Thông tin sách

Sứ Giả Của Thập Tự Giá

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Sứ giả của thập tự giá
ISBN:
Mua sách tại:

Untitled Document

SỨ GIẢ CỦA THẬP TỰ GIÁ

(Sau đây là bài báo được anh Watchman Nee viết tại Kulongsu, Amoy vào ngày 15 tháng Giêng năm 1926).

Gần đây nhiều người dường như mệt mỏi khi nghe giảng về lời thập tự giá. Tuy nhiên, chúng tôi cảm tạ và ngợi khen Đức Chúa Cha vì Ngài đã dành riêng cho danh Ngài nhiều người trung tín không chịu quì gối trước Ba-anh. Nhưng tôi vẫn cảm thấy có một điều những đầy tớ trung tín của Đấng Christ cần biết. Sau khi giảng dạy nhiều về thập tự giá, tại sao kết quả gặt hái được lại quá nản lòng, và đời sống người ta không thay đổi nhiều sau khi họ nghe Lời chân thật của Đức Chúa Trời? Tôi nghĩ nan đề này đáng được chúng ta chú ý đến nhất. Là những người lao khổ vì Chúa, chúng ta cần hiểu tại sao những người khác không được chinh phục bởi phúc âm chúng ta rao giảng. Tôi hi vọng rằng chúng ta sẽ yên lặng cầu nguyện trước mặt Chúa, và cầu xin Linh của Đức Chúa Trời soi sáng lòng mình để có thể biết sự thất bại của chúng ta nằm tại chỗ nào.

THẤT BẠI CỦA SỨ GIẢ THẬP TỰ GIÁ

Hiện tại, chúng ta nên chú tâm đến lời chúng ta rao giảng. Chúng ta không cần nói đến những người rao giảng một phúc âm sai trật. Niềm tin của họ đang ở trong sự lầm lạc rồi. Điều chúng ta rao giảng là sự đóng đinh của Chúa Giê-su Christ, và làm thế nào điều đó cứu những tội nhân khỏi sự định tội và quyền lực của tội. Khi rao giảng, chúng ta chú ý nhiều đến dàn bài, lập luận và tư tưởng. Chúng ta hết sức cố gắng làm sáng tỏ lời giảng của mình. Nhờ đó, ngay cả người thiếu học thức nhất cũng có thể hiểu được. Chúng ta cũng chú tâm đến tâm lý con người. Chúng ta hết sức cố gắng thuyết giảng sao cho phù hợp với tâm lý con người. Điều chúng ta rao giảng thì đầy lẽ thật và phù hợp với Kinh Thánh – đề tài của chúng ta là thập tự giá của Chúa Giê-su. Chúng ta biết Chúa Giê-su đã chết vì các tội nhân trên thập tự giá để tất cả những ai tin Ngài có thể được cứu mà không cần phải làm bất cứ công việc nào. Chúng ta cũng biết rằng sự đóng đinh của Chúa Giê-su không những để thay thế mà cũng để đóng đinh tội nhân và tội của họ cùng với Ngài. Chúng ta biết phương cách để được cứu. Chúng ta biết chết với Chúa, cách áp dụng sự chết của Chúa bởi đức tin, và cách đồng chết với Ngài để xử lý tội và bản ngã. Chúng ta cũng được sáng tỏ về những giáo lý liên hệ khác trong Kinh Thánh. Bài giảng của chúng ta được trình bày một cách thích hợp và rõ ràng để mọi thính giả đều có thể hiểu được. Người nghe chú ý nhiều đến chúng ta khi chúng ta rao giảng thập tự giá của Chúa; họ thích lời giảng về thập tự giá và được đụng chạm bởi lời giảng ấy. Thậm chí chúng ta có thể có ân tứ hùng biện và có thể trình bày lẽ thật cách rất thuyết phục làm chúng ta tưởng rằng công tác của mình rất hiệu quả! Với những tình trạng như vậy, lẽ ra chúng ta phải chứng kiến nhiều người nhận được sự sống và nhiều tín đồ có được sự sống dồi dào hơn. Tuy nhiên, kết quả lại trái ngược với điều chúng ta mong đợi. Mặc dầu người nghe có thể được đụng chạm tại phòng nhóm, nhưng họ lại không nhận được bất cứ điều gì chúng ta hi vọng thấy họ nhận được sau khi rời phòng nhóm, ngay cả dù bài giảng vẫn còn mới mẻ trong tâm trí họ. Họ không có sự thay đổi nào trong đời sống của mình cả. Họ hiểu những gì chúng ta giảng dạy, nhưng điều đó vẫn không ảnh hưởng gì trên đời sống hằng ngày của họ. Họ chỉ tích chứa lời giảng trong đầu óc mình, mà không áp dụng lời ấy vào trong lòng mình.

Lý do có thể là vì điều chúng ta có chỉ là tài hùng biện, những chữ nghĩa và sự khôn ngoan. Dường như đằng sau lời giảng của anh em không có quyền năng đụng chạm lòng người. Anh em có chữ nghĩa và giọng nói tốt nhất, nhưng đằng sau chữ nghĩa và giọng nói ấy anh em lại không có loại uy quyền “điều khiển” đời sống của con người. Nói cách khác, anh em có thể làm cho người ta chú ý lắng nghe mình tại phòng nhóm, nhưng Thánh Linh lại không cùng làm việc với anh em. Vì vậy, sự lao khổ của anh em không hiệu quả hay không có kết quả lâu dài. Những lời nói của anh em không thể để lại một dấu ấn lâu dài trong cuộc sống của họ. Mặc dầu miệng anh em tuôn ra chữ nghĩa, linh anh em lại không tuôn ra sự sống để nuôi dưỡng, nâng vực và làm sống động những người nghe đang hấp hối.

Những năm gần đây, Chúa bảo tôi phải cẩn thận về loại rao giảng này. Chúng ta không muốn trở nên những nhà diễn thuyết nổi tiếng (Chúa chúng ta là Đấng ban-sự-sống). Chúng ta muốn làm những ống dẫn sự sống, đưa dẫn sự sống vào trong lòng người. Khi rao giảng thập tự giá, chúng ta cần có sự sống của thập tự giá tuôn đổ vào trong cuộc sống của những người khác. Điều đáng buồn nhất đối với tôi là rất nhiều người rao giảng về thập tự giá ngày nay, nhưng người nghe lại không nhận được sự sống của Đức Chúa Trời. Người ta dường như đồng ý và vui lòng tiếp nhận lời của chúng ta, nhưng họ lại không tiếp nhận sự sống của Đức Chúa Trời. Nhiều lúc, khi chúng ta rao giảng sự chết thay thế của thập tự giá, người nghe dường như hiểu ý nghĩa và lý do của sự thay thế ấy, và lúc ấy họ có vẻ được đụng chạm. Tuy nhiên, chúng ta không thể nhìn thấy ân điển của Đức Chúa Trời hành động trong những người nghe đến mức họ thật sự nhận được sự sống tái sinh. Chúng ta cũng rao giảng về sự đồng đóng đinh của thập tự giá. Chúng ta có thể giảng giải một cách rất rõ ràng và cảm động. Lúc đó người ta có thể lắng nghe lời giảng, họ có thể cầu nguyện và quyết định đồng chết với Chúa để có được kinh nghiệm đắc thắng tội và bản ngã. Nhưng sau khi mọi sự đã trải qua, chúng ta lại không thấy họ nhận được sự sống dồi dào hơn của Đức Chúa Trời. Những kết quả như vậy làm tôi rất buồn. Điều đó làm tôi khiêm nhường trước mặt Chúa để tìm kiếm ánh sáng của Ngài. Nếu anh em cũng có kinh nghiệm như vậy, tôi hi vọng rằng anh em sẽ đau buồn trước mặt Chúa như tôi và hối tiếc về những thất bại của mình. Điều chúng ta thật sự thiếu hụt bây giờ là những anh chị em rao giảng thập tự giá, nhưng điều chúng ta cần hơn nữa là những người rao giảng thập tự giá trong quyền năng của Thánh Linh.

Bây giờ xin chúng ta đọc Lời của Đức Chúa Trời. Phao-lô nói: “Anh em ơi, về phần tôi, khi đến cùng anh em, tôi không đến với lời nói cao siêu hay sự khôn ngoan xuất chúng để rao truyền cho anh em huyền nhiệm của Đức Chúa Trời. Vì ở giữa anh em, tôi quyết định không biết bất cứ điều gì ngoài Giê-su Christ, và Đấng ấy chịu đóng đinh. Tôi ở giữa anh em trong sự yếu đuối, sợ hãi và run rẩy lắm; và lời nói, sự rao giảng của tôi không phải bằng những lời khôn ngoan có sức thuyết phục, nhưng bằng sự bày tỏ của Linh và quyền năng” (1 Cô. 2:1-4). Trong những câu này chúng ta nhận thấy ba điều: 1) sứ điệp Phao-lô rao giảng, 2) chính con người của Phao-lô, và 3) phương cách Phao-lô rao giảng sứ điệp của mình.

SỨ ĐIỆP ĐƯỢC PHAO-LÔ RAO GIẢNG

Sứ điệp mà Phao-lô đã rao giảng là Chúa Giê-su Christ và Ngài bị đóng đinh. Đề tài lời giảng của ông là thập tự giá của Đấng Christ và Đấng Christ bị đóng đinh. Ông không biết bất cứ điều gì khác ngoại trừ điều này. Nếu chúng ta coi thường thập tự giá và không làm cho thập tự giá cùng Đấng Christ trở nên đề tài duy nhất của mình thì chúng ta và người nghe chúng ta sẽ mất mát nhiều biết bao! Tôi tin rằng chắc chắn chúng ta không phải là những người không rao giảng thập tự giá.

Bài giảng và đề tài của chúng ta có thể tốt. Tuy nhiên, chúng ta không kinh nghiệm về việc giảng một bài giảng tốt mà vẫn không thể ban phát sự sống cho những người nghe sao? Tôi xin nêu rõ rằng vì sứ điệp chúng ta rao giảng là quan trọng, nếu sứ điệp ấy không thể ban sự sống cho những người khác thì công tác của chúng ta hầu như là vô ích. Chúng ta nên nhớ rằng mục tiêu công tác của chúng ta là ban sự sống cho người ta. Chúng ta rao giảng sự chết thay thế của thập tự giá để Đức Chúa Trời có thể ban sự sống Ngài cho những ai tin. Nếu những người nghe được khuấy động, phấn khởi hay thậm chí ăn năn và đồng ý với những gì chúng ta rao giảng, nhưng không có sự sống của Đức Chúa Trời trong họ thì sự rao giảng ấy có ích gì? Có thể bề ngoài họ bày tỏ sự thông cảm, nhưng họ không được cứu. Vì vậy, mục tiêu của chúng ta không phải là làm cho người ta tự ăn năn cũng không phải là ảnh hưởng tâm trí của họ, nhưng là ban phát sự sống của Đức Chúa Trời vào trong họ để họ có thể có sự sống và được cứu. Ngay cả khi chúng ta rao giảng những lẽ thật sâu xa và cố gắng giúp đỡ những người khác hiểu lẽ thật về sự đồng đóng đinh, thì cùng nguyên tắc như vậy vẫn được áp dụng. Làm cho người ta biết và hiểu được những gì chúng ta giảng dạy là điều dễ dàng. Cũng không khó làm cho những người khác chấp nhận những sự dạy dỗ của chúng ta trong tâm trí họ. Bất cứ tín đồ nào với một ít kiến thức cũng có thể hiểu được nếu anh em giải thích vấn đề cho họ cách rõ ràng đầy đủ. Tuy nhiên, nếu anh em muốn họ nhận được sự sống cùng quyền năng, và kinh nghiệm những gì mình giảng dạy thì không có cách nào khác trừ ra là Đức Chúa Trời qua anh em ban phát sự sống phong phú hơn vào trong họ. Chúng ta nên biết rằng công tác duy nhất của mình là làm các ống dẫn sự sống của Đức Chúa Trời, truyền sự sống vào trong linh của những người khác. Vì vậy, cho dầu đề tài hay sứ điệp chúng ta rao giảng tốt thật, chúng ta vẫn cần xét xem chính mình có là ống dẫn thích hợp để Đức Chúa Trời truyền sự sống vào trong những người khác không.

CHÍNH PHAO-LÔ

Sứ điệp Phao-lô đã rao giảng là thập tự giá của Chúa Giê-su Christ. Sứ điệp ông rao giảng không vô ích vì ông là một ống dẫn sống động của sự sống. Ông đã sinh ra nhiều người qua phúc âm của thập tự giá. Những điều ông rao giảng là lời của thập tự giá. Về bản thân, ông nói rằng mình “yếu đuối, sợ sệt và run rẩy lắm”. Ông là một người bị đóng đinh! Chỉ một người bị đóng đinh mới có thể rao giảng lời về sự đóng đinh. Ông không tự tin nơi chính mình. Yếu đuối, sợ sệt, run rẩy, không có sự tự tin, xem chính mình hoàn toàn vô dụng – đây là những đặc điểm của một người bị đóng đinh. Ông nói: “Tôi bị đóng đinh với Đấng Christ” (Ga. 2:20) và “Tôi chết hằng ngày” (1 Cô. 15:31). Chỉ một Phao-lô đã chết mới có thể rao giảng lời về thập tự giá. Nếu ông chưa thật sự chết thì sự sống của sự chết Đấng Christ không thể tuôn ra từ ông. Rao giảng thập tự giá là điều dễ, nhưng rao giảng thập tự giá với tư cách là một người bị đóng đinh thì không phải dễ. Trừ phi là một người bị đóng đinh, người ấy không thể rao giảng lời về thập tự giá và ban sự sống của thập tự giá cho những người khác. Nói cách chính xác, trừ phi một người biết thập tự giá trong kinh nghiệm, người ấy không xứng đáng rao giảng thập tự giá.

PHƯƠNG CÁCH PHAO-LÔ RAO GIẢNG SỨ ĐIỆP CỦA MÌNH

Sứ điệp của Phao-lô là sự đóng đinh. Chính ông là một người bị đóng đinh, và ông đã rao giảng thập tự giá bằng phương cách của thập tự giá. Đó là một người của thập tự giá rao giảng sứ điệp về thập tự giá bằng linh của thập tự giá. Nhiều lúc điều chúng ta rao giảng là thập tự giá, nhưng thái độ, lời nói và cảm xúc của chúng ta có vẻ không giống như chúng ta đang rao giảng thập tự giá! Phao-lô nói: “... khi đến cùng anh em, tôi không đến với lời nói cao siêu hay sự khôn ngoan xuất chúng để rao truyền cho anh em huyền nhiệm của Đức Chúa Trời”. Tại đây huyền nhiệm của Đức Chúa Trời chỉ về lời của thập tự giá. Phao-lô đã không rao giảng thập tự giá bằng lời nói cao siêu hay khôn ngoan xuất chúng. “Và lời nói, sự rao giảng của tôi không phải bằng những lời khôn ngoan có sức thuyết phục, nhưng bằng sự bày tỏ của Linh và quyền năng”. Đây là linh của thập tự giá. Thập tự giá là sự khôn ngoan đối với Đức Chúa Trời nhưng là sự ngu dại đối với loài người. Khi rao giảng lời về sự ngu dại này, chúng ta nên có bộ dạng “ngu dại”, thái độ “ngu dại” và lời nói “ngu dại”. Phao-lô đắc thắng vì ông thật sự là một người bị đóng đinh. Ông đã rao giảng thập tự giá bằng linh của thập tự giá và thái độ của thập tự giá. Những người chưa kinh nghiệm sự đóng đinh sẽ không được đầy dẫy linh của thập tự giá, và họ không xứng đáng rao giảng lời về thập tự giá.

Sau khi xem xét kinh nghiệm của Phao-lô, điều ấy không bày tỏ cho chúng ta biết lý do vì đâu mình đã thất bại sao? Có lẽ sứ điệp chúng ta rao giảng tốt thật, nhưng chúng ta nên tự xét bản thân trong ánh sáng của Chúa – chúng ta có thật sự là những người bị đóng đinh không? Chúng ta rao giảng thập tự giá bằng linh, lời và thái độ như thế nào? Nguyện chúng ta tự hạ mình xuống khi nghe những câu hỏi này để Đức Chúa Trời có thể thương xót chúng ta.

Chúng tôi không nói về những người rao giảng một “phúc âm khác”. Chúng tôi chỉ nói về những người rao giảng “phúc âm về ân điển của Đức Chúa Trời”. Lời giảng không sai trật, sứ điệp cũng không tệ, nhưng tại sao những người khác không nhận được sự sống? Đây là vì sự thất bại của người giảng! Ấy là con người sai trật chứ không phải lời giảng đã mất đi quyền năng của nó. Ấy là con người đã cản trở sự sống Đức Chúa Trời tuôn ra chứ không phải Lời của Đức Chúa Trời đã mất hiệu nghiệm. Khi một người rao giảng thập tự giá mà bản thân không kinh nghiệm về thập tự giá hay linh của thập tự giá thì người ấy không thể ban phát sự sống của thập tự giá cho những người khác. Chúng ta không thể ban cho những người khác điều chính mình không có. Nếu thập tự giá không trở nên sự sống của mình, chúng ta không thể ban sự sống của thập tự giá cho những người khác. Công tác của chúng ta bị thất bại vì chúng ta thích ban thập tự giá cho những người khác mà thiếu nhận thức rằng chúng ta không có thập tự giá trong chính mình. Những ai giảng “hay” cho những người khác trước hết phải giảng “hay” cho chính mình. Nếu không, Linh sẽ không cùng làm việc với họ.

Mặc dầu sứ điệp chúng ta rao giảng quan trọng thật, chúng ta vẫn không nên nhấn mạnh đến sứ điệp quá nhiều mà quên đi chính mình. Chúng ta có thể lãnh hội được kiến thức từ sách vở liên quan đến lời về thập tự giá chúng ta rao giảng. Chúng ta có thể dùng tâm trí mình để tìm hiểu nhiều ý nghĩa trong Kinh Thánh. Tuy nhiên, tất cả những điều ấy đều là vay mượn; chúng không thuộc về chúng ta. Những người có tâm trí khôn ngoan lại nguy hiểm hơn những người khác. Một người rao giảng có thể đặt chính mình vào tình trạng nguy hiểm hơn những người khác, vì tất cả những sự nghiên cứu, tìm đọc, khảo cứu và nghe ngóng có thể được thực hiện cho những người khác mà không cho chính mình. Người ấy có thể lao khổ cho những người khác để rồi chỉ thấy chính mình đói khát về phần thuộc linh! Chúng ta có thể lắng nghe những lời sâu xa về các phương diện khác nhau của thập tự giá hay đọc trong sách vở về ý nghĩa của sự thế chỗ và sự đồng đóng đinh. Nếu có một tâm trí khôn khéo, chúng ta thậm chí có thể thêm vào bằng cách sắp xếp thích đáng những sự dạy dỗ này, để khi rao giảng, chúng ta có thể khai triển những điều mình đã nghe và suy gẫm một cách rất rõ ràng và chân thành, sắp xếp mọi ý tưởng theo một bố cục chặt chẽ, mọi điểm được trình bày rõ ràng, và những lý lẽ được phân tích rành mạch. Chúng ta có thể khiến những người nghe tưởng mình hiểu mọi điều. Tuy vậy, cho dầu họ đã hiểu được mọi sự, chúng ta lại không có quyền năng thúc giục người nghe theo đuổi những gì họ đã hiểu được. Dường như họ nghĩ rằng hiểu những giáo lý về thập tự giá thì đủ rồi. Họ dừng lại ngay tại những điều họ hiểu mà không theo đuổi những gì thập tự giá hứa ban cho mình. Dầu cho người giảng hiểu tâm trí của người nghe, nói lớn tiếng và chân thành thúc giục họ đừng chỉ hiểu giáo lý mà phải theo đuổi kinh nghiệm, nhưng những người nghe chỉ có thể được khuấy động nhất thời. Nhưng họ vẫn chưa nhận được sự sống. Họ vẫn chỉ có lý thuyết suông chứ không phải kinh nghiệm. Chúng ta đừng bao giờ tự mãn và tưởng rằng ba tấc lưỡi của mình có thể xoay chuyển được người nghe. Họ có thể được ảnh hưởng nhất thời, nhưng những gì chúng ta trao cho họ có phải chỉ là tư tưởng hay giáo lý không? Hay chúng ta cần phải ban sự sống cho họ? Nếu không ban sự sống cho người ta, chúng ta không đóng góp được gì cả cho đời sống thuộc linh của người ấy. Chỉ trao cho người ta tư tưởng và giáo lý thì có ích gì? Nguyện ý tưởng này được thấm sâu vào trong bản thể của chúng ta để chúng ta ăn năn về những công tác vô ích trước đây của mình!

Lý do tại sao không ai nhận được sự sống qua việc chúng ta rao giảng thập tự giá là: 1) chính chúng ta không có kinh nghiệm về thập tự giá, và 2) chúng ta không dùng linh của thập tự giá để rao giảng lời về thập tự giá.

LÝ DO THẤT BẠI CỦA NHỮNG NGƯỜI RAO GIẢNG THẬP TỰ GIÁ

Những người chưa bị đóng đinh không thể và không xứng đáng rao giảng sứ điệp về thập tự giá. Thập tự giá chúng ta rao giảng trước hết phải đóng đinh chúng ta. Sứ điệp chúng ta rao giảng cần nóng cháy trong cuộc sống mình trước để cuộc sống và sứ điệp của mình có thể được hòa lẫn với nhau. Nhờ đó cuộc sống chúng ta sẽ trở nên sứ điệp sống của mình. Thập tự giá chúng ta rao giảng không nên chỉ là một sứ điệp suông. Hằng ngày chúng ta cần sống bày tỏ thập tự giá trong cuộc sống của mình. Điều chúng ta rao giảng không nên chỉ là một sứ điệp suông nhưng phải là cuộc sống mà chúng ta sống hằng ngày. Khi rao giảng, chúng ta ban phát sự sống ấy cho những người khác. Chúa Giê-su phán rằng thịt Ngài là đồ ăn và huyết Ngài là đồ uống (Gi. 6:55). Khi chúng ta dự phần vào thập tự giá của Chúa Giê-su bởi đức tin, điều ấy giống như ăn thịt Ngài và uống huyết Ngài. Nhưng ăn uống không phải chỉ là những lời trống rỗng. Sau khi ăn uống, chúng ta tiêu hóa những gì mình đã ăn uống để thức ăn ấy có thể trở nên một phần của chúng ta, trở nên sự sống chúng ta. Thất bại của chúng ta nằm trong việc nhiều lúc chúng ta nghiên cứu Lời Đức Chúa Trời bằng sự khôn ngoan riêng của mình và soạn những bài giảng bằng các tư tưởng riêng của mình. Chúng ta thường lấy những kiến thức lãnh hội được từ sách vở và giáo lý nghe từ các giáo sư cùng bạn bè, và biến chúng trở nên bài giảng của mình. Mặc dầu chúng ta có nhiều tư tưởng và ý kiến hay, và mặc dầu thính giả thích thú chú ý lắng nghe chúng ta, nhưng mọi công tác chấm dứt ngay tại đó. Chúng ta không thể ban phát sự sống của Đức Chúa Trời cho những người khác. Mặc dầu rao giảng lời của thập tự giá, chúng ta không thể ban phát sự sống của thập tự giá cho những người khác. Chúng ta chỉ có thể ban cho người ta những tư tưởng và ý kiến. Tuy nhiên, điều người ta thiếu không phải là những tư tưởng tốt đẹp mà là sự sống!

SỰ SỐNG

Chúng ta không thể trao cho người khác điều mà chúng ta không có. Nếu có sự sống, chúng ta có thể ban sự sống cho những người khác. Nếu điều chúng ta có chỉ là những tư tưởng thì chúng ta chỉ có thể trao cho họ những tư tưởng. Nếu chúng ta không kinh nghiệm về sự đóng đinh trong cuộc sống của mình, nếu chúng ta không kinh nghiệm về việc đồng chết với Chúa trong việc đắc thắng tội và bản ngã, nếu chúng ta không kinh nghiệm về việc vác thập tự giá và bước theo Chúa để chịu khổ vì Ngài, và nếu chúng ta chỉ biết lời về thập tự giá từ môi miệng và các bài viết của những người khác mà tự mình chưa kinh nghiệm về thập tự giá, thì chắc chắn chúng ta không thể ban sự sống cho những người khác. Chúng ta chỉ có thể trao các lý thuyết về sự sống của thập tự giá cho họ. Chỉ khi nào chúng ta được biến đổi bởi thập tự giá, và khi nào chúng ta nhận được sự sống và linh của thập tự giá thì chúng ta mới có thể ban phát thập tự giá cho những người khác. Hằng ngày thập tự giá cần thực hiện công tác sâu xa hơn trong cuộc sống của chúng ta để chúng ta có thể có những kinh nghiệm vững vàng về sự chịu khổ và sự chiến thắng của thập tự giá. Khi rao giảng, tự phát sự sống chúng ta sẽ tuôn ra qua lời nói của mình, và Linh sẽ tuôn đổ sự sống Ngài qua sự sống chúng ta để nuôi dưỡng những người khô hạn, là những người đang nghe giảng. Những ý tưởng chỉ có thể chạm đến tâm trí của con người; kết quả của những ý tưởng ấy chỉ là truyền đạt thêm những tư tưởng vào đầu óc con người. Chỉ sự sống mới có thể chạm đến linh con người, kết quả là linh con người nhận được một sự sống tái sinh hay sự sống dồi dào hơn.

Tư tưởng, lời nói, cách diễn đạt và lý thuyết của con người chỉ có thể cảm động và chạm đến hồn con người, vì chúng chỉ có thể lay động sự cảm kích, tình cảm, tâm trí và ý chí của con người. Chỉ sự sống mới có thể chạm đến linh con người. Mọi công tác của Thánh Linh đều ở trong linh chúng ta (Rô 8:16; Êph. 3:16). Chỉ khi nào chúng ta ở trong kinh nghiệm của linh, tuôn ra sự sống của linh mình, thì Thánh Linh mới tuôn đổ sự sống Ngài đến với linh của những người khác qua chúng ta. Vì vậy, điều hão huyền nhất là cứu những tội nhân và gây dựng các thánh đồ bằng tâm trí, lời diễn đạt và lý thuyết riêng của con người. Mặc dầu những gì một người phát biểu bề ngoài có thể rất thuyết phục, nhưng chúng ta phải biết rằng Thánh Linh không đang cùng làm việc với người ấy. Thánh Linh không ở đằng sau lời nói của người ấy và không hành động với người ấy qua uy quyền và quyền năng của Ngài. Thính giả có thể lắng nghe lời giảng của người ấy, nhưng không có sự thay đổi nào trong cuộc sống của họ cả. Mặc dầu đôi khi họ thề nguyền và quyết tâm, nhưng những hành động ấy chỉ là sự xúc động của hồn họ. Không có sự sống đàng sau những lời giảng ấy. Kết quả là họ không có quyền năng để đạt được những gì họ chưa đạt được. Ở đâu có sự sống thì ở đấy có quyền năng. Trong vấn đề thuộc linh, nếu không có sự sống thì không có quyền năng. Vì vậy, nếu không để Thánh Linh tuôn đổ sự sống Ngài qua sự sống anh em đến với linh của những người khác, những người khác sẽ không có sự sống của Thánh Linh và sẽ không có quyền năng để thực hành những gì anh em đã giảng. Điều chúng ta theo đuổi không phải là thuật hùng biện mà là quyền năng của Thánh Linh. Nguyện Linh của Đức Chúa Trời làm chúng ta nhận thức rằng những tư tưởng chỉ có thể chạm đến hồn con người, và chỉ sự sống mới có thể tuôn chảy đến linh con người.

Sự sống chúng ta nói đến tại đây chỉ về việc kinh nghiệm lời Đức Chúa Trời trong cuộc sống chúng ta và việc kinh nghiệm sứ điệp chúng ta rao giảng. Sự sống của thập tự giá là sự sống của Chúa Giê-su. Trước hết chúng ta nên thử nghiệm bài giảng của mình bằng kinh nghiệm. Giáo lý chúng ta hiểu chỉ là một giáo lý. Chúng ta nên để giáo lý hành động trong chính mình trước hầu giáo lý chúng ta hiểu trở nên một phần sự sống của mình và một phần của những yếu tố quan trọng trong cuộc sống hằng ngày, và giáo lý ấy trở nên không chỉ là giáo lý nữa, nhưng là sự sống của sự sống chúng ta. Điều ấy cũng giống như thức ăn chúng ta ăn trở nên thịt của thịt chúng ta và xương của xương chúng ta. Vậy, chúng ta trở nên một giáo lý sống động. Nhờ đó, lời giảng của chúng ta không còn chỉ là một lý thuyết mà chúng ta hiểu biết nữa nhưng là sự sống thật của mình. Đây là ý nghĩa của câu Kinh Thánh “những người thực hành lời” (Gia. 1:22). Chúng ta thường hiểu lầm từ ngữ “người thực hành”. Chúng ta nghĩ rằng những người thực hành là những người cố gắng hết sức làm theo lời họ nghe và hiểu. Nhưng đây không phải là “sự thực hành” trong Kinh Thánh. Chúng ta nên quyết tâm thực hành những gì chúng ta nghe là điều đúng, nhưng “sự thực hành” trong Kinh Thánh không phải là một “sự thực hành” bằng sức lực riêng của mình. Trái lại, ấy là cho phép Thánh Linh sống bày tỏ ra lời mà một người biết đến từ sự sống người ấy. Đây là một hình thức sống chứ không phải là một hình thức công tác. Nếu có một nếp sống thì tự phát sẽ có công tác. Có vài công tác rời rạc không phải là “sự thực hành” được mô tả trong Kinh Thánh. Chúng ta nên cộng tác với Thánh Linh trong cuộc sống qua ý chí của mình để có thể sống bày tỏ những gì chúng ta biết trong kinh nghiệm. Nhờ đó chúng ta sẽ có thể ban phát sự sống cho những người khác.

Chúng ta sẽ biết điều phải theo nếu nhìn xem Chúa Giê-su Christ. Ngài từng phán: “... Con Loài Người phải bị treo lên như vậy, để ai tin vào Ngài đều được sự sống đời đời” (Gi. 3:14-15) và “Còn Ta, nếu được treo lên khỏi đất, thì sẽ kéo mọi người đến cùng Ta. Ngài phán vậy để chỉ mình sẽ phải chết cách nào” (Gi. 12:32-33). Chúa Giê-su phải bị đóng đinh trước khi Ngài có thể kéo mọi người đến với Ngài và ban phát sự sống thuộc linh cho những người khác. Chính Ngài phải chết trước, kinh nghiệm thập tự giá trước, và có sự hành động của thập tự giá bên trong và bên ngoài, làm cho Ngài trở nên một người bị đóng đinh trong thực tại trước, rồi Ngài mới có thể có quyền năng thu hút mọi người đến với chính Ngài. Môn đồ không hơn thầy của mình. Nếu Chúa chúng ta đã phải bị treo lên trước khi có thể thu hút mọi người đến với chính Ngài, thì chúng ta là những người đã treo Đấng bị treo có nên để chính mình bị treo lên và bị đóng đinh trước khi chúng ta có thể thu hút loài người đến với Chúa không? Để Chúa Giê-su ban phát sự sống thuộc linh cho những người khác, Ngài đã phải bị treo lên thập tự giá. Tương tự như vậy, nếu chúng ta ao ước ban phát sự sống thuộc linh cho những người khác thì chúng ta cũng phải chịu treo lên thập tự giá. Chỉ khi ấy Thánh Linh mới tuôn đổ sự sống Ngài qua chúng ta. Nguồn sự sống ban phát sự sống cho những người khác qua thập tự giá. Ống dẫn sự sống không nên ban phát sự sống cho những người khác qua thập tự giá sao?

ỐNG DẪN SỰ SỐNG

Chúng ta đã nói rằng công tác của mình là ban phát sự sống cho những người khác. Tuy nhiên, chính chúng ta lại không có sự sống để ban cho, làm sống động và nuôi dưỡng những người khác. Chúng ta không phải là nguồn mà là ống dẫn. Sự sống của Đức Chúa Trời chảy qua chúng ta và tuôn ra từ bên trong chúng ta. Chúng ta là những ống dẫn. Những ống dẫn không nên để bị tắc nghẽn, nếu không nước không thể chảy qua. Lời về thập tự giá đang làm công tác nạo vét, lấy đi mọi điều thuộc về A-đam và con người thiên nhiên, để chúng ta có thể nhận được sự sống của Thánh Linh, và được dầm thấm bằng Thánh Linh. Nhờ vậy, linh chúng ta sẽ liên tục vác thập tự giá của Chúa đến nỗi sự sống của mình trở nên sự sống của thập tự giá. Chúng tôi sẽ bàn về điểm này ngay sau đây. Vì chúng ta được dầm thấm bằng Thánh Linh và có sự sống của thập tự giá, Thánh Linh sẽ dùng chúng ta để tuôn đổ sự sống của thập tự giá ra từ bên trong mình đến với những người xung quanh. Nếu chúng ta thực sự để thập tự giá thực hiện công tác sâu xa bên trong mình, đến mức độ chúng ta được đầy dẫy Thánh Linh, thì chúng ta sẽ tự phát tuôn ra sự sống để nuôi dưỡng những người chúng ta tiếp xúc mỗi khi chúng ta nói hay rao giảng trước đám đông hay với từng cá nhân. Đây không phải là điều đòi hỏi sự cố ý nỗ lực hay giả bộ; đó là điều rất tự nhiên. Tự phát chúng ta sẽ sanh bông trái. Đây là ý Chúa Giê-su nói trong Giăng 7:38: “Kẻ nào tin Ta thì những sông nước hằng sống sẽ chảy ra từ bản thể sâu thẳm của người ấy, y như Kinh Thánh đã chép vậy”. Tại đây có vài ý nghĩa. Trước hết bản thể sâu thẳm của người tín đồ phải được làm cho trống không và nhận được công tác trọn vẹn của thập tự giá. Bản thể sâu thẳm của người ấy phải được đổ đầy với nước sống của Thánh Linh. Sự sống trong người ấy không chỉ đủ cho nhu cầu của mình, mà dồi dào và đầy đủ đến mức độ trở nên những dòng sông nước sự sống chảy ra từ người ấy cung cấp cho những người khác cùng một loại nước sống ấy. Chúng ta nên chú ý đến chữ “chảy” tại đây. Ấy là không phải bởi sự điều khiển, giọng nói, tâm lý, tài hùng biện, giáo lý hay kiến thức. Mặc dầu, đôi khi những phương thức này giúp đỡ chúng ta, nhưng chúng không phải là nước sống. Việc sử dụng những phương cách này cũng không phải là sự tuôn chảy của nước sống. Tuôn chảy là điều rất tự nhiên; nó không đòi hỏi bất cứ sự lao khổ nào từ phía con người. Thay vào đó, mọi sự đều tuôn theo dòng chảy. Chúng ta không cần bất cứ tài hùng biện hay giáo thuyết nào. Chúng ta chỉ cần trung tín rao giảng lời về thập tự giá của Chúa, và những người khác sẽ nhận được sự sống mà họ thiếu. Sự sống và quyền năng của Thánh Linh bằng cách nào đó sẽ tự phát tuôn chảy qua linh chúng ta. Nếu không, cho dầu chúng ta chịu khó giảng dạy, thính giả sẽ chỉ nghe một cách thờ ơ! Đôi khi thính giả có thể chú ý lắng nghe, hiểu và được đụng chạm bởi điều họ nghe. Nhưng họ sẽ chỉ đáp ứng với lời nói rằng: “Thật tuyệt diệu”. Họ sẽ vẫn không có quyền năng và sự sống để thi hành điều họ nghe. Ô, nguyện chúng ta là những ống dẫn sự sống của Đức Chúa Trời ngày nay!

Để làm những ống dẫn, chúng ta phải có kinh nghiệm. Chúng tôi đã bàn đến điểm này trong phần trên. Trừ phi chúng ta có điều ấy, Thánh Linh sẽ không cùng làm việc với chúng ta. Sau khi nhận được quyền năng của Thánh Linh, mọi công tác của chúng ta sẽ ở trong bản tính của một chứng nhân (Lu. 24:48-49). Thật ra, tất cả công tác của chúng ta là làm chứng nhân cho Chúa. Một chứng nhân không thể làm chứng về điều họ chưa từng thấy. Ngay cả một người không thể làm chứng về điều mình đã nghe từ những người khác. Một người không thể làm chứng điều mình chưa từng kinh nghiệm. Nói cách nghiêm túc, nếu một người không kinh nghiệm về những gì mình rao giảng thì người ấy làm chứng dối! Nếu chúng ta làm như vậy, Thánh Linh sẽ không cùng làm việc với chúng ta. Một điều khác chúng ta nên biết là để Thánh Linh hành động hay uế linh hành động, thì phải có những người làm lối tuôn đổ ra của quyền năng. Nếu không kinh nghiệm những gì chúng ta rao giảng, Thánh Linh sẽ chắc chắn không thể dùng chúng ta làm ống dẫn của Ngài mà qua đó Ngài tuôn đổ sự sống Ngài vào trong tấm lòng của người nghe.

Thế nên, nguyện thập tự giá chúng ta rao giảng đóng đinh chúng ta trên đó! Nguyện chúng ta vác thập tự giá mà mình rao giảng! Nguyện chúng ta trước hết có được sự sống mà mình muốn ban phát cho những người khác! Nguyện thập tự giá chúng ta rao giảng là thập tự giá mà chúng ta kinh nghiệm hằng ngày trong cuộc sống của mình! Để sứ điệp chúng ta rao giảng có hiệu quả lâu dài, sứ điệp ấy trước hết phải trở nên thức ăn của linh chúng ta. Nó phải được khắc sâu vào lòng chúng ta, được nung đốt và trui rèn vào sự sống chúng ta qua những nỗi khổ trong cuộc sống hằng ngày của mình. Bởi đó, mọi chuyển động của chúng ta sẽ mang dấu vết của thập tự giá. Chỉ những ai mang trên thân thể mình những dấu vết của Chúa Giê-su (Ga. 6:17) mới có thể rao giảng Chúa Giê-su. Anh em ơi, tôi xin nói với anh em rằng mặc dầu những ý tưởng đột nhiên xuất hiện trong tâm trí anh em hay kiến thức mà anh em nhận được qua sách vở thưởng cho anh em vài nụ cười của người nghe, nhưng chúng sẽ không có hiệu quả lâu dài. Nếu công tác chúng ta là chỉ làm cho người ta mỉm cười, chúng ta có thể nghĩ rằng chúng ta đang thực hiện một công tác lớn lao với những bài giảng của mình bằng cách chỉ thu thập tài liệu từ tâm trí và tình cảm. Tuy nhiên, điều này không phải là mục tiêu công tác của chúng ta!

THÀNH CÔNG CỦA VỊ SỨ ĐỒ

Sứ điệp về thập tự giá đã đụng chạm Phao-lô cách sâu xa. Cuộc sống của ông là sự biểu lộ của sự sống thập tự giá. Ông không những là người đã rao giảng thập tự giá mà còn là người đã sống thập tự giá. Thập tự giá ông rao giảng là thập tự giá ông sống. Vì vậy, khi nói về thập tự giá, ông có thể thêm vào kinh nghiệm và lời chứng riêng của mình. Ông không những biết sự chết thế chỗ của Chúa Giê-su, mà còn nhận lấy thập tự giá của Chúa Giê-su làm thập tự giá riêng của mình trong kinh nghiệm. Ông có thể nói: “Tôi đã bị đóng đinh với Đấng Christ” và “Thế gian đối với tôi đã bị đóng đinh và tôi đối với thế gian cũng vậy” (Ga. 6:14). Tính nhu mì, lòng chịu đựng, bệnh hoạn, khóc lóc, khổ sở và gông cùm của ông đều là sự biểu lộ của sự sống thập tự giá. Vì ông là một người sống thập tự giá, ông có thể rao giảng thập tự giá. Con người thỉnh thoảng chỉ trích những người khác là kẻ không thực hành điều mình rao giảng. Tuy nhiên, trong thực tại không một ai có thể rao giảng điều mà mình không thực hành! Vì Phao-lô có thể sống bày tỏ phúc âm của mình, ông đã có thể sinh ra nhiều con cái thuộc linh qua phúc âm. Chính ông đã sở hữu sự sống thập tự giá. Kết quả là ông có thể “sinh sản” thập tự giá ấy trong lòng của những người khác.

THẬP TỰ GIÁ VÀ SỨ GIẢ CỦA THẬP TỰ

A. Kinh Nghiệm Cá Nhân

Xin chúng ta đọc 2 Cô-rin-tô chương 4. Sau khi đọc chương này chúng ta sẽ nhận thấy kinh nghiệm bề trong của đầy tớ ấy của Chúa. Bí quyết của mọi công tác ông là “sự chết hành động trong chúng tôi, còn sự sống trong anh em” (c. 12). Ông đã trải qua sự chết hằng ngày. Hằng ngày ông để thập tự giá thực hiện công tác sâu hơn trong lòng mình để những người khác có thể nhận được sự sống. Nếu một người không có sự chết của thập tự giá trong chính mình thì những người khác không thể nhận được sự sống của thập tự giá. Phao-lô đã sẵn lòng chịu đặt vào sự chết để những người khác có thể nhận được sự sống. Chỉ những người đã chết mới có thể ban cho những người khác sự sống. Tuy vậy, điều này khó khăn biết bao!

Tại đây ý nghĩa của sự chết là gì? Sự chết ở đây không chỉ là chết đối với tội, bản ngã và thế gian. Ở đây sự chết có ý nghĩa sâu xa hơn những điều ấy. Sự chết này là linh được biểu lộ bởi sự đóng đinh của Chúa Giê-su. Chúa Giê-su Christ của chúng ta đã không chết vì chính tội của Ngài. Thập tự giá của Ngài là sự biểu lộ về sự thánh khiết của Ngài. Sự đóng đinh của Ngài hoàn toàn là vì những người khác. Ngài đã chết trong sự vâng phục ý muốn của Đức Chúa Trời. Đó là ý nghĩa của sự chết tại đây. Ấy không những vì chính mình mà chúng ta bị đóng đinh đối với tội và thế gian, nhưng đó là vì chúng ta vâng phục Chúa Giê-su mà hằng ngày chúng ta bị những tội nhân chống đối và bị đặt vào sự chết. Chúng ta nên để sự chết của Chúa Giê-su hành động trong chúng ta đến mức chúng ta thực sự kinh nghiệm sự chết đối với bản ngã của mình và được thánh hóa. Hơn nữa, chúng ta nên để Thánh Linh, qua thập tự giá thực hiện công tác sâu xa hơn trong mình để chúng ta có thể sống bày tỏ thập tự giá. Không những chúng ta nên có sự chết của thập tự giá, mà hơn nữa chúng ta nên có sự sống của thập tự giá. Khi có sự chết của thập tự giá, chúng ta chết đối với tội và sự sống thuộc A-đam. Khi có sự sống của thập tự giá, chúng ta tiến thêm một bước nữa mà nhận lấy linh của thập tự giá làm chính sự sống trong nếp sống hằng ngày của mình. Điều này có nghĩa là chúng ta biểu lộ trong nếp sống hằng ngày của mình linh của Chúa Giê-su là Chiên Con, là Đấng im lặng chịu khổ, là Đấng “bị mắng nhiếc mà không mắng nhiếc lại, chịu khổ mà không hăm dọa, nhưng cứ phó thác tất cả cho Đấng xét đoán cách công chính” (1 Phi. 2:23). Đây là bước sâu xa hơn so với việc bị đóng đinh đối với tội, bản ngã và thế gian. Nguyện thập tự giá trở nên sự sống của chúng ta để chúng ta có thể làm một thập tự giá sống động và biểu lộ thập tự giá trong mọi sự.

Phao-lô đã có thể ban cho những người khác sự sống vì đối với ông sống là thập tự giá. Ông không những thụ động áp dụng sự chết của thập tự giá để tiêu diệt mọi sự của A-đam cũ, mà còn tích cực nhận lấy thập tự giá làm sự sống của mình và hằng ngày sống bày tỏ thập tự giá. Hằng ngày, ông hiểu biết tầm quan trọng về thập tự giá của Chúa. Đồng thời, hằng ngày ông đã bày tỏ sự sống của Chúa là Chiên Con (thập tự giá). Ông “luôn luôn mang sự giết chết của Giê-su trên thân thể, để sự sống của Giê-su cũng được tỏ ra trong thân thể của chúng tôi” (2 Cô. 4:10). Ông đã sẵn lòng “... luôn luôn bị nộp cho sự chết vì cớ Giê-su, để sự sống của Giê-su [thập tự giá] cũng được tỏ ra trong xác thịt chết chóc...” (c. 11).Vì thế, ông có thể bị “đè nén đủ cách, nhưng không đến nỗi khốn cùng; bị túng thế, nhưng không thất vọng; bị rượt đuổi, nhưng không đến bỏ rơi; bị đánh ngã, nhưng không đến diệt mất” (cc. 8-9). Ông đã cho phép sự chết của Chúa Giê-su “hành động” trong mình (c. 12). Một sự chết mà có thể hành động là một “sự chết sống động”. Đó là sự sống của sự chết, là sự sống của thập tự giá. Ông luôn sẵn lòng nộp cho sự chết vì cớ Giê-su. Ông sẵn sàng chịu đựng những lời khó nghe, mưu chước xảo quyệt cậy quyền cậy thế, sự bắt bớ tàn nhẫn và sự hiểu lầm vô lý vì cớ Chúa. Ông đã sẵn lòng bị nộp vào sự chết mà không nói một lời. Trong những tình huống như vậy, ông y như Chúa của mình, là Đấng dầu có quyền năng xin Cha sai đến mười hai đạo quân thiên sứ để giải thoát Ngài khỏi những tình huống bởi mưu chước con người, thì đã không lựa chọn điều đó. Ông thà để “sự chết sống động” của Giê-su, tức sự sống và linh của thập tự giá, hành động trong ông đến mức ông hoạt động và cư xử trong linh của thập tự giá. Ông đã nhận thức rằng kèm với thập tự giá là quyền năng, đó là quyền năng ban cho ông khả năng phục tùng sự chết vì cớ Giê-su, và chịu bắt bớ cùng những hoạn nạn dưới bàn tay của con người. Thập tự giá đã hành động trong Phao-lô sâu xa biết bao! Nếu chúng ta có thể mang “trong thân thể sự giết chết của Giê-su thì sẽ tốt đẹp biết bao! Ai có thể thưa với Chúa rằng mình sẵn lòng chịu chết và không chống cự lại các nghịch cảnh đau khổ! Nhưng nếu chúng ta muốn những người khác có được thập tự giá thì trước hết thập tự giá phải cầm giữ lấy chúng ta trong cuộc sống của mình. Chỉ sau khi thập tự giá được tôi luyện ban phát vào trong chúng ta nhờ những đau khổ và chống đối khốc liệt thì chúng ta mới có thể sao chép lại thập tự giá này vào trong cuộc sống của những người khác. Nói cách khác, sự sống của thập tự giá là sự sống áp dụng bài giảng trên núi của Chúa (Mat. chương 5 – 7, xin xem 5:38, 44).

Tại đây phân đoạn trong Thư Cô-rin-tô thứ hai nói rõ với chúng ta rằng chúng ta không chỉ cốt vì sự rao giảng, mà cốt vì sự bày tỏ sự sống của Chúa Giê-su (4:10-11), và chúng ta cần tuôn ra sự sống của Chúa Giê-su từ thân thể mình. Chúng ta có thể tuôn ra sự sống Ngài chỉ khi chúng ta luôn luôn mang trong thân thể sự chết của Chúa Giê-su, khi chúng ta bị nộp cho sự chết vì cớ Giê-su, khi chúng ta chịu mất mát thanh danh, tổn hại tâm trí và thân thể vì cớ Ngài, và khi chúng ta bày tỏ lối đi của Chiên Con tại Gô-gô-tha giữa tất cả những đau khổ như vậy (cc. 10-11). Đáng tiếc thay, chúng ta thường thích đi ngõ tắt! Chúng ta không nhận thức rằng không có đường tắt trong việc biểu lộ sự sống của Chúa Giê-su!

“Sự chết hành động trong chúng tôi, nhưng sự sống trong anh em” (c. 12). “Anh em” chỉ về người Cô-rin-tô và mọi thánh đồ (1:2); họ là người nghe Phao-lô. Vì sự chết của Chúa có thể hành động trong Phao-lô nên ông có thể khiến sự sống của Chúa Giê-su hành động trong những người nghe mình và làm cho họ nhận được sự sống thuộc linh. Chữ “sự sống” trong câu này là zoe, theo nguyên ngữ có nghĩa là sự sống thuộc linh, tức sự sống cao nhất. Điều Phao-lô có thể tôn cao và ban cho những người khác không phải chỉ là bài giảng, những tư tưởng và một thập tự giá bằng gỗ của mình. Phao-lô ao ước họ có được sự sống thuộc linh của Chúa. Sự sống thuộc linh này hành động trong lòng họ và ban cho họ khả năng đạt đến mục tiêu trong bài giảng của Phao-lô. Đây không phải là một bài giảng hư không, nhưng là một bài giảng đi vào những tấm lòng khô hạn của thính giả, mang theo sự sống và quyền năng phi thường, để họ có thể nhận được sự sống của thập tự giá mà ông rao giảng. Việc chúng ta rao giảng về thập tự giá cần phải sinh ra một kết quả như vậy. Chúng ta không nên thỏa lòng nếu lời giảng của chúng ta không có kết quả giống như của Phao-lô. Tóm lại, nếu một người không sống thập tự giá như Phao-lô từng sống thì người ấy không thể mong đợi kết quả mà Phao-lô đã có. Nếu chúng ta không phải là những người bị đóng đinh thì việc chúng ta rao giảng về thập tự giá và ban cho những người khác sự sống chắc chắn là một điều khó.

B. Phương Thức Rao Giảng

Chúng ta nhận biết rằng Phao-lô không những rao giảng thập tự giá như một người bị đóng đinh, mà còn rao giảng thập tự giá trong linh của thập tự giá. Trong cuộc sống hằng ngày ông là một người bị đóng đinh; trong việc rao giảng ông cũng là một người bị đóng đinh. Ông đã loan báo thập tự giá bằng cách sống thập tự giá. Phao-lô là một người bị đóng đinh với Đấng Christ. Đây là kinh nghiệm của ông trong sự sống. Khi loan báo thập tự giá, ông đã không vận dụng “lời nói cao siêu hay sự khôn ngoan xuất chúng”, hay “lời khôn ngoan có sức thuyết phục” (1 Cô. 2:1, 4), là những điều ông thông thạo. Ông biết rằng những điều này sẽ không là các lối [tuôn đổ] thích hợp cho ống dẫn sự sống của Đức Chúa Trời. Thay vào đó, ông trông mong vào “sự bày tỏ của Linh và quyền năng” (c. 4). Ấy là sự rao giảng mà trong đó lời giảng về thập tự giá được giảng bằng thái độ của thập tự giá. Bằng tài năng và kinh nghiệm của mình, chắc chắn Phao-lô có thể diễn đạt rõ ràng lẽ thật về thập tự giá bằng những lời đầy thuyết phục và bằng những lý thuyết khôn khéo, thu hút sự chú ý của thính giả, và khiến họ hiểu điều ông phát biểu. Ông có thể đã biến thập tự giá tàn khốc trở nên điều nghe rất thú vị. Ông có thể đã dùng nhiều hình ảnh minh họa thích hợp và những câu châm ngôn đơn giản để giảng giải huyền nhiệm về thập tự giá. Ông có thể đã trích dẫn Kinh Thánh và giảng giải triết lý của thập tự giá, làm sáng tỏ sự chết thế chỗ và sự đồng đóng đinh của thập tự giá cho những người khác. Phao-lô có khả năng làm những điều ấy, nhưng ông lại không muốn làm thế. Tấm lòng ông không nương cậy vào những điều ấy vì ông biết những điều ấy không thể ban sự sống cho những người khác. Ông biết rằng nếu làm như vậy nghĩa là rao giảng lẽ thật vĩ đại về thập tự giá bằng phương cách trái ngược với thập tự giá. Đối với thế gian, thập tự giá khiêm nhường, thấp hèn, ngu dại và xấu xa. Đó là ý nghĩa của thập tự giá. Loan báo thập tự giá bằng lời lẽ và sự khôn ngoan xuất chúng thuộc thế tục là trái ngược với linh của thập tự giá và không ích lợi gì cả. Phao-lô đã sẵn lòng bỏ tài trí thiên nhiên của mình và loan báo thập tự giá với thái độ và tinh thần của thập tự giá. Đây là lý do tại sao Đức Chúa Trời đã đại dụng Phao-lô.

Mỗi người trong chúng ta đều có những tài năng thiên nhiên riêng của mình. Có người có nhiều tài năng trong khi những người khác có ít hơn. Sau khi trải qua kinh nghiệm về thập tự giá, chúng ta có khuynh hướng lệ thuộc vào hay dùng sức lực thiên nhiên của mình để loan báo thập tự giá mà chúng ta vừa mới kinh nghiệm được. Lòng chúng ta ao ước những người nghe mình có thể thấy điều chúng ta đã thấy, hay khao khát có được cùng một kinh nghiệm chúng ta đã có biết bao! Tuy nhiên, những người nghe chúng ta lại lãnh đạm và thờ ơ! Họ làm chúng ta thất vọng dường nào! Chúng ta không nhận thức rằng kinh nghiệm của chúng ta về thập tự giá vẫn còn non nớt, những tài năng (ân tứ) thiên nhiên, tuyệt hảo của chúng ta cần bị đóng đinh với Chúa, và thập tự giá cần hành động trong chúng ta. Chúng ta nên biểu lộ thập tự giá không những trong cuộc sống mà còn trong công tác của mình nữa. Trước khi đạt đến chỗ trưởng thành, chúng ta có khuynh hướng nghĩ rằng sức mạnh thiên nhiên của mình không làm hại mà lại có ích. Chúng ta tự nhủ tại sao chúng ta không thể dùng sức lực thiên nhiên của mình. Cho đến khi chúng ta nhận thấy rằng công tác được thực hiện bằng cách dùng tài năng thiên nhiên của mình chỉ tạo ra sự chấp nhận tạm thời từ những người khác, và không đem đến công tác vững chắc của Thánh Linh trong linh của những người nghe; khi ấy là lúc chúng ta bắt đầu hiểu rằng chỉ có tài năng thiên nhiên thì không đủ mà chúng ta phải tìm kiếm quyền năng lớn lao hơn. Số người rao giảng thập tự giá bằng sức lực riêng của mình nhiều biết bao!

Tôi không nói rằng những người này không có kinh nghiệm về thập tự giá. Có thể họ kinh nghiệm về thập tự giá. Trong khi công tác, họ không tuyên bố rằng họ tin cậy vào những tài năng thiên nhiên hay năng lực riêng của mình. Ngược lại, họ chuyên cần cầu nguyện, tìm kiếm ơn phước của Đức Chúa Trời và sự giúp đỡ của Thánh Linh. Họ biết rằng mình không đáng tin cậy đến một mức độ nào đó. Tuy nhiên, những nhận thức này không giúp đỡ họ, vì trong phần sâu thẳm nhất của lòng, họ vẫn tin cậy vào chính mình, nghĩ rằng tài hùng biện, lập luận, những tư tưởng hay các ví dụ của họ sẽ làm cảm động những người khác! Ý nghĩa của sự đóng đinh trên thập tự giá là trở nên bất lực trong sự yếu đuối và trong run rẩy cùng sợ sệt. Điều ấy có nghĩa là chết đi. Đây là điều xảy ra khi một người bị đóng đinh. Vì lý do đó, nếu biểu lộ sự sống của thập tự giá trong cuộc sống hằng ngày của mình, chúng ta cũng nên biểu lộ linh của thập tự giá trong công tác của Chúa. Chúng ta nên kể chính mình bất lực và luôn luôn tự xét mình là không đáng tin cậy trong sự sợ sệt cùng run rẩy vì chính mình. Nếu làm như vậy, chúng ta sẽ có được bông trái nhờ tin cậy vào Thánh Linh.

Chỉ những ai bị đóng đinh mới sẵn lòng và có khả năng tin cậy vào Thánh Linh và quyền năng Ngài. Khi nào còn tin cậy chút ít vào chính mình thì chúng ta sẽ không tin cậy Linh. Chính Phao-lô là người đã bị đóng đinh với Chúa. Khi công tác, ông đã bày tỏ linh của thập tự giá. Ông không tự tin chút nào. Vì rao giảng Cứu Chúa của thập tự giá bằng đường lối của thập tự giá, ông đã có sự minh chứng của Linh và của quyền năng (c. 4). Chúng ta phải có khả năng đồng nói với Phao-lô rằng “Phúc âm của chúng tôi đã truyền đến anh em, chẳng những bằng lời nói mà thôi, lại cũng bằng quyền năng, bằng Thánh Linh và bằng nhiều sự tin chắc đầy đủ nữa” (1 Tê. 1:5). Nếu Linh và quyền năng Ngài không hành động đằng sau lời nói của chúng ta thì những lời lẽ của chúng ta đều là vô dụng mặc dầu lời ấy có hấp dẫn thế nào đi nữa. Ôi, nguyện chúng ta coi thường những khả năng thiên nhiên của mình, và nguyện chúng ta sẵn lòng mất tất cả để có được quyền năng Thánh Linh của Đức Chúa Trời.

Bí quyết sự khác biệt giữa việc có kết quả và không có kết quả trong một người truyền giáo nằm tại điểm này. Đôi khi, chúng ta thấy hai nhà truyền giáo có cùng một lời nói và những cách diễn đạt giống nhau. Tuy nhiên Đức Chúa Trời có thể dùng một người để gặt hái được nhiều bông trái. Còn người kia có thể nói những lời thuộc linh và theo đúng Kinh Thánh, và thính giả của ông có thể cũng chú tâm nhiều đến ông, nhưng lời nói của ông không đem lại kết quả nào; không có bông trái. Khám phá ra lý do đằng sau sự khác biệt này không phải là điều khó. Theo như tôi quan sát, tôi có thể nhận thấy người trước thật sự là người bị đóng đinh; người ấy có kinh nghiệm đó. Còn người sau chỉ ở trong sự tưởng tượng của mình. Những ai không có gì ngoài những sự tưởng tượng chắc chắn không thể rao giảng thập tự giá bằng đường lối của thập tự giá. Nếu những người có sự sống của thập tự giá công bố kinh nghiệm của họ từ linh của mình, Thánh Linh chắc chắn sẽ ở cùng họ. Dầu vài người có tài ăn nói hơn những người khác và có khả năng phân tích và dẫn chứng hay, Thánh Linh sẽ không cùng làm việc với họ trừ phi thập tự giá đã thực hiện một công tác vững chắc trong lòng họ. Điều chúng ta thiếu sót là công tác sâu xa của thập tự giá bên trong mình, tức công tác đem đến kết quả là Thánh Linh cùng làm việc với chúng ta trong sự rao giảng phúc âm của mình và trong việc sự sống Ngài tuôn chảy ra qua chúng ta. Mặc dầu có lúc Chúa có thể dùng những tài năng thiên nhiên của chúng ta, nhưng đó không phải là nguồn sinh ra bông trái. Những công tác được thực hiện qua sự sống thiên nhiên ấy chủ yếu là những công tác hư không. Chỉ những công tác được thực hiện qua sự sống siêu nhiên mới có thể sinh ra nhiều bông trái.

Tại đây chúng ta có thể xem xét một phân đoạn Kinh Thánh khác. Điều này sẽ giải thích cho chúng ta sự khác biệt giữa việc tin cậy vào sự sống thiên nhiên và tin cậy vào sự sống siêu nhiên. Chúa Giê-su từng phán: “Nếu một hạt lúa mì chẳng rơi xuống đất mà chết, thì cứ chỉ một mình; nhưng nếu chết đi, thì kết quả nhiều. Ai yêu sự sống hồn mình thì sẽ mất nó, còn ai ghét sự sống hồn mình trong thế gian này, thì sẽ giữ nó lại đến sự sống đời đời” (Gi. 12:24-25).

Tại đây Chúa đã nói rõ nguyên tắc của việc sinh ra bông trái. Trước hết một hạt lúa mì phải chết trước khi nó sinh nhiều bông trái. Sự chết là con đường cần thiết để sinh bông trái. Chúng ta thường cầu nguyện xin Chúa ban cho mình quyền năng lớn lao hơn để có thể kết quả hơn. Tuy nhiên, Chúa lại bảo rằng trước hết chúng ta phải chết và kinh nghiệm về thập tự giá trước khi chúng ta có thể có uy quyền của Thánh Linh. Thường chúng ta cố gắng bỏ qua Gô-gô-tha để đi đến lễ Ngũ tuần. Chúng ta không nhận thức rõ ràng rằng nếu thập tự giá không đóng đinh chúng ta và tước bỏ mọi điều thiên nhiên của mình thì Thánh Linh không thể cùng làm việc với chúng ta để chiếm hữu những người khác. Chỉ qua sự chết mới có kết quả.

Bản chất của bông trái tại đây cũng chứng minh những gì chúng ta đã đề cập phần trước rằng mục đích công tác của chúng ta là ban sự sống cho những người khác. Khi hạt lúa mì ấy chết, nó sản sinh nhiều hạt lúa mì. Khi nó chết, nó ban phát sự sống cho nhiều hạt lúa mì khác. Tất cả những hạt lúa mì khác chứa đựng sự sống trong chúng. Sự sống mà chúng sở hữu phát xuất từ một hạt lúa mì đã chết. Nếu chúng ta thật sự chết thì chúng ta có thể trở nên ống dẫn sự sống của Đức Chúa Trời và có thể ban phát sự sống cho những người khác. Sự sống này không phải là một từ ngữ trống rỗng; đi kèm với sự sống ấy là quyền năng thật của Đức Chúa Trời. Khi quyền năng ấy được giải phóng ra từ chúng ta, nó ban sự sống cho những người khác.

Tại đây, bông trái kết quả từ hạt lúa ấy thì nhiều và phong phú; đó là “nhiều bông trái”. Khi bị giới hạn trong sự sống riêng qua công tác của mình, chúng ta có thể chiếm được một hai người là nhiều nhất. Điều này không có nghĩa là chúng ta sẽ không cứu được ai cả. Tuy nhiên, khi chết như một hạt lúa mì thì chúng ta sẽ đạt được “nhiều bông trái”. Bất cứ điều gì chúng ta thực hiện, dầu cho chúng ta sơ sót một ít lời, chúng ta vẫn sẽ khiến những người khác được cứu hay được gây dựng. Nguyện chúng ta kết quả nhiều.

Nhưng việc rơi xuống đất và chết thật ra nghĩa là gì? Chúng ta sẽ hiểu điều này khi đọc lời Chúa phán sau đây: “Ai yêu sự sống hồn mình thì sẽ mất, còn ai ghét sự sống hồn mình trong thế gian này, thì sẽ giữ nó lại đến sự sống đời đời”. Tại đây sự sống hồn được nói đến một vài lần. Trong nguyên ngữ, có những từ ngữ khác nhau được dùng chỉ về “sự sống” khác biệt nhau. Một chữ ngụ ý sự sống hồn và sự sống thiên nhiên. Chữ kia ngụ ý sự sống thuộc linh và sự sống phi thường. Vì vậy tại đây Chúa Giê-su nói rằng: “Ai yêu sự sống hồn mình thì sẽ mất nó, còn ai ghét sự sống hồn mình trong thế gian này, thì sẽ giữ nó lại đến sự sống đời đời”. Nói cách đơn giản, câu này cho chúng ta biết rằng chúng ta nên đặt sự sống hồn của mình vào sự chết theo như cách hạt lúa mì được gieo xuống đất. Sau đó, chúng ta sẽ kết nhiều quả trong sự sống thuộc linh của mình, là điều sẽ tồn tại mãi mãi. Chúng ta muốn kết quả nhiều. Tuy nhiên, chúng ta không biết cách giết chết sự sống hồn của mình và cách làm sống động sự sống thuộc linh.

Sự sống hồn chỉ là sự sống thiên nhiên của chúng ta. Xác thịt chúng ta có thể sống bởi sự sống hồn của mình. Sự sống hồn là cơ quan nhờ đó chúng ta sống. Mọi sự một người sở hữu bởi bản chất, chẳng hạn như ý chí, năng lực, tình cảm và tư tưởng của mình, đều là mọi phần của hồn. Mọi sự mà sự sống thiên nhiên sở hữu là sản phẩm phụ của sự sống hồn chúng ta. Trí tuệ, tư tưởng, tài hùng biện, tình cảm và khả năng của chúng ta, tất cả đều thuộc về sự sống hồn của mình. Sự sống thuộc linh là sự sống của Đức Chúa Trời. Sự sống ấy không phải được tiến hóa từ bất cứ phần nào của sự sống hồn chúng ta mà đặc biệt được Đức Chúa Trời ban cho khi chúng ta tin thập tự giá của Chúa và được tái sinh. Bây giờ điều Đức Chúa Trời đang hành động trong chúng ta là phát triển sự sống thuộc linh ấy và khiến sự sống ấy tăng trưởng. Tất cả những công tác tốt và năng lực làm việc đều phát xuất từ sự sống thuộc linh ấy. Ý định của Ngài là giết chết sự sống hồn của chúng ta. (Sự chết tại đây khác với sự chết trong 2 Cô-rin-tô chương 4. Sự chết đề cập ở đó là một phương diện khác của sự chết).

Nhiều khi năng lực của công tác chúng ta đến từ khả năng thiên nhiên hay sự sống hồn của mình. Chúng ta khám phá ra rằng thường thường chúng ta cần dùng tài hùng biện, sự khôn ngoan, kiến thức và những khả năng của mình. Một trong những điều đáng sợ nhất là năng lực chúng ta tận dụng trong khi rao giảng. Chúng ta vận dụng năng lực thiên nhiên của mình. Điều này làm kết quả của chúng ta bị giảm sút trầm trọng. Trong công tác của mình, chúng ta không biết cách áp dụng quyền năng của sự sống thuộc linh. Nhiều khi chúng ta coi sự sống hồn là sự sống thuộc linh. Kết quả là chúng ta dùng năng lực thiên nhiên của mình. Chúng ta thường phải chờ đợi cho đến lúc mọi năng lực thiên nhiên của thân thể mình cạn kiệt trước khi chúng ta bắt đầu tùy thuộc vào quyền năng của sự sống thuộc linh. Thậm chí nhiều người còn chưa đạt đến tiêu chuẩn này. Mỗi khi cảm thấy thể lực mình yếu đuối, họ thừa nhận rằng mình không thể công tác nữa. Những người khác ở mức độ cao hơn sẽ tiếp tục trong sự yếu đuối của mình và tiếp tục công tác bằng cách cố gắng tin cậy nơi sức lực của Chúa. Tuy nhiên, nếu chúng ta thật sự nhận biết cách chết đối với sức mạnh thiên nhiên (thuộc hồn) của mình, và nếu chúng ta tin cậy quyền năng của sự sống thuộc linh mà Đức Chúa Trời đã đặt bên trong, chúng ta sẽ không lệ thuộc vào sức mạnh thiên nhiên để công tác cả khi chúng ta không có sức lực cũng như khi chúng ta đầy dẫy sức lực. Tôi cảm thấy buồn vì công tác của nhiều tín đồ vẫn còn ở trong hồn, dầu rằng những tín đồ ấy sốt sắng và chân thành. Công tác như vậy không bao giờ chạm đến lãnh vực thuộc linh. Sự khác biệt giữa việc sử dụng quyền năng thuộc linh và năng lực thuộc hồn là một điều mà lời nói không thể giải thích được. Chúng ta chỉ có thể hiểu biết điều đó trong linh và tấm lòng của mình. Thế nhưng khi Thánh Linh soi sáng, chúng ta sẽ nhận thức trọn vẹn điều đó trong kinh nghiệm của mình.

Để quan tâm đến sự yếu đuối giữa vòng nhiều con cái của Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ thảo luận nan đề này cách chi tiết. Tuy nhiên, chúng ta chỉ có thể ngưỡng trông Thánh Linh của Đức Chúa Trời bày tỏ cho chúng ta thấy cách riêng tư ý nghĩa thật sự của lẽ thật này và phương cách để thực hành lẽ thật ấy trong kinh nghiệm của mình. Có ba đặc điểm chính về công tác của hồn. Trước hết là khả năng thiên nhiên, thứ hai là tình cảm, và thứ ba là tâm trí.

KHẢ NĂNG THIÊN NHIÊN

Chúng ta đã đề cập từ trước vấn đề liên quan đến những khả năng thiên nhiên của mình. Vài người thì thông minh hơn; tự nhiên họ nhạy bén hơn những người khác. Vài người rất có tài hùng biện; khi họ phát biểu, những luận chứng của họ luôn luôn hợp lý. Vài người rất có tài phân tích; họ có thể phân tích một nan đề cách hợp lý. Vài người có thể lực rất mạnh mẽ; họ có thể lao nhọc ngày đêm mà không cần nghỉ ngơi. Vài người rất tài năng; họ rất giỏi quán xuyến công việc. Chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời cần dùng khả năng thiên nhiên của con người, nhưng con người thường thừa dịp Đức Chúa Trời dùng những khả năng của mình mà tin cậy vào mọi khả năng thiên nhiên của mình. Ví dụ, tại đây chúng ta có thể có một người nói năng chậm chạp nhưng lại có tài sắp xếp công việc, và một người khác có thể rất có tài hùng biện nhưng lại không có khả năng sắp xếp những công việc. Nếu Chúa đòi hỏi cả hai giảng dạy, người đầu tiên chắc chắn sẽ cảm thấy rằng mình chậm chạp trong việc ăn nói và vì vậy người ấy hoàn toàn tin cậy vào Chúa. Người thứ hai sẽ tự xem mình rất hùng biện. Mặc dầu cũng cầu nguyện, nhưng anh sẽ không hết lòng như người đầu tiên. Về mặt khác, nếu Chúa đòi hỏi cả hai điều hành một công việc thì người đầu tiên sẽ không tin cậy nơi Chúa hết lòng như người thứ hai! Khả năng thiên nhiên của chúng ta là năng lực của sự sống hồn mình. Chúng ta chưa nhận thức được mức độ chúng ta tự tin nơi chính mình và mức độ chúng ta tùy thuộc vào năng lực của hồn khi làm công tác! Dưới nhãn quan của Đức Chúa Trời, quá nhiều công tác của chúng ta được thực hiện nhờ năng lực của hồn.

TÌNH CẢM

Vài cảm xúc phát xuất từ chính chúng ta. Những cảm xúc khác phát xuất từ những người khác. Đôi khi những người thân yêu của chúng ta chưa được cứu, hay họ chưa đạt đến mức chúng ta trông đợi. Kết quả là chúng ta bị khuấy động. Chúng ta cố gắng hết sức để cứu họ hay gây dựng họ. Loại công tác này thường không có hiệu quả, vì động cơ của công tác như thế phát xuất từ tình cảm của chúng ta. Đôi khi chúng ta nhận được ân điển đặc biệt từ Đức Chúa Trời; lòng của chúng ta đầy dẫy ánh sáng và sự vui mừng. Dường như một ngọn lửa bùng cháy bên trong ban cho chúng ta niềm vui khôn tả. Vào những lúc như vậy, sự hiện diện của Đức Chúa Trời trở nên rất thật. Khi hồn chúng ta được khuấy động như vậy thì những cảm giác thuộc về tình cảm dâng cao. Vào những lúc như vậy, công tác cho Chúa là điều dễ dàng. Lòng chúng ta dường như cảm thấy sẵn sàng tuôn trào. Chúng ta khó có thể kiềm chế mà không nói với người khác về Chúa. Thông thường chúng ta có thể ý thức rằng mình phải cẩn thận trong lời nói. Tuy nhiên, những lúc ấy, khi tấm lòng đầy dẫy ánh sáng đặc biệt, chúng ta liên tục nói những điều về Đức Chúa Trời. Những công tác như vậy hoàn toàn thuộc về tình cảm. Vài người nghĩ rằng họ chỉ có thể công tác khi họ cảm nhận ngọn lửa này trong lòng mình và khi chính họ được cất lên dường như đến từng trời thứ ba. Khi Chúa cất đi niềm vui “có thể nhận thấy này” thì những người như vậy sẽ cảm thấy như có sức nặng hàng tấn trĩu gánh trên vai và họ không thể bước thêm một bước nào nữa. Đôi khi lòng họ lạnh lẽo như băng giá, không còn chút rung động tình cảm nào nữa. Vào những lúc như vậy, họ cảm thấy rằng mình không còn có thể rao giảng nữa. Họ cảm thấy khô khan và lạnh lẽo bên trong. Kết quả là họ không có khả năng công tác. Thậm chí khi họ tự ép buộc mình làm việc, thì công tác ấy hoàn toàn vô vị đối với họ. Những công việc của họ hoàn toàn bị những cảm giác bề trong của mình kiểm chế. Khi có những cảm giác thích hợp, họ tung cánh bay cao như những con chim đại bàng. Khi những cảm giác thích hợp biến mất, họ chao đảo và không chịu tiến lên. Những cảm giác, sự kích thích và cảm xúc đều là tất cả những phần thuộc sự sống của hồn. Do đó, những thánh đồ bị chi phối bởi những cảm giác, sự kích thích và cảm xúc thì đang công tác bởi năng lực của sự sống hồn mình. Họ chưa có khả năng giết chết những điều ấy và vẫn chưa có thể công tác trong linh.

TÂM TRÍ

Công tác của chúng ta thường bị tâm trí mình ảnh hưởng hay kiểm chế. Vì không biết cách tìm kiếm ý muốn của Đức Chúa Trời, nên nhiều khi chúng ta chấp nhận những tư tưởng của tâm trí là ý muốn của Đức Chúa Trời và bị dẫn lạc đường. Bước theo tâm trí và hành động căn cứ trên tâm trí là một điều rất nguy hiểm. Đôi lúc khi chuẩn bị một bài giảng, chúng ta tích cực cố gắng vận dụng tâm trí mình và soạn ra những dàn bài, phân đoạn, đưa ra các lời giải thích, ý nghĩa và ví dụ. Những bài giảng như vậy rất chết chóc. Họ có thể khơi dậy sự chú ý của những người khác và gây thích thú, nhưng họ không thể ban phát sự sống cho những người khác. Có một hoạt động khác của tâm trí. Tôi tin nhiều công nhân của Đức Chúa Trời thường khám phá chính mình đang tham gia vào một công tác rắc rối như thế. Ấy là trí nhớ. Chúng ta thường rao giảng cho những người khác từ trí nhớ của mình! Chúng ta ghi nhớ những bài giảng mình đã nghe rồi giảng cho những người khác những gì chúng ta ghi nhớ. Đôi khi chúng ta giảng cho những người khác từ những phân đoạn Kinh Thánh mà chúng ta đã ghi nhớ hay từ những bài giảng và bài giải kinh cũ của mình. Những điều này đều là các hoạt động của tâm trí. Điều này không có nghĩa là chúng ta chưa từng kinh nghiệm điều mình rao giảng. Có lẽ những gì chúng ta biết và ghi nhớ là những điều đã được Đức Chúa Trời dạy dỗ. Có lẽ chúng ta đã thật sự kinh nghiệm được những điều chúng ta biết và ghi nhớ. Tuy nhiên, việc ấy vẫn không thể phủ nhận sự thật rằng chúng vẫn là những công tác của tâm trí. Có thể chúng ta đã kinh nghiệm một lẽ thật mà vào lúc chúng ta kinh nghiệm có thể là sự sống đối với chúng ta. Thế nhưng, sau một thời gian, sự hiểu biết về lẽ thật ấy chỉ còn lại trong tâm trí chúng ta. Chúng ta bắt đầu rao giảng từ trí nhớ lẽ thật mà mình đã kinh nghiệm từ trước, nhưng điều này chỉ trở nên một công việc của tâm trí. Tâm trí và trí nhớ của chúng ta, cả hai đều là những cơ quan của hồn. Chúng ta tin cậy vào tâm trí và trí nhớ của mình có nghĩa là chúng ta tin cậy vào năng lực của sự sống hồn. Chúng ta vẫn còn ở dưới sự điều khiển của sự sống thiên nhiên.

Ba điều này là những điều chính yếu trong công tác của hồn. Công tác thuộc hồn như vậy không phải là tội; điều đó không có nghĩa là công tác thuộc hồn hoàn toàn không có khả năng cứu người. Tuy nhiên, kết quả sẽ rất ít oi. Chúng ta nên đắc thắng công tác của hồn ấy bằng cách tin cậy vào thập tự giá. Chúa đã bảo chúng ta rằng sự sống hồn nên rơi xuống đất và chết đi như một hạt lúa mì. Theo kinh nghiệm, chúng ta rất quí mến những khả năng thiên nhiên của mình. Chúng ta rất thích cảm giác của mình, và tin cậy nơi tâm trí mình. Tuy nhiên, Chúa chúng ta đã bảo rằng chúng ta nên ghét sự sống hồn của mình. Nếu không ghét nhưng lại yêu sự sống ấy, chúng ta sẽ mất đi quyền năng của sự sống thuộc linh. Trong vấn đề này, sự chết của thập tự giá cần phải thực hiện một công tác sâu xa hơn. Chúng ta nên trao cho thập tự giá sự sống hồn mà mình yêu mến. Chúng ta nên sẵn lòng chết với Chúa tại đó và bỏ đi sự tùy thuộc vào những khả năng, cảm giác và tâm trí thiên nhiên của mình. Không phải chúng ta miễn cưỡng bỏ đi những công tác này. Trái lại, chúng ta ghét những công tác ấy từ trong lòng của mình. Trong công tác của mình, chúng ta chẳng những không nên quan tâm đến việc có những khả năng thiên nhiên hay không, và chẳng những không nên quan tâm đến việc có những cảm xúc và tư tưởng hay không, nhưng chúng ta cần bước xa hơn nữa là nuôi dưỡng một sự căm ghét trực tiếp đối với năng lực của sự sống thiên nhiên ấy và sẵn lòng trao chúng cho thập tự giá đóng đinh.

Về mặt tiêu cực nếu chúng ta liên tục giữ thái độ căm ghét sự sống hồn của mình, và nếu nhất quyết không thỏa hiệp gì cả, chúng ta sẽ học tập trong kinh nghiệm cách tin cậy nơi quyền năng của sự sống thuộc linh và cách chúng ta có thể sanh bông trái cho Đức Chúa Trời.

PHƯƠNG CÁCH ĐỂ MỘT NGƯỜI BỊ ĐÓNG ĐINH RAO GIẢNG THẬP TỰ GIÁ

Trong sự thực hành của mình, bất cứ khi nào và bất cứ nơi nào Chúa trao gánh nặng cho chúng ta để làm chứng cho Ngài, thì lại một lần nữa chúng ta nên xua đuổi đi bất cứ ước ao nào nương cậy nơi những khả năng thiên nhiên của mình. Chúng ta nên dẹp qua một bên cảm xúc và không chú ý đến những cảm giác riêng của mình. Ngay cả những khi không có cảm giác nào cả, hay lúc cảm xúc chúng ta lạnh lẽo như băng giá, chúng ta cần quì gối xuống trước mặt Chúa và xin Ngài thực hiện một công tác sâu xa hơn của thập tự giá trong chúng ta để chúng ta có thể điều khiển cảm xúc của mình và hành động phù hợp với mạng lệnh của Chúa, bất chấp cảm xúc của chúng ta lạnh lẽo hay nóng cháy. Nếu chúng ta làm như vậy, Chúa sẽ bày tỏ lòng nhân từ đối với chúng ta và sẽ đánh bại những cảm xúc lạnh lẽo của mình. Tuy chúng ta đã biết trước điều mình sẽ giảng, nhưng chúng ta không cố gắng đào bới những sự dạy dỗ ấy từ trong đầu óc hay trong tâm trí mình. Trái lại, chúng ta tự hạ mình trước mặt Chúa, và xin Ngài soi sáng chúng ta cách mới mẻ với những sự dạy dỗ mà chúng ta đã biết từ trước, và khắc ghi những sự dạy dỗ ấy vào linh chúng ta một cách mới mẻ để những gì chúng ta rao giảng không chỉ trở nên sự hồi tưởng kinh nghiệm cũ của mình nhưng là sự gặp gỡ mới mẻ trong sự sống của mình. Nhờ đó Thánh Linh sẽ xác nhận điều chúng ta giảng bằng quyền năng. Tốt nhất là chúng ta nên dành một thời gian dài trước mặt Chúa trước khi rao giảng để lời Ngài (có phần chúng ta đã quen thuộc từ lâu rồi) ghi sâu vào linh chúng ta cách mới mẻ. Đôi khi điều này không cần nhiều thì giờ lắm. Chúa có thể ghi khắc sứ điệp của Ngài vào linh chúng ta trong vài phút. Để thực hiện điều này, linh chúng ta phải rất mở rộng cho Chúa và liên hệ gần gũi với Ngài vào những lúc bình thường.

Chúng ta phải chú ý đến điểm này. Điểm ấy liên quan đến sự thành công hay thất bại của chúng ta. Một người có thể yêu cầu một thánh đồ sa sút giảng một bài. Thánh đồ ấy có thể nói về kinh nghiệm cũ của mình bằng cách vận dụng trí nhớ. Thậm chí người ấy có thể nói ra cách rất thuyết phục. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng Thánh Linh không thể nào cùng làm việc với anh. Mọi công tác được chúng ta thực hiện qua sự vận dụng trí nhớ của mình thì ít nhiều tương đương với sự rao giảng của những tín đồ sa sút. Chúng ta phải nhận thức rằng nhiều khi công tác chúng ta hoàn tất qua tâm trí của mình là một sự phung phí sức lực. Tâm trí chỉ có thể chạm đến tâm trí của những người khác chứ không bao giờ có thể chuyển động linh họ hay ban sự sống cho họ. Những kinh nghiệm cũ không bao giờ có thể trang bị chúng ta cho các công tác mới mẻ. Chúng ta phải để Đức Chúa Trời làm tươi mới những kinh nghiệm cũ trong linh của mình.

Điều này càng đúng hơn nữa trong việc rao giảng sự cứu rỗi của thập tự giá cho những tội nhân. Có thể chúng ta đã được cứu nhiều thập niên về trước. Nếu chúng ta công tác bằng cách dùng trí nhớ của mình, thì bài giảng của chúng ta không cũ kỹ và vô vị lắm sao? Chỉ khi chúng ta nhận thức cách mới mẻ trong linh của mình về sự gian ác của tội, nếm biết tình yêu của thập tự giá cách mới mẻ, và cảm thông với Đấng Christ trong nỗi ao ước mãnh liệt của Ngài mong muốn những tội nhân đến với Ngài, thì chúng ta mới có khả năng mô tả thập tự giá cách linh động trước mặt loài người (Ga. 3:1) và khiến họ tin nhận. Ngược lại, nếu chúng ta cố gắng thuyết phục những người khác bằng tình yêu thương và lòng sốt sắng của mình thì kết cuộc chính chúng ta có thể bị chai cứng và lạnh lẽo! Có thể trong khi chúng ta đang rao giảng nỗi khổ đau của thập tự giá, lòng chúng ta lại không được đụng chạm chút nào và không bị tan chảy bởi những nỗi khổ ấy!

Chúng ta nên mở linh mình ra trước mặt Chúa để Thánh Linh tuôn đổ lời và sứ điệp của Ngài qua linh chúng ta, hầu trước hết lời Chúa và sứ điệp chúng ta rao giảng có thể truyền vào trong linh mình. Chúng ta không nên nương dựa nơi những cảm giác, khả năng thiên nhiên và tư tưởng của mình, mà chỉ nên tin cậy vào quyền năng của Thánh Linh và để sứ điệp của Ngài khắc sâu vào linh chúng ta cũng như linh của người nghe. Mỗi lần rao giảng, chúng ta nên giống như Ê-sai, là người trước hết nhận được gánh nặng cho lời tiên tri,và sau đó tuyên bố lời tiên tri của mình. Trong Ê-sai chương 13 – 23, mệnh đề “gánh nặng về vấn đề này và vấn đề kia mà người này và người kia đã thấy” rất có ý nghĩa. Mỗi lần trước khi rao giảng lời của Đức Chúa Trời, trước hết chúng ta cần nhận được gánh nặng của Đức Chúa Trời trong linh của mình. Mỗi khi rao giảng, chúng ta nên mang gánh nặng về sứ điệp chúng ta rao giảng trong linh mình, và không nên kể rằng gánh nặng ấy đã được cất đi cho đến khi công việc của chúng ta được hoàn tất. Chúng ta nên cầu nguyện để Chúa ban cho chúng ta gánh nặng như vậy hầu công tác của chúng ta sẽ không thuộc về những cảm xúc, khả năng thiên nhiên và tâm trí. Chúng ta cũng nên có kinh nghiệm của Giê-rê-mi, là người đã nói: “Nếu tôi nói: Tôi sẽ chẳng nói đến Ngài nữa; tôi sẽ chẳng nhơn danh Ngài mà nói nữa, thì trong lòng tôi như lửa đốt cháy, bọc kín trong xương tôi, và tôi mệt mỏi vì nín lặng, không chịu được nữa” (20:9). Chúng ta không nên rao giảng lời Ngài cách bất cẩn hay dại dột. Trái lại, trước hết chúng ta nên để lời Ngài đốt cháy trong linh mình đến mức độ chúng ta bị thôi thúc phải nói. Tuy nhiên, nếu không sẵn lòng đặt sự sống hồn của mình và sức lực của sự sống ấy vào sự chết, chúng ta sẽ không bao giờ có thể nhận được lời tươi mới của Chúa trong linh mình.

Vì vậy, anh em ơi, nếu chúng ta muốn được Đức Chúa Trời dùng để cứu những tội nhân, phục hưng các thánh đồ, và loan báo thập tự giá, chúng ta nên để thập tự giá này hành động trong chính mình. Qua sự hành động ấy, về một mặt chúng ta trở nên sẵn lòng chịu đặt vào sự chết vì cớ Chúa, và về mặt khác chúng ta trở nên sẵn sàng đặt sự sống hồn mình vào sự chết. Đồng thời, chúng ta không còn nương cậy nơi chính mình hay vào bất cứ điều gì phát xuất từ chúng ta. Thay vào đó, chúng ta ghét tất cả sức lực thiên nhiên của mình. Nhờ đó chúng ta sẽ thấy sự sống của Đức Chúa Trời và quyền năng của Ngài tuôn đổ vào trong linh của những người nghe qua lời giảng của mình.

Tuy nhiên, với tư cách là người giảng phúc âm, mặc dầu về phía mình chúng ta đã sẵn sàng, nhưng chúng ta vẫn có thể thất bại. Tất nhiên chúng ta có thể không hoàn toàn thất bại, nhưng tại sao chúng ta lại thất bại? Ấy là vì có:

SỰ ÁP BỨC VÀ TẤN CÔNG TỪ SA-TAN

Sa-tan hoàn toàn không thích việc chúng ta rao giảng về thập tự giá chút nào. Khi chúng ta trung tín trong việc rao giảng thập tự giá, chắc chắn hắn sẽ dấy lên nhiều sự chống đối. Có thể hắn thường khởi xướng những sự tấn công sau đây để chống lại các sứ giả của thập tự giá. Sa-tan tấn công các sứ giả của thập tự giá bằng cách khiến họ bị bệnh hay làm họ mất giọng nói trong khi đang rao giảng. Hắn có thể đặt họ vào trong những tình huống nguy hiểm, khiến họ trở nên buồn chán trong linh, làm cho họ mất tự do và gây cho họ cảm thấy ngột ngạt. Hắn cũng có thể hoạt động trong hoàn cảnh chung quanh để khơi dậy những sự hiểu lầm, chống đối, và đôi khi ngay cả những sự bắt bớ. Hắn có thể đem đến thời tiết xấu để cản trở người ta đến dự những buổi nhóm. Hắn có thể gây ra sự xáo trộn hay hỗn độn bất chợt trong các buổi nhóm. Hắn có thể đem đến những tiếng kêu của thú vật và tiếng khóc của trẻ em. Có khi hắn hành động trong buổi nhóm, khiến không khí trở nên nặng trĩu, ngột ngạt và đem đến sự uể oải và tối tăm. Tất cả những điều này là công tác của kẻ thù. Người giảng về thập tự giá nên ý thức về những điều này.

Vì chúng ta có một kẻ nội thù và những sự chống đối như vậy nên chúng ta cần biết đến sự chiến thắng của thập tự giá. Việc Chúa hoàn thành trên thập tự giá không những giải quyết nan đề của những tội nhân, mà còn công bố sự phán xét trên Sa-tan. Ngài đã đánh bại Sa-tan trên thập tự giá rồi. Hê-bơ-rơ 2:14-15 nói: “Hầu cho nhờ sự chết mà Ngài có thể diệt trừ kẻ cầm quyền sự chết là ma quỉ, và để giải phóng mọi người vì sợ sự chết mà bị cầm giữ dưới ách nô lệ trọn đời”. Cô-lô-se 2:15 nói: “Truất bỏ các chấp chánh, các quyền bính, Ngài đã công khai phơi bày chúng, và toàn thắng chúng tại đó”. Thập tự giá là nơi đắc thắng Sa-tan. Sa-tan đã nhận lãnh vết thương chí tử tại thập tự giá. Chúng ta biết rằng “Con Đức Chúa Trời đã hiện ra cốt để phá hủy công việc của ma quỉ” (1 Gi. 3:8), nhưng những công việc của ma quỉ được phá hủy ở đâu? Câu trả lời rõ ràng là “tại thập tự giá”. Chúng ta cũng biết rằng Chúa Giê-su đến để “buộc trói kẻ mạnh mẽ” (Mat. 12:29), nhưng Ngài đã thực hiện điều này tại đâu? Tất nhiên cũng tại thập tự giá ở Gô-gô-tha. Chúng ta cần biết rằng Chúa Giê-su đã giành được chiến thắng trên thập tự giá.

CHIẾN THẮNG CỦA THẬP TỰ GIÁ

Chúng ta nên biết rằng Sa-tan là một kẻ thù đã bị đánh bại rồi. Vì lý do ấy, chúng ta không nên để bị đánh bại nữa. Kẻ thù phải không có khả năng tuyên bố sự đắc thắng trên chúng ta nữa. Hắn không có quyền chiến thắng nữa! Hắn không thể tuyên bố bất cứ điều gì ngoại trừ sự đại bại hoàn toàn. Vì vậy, cả trước khi chúng ta nhìn thấy công việc của Sa-tan lẫn sau khi chúng ta nhìn thấy công việc của hắn, chúng ta nên tôn cao sự chiến thắng của thập tự giá. Chúng ta nên ngợi khen sự chiến thắng của Đấng Christ bằng lời nói của mình. Trước khi bắt đầu công tác, chúng ta nên nói trước mặt Chúa rằng: “Ngợi khen Chúa, vì Ngài đã đắc thắng! Đấng Christ là Đấng đắc thắng! Sa-tan đã bị đánh bại! Kẻ thù đã bị tiêu diệt! Gô-gô-tha nghĩa là chiến thắng! Thập tự giá nghĩa là chiến thắng!” Chúng ta có thể liên tục tuyên bố điều này cho đến khi chúng ta tin chắc trong linh mình rằng Chúa sẽ giành được chiến thắng lần này. Chúng ta nên đứng trên nền tảng của thập tự giá và cầu nguyện cho sự chiến thắng của Đức Chúa Trời. Chúng ta nên cầu xin Đức Chúa Trời đánh bại tất cả những công việc của ma quỉ. Cả cho chính chúng ta cũng như cho những người đến nhóm, chúng ta nên cầu xin Đức Chúa Trời bao phủ chúng ta bằng huyết báu của Chúa Giê-su để chúng ta sẽ không rơi vào sự tấn công của Sa-tan nhưng thay vào đó sẽ đắc thắng hắn. “Họ đã thắng nó bởi huyết của Chiên Con” (Khải. 12:11). Lần ấy, trong khi tôi đang công tác tại miền nam của tỉnh Phúc Kiến, Sa-tan đã đến để áp bức và tấn công tôi nhiều lần. Điều Chúa đã cho tôi thấy là mình nên đứng trên nền tảng của thập tự giá và nên ngợi khen Ngài. Đôi khi linh tôi cảm thấy bị đè nén nặng nề; tôi không thể thoát được. Dường như một quả cân nghìn kí đè nặng trên lòng tôi. Một vài lần khi bước vào phòng nhóm, tôi có thể cảm thấy bầu không khí bị ô uế; ma quỉ đang bận rộn làm việc. Trong những tình huống như vậy, tôi đã cầu nguyện rất nhiều, mà không hiệu quả. Tuy nhiên, ngay giây phút tôi bắt đầu ngợi khen sự chiến thắng của Đấng Christ trên thập tự giá, khoe khoang trong thập tự giá, khinh miệt kẻ thù, nói với hắn rằng hắn không còn có thể hành động nữa, và hắn bị bắt phải thất bại, thì tôi đã cảm thấy một sự giải thoát thật sự, và bầu không khí của phòng nhóm đã được thay đổi. Ngợi khen Chúa! Thập tự giá đắc thắng! Ngợi khen Chúa! Sa-tan bị đánh bại! Chúng ta nên học tập áp dụng sự chiến thắng nhiều phương diện của thập tự giá qua lời cầu nguyện của mình để chống lại những mưu chước, thế lực và sự tấn công của kẻ thù. Nếu những sự chống đối và hỗn độn dấy lên, chúng ta có thể kêu cầu sự chiến thắng của thập tự giá tại Gô-gô-tha. Mặc dầu có thể không cảm thấy gì cả, nhưng chúng ta phải tin rằng ngay khi chúng ta cầu khẩn sự chiến thắng của thập tự giá thì kẻ thù bị đánh bại.

Nếu chúng ta thật sự đồng nhất với thập tự giá như vậy, nếu chúng ta để thập tự giá thực hiện một công tác sâu xa hơn trong cuộc sống và công việc của chúng ta, và nếu chúng ta hoàn toàn tin cậy vào sự chiến thắng của thập tự giá, thì Đức Chúa Trời sẽ ban cho chúng ta sự chiến thắng trong mọi nơi chúng ta đến. Nguyện Đức Chúa Trời biến chúng ta là những đầy tớ vô dụng trở nên những công nhân không chỗ trách được của Hội thánh Ngài.