Thông tin sách

Kế Hoạch Và Sự Nghỉ Ngơi Của Đức Chúa Trời

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Kế hoạch và sự nghỉ ngơi của Đức Chúa Trời
ISBN:
Mua sách tại:

Untitled Document

KẾ HOẠCH VÀ SỰ NGHỈ NGƠI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Kinh Thánh: Sáng. 1:26–2:3; 2:18-24; Êph. 5:22-32; Khải. 12; 21:1–22:5

Bốn phân đoạn Kinh Thánh trên đề cập đến bốn người nữ. Trong Sáng Thế Ký chương 2 người nữ là Ê-va; trong Ê-phê-sô chương 5 nàng là Hội thánh; trong Khải Thị chương 12 nàng là người nữ được nhìn thấy trong khải tượng; và trong Khải Thị chương 21 nàng là vợ của Chiên Con.

Nguyện Đức Chúa Trời ban cho chúng ta ánh sáng để nhìn thấy bốn người nữ này có liên quan với nhau và với kế hoạch đời đời của Ngài như thế nào. Sau đó, chúng ta có thể thấy vị trí mà Hội thánh đang nắm giữ và trách nhiệm mà Hội thánh đang gánh vác trong kế hoạch của Ngài, và những người đắc thắng của Đức Chúa Trời sẽ hoàn thành mục đích đời đời của Ngài như thế nào.

MỤC ĐÍCH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI TRONG SỰ TẠO DỰNG LOÀI NGƯỜI

Vì sao Đức Chúa Trời tạo dựng con người? Mục đích của Ngài trong việc tạo dựng loài người là gì?

Đức Chúa Trời ban cho chúng ta lời giải đáp những câu hỏi này trong Sáng Thế Ký 1:26 và 27. Hai câu Kinh Thánh này có ý nghĩa lớn lao, bày tỏ cho chúng ta thấy sự kiện Đức Chúa Trời sáng tạo con người thật là một điều vô cùng đặc biệt. Trước khi sáng tạo con người, Đức Chúa Trời phán: “Chúng ta hãy tạo dựng con người theo hình ảnh của chúng ta, giống như hình dạng của chúng ta: và cho họ quyền thống trị trên cá biển, chim trời, súc vật và khắp cả đất, và mọi loài bò sát trên mặt đất”. Đây là kế hoạch của Đức Chúa Trời trong việc tạo dựng loài người. “Đức Chúa Trời phán, chúng ta hãy...” Lời này nói về loại người mà Đức Chúa Trời muốn có. Nói cách khác, Đức Chúa Trời đang phác họa một “kiểu mẫu” cho con người mà Ngài phải tạo dựng. Câu 27 bày tỏ việc Ngài tạo dựng con người: “Vậy Đức Chúa Trời tạo dựng con người theo hình ảnh của riêng Ngài; theo hình ảnh Đức Chúa Trời, Ngài đã tạo dựng con người. Ngài tạo dựng người nam và người nữ”. Câu 28 chép: “Và Đức Chúa Trời ban phước cho họ, và Ngài phán với họ: Hãy sinh sản, gia tăng bội phần và làm đầy dẫy đất, làm trái đất phải phục tùng, và thống trị trên cá biển, chim trời, và mọi vật sống bò trên mặt đất”.

Qua những câu này, chúng ta nhìn thấy con người mà Đức Chúa Trời ao ước. Đức Chúa Trời mong muốn có một con người cai trị, là người sẽ cai trị trên trái đất này; khi ấy, Ngài sẽ thỏa lòng.

Đức Chúa Trời tạo dựng con người như thế nào? Ngài tạo dựng con người theo hình ảnh của Ngài. Đức Chúa Trời muốn con người giống như chính Ngài. Như vậy, thật rõ ràng là vị trí của con người trong sự sáng tạo của Đức Chúa Trời rất đặc biệt, vì trong số tất cả các tạo vật của Đức Chúa Trời, chỉ có con người được tạo dựng theo hình ảnh của Ngài. Con người mà lòng Đức Chúa Trời đặt vào đó thì hoàn toàn khác với tất cả các tạo vật khác; đó là một con người theo hình ảnh của chính Ngài.

Ở đây chúng ta nhận thấy một điều gì đó thật nổi bật. Câu 26 chép: “Chúng ta hãy tạo dựng con người theo hình ảnh của chúng ta, giống hình dạng của chúng ta...”; nhưng câu 27 chép: “Vậy Đức Chúa Trời tạo dựng con người theo hình ảnh của riêng Ngài; theo hình ảnh Đức Chúa Trời, Ngài đã tạo dựng con người; Ngài tạo dựng người nam và người nữ”. Trong câu 26, đại danh từ “chúng ta” là số nhiều, nhưng trong câu 27, “của Ngài” là số ít. Trong cuộc hội nghị của Đức Chúa Trời Tam Nhất, câu 26 chép: “Chúng ta hãy tạo dựng con người theo hình ảnh của chúng ta”; vì vậy, theo văn phạm, câu 27 lẽ ra phải là: “Cho nên Đức Chúa Trời tạo dựng con người theo hình ảnh của các Ngài”. Nhưng thật lạ lùng, câu 27 lại nói: “Vậy Đức Chúa Trời tạo dựng con người theo hình ảnh của riêng Ngài”. Làm thế nào chúng ta giải thích được điều này? Vì có ba [Thân-vị] trong Đức Chúa Trời Tam Nhất: Cha, Con và Linh, nhưng chỉ một [Thân-vị] trong Đức Chúa Trời Tam Nhất có hình ảnh, ấy là Con. Khi Đức Chúa Trời Tam Nhất phác họa kiểu mẫu để tạo dựng con người, Kinh Thánh bày tỏ rằng con người sẽ được dựng nên theo hình ảnh của “chúng ta” (vì các Thân-vị là một, nên nhóm chữ “hình ảnh của chúng ta” được đề cập đến); nhưng khi Đức Chúa Trời Tam Nhất thực sự ở trong tiến trình tạo dựng con người, Kinh Thánh nói rằng con người được tạo nên theo hình ảnh của “Ngài”. “Ngài” ở đây chỉ về Con. Qua điều này, chúng ta tin chắc A-đam được dựng nên theo hình ảnh của Chúa Giê-su. A-đam không đến trước Chúa Giê-su; Chúa Giê-su đến trước A-đam. Khi Đức Chúa Trời tạo dựng A-đam, Ngài tạo dựng ông theo hình ảnh của Chúa Giê-su. Vì lý do đó Kinh Thánh nói: “theo hình ảnh của riêng Ngài”, chứ không nói: “theo hình ảnh của các Ngài.”

Mục đích của Đức Chúa Trời là chiếm hữu một nhóm người giống như Con Ngài. Khi đọc La Mã 8:29, chúng ta tìm thấy mục đích của Đức Chúa Trời: “Vì những kẻ Ngài đã biết trước, Ngài cũng định sẵn để được đồng hóa theo hình ảnh của Con Ngài, hầu cho Con ấy trở nên Con Trưởng giữa nhiều người em”. Đức Chúa Trời ao ước có nhiều con, và Ngài ao ước tất cả những người con này giống như Con Một của Ngài. Khi ấy, Con của Ngài sẽ không còn là Con Độc Sanh nữa, nhưng là Con Trưởng giữa nhiều người em. Ao ước của Đức Chúa Trời là có được một nhóm người. Nếu thấy được điều này, chúng ta sẽ nhận thức sự quí giá của con người, và chúng ta sẽ vui mừng mỗi khi nhắc đến con người. Đức Chúa Trời xem con người có giá trị biết bao! Thậm chí chính Ngài cũng đã trở thành một con người! Kế hoạch của Đức Chúa Trời là chiếm hữu được con người. Khi Đức Chúa Trời chiếm hữu được con người, kế hoạch của Ngài sẽ thành tựu.

Chính qua con người mà kế hoạch của Đức Chúa Trời được thực hiện và qua con người mà nhu cầu của chính Ngài được đáp ứng. Thế thì Đức Chúa Trời đòi hỏi điều gì nơi con người mà Ngài đã tạo dựng? Ấy là con người cần phải cai trị. Khi tạo dựng con người, Ngài không định trước là con người sẽ sa ngã. Sự sa ngã của con người ở trong chương ba của Sáng-thế Ký, chứ không phải chương một. Trong kế hoạch của Đức Chúa Trời khi tạo dựng con người, Ngài không định con người phải phạm tội, Ngài cũng không định trước sự cứu chuộc. Chúng ta không đánh giá thấp tầm quan trọng của sự cứu chuộc, nhưng chỉ nói rằng Ngài không định trước sự cứu chuộc. Nếu Ngài định trước sự cứu chuộc thì con người bắt buộc phải phạm tội. Đức Chúa Trời không định trước điều này. Trong kế hoạch tạo dựng con người, Ngài chỉ định rằng con người sẽ cai trị. Điều này được bày tỏ cho chúng ta trong Sáng Thế Ký 1:26. Ở đây, Đức Chúa Trời tiết lộ cho chúng ta thấy ao ước của Ngài, và tiết lộ cho chúng ta biết bí mật của kế hoạch của Ngài. “Chúng ta hãy tạo dựng con người theo hình ảnh chúng ta, giống như hình dạng của chúng ta: và cho họ quyền thống trị trên cá biển, chim trời, súc vật và khắp cả đất, và mọi loài bò sát trên mặt đất”. Đây là mục đích của Đức Chúa Trời khi Ngài sáng tạo con người.

Có lẽ người nào đó sẽ hỏi vì sao Đức Chúa Trời lại có một mục đích như vậy. Ấy là vì, trước khi con người được tạo dựng, một thiên sứ sáng láng đã nổi loạn chống lại Ngài và đã trở nên ma quỉ: Sa-tan đã phạm tội và sa ngã; Ngôi Sao Mai đã trở nên kẻ thù của Đức Chúa Trời (Ês. 14:12-15). Vì vậy, Đức Chúa Trời lấy lại uy quyền của Ngài khỏi kẻ thù, và thay vào đó, Ngài đặt uy quyền ấy vào tay con người. Lý do Đức Chúa Trời tạo dựng con người là để con người có thể cai trị thế cho Sa-tan. Trong việc Đức Chúa Trời tạo dựng con người, chúng ta thấy ân điển thật lớn lao biết bao!

Không những Đức Chúa Trời ao ước con người cai trị, mà Ngài còn đánh dấu một phạm vi cụ thể để con người cai trị. Chúng ta thấy điều này trong Sáng Thế Ký 1:26: “Cho họ quyền thống trị trên cá biển, chim trời, súc vật, và khắp cả đất...” “Khắp cả đất” là lãnh thổ cai trị của con người. Không những Đức Chúa Trời ban cho con người quyền thống trị trên cá biển, chim trời và súc vật, nhưng hơn nữa, Ngài còn đòi hỏi con người cai trị trên “khắp cả đất”. Phạm vi Đức Chúa Trời muốn con người cai trị là trái đất. Con người đặc biệt có liên quan đến trái đất. Không những Đức Chúa Trời đặc biệt chú tâm đến trái đất trong chương trình tạo dựng của Ngài, nhưng sau khi tạo dựng con người, Ngài còn dặn bảo rất rõ ràng là họ phải cai trị trái đất. Câu 27 và 28 nói: “Vậy Đức Chúa Trời tạo dựng con người theo hình ảnh của riêng Ngài; theo hình ảnh của Đức Chúa Trời, Ngài đã tạo dựng con người. Ngài tạo dựng người nam và người nữ. Và Đức Chúa Trời ban phước cho họ, và Ngài phán với họ: “Hãy sinh sản, gia tăng bội phần và làm đầy dẫy đất, làm trái đất phải phục tùng...” Điều Đức Chúa Trời nhấn mạnh ở đây là con người “làm cho đầy dẫy trái đất” và “làm trái đất phải phục tùng”; điều quan trọng thứ hai là con người phải thống trị trên cá biển, chim trời và mọi vật sống trên đất. Con người thống trị trên những loài khác là một điều phụ; đối tượng chính yếu vẫn là trái đất.

Sáng Thế Ký 1:1-2 nói: “Ban đầu, Đức Chúa Trời dựng nên các từng trời và trái đất. Và trái đất là hoang vu và trống không; và sự tối tăm ở trên mặt vực sâu” (bản dịch Anh ngữ ASV). Nếu dịch trực tiếp từ tiếng Hê-bơ-rơ, hai câu này sáng tỏ hơn. Theo nguyên ngữ, câu một nói: “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên các từng trời và trái đất”. Các từng trời ở đây là số nhiều và chỉ về các từng trời của tất cả các vì sao. (Trái đất có bầu trời của nó và tất cả các vì sao cũng vậy). Lời dịch trực tiếp của câu hai là: “Và trái đất đã trở nên (không phải “là”) hoang vu và trống không; và sự tối tăm ở trên mặt vực sâu”. Trong tiếng Hê-bơ-rơ, trước chữ “trái đất” có liên từ “và”. “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên các từng trời và trái đất”; sự việc không có gì khó khăn, không có nan đề gì cả, nhưng về sau có một điều gì đó đã xảy ra: “và trái đất trở nên hoang vu và trống không”. Chữ “là” trong Sáng Thế Ký 1:2 (“Và trái đất là hoang vu và trống không”) và chữ “trở nên” trong Sáng Thế Ký 19:26, nói về vợ của Lót trở nên trụ muối, là cùng một từ ngữ. Vợ của Lót sinh ra vốn không phải là một trụ muối; bà đã trở nên một trụ muối. Trái đất không phải là hoang vu và trống không khi được tạo dựng, nhưng về sau đã trở nên hoang vu và trống không. Đức Chúa Trời tạo dựng các từng trời và trái đất, nhưng “trái đất đã trở nên hoang vu và trống không”. Điều này cho thấy nan đề không phải ở nơi các từng trời nhưng ở nơi trái đất.

Vậy thì chúng ta thấy trái đất là trung tâm của mọi nan đề. Đức Chúa Trời tranh đấu cho trái đất. Chúa Giê-su dạy chúng ta cầu nguyện: “Nguyện danh Cha được tôn thánh, Vương quốc Cha được đến, Ý Cha cũng được nên trên đất như trên trời” (Mat. 6:9-10). Theo ý nghĩa trong nguyên ngữ, nhóm chữ “trên đất như trên trời” là chung cho cả ba mệnh đề này, chứ không phải chỉ cho mệnh đề sau cùng. Nói cách khác, nguyên nghĩa câu ấy như sau: “Nguyện danh Cha được tôn thánh trên đất như trên trời. Vương quốc Cha được đến trên đất như trên trời. Ý Cha được thực hiện trên đất như trên trời”. Lời cầu nguyện này cho thấy không có nan đề “trên trời”; nan đề là ở “trên đất”. Sau khi con người sa ngã, Đức Chúa Trời nói với con rắn: “Ngươi sẽ bò bằng bụng và ăn bụi đất trọn đời” (Sáng. 3:14). Điều này nghĩa là trái đất sẽ là phạm vi của con rắn, là nơi nó sẽ bò. Lãnh vực Sa-tan hoạt động không phải là trời, mà là trái đất. Nếu vương quốc của Đức Chúa Trời đến, Sa-tan phải bị ném ra. Nếu ý muốn của Đức Chúa Trời được thực hiện, ý muốn ấy phải được thực hiện trên đất. Nếu danh Đức Chúa Trời được tôn thánh, danh ấy phải được tôn thánh trên đất. Tất cả các nan đề đều ở trên đất.

Trong sách Sáng Thế Ký có hai chữ đầy ý nghĩa. Một là chữ “làm cho phục tùng” (hay bắt phục) trong Sáng Thế Ký 1:28, cũng có thể được dịch là “chinh phục”. Chữ kia là “giữ gìn” trong Sáng Thế Ký 2:15, cũng có thể dịch là “canh giữ”. Qua những câu này, chúng ta thấy Đức Chúa Trời ra lệnh cho con người chinh phục và canh giữ trái đất. Ý định nguyên thủy của Đức Chúa Trời là ban trái đất cho con người để làm nơi trú ngụ. Ngài không định rằng trái đất sẽ trở nên hoang vu (Ês. 45:18). Đức Chúa Trời mong muốn qua con người Ngài cấm Sa-tan xâm phạm trái đất, nhưng nan đề là Sa-tan đã ở trên đất và dự định thực hiện công việc tàn phá trái đất. Vì vậy, Đức Chúa Trời muốn con người lấy lại trái đất từ tay Sa-tan.

Nói cách chính xác, một vấn đề khác chúng ta cần lưu ý là Đức Chúa Trời đòi hỏi con người không những lấy lại trái đất, mà còn lấy lại trời, là bầu trời gắn liền với trái đất. Trong Kinh Thánh có sự khác biệt giữa “các từng trời” và “trời”. “Các từng trời” là nơi có ngai của Đức Chúa Trời, nơi Đức Chúa Trời thi hành uy quyền của Ngài, trong khi “trời” trong Kinh Thánh đôi khi chỉ về bầu trời gắn liền với trái đất. Đây là “trời” mà Đức Chúa Trời muốn phục hồi (xin xem Khải. 12:7-10).

Có thể vài người hỏi: Vì sao chính Đức Chúa Trời không ném Sa-tan vào vực sâu không đáy hay hồ lửa? Câu trả lời của chúng tôi là: Đức Chúa Trời có thể làm điều đó, nhưng Ngài không muốn tự làm điều đó. Chúng ta không biết tại sao Ngài không tự làm điều đó, nhưng chúng ta biết Ngài sẽ thực hiện điều đó như thế nào. Đức Chúa Trời muốn dùng con người để xử lý kẻ thù của Ngài, và Ngài tạo dựng con người vì mục đích đó. Đức Chúa Trời muốn tạo vật xử lý tạo vật. Ngài muốn tạo vật con người của Ngài xử lý tạo vật sa ngã của Ngài là Sa-tan để đem trái đất trở lại với Đức Chúa Trời. Con người Đức Chúa Trời tạo dựng đang được Ngài sử dụng vì mục đích này. Chúng ta hãy đọc lại Sáng Thế Ký 1:26: “Và Đức Chúa Trời phán: Chúng ta hãy tạo dựng loài người theo hình ảnh của chúng ta, giống như hình dạng của chúng ta: và cho họ quyền thống trị trên cá biển, chim trời, súc vật, và khắp cả đất...” Dường như câu này chấm dứt ở đây, nhưng một nhóm chữ khác được thêm vào: “... và mọi loài bò sát trên mặt đất”. Ở đây chúng ta thấy những loài bò sát trên đất chiếm một vị trí rất quan trọng, vì Đức Chúa Trời nói về chúng sau khi Ngài đề cập xong “cả trái đất”. Ẩn ý ở đây là: để con người có được quyền thống trị trên cả trái đất, họ không được bỏ qua những loại bò sát, vì kẻ thù của Đức Chúa Trời hiện thân trong những loài bò sát. Con rắn trong Sáng Thế Ký chương 3 và bò cạp trong Lu-ca chương 10 là những loài bò sát. Không những rắn tượng trưng cho Sa-tan, nhưng cả bò cạp cũng tượng trưng cho các ác linh ô uế và tội lỗi. Lãnh thổ của rắn và bò cạp là trái đất này. Nan đề này ở trên trái đất.

Vì vậy, chúng ta phải phân biệt sự khác nhau giữa công tác cứu người hay cứu hồn người với công tác của Đức Chúa Trời. Nhiều lúc công tác cứu hồn người không nhất thiết là công tác của Đức Chúa Trời. Việc cứu hồn người giải quyết nan đề con người, nhưng công tác của Đức Chúa Trời đòi hỏi con người thi hành uy quyền để thống trị trên tất cả những gì do Ngài tạo dựng. Đức Chúa Trời cần có một giới thẩm quyền trong cõi sáng tạo của Ngài, và Ngài đã chọn lựa con người để làm giới thẩm quyền ấy. Nếu chúng ta ở đây chỉ vì chính mình là những con người, khi ấy tất cả những gì chúng ta tìm kiếm và ao ước sẽ là yêu Chúa hơn, thánh khiết hơn, nhiệt thành hơn, và cứu nhiều hồn người hơn. Theo đuổi tất cả những điều này thực sự là tốt, nhưng quá tập trung vào con người. Những điều này chỉ liên quan đến lợi ích của con người; công tác của Đức Chúa Trời và nhu cầu của Ngài hoàn toàn bị bỏ quên. Chúng ta phải thấy Đức Chúa Trời có nhu cầu của Ngài. Chúng ta ở trên đất này không chỉ vì nhu cầu của con người nhưng thậm chí hơn nữa là vì nhu cầu của Đức Chúa Trời. Cảm tạ Đức Chúa Trời đã giao phó chức vụ giải hòa cho chúng ta, nhưng ngay cả nếu có cứu được mọi hồn người trên cả thế giới đi nữa, chúng ta vẫn chưa hoàn tất công tác của Đức Chúa Trời hay thỏa mãn sự đòi hỏi của Ngài. Đây là những gì được gọi là công tác của Đức Chúa Trời, nhu cầu của Đức Chúa Trời. Khi tạo dựng con người, Ngài nói về những gì Ngài cần. Ngài bày tỏ Ngài cần con người cai trị và cầm quyền trên cả cõi sáng tạo của Ngài và công bố sự đắc thắng của Ngài. Cai trị cho Đức Chúa Trời không phải là một việc nhỏ, mà là cả một vấn đề lớn lao. Đức Chúa Trời cần con người mà Ngài có thể tin cậy và không làm Ngài thất vọng. Đây là công tác của Đức Chúa Trời và là điều Ngài ao ước đạt được.

Chúng ta không xem nhẹ công tác rao giảng phúc âm, nhưng nếu toàn bộ công việc của chúng ta chỉ là rao giảng phúc âm và cứu hồn người, thì chúng ta không làm cho Sa-tan bị thiệt hại chí tử. Nếu không đoạt lại trái đất khỏi tay Sa-tan, con người chưa đạt được mục tiêu của Đức Chúa Trời khi Ngài sáng tạo họ. Cứu hồn người thường chỉ là vì lợi ích của con người, nhưng xử lý Sa-tan là vì lợi ích của Đức Chúa Trời. Cứu hồn người giải quyết nhu cầu của con người, nhưng xử lý Sa-tan thỏa đáp nhu cầu của Đức Chúa Trời.

Anh chị em ơi, điều này đòi hỏi chúng ta phải trả một giá. Chúng ta biết ma quỉ có thể nói như thế nào. Một con quỉ từng nói: “Ta biết Giê-su, và ta quen Phao-lô; nhưng các ngươi là ai?” (Công. 19-15). Khi một con quỉ gặp chúng ta, nó có chạy trốn không? Rao giảng phúc âm đòi hỏi chúng ta phải trả một giá, nhưng để xử lý Sa-tan chúng ta phải trả một giá cao hơn nhiều.

Đây không phải là vấn đề giảng một bài hay dạy dỗ một giáo lý. Điều này đòi hỏi chúng ta phải thực hành và giá phải trả thì cực kỳ lớn lao. Nếu chúng ta là những con người Đức Chúa Trời sẽ dùng để lật đổ mọi công việc và uy quyền của Sa-tan, chúng ta phải vâng phục Chúa hoàn toàn và tuyệt đối! Khi làm những công việc khác, nếu chúng ta giữ lại cho mình một chút thì cũng không thành vấn đề, nhưng khi xử lý Sa-tan, chúng ta không thể giữ lại cho chính mình một chút nào cả. Chúng ta có thể nắm giữ một điều gì đó cho chính mình trong việc nghiên cứu Kinh Thánh, trong việc rao giảng phúc âm, giúp đỡ Hội thánh hay các anh em, nhưng khi xử lý Sa-tan, chúng ta phải từ bỏ bản ngã hoàn toàn. Chúng ta sẽ không bao giờ lay chuyển được Sa-tan nếu còn giữ lại bản ngã mình. Nguyện Đức Chúa Trời mở mắt chúng ta thấy rằng mục đích của Đức Chúa Trời đòi hỏi chúng ta phải hoàn toàn và tuyệt đối vì Ngài. Một người phân tâm không bao giờ có thể xử lý Sa-tan. Nguyện Đức Chúa Trời phán lời này với lòng chúng ta.

MỤC ĐÍCH KHÔNG THỂ THAY ĐỔI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Đức Chúa Trời muốn con người cai trị cho Ngài trên trái đất này nhưng con người đã không đạt đến mục đích của Ngài. Trong Sáng Thế Ký chương 3, sự sa ngã xảy ra và tội lỗi bước vào; con người ở dưới quyền lực của Sa-tan, và mọi sự dường như chấm dứt. Sa-tan có vẻ đắc thắng và Đức Chúa Trời dường như thất bại. Ngoài Sáng Thế Ký chương 1, còn có hai phân đoạn khác trong Kinh Thánh liên quan đến vấn đề này. Đó là Thi Thiên 8 và Hê-bơ-rơ chương 2.

Thi Thiên 8

Thi Thiên 8 bày tỏ mục đích và kế hoạch của Đức Chúa Trời không bao giờ thay đổi. Sau sự sa ngã, ý muốn và sự đòi hỏi của Đức Chúa Trời đối với con người vẫn y nguyên, không có gì thay đổi. Ý muốn của Ngài trong Sáng Thế Ký chương 1 khi Ngài tạo dựng con người vẫn không thay đổi, dầu cho con người đã phạm tội và sa ngã. Mặc dầu Thi Thiên 8 đã được viết ra sau khi con người sa ngã, tác giả Thi Thiên vẫn có thể ngợi khen Chúa; mắt của ông vẫn nhìn vào Sáng Thế Ký chương 1. Đức Thánh Linh không quên Sáng Thế Ký chương 1, Đức Chúa Con cũng không quên Sáng Thế Ký chương 1 và chính Đức Chúa Trời cũng không quên Sáng Thế Ký chương 1.

Chúng ta hãy xem nội dung của Thi Thiên này. Câu 1 chép: “Ô, Giê-hô-va Chúa chúng tôi, danh Ngài tuyệt mỹ biết bao trên cả trái đất”. Tất cả những ai được Thánh Linh cảm thúc sẽ nói ra những lời này: “Danh Ngài tuyệt mỹ biết bao trên cả trái đất!” Mặc dầu một số người nói xấu và chối bỏ danh Ngài, tác giả Thi Thiên vẫn lớn tiếng tuyên bố: “Ô, Giê-hô-va Chúa chúng tôi, danh Ngài tuyệt mỹ biết bao trên cả trái đất”. Ông không nói: “Danh Ngài rất tuyệt mỹ”. “Rất tuyệt mỹ” không cùng ý nghĩa với “tuyệt mỹ biết bao”. “Rất tuyệt mỹ” nghĩa là tôi, tác giả Thi Thiên, vẫn có thể mô tả sự tuyệt mỹ, trong khi “tuyệt mỹ biết bao” nghĩa là dầu tôi có thể viết những Thi Thiên, tôi không đủ lời để diễn tả, tôi cũng không biết danh Chúa tuyệt mỹ đến mức nào. Cho nên tôi chỉ có thể nói: “Ôi Giê-hô-va Chúa chúng tôi, danh Ngài tuyệt mỹ biết bao trên cả trái đất!” Không những danh Ngài tuyệt mỹ, mà danh Ngài còn tuyệt mỹ “trên cả trái đất”! Nhóm chữ “trên cả trái đất” cũng giống như trong Sáng Thế Ký 1:26. Nếu chúng ta biết kế hoạch của Đức Chúa Trời, mỗi khi đọc đến từ ngữ “con người” hay “trái đất” lòng chúng ta sẽ nhảy nhót rộn ràng.

Câu 2 tiếp tục như sau: “Vì các kẻ thù Chúa, Chúa đã lập nên năng lực Ngài ra từ miệng trẻ thơ và các em bé đang bú để chận đứng kẻ thù và kẻ báo thù”. Trẻ thơ và các em bé đang bú chỉ về con người, và câu này nhấn mạnh về việc Đức Chúa Trời dùng con người để xử lý kẻ thù. Chúa Giê-su trưng dẫn câu này trong Ma-thi-ơ 21:16: “Chúa được ngợi khen trọn vẹn do miệng trẻ sơ sinh và các em bé đang bú”. Những lời này có nghĩa là kẻ thù có thể làm mọi điều hắn làm được, nhưng chính Đức Chúa Trời không cần phải xử lý hắn. Ngài sẽ dùng các trẻ thơ và những em bé đang bú để xử lý hắn. Các trẻ thơ và những em đang bú có thể làm gì? Câu này nói: “Chúa lập nên năng lực Ngài ra từ miệng trẻ thơ và những em bé đang bú”. Đức Chúa Trời mong muốn có được những con người biết ngợi khen; những người biết ngợi khen là những người có thể xử lý kẻ thù.

Trong các câu từ 3 đến 8, tác giả Thi Thiên nói: “Khi tôi nhìn xem các từng trời của Chúa, là những công việc của ngón tay Chúa, mặt trăng và các ngôi sao mà Chúa đã đặt, loài người là gì mà Chúa nhớ đến, và con trai loài người là chi, mà Chúa thăm viếng người? Chúa làm nên loài người kém các thiên sứ một chút, đội cho người sự vinh hiển và tôn trọng. Vì Chúa khiến người cai trị các công việc tay Chúa làm; Ngài đã đặt mọi sự dưới chân người: Tất cả chiên và bò, cũng như tất cả các loài thú đồng, chim trời và cá biển, bất cứ vật nào trải qua các lối của biển”. Nếu chúng ta viết Thi Thiên này, có lẽ chúng ta sẽ thêm một ngoặc đơn ở đây: “Thật đáng thương vì loài người đã sa ngã và phạm tội, và đã bị ném ra khỏi vườn Ê-đen nên loài người không còn có thể đạt tới tình trạng ấy nữa”. Nhưng tạ ơn Đức Chúa Trời, trong lòng của tác giả Thi Thiên không có ý tưởng nào như vậy. Trong cái nhìn của Đức Chúa Trời trái đất vẫn có thể được phục hồi, địa vị mà Đức Chúa Trời ban cho loài người vẫn tồn tại, và Ngài vẫn phó thác sứ mạng phá hủy công việc của ma quỉ cho loài người. Vì vậy, bắt đầu từ câu thứ ba, tác giả Thi Thiên một lần nữa thuật lại câu chuyện cũ, hoàn toàn bỏ qua chương ba của sách Sáng-thế Ký. Đây là đặc điểm nổi bật của Thi Thiên thứ 8. Mục tiêu của Đức Chúa Trời là con người cai trị. Con người có xứng đáng không? Chắc chắn là không! Nhưng vì mục tiêu của Đức Chúa Trời là con người cai trị, con người chắc chắn sẽ cai trị.

Trong câu 9, một lần nữa tác giả Thi Thiên nói: “Ô Giê-hô-va Chúa chúng tôi, danh Chúa thật tuyệt mỹ trên khắp trái đất biết bao!” Ông tiếp tục ngợi khen, như thể ông không biết gì về sự sa ngã của loài người. Mặc dầu A-đam đã phạm tội và Ê-va cũng đã phạm tội, nhưng không bao giờ họ có thể chống lại được kế hoạch của Đức Chúa Trời. Con người có thể sa ngã và họ có thể phạm tội, nhưng không bao giờ con người có thể phá hỏng ý muốn của Đức Chúa Trời. Ngay cả sau khi con người sa ngã, ý muốn của Đức Chúa Trời đối với con người vẫn y nguyên. Đức Chúa Trời vẫn đòi hỏi con người lật đổ quyền lực của Sa-tan. Ngài thật là một Đức Chúa Trời không thay đổi! Đường lối của Ngài vẫn kiên định và thẳng tắp. Chúng ta phải nhận biết rằng Đức Chúa Trời không bao giờ bị lật đổ. Trong thế giới này một số người bị lãnh nhiều cú đánh nặng nề, nhưng không một ai bị tấn công hằng ngày và nhận lãnh nhiều trận cuồng phong liên tục như Đức Chúa Trời. Tuy nhiên ý muốn của Ngài không bao giờ bị thất bại. Đức Chúa Trời là như thế nào trước khi con người sa ngã thì Ngài vẫn y như vậy sau khi con người sa ngã và sau khi tội lỗi vào trong thế giới này. Quyết định mà Ngài đã khẳng định trước đây vẫn là quyết định của Ngài hôm nay. Ngài không bao giờ thay đổi.

Hê-bơ-rơ Chương 2

Sáng Thế Ký chương 1 nói về ý muốn của Đức Chúa Trời vào lúc sáng tạo, Thi Thiên thứ 8 nói về ý muốn của Ngài sau khi con người sa ngã, và Hê-bơ-rơ chương 2 nói về ý muốn của Ngài trong sự cứu chuộc. Xin hãy xem Hê-bơ-rơ chương 2. Chúng ta sẽ thấy trong sự đắc thắng của sự cứu chuộc, Đức Chúa Trời vẫn ao ước con người nhận được uy quyền và xử lý Sa-tan.

Trong các câu từ 5 đến 8a, tác giả nói: “Thế giới sắp đến mà chúng ta nói, Đức Chúa Trời chẳng khiến nó phục các thiên sứ. Vì một người đã làm chứng một cách long trọng ở một chỗ kia rằng: ‘Loài người là gì mà Chúa nhớ đến, con của loài người là chi mà Chúa thăm viếng? Chúa đã làm cho Người thấp kém thiên sứ một ít; Chúa đã đội mão miện vinh hiển và tôn trọng cho Người, đặt Người trên các công việc của tay Chúa; Chúa làm cho muôn vật phục dưới chân Người’ [trích Thi Thiên 8]. Đã làm cho muôn vật phục Người, thì Ngài chẳng để một vật nào chẳng phục Người”. Tất cả mọi vật phải phục tùng con người; Đức Chúa Trời đã định điều đó từ ban đầu.

Nhưng kết quả chưa được như vậy. Tác giả tiếp tục: “Nhưng hiện nay chúng ta chưa thấy muôn vật phục Người, nhưng chúng ta thấy Giê-su, là Đấng chịu làm thấp hơn các thiên sứ một ít, vì đã chịu sự đau khổ của sự chết, được đội mão miện vinh hiển và tôn trọng” (các câu 8b-9a). Giê-su là con người thích hợp với tình trạng này. Thi Thiên 8 nói Đức Chúa Trời tạo dựng con người thấp hơn các thiên sứ chút ít, nhưng vị sứ đồ đã đổi chữ “con người” thành ra chữ “Giê-su”. Ông giải thích chữ “con người” chỉ về “Giê-su”; chính Chúa Giê-su đã trở nên thấp hơn các thiên sứ một chút. Nhờ Ngài mà có sự cứu chuộc cho loài người. Ban đầu Đức Chúa Trời định con người thấp hơn các thiên sứ một chút, được đội mão miện và cai trị toàn cõi sáng tạo của Ngài. Ngài dự định con người sẽ đại diện Ngài mà thi hành uy quyền để đuổi kẻ thù của Ngài khỏi trái đất và khỏi bầu trời gắn liền với trái đất. Ngài muốn con người hủy diệt toàn bộ quyền lực của Sa-tan. Nhưng họ sa ngã và không đứng ở địa vị cai trị của mình. Vì vậy, Chúa Giê-su đến và mặc lấy một thân thể bằng thịt và huyết. Ngài đã trở nên A-đam “sau cùng” (1 Cô. 15:45).

Phần cuối của câu 9 chép: “Để rồi bởi ân điển của Đức Chúa Trời Ngài có thể nếm sự chết thay cho mọi sự”. Sự ra đời của Chúa Giê-su, cuộc sống làm người của Ngài, cũng như sự cứu chuộc của Ngài bày tỏ cho chúng ta thấy công tác cứu chuộc của Ngài không những chỉ dành cho loài người mà cũng dành cho mọi loài thọ tạo, bao gồm cả cõi sáng tạo (ngoại trừ các thiên sứ). Chúa Giê-su đứng ở hai vị trí: đối với Đức Chúa Trời, Ngài là con người từ ban đầu, con người mà Đức Chúa Trời chỉ định ngay từ ban đầu, và đối với loài người, Ngài là Cứu Chúa. Từ ban đầu Đức Chúa Trời giao nhiệm vụ cho con người cai trị và lật đổ Sa-tan. Chúa Giê-su là con người ấy, và con người ấy bây giờ đã lên ngôi! Ha-lê-lu-gia! Một con người như vậy đã đánh bại quyền lực của Sa-tan. Ngài là con người Đức Chúa Trời tìm kiếm và ao ước có được. Về phương diện kia, Ngài là con người liên quan đến chúng ta; Ngài là Cứu Chúa của chúng ta, là Đấng đã giải quyết nan đề tội lỗi thay cho chúng ta. Chúng ta đã phạm tội và sa ngã, và Đức Chúa Trời đã làm cho Ngài trở nên sự giải hòa cho chúng ta. Hơn nữa, không những Ngài trở nên sự giải hòa cho chúng ta, Ngài còn bị phán xét vì mọi tạo vật. Bức màn bị xé rách trong Nơi Thánh đã chứng minh cho điều này. Hê-bơ-rơ chương 10 cho chúng ta biết bức màn trong Nơi Thánh chỉ về thân thể của Chúa Giê-su. Trên bức màn này có thêu hình chê-ru-bim, tượng trưng cho các vật thọ tạo. Khi Chúa chết, bức màn rách làm hai từ trên xuống dưới; kết quả là, chê-ru-bim thêu trên đó đồng thời cũng bị xé rách, bày tỏ rằng sự chết của Chúa Giê-su bao hàm sự phán xét mọi tạo vật. Không những Ngài nếm sự chết cho mọi người nhưng cũng cho “mọi sự”.

Câu 10 tiếp tục như sau: “Vì Đấng mà mọi sự là vì Ngài và mọi sự là qua Ngài, là [Đấng] thích hợp trong việc dẫn dắt nhiều con đến vinh quang”. Mọi sự đều vì Ngài và qua Ngài; mọi sự đều qui về Ngài và bởi Ngài. Vì Ngài nghĩa là qui về Ngài; qua Ngài nghĩa là bởi Ngài. Ngợi khen Đức Chúa Trời, Ngài không thay đổi mục đích của Ngài trong sự sáng tạo! Điều Đức Chúa Trời ấn định vào lúc sáng tạo, Ngài vẫn tiếp tục ấn định sau khi con người sa ngã. Trong sự cứu chuộc, mục đích của Ngài vẫn y nguyên. Đức Chúa Trời không thay đổi mục tiêu của Ngài vì con người sa ngã. Ngợi khen Đức Chúa Trời, Ngài đang đem nhiều con đến vinh quang! Ngài đang làm cho nhiều con được vinh quang. Chủ tâm của Đức Chúa Trời là chiếm hữu được một nhóm người mới có hình dạng và hình ảnh của Con Ngài. Vì Chúa Giê-su là con người đại diện nên những con người khác sẽ giống như Ngài; Ngài thế nào thì họ thế ấy, và họ sẽ cùng Ngài bước vào vinh quang.

Làm thế nào hoàn thành được điều này? Câu 11 chép: “Vì cả Đấng thánh hóa lẫn những người đang được thánh hóa, tất cả đều thuộc về một Đấng”. Đấng thánh hóa là ai? Ấy là Chúa Giê-su. Những người đang được thánh hóa là ai? Ấy là chúng ta. Chúng ta có thể đọc câu này như sau: “Vì cả Chúa Giê-su là Đấng thánh hóa lẫn chúng ta là những người được thánh hóa, tất cả đều thuộc về một Đấng”. Chúa Giê-su và chúng ta đều sinh bởi một Cha; tất cả chúng ta đều phát xuất từ một nguồn và có cùng một sự sống. Chúng ta có cùng một Linh cư ngụ bên trong và cùng một Đức Chúa Trời, là Chúa và Đức Chúa Trời của chúng ta. “Vì lý do ấy, Ngài không hổ thẹn mà gọi họ là em”. Chữ “Ngài” ở đây chỉ về Chúa Giê-su của chúng ta và “họ” chỉ về chúng ta. “Ngài không hổ thẹn mà gọi họ là em” vì Ngài thuộc về Cha và chúng ta cũng thuộc về Cha.

Chúng ta là nhiều con của Đức Chúa Trời, kết quả cuối cùng là Ngài sẽ dẫn chúng ta vào vinh quang. Sự cứu chuộc không thay đổi mục đích của Đức Chúa Trời; trái lại, sự cứu chuộc hoàn thành mục đích mà sự sáng tạo chưa hoàn thành. Mục đích nguyên thủy của Đức Chúa Trời là con người phải cai trị, đặc biệt là trên trái đất, nhưng rất tiếc con người đã thất bại. Tuy nhiên khi con người đầu tiên sa ngã, mọi sự không đến chỗ chung cuộc. Điều Đức Chúa Trời không đạt được nơi con người đầu tiên, là A-đam, Ngài sẽ đạt được qua con người thứ hai, là Đấng Christ. Tại Bết-lê-hem có một sự ra đời đáng ghi nhớ vì Đức Chúa Trời định rằng con người phải cai trị và phục hồi trái đất, và vì Ngài đã quyết định rằng con người thọ tạo sẽ hủy diệt tạo vật Sa-tan. Đây là lý do vì sao Chúa Giê-su đã đến để trở nên một con người. Ngài có chủ tâm khi làm điều đó, và Ngài đã trở nên một con người thật sự. Con người đầu tiên không hoàn thành được mục đích của Đức Chúa Trời; trái lại, ông đã phạm tội và sa ngã. Không những ông thất bại không phục hồi được trái đất, mà còn bị Sa-tan bắt giữ. Không những ông thất bại không cai trị được, mà còn bị đưa đến chỗ phục tùng uy quyền của Sa-tan. Sáng Thế Ký chương 2 nói con người làm bằng bụi đất, và Sáng Thế Ký chương 3 nêu rõ bụi đất là thức ăn của Sa-tan. Điều này có nghĩa là con người sa ngã đã trở nên thức ăn cho Sa-tan. Con người không còn đối phó với Sa-tan được nữa; họ đã bị kết liễu. Vậy thì còn làm gì được? Phải chăng điều này có nghĩa là Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ đạt được mục đích đời đời của Ngài, và Ngài không thể đạt được điều Ngài tìm kiếm? Có phải Ngài không bao giờ phục hồi được trái đất chăng? Không phải như vậy đâu! Ngài sai Con Ngài đến để trở nên một con người. Chúa Giê-su thật sự là Đức Chúa Trời, nhưng Ngài cũng thật sự là một con người.

Trên cả thế giới ít nhất cũng có một con người lựa chọn Đức Chúa Trời, là một con người có thể nói rằng: “Kẻ cai trị thế gian này sắp đến, và hắn không có gì nơi Ta cả” (Gi. 14:30). Nói cách khác, trong Chúa Giê-su, không có một dấu vết nào của bá chủ thế gian này. Chúng ta phải cẩn thận chú ý rằng Chúa Giê-su không đến thế gian này để làm Đức Chúa Trời, nhưng để làm người. Đức Chúa Trời đòi hỏi có một con người. Nếu chính Đức Chúa Trời xử lý Sa-tan thì ấy là một điều rất dễ dàng; Sa-tan sẽ ngã xuống ngay lập tức. Nhưng Đức Chúa Trời không muốn tự mình làm điều đó. Ngài muốn con người xử lý Sa-tan; Ngài dự định rằng tạo vật sẽ xử lý tạo vật. Khi Chúa Giê-su trở nên một con người, Ngài chịu cám dỗ như một con người và trải qua mọi kinh nghiệm của con người. Con người này đã chinh phục, con người này đã chiến thắng. Ngài đã thăng thiên và ngồi bên hữu Đức Chúa Trời. Chúa Giê-su đã được “đội mão miện vinh hiển tôn trọng” (Hê. 2:9). Ngài đã được vinh hiển. Ngài không đến để nhận vinh quang như Đức Chúa Trời, nhưng để nhận vinh quang như con người. Chúng tôi không có ý nói Ngài không có vinh quang của Đức Chúa Trời, nhưng Hê-bơ-rơ chương 2 không nói đến vinh quang mà Ngài đã nhận được vì Ngài là Đức Chúa Trời. Chương này nói về Giê-su, Đấng chịu làm thấp hơn thiên sứ một ít vì chịu đựng sự chết; Giê-su được đội mão miện vinh hiển và tôn trọng. Chúa chúng ta thăng thiên như một con người. Ngày nay Ngài ở trên trời như một con người. Một con người ở bên hữu Đức Chúa Trời. Trong tương lai nhiều người sẽ có mặt tại đó. Hôm nay có một người đang ngồi trên ngai. Một ngày kia sẽ có nhiều người đồng ngồi trên ngai. Đó là điều chắc chắn.

Khi Chúa Giê-su phục sinh, Ngài truyền sự sống Ngài vào trong chúng ta. Khi tin vào Ngài, chúng ta nhận được sự sống của Ngài. Tất cả chúng ta đều trở nên con Đức Chúa Trời, và như vậy, chúng ta đều thuộc về Đức Chúa Trời. Vì chúng ta có sự sống này trong mình, nên với tư cách là con người, chúng ta được Đức Chúa Trời ủy thác hoàn thành mục đích của Ngài. Vì vậy, câu này nói Ngài sẽ đem nhiều con đến vinh quang. Cai trị là được làm cho vinh hiển, và được làm cho vinh hiển nghĩa là cai trị. Khi nhiều con đã có được uy quyền và phục hồi trái đất, lúc ấy, họ sẽ được đưa vào vinh quang cách khải hoàn.

Chúng ta đừng bao giờ cho rằng mục đích của Đức Chúa Trời chỉ là cứu chúng ta khỏi địa ngục để chúng ta có thể vui hưởng ơn phước thuộc trời. Chúng ta phải nhớ Đức Chúa Trời có ý định là loài người tiếp nối Con Ngài thi hành uy quyền của Ngài trên đất. Đức Chúa Trời muốn hoàn thành một điều, nhưng Ngài không tự thực hiện điều ấy; Ngài muốn chúng ta thực hiện. Khi chúng ta thực hiện điều ấy, đó là lúc Đức Chúa Trời đạt được mục đích của Ngài. Đức Chúa Trời ao ước có được một nhóm người thực hiện công tác của Ngài trên trái đất này, để qua con người Ngài có thể cai trị trái đất.

MỐI LIÊN HỆ GIỮA SỰ CỨU CHUỘC VÀ SỰ SÁNG TẠO

Chúng ta cần lưu ý đến mối liên hệ giữa sự cứu chuộc và sự sáng tạo. Bằng bất cứ cách nào chúng ta cũng không nên cho rằng Kinh Thánh không nói gì khác hơn là sự cứu chuộc. Tạ ơn Đức Chúa Trời vì ngoài sự cứu chuộc còn có sự sáng tạo. Niềm ao ước của Đức Chúa Trời được bày tỏ trong sự sáng tạo. Mục tiêu của Đức Chúa Trời, kế hoạch và ý muốn định trước của Ngài đều bày tỏ trong sự sáng tạo. Sự sáng tạo tiết lộ mục đích đời đời của Đức Chúa Trời, bày tỏ cho chúng ta thấy điều mà Ngài thật sự tìm kiếm.

Vị trí của sự cứu chuộc không thể cao hơn vị trí của sự sáng tạo. Cứu chuộc là gì? Cứu chuộc là phục hồi những gì Đức Chúa Trời chưa đạt được qua sự sáng tạo. Cứu chuộc không đem đến điều gì mới cho chúng ta, mà chỉ phục hồi lại cho chúng ta những gì vốn thuộc về chúng ta. Qua sự cứu chuộc, Đức Chúa Trời đạt được mục đích của Ngài trong sự sáng tạo. Cứu chuộc nghĩa là phục hồi và khôi phục; sáng tạo nghĩa là quyết định và bắt đầu. Cứu chuộc là một điều đến sau, để mục đích của Đức Chúa Trời trong sự sáng tạo được hoàn thành. Ôi, mong rằng các con cái Chúa không xem thường sự sáng tạo và nghĩ rằng sự cứu chuộc là tất cả. Sự cứu chuộc có liên quan đến chúng ta, làm cho chúng ta được ích lợi bằng cách cứu chúng ta và ban cho chúng ta sự sống đời đời. Nhưng sự sáng tạo liên quan đến Đức Chúa Trời và công tác của Ngài. Mối liên hệ của chúng ta với sự cứu chuộc là vì lợi ích của con người, trong khi mối liên hệ của chúng ta với sự sáng tạo là vì gia tể của Đức Chúa Trời. Nguyện Đức Chúa Trời làm một điều mới mẻ trên trái đất này để con người không chỉ nhấn mạnh đến việc rao giảng phúc âm nhưng tiến xa hơn nữa đến chỗ quan tâm đến công tác của Đức Chúa Trời, công việc của Ngài, và kế hoạch của Ngài. Thật ra, chúng ta nên rao giảng phúc âm với ý định là đem trái đất trở lại với Đức Chúa Trời. Chúng ta phải bày tỏ sự đắc thắng của Đấng Christ trên vương quốc của Sa-tan. Nếu chúng ta không phải là Cơ Đốc nhân, thì đó lại là điều khác. Nhưng một khi đã trở thành Cơ Đốc nhân, chúng ta không nên chỉ nhận lấy lợi ích của sự cứu chuộc, nhưng cũng đạt đến mục đích của Đức Chúa Trời trong sự sáng tạo. Không có sự cứu chuộc, chúng ta không có liên hệ gì với Đức Chúa Trời. Nhưng một khi đã được cứu, chúng ta cần dâng chính mình cho Đức Chúa Trời để đạt được mục tiêu mà vì đó Ngài đã sáng tạo con người lúc ban đầu. Nếu chúng ta chỉ chú ý đến việc rao giảng phúc âm, đó chỉ mới là một nửa vấn đề. Đức Chúa Trời đòi hỏi phân nửa kia để con người có thể cai trị cho Ngài trên đất và không cho phép Sa-tan lưu lại đây lâu hơn nữa. Phân nửa này cũng đòi hỏi ở Hội thánh. Hê-bơ-rơ chương 2 cho chúng ta thấy rằng sự cứu chuộc không chỉ vì sự tha thứ tội lỗi để con người được cứu, nhưng cũng để phục hồi con người cho mục đích của sự sáng tạo.

Sự cứu chuộc có thể so sánh với thung lũng ở giữa hai đỉnh núi. Khi một người xuống khỏi một đỉnh núi để tiếp tục lên đỉnh núi kia, người ấy gặp sự cứu chuộc tại nơi thấp nhất của thung lũng. Cứu chuộc chỉ có nghĩa là ngăn không cho con người sa ngã thêm và nâng họ lên. Một mặt, ý muốn của Đức Chúa Trời là đời đời và thẳng tắp, không có chỗ trũng nào cả để mục đích của sự sáng tạo có thể được hoàn thành. Mặt khác, có một điều gì đó đã xảy ra. Con người đã sa ngã, và lìa bỏ Đức Chúa Trời. Khoảng cách giữa họ và mục tiêu đời đời của Đức Chúa Trời càng ngày càng xa hơn. Ý muốn của Đức Chúa Trời từ đời đời đến đời đời là một đường thẳng, nhưng từ khi sa ngã, con người không thể đạt đến ý muốn ấy. Tạ ơn Đức Chúa Trời, có một phương thuốc gọi là sự cứu chuộc. Khi sự cứu chuộc đến, con người không cần phải đi xuống nữa. Sau sự cứu chuộc, con người được thay đổi và bắt đầu đi lên. Vì con người tiếp tục vươn lên, sẽ đến một ngày họ lại chạm đường thẳng ấy. Ngày họ đạt đến đường thẳng ấy là ngày vương quốc sẽ đến.

Chúng ta tạ ơn Đức Chúa Trời vì chúng ta có sự cứu chuộc. Nếu tách rời khỏi sự cứu chuộc, càng ngày chúng ta sẽ càng chìm xuống sâu hơn; chúng ta sẽ bị Sa-tan đàn áp càng ngày càng hơn cho đến khi không còn cách nào chỗi dậy được. Ngợi khen Đức Chúa Trời, sự cứu chuộc làm cho chúng ta trở lại với mục đích đời đời của Đức Chúa Trời. Điều Đức Chúa Trời không đạt được trong sự sáng tạo mà con người đã đánh mất trong sự sa ngã thì trong sự cứu chuộc đã hoàn toàn chiếm lại được.

Chúng ta phải xin Đức Chúa Trời mở mắt chúng ta thấy những gì Ngài đã làm để đời sống và công tác của chúng ta có thể có một sự thay đổi thật sự. Nếu tất cả công tác của chúng ta chỉ là cứu người, chúng ta vẫn thất bại và không thể thỏa mãn lòng Đức Chúa Trời. Cả sự cứu chuộc lẫn sự sáng tạo đều để nhận lấy vinh quang và lật đổ tất cả quyền lực của ma quỉ. Chúng ta hãy tuyên bố tình yêu của Đức Chúa Trời và uy quyền của Ngài khi chúng ta thấy tội lỗi và sự sa ngã của con người. Nhưng đồng thời, chúng ta phải thi hành uy quyền thuộc linh để đánh bại quyền lực của Sa-tan. Sứ mạng của Hội thánh ngày nay gồm hai mặt: làm chứng về sự cứu rỗi của Đấng Christ và làm chứng về sự đắc thắng của Đấng Christ. Một mặt, Hội thánh phải đem lợi ích đến cho con người, và mặt khác, Hội thánh phải làm cho Sa-tan bị thiệt hại nặng nề.

SỰ NGHỈ NGƠI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Trong suốt sáu ngày Đức Chúa Trời thực hiện công tác sáng tạo; sự sáng tạo con người thật là đặc biệt. Tất cả công tác suốt sáu ngày của Ngài đều là vì điều này. Mục tiêu thật của Ngài là tạo dựng con người. Để có thể thực hiện điều đó, trước hết Đức Chúa Trời phải tu sửa lại đất và trời đã bị hư hoại. (Sáng. 2:4 chép: “Đây là gốc tích các từng trời và trái đất khi chúng được sáng tạo, vào ngày Chúa là Đức Chúa Trời đã tạo nên trái đất và các từng trời”. “Các từng trời và trái đất” nói về sự sáng tạo ban đầu, vì lúc ấy các từng trời được tạo thành trước và rồi đến trái đất. Nhưng phần thứ hai: “vào ngày Chúa là Đức Chúa Trời đã làm nên trái đất và các từng trời”, nói về công tác tu sửa và phục hồi, vì trong công tác này, trái đất được quan tâm trước rồi đến trời). Sau khi Đức Chúa Trời phục hồi trái đất và trời đã bị hư hoại ấy, Ngài tạo dựng con người theo ý định của Ngài. Sau ngày thứ sáu là ngày thứ bảy; vào ngày đó, Đức Chúa Trời nghỉ ngơi khỏi mọi công việc của Ngài.

Sự nghỉ ngơi đến sau công việc: công việc phải đi trước rồi sự nghỉ ngơi sẽ theo sau. Hơn nữa, công việc phải được hoàn tất cách hoàn toàn mỹ mãn trước khi có sự nghỉ ngơi. Nếu công việc chưa hoàn thành mỹ mãn, tâm trí hay tấm lòng không bao giờ được an nghỉ. Vì vậy, chúng ta không nên xem nhẹ sự kiện Đức Chúa Trời nghỉ ngơi sau sáu ngày sáng tạo. Vì đối với Đức Chúa Trời, nghỉ ngơi là một việc quan trọng. Ngài cần đạt được một mục tiêu nào đó trước khi Ngài có thể nghỉ ngơi. Quyền năng làm cho một Đức Chúa Trời là Đấng Sáng Tạo như vậy phải nghỉ ngơi hẳn là một quyền năng lớn lao biết bao! Để khiến một Đức Chúa Trời như vậy, là Đấng hoạch định rất nhiều điều và là Đấng đầy dẫy sự sống, đi vào sự an nghỉ đòi hỏi một sức mạnh lớn lao nhất.

Sáng Thế Ký chương 2 cho chúng ta thấy Đức Chúa Trời nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy. Làm thế nào Đức Chúa Trời có thể nghỉ được? Phần cuối Sáng Thế Ký chương 1 ghi lại rằng vì “Đức Chúa Trời thấy mọi việc Ngài đã làm thật rất tốt lành” (c. 3).

Đức Chúa Trời nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy. Trước ngày thứ bảy, Ngài phải làm việc, và trước khi làm việc, Ngài có một mục đích. La Mã chương 11 nói đến tâm trí của Chúa, sự phán xét của Ngài và đường lối Ngài. Ê-phê-sô chương 1 nói về huyền nhiệm của ý muốn Ngài, sự vui mừng của Ngài và mục tiêu định trước của Ngài. Ê-phê-sô chương 3 cũng nói về mục đích đã định trước của Ngài. Qua những phần Kinh Thánh đó, chúng ta có thể kết luận rằng Đức Chúa Trời không những là một Đức Chúa Trời làm việc, mà còn là Đức Chúa Trời có chủ đích và kế hoạch. Khi Ngài thích làm việc, Ngài tiến hành công việc; Ngài làm việc vì Ngài mong muốn làm việc. Khi Ngài được thỏa lòng với công việc của mình, thì Ngài nghỉ ngơi. Nếu ao ước biết ý muốn của Đức Chúa Trời, kế hoạch của Ngài, sự vui thỏa của Ngài, và mục đích của Ngài, chúng ta chỉ phải nhìn vào những gì làm cho Ngài an nghỉ. Nếu chúng ta thấy Đức Chúa Trời an nghỉ trong một điều nào đó, khi ấy chúng ta có thể biết đó là điều Ngài theo đuổi từ ban đầu. Loài người cũng không thể nào an nghỉ trong điều mình không thỏa lòng; họ phải đạt được điều mình tìm kiếm thì mới được nghỉ ngơi. Chúng ta không được xem nhẹ sự nghỉ ngơi này vì ý nghĩa của nó rất quan trọng. Đức Chúa Trời không nghỉ trong sáu ngày đầu nhưng Ngài nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy. Sự nghỉ ngơi của Ngài bày tỏ rằng Đức Chúa Trời đã hoàn thành điều lòng Ngài ao ước. Điều Ngài thực hiện làm cho Ngài vui thỏa. Vì vậy, Ngài có thể nghỉ ngơi.

Chúng ta phải lưu ý chữ “ngắm nhìn” (Bản Truyền Thống: thấy) trong Sáng Thế Ký 1:31. Điều này có ý nghĩa gì? Khi chúng ta mua một vật nào đó mà mình đặc biệt thỏa lòng, chúng ta xoay nó qua lại cách thích thú và ngắm nghía kỹ lưỡng. Đây là ý nghĩa của chữ ngắm nhìn. Đức Chúa Trời không chỉ nhìn cách bình thường những gì mà Ngài đã tạo dựng và thấy là tốt lành. Trái lại, Ngài “ngắm nhìn” mọi vật Ngài đã tạo dựng và thấy chúng rất tốt lành. Chúng ta cần lưu ý rằng Đức Chúa Trời đã ngụ nơi cõi sáng tạo “ngắm nhìn” những gì Ngài tạo dựng. Chữ “nghỉ ngơi” là một sự tuyên bố rằng Đức Chúa Trời thỏa mãn, Ngài vui thích trong những gì Ngài đã làm nên; từ ngữ này công bố Đức Chúa Trời đã đạt được mục tiêu và sự thỏa lòng của Ngài đạt đến mức độ đầy đủ nhất. Công tác của Ngài hoàn hảo đến mức khó có thể được thực hiện tốt hơn.

Vì lý do đó Đức Chúa Trời ra lệnh cho dân Y-sơ-ra-ên giữ ngày Sa-bát suốt các thế hệ. Đức Chúa Trời theo đuổi một điều gì đó. Đức Chúa Trời tìm kiếm một điều gì đó để thỏa mãn chính Ngài và Ngài đã đạt được; vì vậy, Ngài nghỉ ngơi. Đây là ý nghĩa của ngày Sa-bát. Ấy không phải là con người nên mua sắm ít hơn hay đi bộ ngắn hơn vài dặm đường. Ngày Sa-bát cho chúng ta biết Đức Chúa Trời có một niềm ao ước trong lòng, một sự đòi hỏi để thỏa mãn chính Ngài, và một công tác phải được thực hiện để hoàn thành niềm ao ước và sự đòi hỏi của lòng Ngài. Vì Đức Chúa Trời đạt được điều Ngài theo đuổi, nên Ngài nghỉ ngơi. Đây không phải là vấn đề một ngày đặc biệt. Ngày Sa-bát cho chúng ta biết Đức Chúa Trời đã hoàn thành kế hoạch của Ngài, đạt được mục tiêu của Ngài và đã thỏa lòng. Đức Chúa Trời là Đấng đòi hỏi phải được thỏa lòng, và Ngài cũng là Đấng có thể được thoả mãn. Sau khi Đức Chúa Trời có được điều Ngài mong muốn thì Ngài an nghỉ.

Thế thì điều gì đã đem đến sự an nghỉ cho Đức Chúa Trời? Điều gì đã làm Ngài thỏa mãn như vậy? Trong sáu ngày sáng tạo đã có ánh sáng, không trung, cỏ cây hoa lá; đã có mặt trời, mặt trăng, và các vì sao; đã có cá, chim, trâu bò, các loài bò sát và dã thú. Nhưng trong tất cả mọi điều ấy, Đức Chúa Trời không tìm được sự nghỉ ngơi. Cuối cùng có con người, và Đức Chúa Trời nghỉ ngơi khỏi mọi công việc. Tất cả cõi sáng tạo trước khi có con người là sự chuẩn bị. Mọi sự mong đợi của Đức Chúa Trời tập trung nơi con người. Khi Đức Chúa Trời có được con người, Ngài thỏa mãn và Ngài nghỉ ngơi.

Chúng ta hãy đọc lại Sáng Thế Ký 1:27-28: “Vậy, Đức Chúa Trời tạo dựng loài người theo hình ảnh của riêng Ngài; theo hình ảnh Đức Chúa Trời, Ngài tạo dựng con người. Ngài tạo dựng người nam và người nữ. Và Đức Chúa Trời ban phước cho họ, và Ngài phán với họ: Hãy sinh sản, gia tăng bội phần, và làm cho đầy dẫy đất, bắt trái đất phục tùng, và thống trị trên cá biển, chim trời, và mọi vật sống chuyển động trên mặt đất”. Bây giờ xin đọc Sáng Thế Ký 1:31 và Sáng Thế Ký 2:3: “Và Đức Chúa Trời nhìn mọi sự Ngài đã làm, và thấy rất tốt lành... Đức Chúa Trời ban phước cho ngày thứ bảy, và biệt riêng ngày ấy: vì trong ngày ấy, Đức Chúa Trời nghỉ mọi công việc Ngài đã sáng tạo và làm nên”. Đức Chúa Trời có một mục đích, và mục đích này là có được con người, tức con người với uy quyền để cai trị trên trái đất. Chỉ [khi nào chúng ta] nhận thức được mục đích này thì mới có thể làm thỏa lòng Đức Chúa Trời. Nếu đạt được điều này, mọi sự sẽ tốt đẹp. Vào ngày thứ sáu Đức Chúa Trời đã hoàn thành được mục tiêu này. “Đức Chúa Trời nhìn mọi sự Ngài đã làm, và thấy thật rất tốt lành... và Ngài nghỉ ngơi khỏi mọi công việc Ngài vào ngày thứ bảy”. Đức Chúa Trời đã đạt được mục đích và sự mong đợi của Ngài; Ngài có thể dừng lại và nghỉ ngơi. Sự nghỉ ngơi của Đức Chúa Trời dựa trên con người là những người sẽ cai trị.