. Những điều ấy làm cho Đức Chúa Trời không thể bày tỏ ý chỉ của Ngài được. Nếu trước mặt Đức Chúa Trời họ cầu xin Ngài chiếu sáng trên họ, ban cho họ được hiểu biết về chính mình, rồi cất đi mọi chướng ngại vật của họ, thì chắc chắn Đức Chúa Trời sẽ dẫn dắt họ. Tuy sự tự biết mình không thể làm cho chúng ta biết ngay lập tức ý chỉ của Đức Chúa Trời, nhưng có thể tỏ ra cho biết những gì ẩn giấu trong chúng ta đang cản trở mình hiểu ý chỉ của Đức Chúa Trời. Vì vậy, sự tự biết mình là không thể thiếu được trong việc hiểu ý chỉ của Đức Chúa Trời. Không có ánh sáng Đức Chúa Trời thì ai có thể biết được chính mình? Vậy, bây giờ không phải là lúc chúng ta phải cầu nguyện giống như Đa-vít đã cầu nguyện sao?