Thông tin sách

Có Đức Chúa Trời

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Có Đức Chúa Trời
ISBN:
Mua sách tại:

Untitled Document

CÓ ĐỨC CHÚA TRỜI

Chiều nay chúng ta sẽ bàn đến một vấn đề khó. Thật vậy, vấn đề như vậy có thể rất khó nói. Tôi phải thừa nhận rằng đây là lần thứ hai trong đời tôi chia sẻ về chủ đề này. Chủ đề ấy là gì? Đó là vấn đề câu Kinh Thánh trong Hê-bơ-rơ 11:6 nêu lên: “Người đến cùng Đức Chúa Trời cần phải tin rằng Ngài thực hữu”. Đó cũng là vấn đề mà một câu Kinh Thánh khác là Thi Thiên 14:1 đưa ra: “Kẻ ngu dại nói trong lòng rằng: Không có Đức Chúa Trời”. Thật ra không cần nói đến vấn đề sự hiện hữu của Đức Chúa Trời. Kinh Thánh không luận về đề tài ấy; Kinh Thánh kể như con người tin có Đức Chúa Trời. Con người không có lý do gì để nói rằng không có Đức Chúa Trời. Vấn đề này xem như đã được giải quyết rồi. Nhưng có những người trên thế giới tự xem mình là những người vô thần. Họ nói không có Đức Chúa Trời, và không thừa nhận sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, là Đấng cai trị mọi sự. Triết lý này có vẻ rất hợp thời và quyến rũ đối với con người. Những người theo triết lý ấy thì tâm trí có vẻ tiến bộ hơn và có khả năng hơn so với người khác, cho nên họ mới dám nói như vậy. Nhưng trước khi vạch ra những sai lầm của họ, trước tiên, tôi muốn cho các bạn thấy rằng có nhiều loại người vô thần khác nhau. Có bao nhiêu loại người vô thần? Có vài loại vô thần không đáng để chúng ta tranh luận; thậm chí họ không đáng để chúng ta chào hỏi. Những người vô thần khác thì cao quí hơn, và chúng ta đáng phải tranh luận với họ. Có thể một số người giữa vòng chúng ta là người vô thần. Tôi phải nói thật với các bạn rằng chỉ có vài loại người vô thần nào đó đáng để cho chúng ta thảo luận. Tôi xin hỏi riêng bạn rằng: “Bạn là loại người vô thần nào?” Mặc dầu những người vô thần không thừa nhận là có nhiều loại vô thần khác nhau, nhưng là những người ngoài cuộc, chúng ta khách quan hơn và có thể phân loại họ.

NHỮNG NGƯỜI VÔ THẦN VÔ ĐẠO ĐỨC

Không cần nói chuyện với loại người vô thần này cũng không nên tham dự vào bất cứ cuộc tranh luận nào với họ. Điều duy nhất chúng ta cần phải làm là quan sát hành vi của họ. Mặc dầu nhiều người không thừa nhận họ là những người vô thần, nhưng hành vi của họ cho chúng ta biết họ là những người vô thần. Họ không cần phải nói gì cả; thật ra, họ không có lập trường gì để nói cả, vì sự vô luân của họ nói lớn hơn và rõ ràng hơn lời nói của họ. Họ đã trở nên những người vô thần vì hành vi của họ đòi hỏi họ làm những người vô thần, chứ không phải vì họ có nhiều lý lẽ hỗ trợ cho các quan điểm của mình. Tình trạng vô luân của họ ngăn trở họ nhìn nhận có một Đức Chúa Trời trong vũ trụ. Một tên cướp thích tin là không có cảnh sát, một học sinh kém cỏi thích tin là không có giáo viên, một nhân viên khó tính thích tin là không có ông chủ, và một người gian ác thích tin là không có pháp luật. Thái độ đó không có nghĩa là họ thực sự tin rằng những điều ấy không hiện hữu mà chỉ có nghĩa là hành vi của họ buộc họ phải nói những điều ấy không hiện hữu. Nếu nghe một người nói: “Tôi không tin Đức Chúa Trời; theo suy nghĩ của tôi thì không có Đức Chúa Trời nào cả”, bạn có thể cầm tay người ấy mà hỏi rằng: “Anh ơi, anh có đang sống một nếp sống đạo đức không?”, bạn không cần nói điều gì khác; bạn chỉ cần hỏi người ấy có đạo đức hay không. Một người có thể tin là không có Đức Chúa Trời, nhưng không thể tin là không có đạo đức. Mặc dầu tôi không phải là một cụ già, nhưng trong tất cả những người vô thần tôi từng gặp qua nhiều năm tháng, thì chín mươi chín phần trăm là có tư cách đạo đức đáng ngờ. Tôi chưa từng gặp một người vô thần nào mà tư cách đạo đức của người ấy đáng tin cậy cả. Ở đây, một số người trong các bạn lớn tuổi hơn tôi. Tôi không biết các bạn đã gặp một người vô thần nào mà tư cách đạo đức của người ấy đáng tin cậy chưa. Giữa vòng bạn cùng lớp, bạn đồng nghiệp và bạn bè khác của chúng ta có những người vô thần không tin Đức Chúa Trời vì tình trạng đạo đức của họ rất xấu xa. Tôi phải nói cho bạn một sự thật: mỗi khi Đức Chúa Trời bước ra khỏi cuộc sống của một người thì sự vô luân bước vào.

Tại Mỹ có một nhà truyền giảng nổi tiếng tên là R.A. Torrey. Một lần kia, ông đang rao giảng tại nơi nọ thì có một sinh viên đại học đến thưa với ông: “Tôi từng tin có Đức Chúa Trời. Nhưng nay tôi không còn tin nữa”. Khi ông Torrey hỏi lý do, người ấy đáp: “Khi bắt đầu học đại học, tôi thu thập thêm nhiều kiến thức và không muốn tin Đức Chúa Trời nữa. Sau khi đọc quyển sách này và quyển sách kia, tôi không tìm thấy Đức Chúa Trời ở đâu cả”. Ông Torrey nói: “Không. Đừng lừa gạt tôi. Tôi cũng tốt nghiệp đại học và đã đọc nhiều sách. Thậm chí tôi đã lấy được bằng tiến sĩ. Nhưng tôi đã không từ bỏ Đức Chúa Trời vì sự học hành của mình. Phải có lý do gì khác khiến anh từ bỏ Đức Chúa Trời vì anh không thể từ bỏ Ngài do đã học hành quá nhiều. Tôi xin hỏi anh một câu: Từ khi phủ nhận sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, tình trạng đạo đức của anh đã trở nên thế nào?” Sinh viên ấy thành thật trả lời rằng: “Tôi chỉ có thể thừa nhận rằng tôi không còn đạo đức như trước nữa”. Thế là ông Torrey đưa ra một câu trả lời tuyệt diệu: “Tôi không cần phải tranh luận với anh nữa, và tôi cũng không cần nêu lên những bằng chứng về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời. Nếu anh chấm dứt những hành vi xấu xa của mình và nếu phẩm cách đạo đức của anh trở nên cao quí hơn, lập tức Đức Chúa Trời sẽ trở lại với anh”. Đó là một sự thật. Nhiều người không tin Đức Chúa Trời vì họ có hàng ngàn tội lỗi ngăn chặn họ tin Ngài chứ không phải vì họ có nhiều lý lẽ. Họ bắt buộc phải trở nên những người vô thần.

NHỮNG NGƯỜI VÔ THẦN - THEO CẢM XÚC

Cảm xúc là gì? Đó là phần thuộc về sự cấu tạo tâm lý của con người, phần ấy điều khiển những ham muốn, cái ưa, cái ghét, tính thiên vị, ác cảm, sự vui thích và bất mãn của con người. Một số người không muốn Đức Chúa Trời; họ không ưa Ngài. Vì họ thích không có Đức Chúa Trời, nên họ nói không có Đức Chúa Trời. Tôi xin kể một câu chuyện liên quan đến tình trạng này. Có một loại chim gọi là đà điểu. Nó có một thân hình to lớn và thật cao. Thậm chí một người có thể cỡi trên lưng nó được. Nhưng nó rất ngu dại. Để bắt nó, một vài chục người chỉ cần bao vây và đuổi nó chạy vòng vòng cho đến khi nó mệt lữ. Chim đà điểu có một thân hình to lớn, nhưng đầu của nó lại rất nhỏ. Khi trông thấy nhiều người rượt đuổi và chung quanh đều có người bao vây, nó sẽ dùng đôi chân đào một lỗ nhỏ trên mặt đất và chôn cái đầu nhỏ xíu của mình dưới đó. Con chim ấy nghĩ rằng mình sẽ an toàn nếu không còn nhìn thấy ai nữa. Nó không nhận thức được rằng mặc dầu đầu của nó ở trong cái lỗ, nhưng những người săn đuổi vẫn còn đó. Thân thể to lớn của nó vẫn bị phơi bày chứ chưa được ẩn núp. Có vài người ao ước không có Đức Chúa Trời. Họ ao ước không có Đấng gọi là Đức Chúa Trời. Ước muốn của họ có nghĩa lý gì không? Có phải Đức Chúa Trời không tồn tại chỉ vì họ ao ước không có Đức Chúa Trời không?

Lần kia, tôi rao giảng phúc âm tại một nơi nọ, và một người rất gian ác cố ý đến nói với tôi rằng: “Đừng nói gì với tôi về Giê-su, Kinh Thánh hay phúc âm. Ông không cần phải nói về những điều ấy, vì vấn đề căn bản vẫn chưa được giải quyết. Làm thế nào ông có thể nói về phúc âm khi vấn đề trọng yếu nhất là có Đức Chúa Trời hay không chưa được giải quyết?” Sau đó, tôi hỏi người ấy: “Thưa bạn, bạn không tin là có Đức Chúa Trời sao?” Người ấy đáp: “Tôi đã nói với ông rồi là không có Đức Chúa Trời. Tại sao ông lại nói Đức Chúa Trời hiện hữu? Xin giải thích cho tôi”. Tôi nói: “Tất nhiên, bạn không tin là có Đức Chúa Trời”. Người ấy hỏi: “Tại sao ông cứ nhất định cho rằng có Đức Chúa Trời trong khi tôi nói là không có Đức Chúa Trời”. Tôi đáp: “Trong thâm tâm bạn đã biết câu trả lời rồi”. Người ấy có vẻ lúng túng và nói: “Làm sao tôi biết?” Tôi nói: “Bạn biết những gì trong tâm khảm của mình”. Người ấy hơi bối rối và nói: “Tôi biết những gì trong tâm khảm của mình có nghĩa là gì?” Tôi đáp: “Bạn ao ước không có Đức Chúa Trời. Tôi không cần nói thêm nữa. Bạn biết những gì trong tâm khảm của mình”. Người ấy có vẻ như đã hiểu một ít và ngượng ngùng bước đi. Không cần phải nói hay tranh luận bất cứ điều gì với những người như vậy. Thật ra, họ không thể được xem là những người vô thần; họ chỉ cố gắng phủ nhận Đức Chúa Trời theo cảm xúc của họ.

NHỮNG NGƯỜI VÔ THẦN TRÊN “MÔI MIỆNG”

Những người này không tranh luận bằng lý luận, mà miệng thì cứ khẳng định rằng không có Đức Chúa Trời. Họ rất bướng bỉnh, và không có cách nào tranh luận với họ. Nếu bạn hỏi tại sao họ không tin Đức Chúa Trời, họ không thể nêu lên một lý do nào cho bạn. Họ chỉ cho bạn biết rằng họ không tin. Bạn có thể cho họ một trăm lý do tại sao có Đức Chúa Trời, và họ sẽ nói trả lại bạn một trăm lẻ một lần rằng không có Đức Chúa Trời. Thậm chí bạn có thể đưa ra một ngàn lý do, họ sẽ chống đối bạn với một ngàn lẻ một lý do. Đối với những người như vậy, bạn không thể làm gì cả. Họ chỉ bướng bỉnh. Họ sẽ không thay đổi những gì mình đã nói. Dầu bạn có tranh luận với họ ba ngày ba đêm, và dầu biết mình sai lầm, họ vẫn nhất định tranh luận với bạn. Mặc dầu đưa ra nhiều lý lẽ, nhưng những lý lẽ của họ đều do thành kiến và lòng quá tự tin của mình. Họ cứ khăng khăng giữ vững những gì đã nói, và đối với loại người này ai cũng đành phải bó tay. Tâm trí họ trống rỗng và không hợp lý. Nhưng miệng của họ lại đầy dẫy những biệt ngữ vô thần. Đó là lý do tôi gọi họ là những người vô thần trên “môi miệng”.

Không thể nào lý luận với ba nhóm người trên. Tuy nhiên, có một nhóm người vô thần khác. Nhóm này có hi vọng hơn, nhưng số người đó rất ít. Đó là những người vô thần loại nào?

NHỮNG NGƯỜI VÔ THẦN - TRÍ THỨC

/

Ai là những người vô thần trí thức? Đó là những người đòi hỏi lý lẽ. Nếu bạn có thể nêu ra cho họ những lý lẽ chính đáng, họ sẽ chấp nhận lời của bạn. Tranh luận với người vô thần loại này thật chính đáng và có giá trị. Nhưng có bao nhiêu người vô thần trên thế giới này giống như vậy? Tôi e rằng có rất ít. Tôi không nói rằng hoàn toàn không có ai. Tôi nói là có rất ít; con số đó không lớn lắm. Hôm nay tôi sẽ không tranh luận với những người ấy hay đưa ra nhiều lý lẽ để chứng minh có Đức Chúa Trời trong vũ trụ. Kinh Thánh không nêu lên vấn đề hiện hữu của Đức Chúa Trời, mà chỉ đề cập đến Giê-su Christ, Thánh Linh, v.v... Sự kiện ấy có nghĩa là vấn đề hiện hữu của Đức Chúa Trời không mấy thiết yếu, vì mọi người đều đã biết câu trả lời. Sự hiện hữu của Đức Chúa Trời là một sự thật không thể lay chuyển; vì vậy, điều này đã được ngầm chấp nhận.

LÀM SAO MỘT NGƯỜI DÁM NÓI LÀ KHÔNG CÓ ĐỨC CHÚA TRỜI?

Nếu hôm nay một người bạn vô thần (là người chúng ta thường gặp trong khi rao giảng phúc âm) đến và nói chuyện về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, người ấy chắc chắn sẽ nói là không có Đức Chúa Trời. Bạn có thể hỏi người ấy tại sao lại nghĩ rằng không có Đức Chúa Trời, và có lẽ người ấy đưa ra một hai lý do. Mỗi lần gặp một người như vậy, tôi không cho họ cơ hội nói dứt lời. Trái lại, tôi nói: “Làm sao một người như bạn lại dám nói là không có Đức Chúa Trời?” Họ có thể đưa thêm lý do, nhưng tôi lại ngắt lời và nói: “Làm sao một người như bạn lại dám nói là không có Đức Chúa Trời?” Có thể người ấy tự nhủ tại sao tôi cứ lặp đi lặp lại câu hỏi ấy mãi. Sau đó, tôi nói với người ấy rằng trước hết chúng ta phải giải quyết ổn thỏa vấn đề là người ấy có đủ điều kiện [để tuyên bố như vậy] không trước khi chúng ta có thể bàn luận về điều người ấy nói. “Làm sao một người như bạn lại dám nói là không có Đức Chúa Trời?” Một số người có thể nghĩ rằng trả lời như vậy thật là ngạo mạn. Thật vậy, nói như thế có thể xúc phạm người ta. Nhưng vấn đề quan trọng là bạn thuộc loại người nào. Bạn không có đủ điều kiện để bàn về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời. Nói một cách thẳng thắn hơn, bạn biết gì mà bạo gan nói không có Đức Chúa Trời? Có 1.900.000.000 sinh vật như bạn trên trái đất này (tác giả viết bài này năm 1936 - LND). Bạn là ai? Thậm chí bạn không thể biết về thân thể của mình hay những điều hằng ngày xảy ra chung quanh mình. Làm sao bạn có thể nói là không có Đức Chúa Trời? Bạn có biết móng tay của mình mọc thế nào và tim mình đập ra sao không? Bạn biết ngày mai có mưa hay không hoặc ngày mai bạn có còn ăn uống được hay không? Bạn không thể biết ngay cả một điều nhỏ mọn như vậy. Làm sao bạn dám nói là không có Đức Chúa Trời? Tôi chỉ nghiên cứu về hóa học trong hai năm. Đó là lý do tại sao tôi không dám nói quá nhiều về hóa học; nếu không, những người biết nhiều hơn về hóa học sẽ cười chê tôi. Bạn chỉ là một trong 1.900.000.000 người trên thế giới, mà lại dám nói là không có Đức Chúa Trời! Đó là lý do tại sao tôi nói rằng một con người hay một tạo vật nhỏ nhoi như bạn không đủ điều kiện tuyên bố là không có Đức Chúa Trời. Bạn có biết mình nhỏ bé thế nào không? Hiện tại có 1.900.000.000 “vật” như bạn trên trái đất hôm nay. Bạn có biết trái đất to lớn bao nhiêu không? Có thể bạn thông minh và nói rằng trái đất không to lớn lắm. Thế thì thái dương hệ to lớn bao nhiêu? Có lẽ bạn vẫn nghĩ rằng nó cũng không lớn lắm. Bạn có thể mang mặt trời ra đo xem nó lớn thế nào không? Nếu có thể làm rỗng bên trong của mặt trời, bạn có thể đặt bao nhiêu trái đất vào trong mặt trời? Một trái đất không thể làm đầy mặt trời được. Hai trái đất cũng không. Bạn có thể tiếp tục để thêm trái đất vào trong mặt trời, một trăm, một ngàn, mười ngàn, một trăm ngàn, ngay cả một triệu, và mặt trời sẽ vẫn còn khá rỗng. Mặt trời có thể chứa bao nhiêu trái đất? Ít nhất là một triệu rưỡi! Có vô số thái dương hệ trên các từng trời to lớn như thái dương hệ của chúng ta. Một nhà thiên văn nói rằng trong vũ trụ có năm trăm triệu ngôi sao to lớn bằng mặt trời của chúng ta. Bạn to lớn cỡ bao nhiêu? Làm sao bạn có thể nói là không có Đức Chúa Trời?

Tôi xin kể cho các bạn một câu chuyện. Tôi có một cậu em trai. Khi tốt nghiệp trường mẫu giáo lúc sáu tuổi, nó mang giấy chứng nhận về nhà. Nó rất tự hào và nghĩ rằng mình đã đạt được một thành tích vĩ đại. Nó hãnh diện đến nói với tôi rằng: “Hôm nay em đã tốt nghiệp!” Tôi hỏi rằng em đã tốt nghiệp trường nào. Nó đáp: “Trường đại học mẫu giáo”. Ngày nay có quá nhiều người đã tốt nghiệp ở trường đại học mẫu giáo! Có quá nhiều tiến sĩ mẫu giáo!

Chúng ta hãy trở lại với thiên văn học. Những nhà thiên văn bảo chúng ta rằng vận tốc của ánh sáng là 300.000 kí-lô mét/ một giây. Trong một giây, ánh sáng đi được 300.000 kí-lô mét. Một phút ánh sáng đi bao nhiêu kí-lô mét? Còn một ngày? Một tháng? Một năm? Chúng ta thật không dễ gì tưởng tượng được một vận tốc như vậy. Mặc dầu ánh sáng đi với một vận tốc kinh khủng như vậy, những nhà thiên văn cho chúng ta biết rằng ánh sáng từ vài ngôi sao đã đi hơn hai ngàn năm, mà ngày nay ánh sáng của chúng vẫn chưa đến trái đất. Vũ trụ mênh mông biết bao! Một người chỉ cao một mét tám, chiếm chín tấc vuông đất. Nhưng người ấy lại dám nói là không có Đức Chúa Trời! Đây phải là điều ngạo mạn và tức cười nhất mà một người từng nói. Một người tí hon như vậy mà lại đứng lên tuyên bố một cách kiêu hãnh, trịnh trọng và dứt khoát là không có Đức Chúa Trời thì có hợp tình hợp lý không? Tôi không cần phải nói gì nữa; tất cả các bạn đều biết câu trả lời.

AI CAI TRỊ VŨ TRỤ?

Tôi không biết ai lại có thể táo bạo đến nỗi nói là không có Đức Chúa Trời trong vũ trụ. Nhưng bây giờ chúng ta hãy để vấn đề này sang một bên. Hãy xem xét lại vũ trụ. Vũ trụ rất to lớn, nhưng đồng thời cũng rất nhỏ. Thậm chí những vật thể không thể nhìn thấy bằng kính hiển vi cũng có những cấu trúc, qui luật và trật tự nhất định. Đó là sự thật đối với bất cứ vật cực nhỏ nào bạn xem xét. Người ta từng nói rằng các nguyên tử là những vật nhỏ nhất. Về sau họ mới biết ra là điện tử còn nhỏ hơn. Mới đây, người ta khám phá ra là có những vi tố thậm chí còn nhỏ hơn những điện tử. Mặc dầu những vi tố này thật nhỏ, chúng đều được những nguyên tắc, qui luật và trật tự rõ ràng chi phối. Nếu không có Đức Chúa Trời thì ai đang tổ chức những điều đó? Làm thế nào gọi đó là một sự ngẫu nhiên được? Phải có một Đức Chúa Trời, là Đấng cai trị và sắp xếp mọi sự. Nếu không, làm sao chúng ta có thể có một trật tự kỳ diệu mà ngày nay chúng ta đang có? Trật tự của mọi vật chỉ bày tỏ hai sự kiện có thể xảy ra. Trật tự đó có thể bởi sự ngẫu nhiên, hoặc được sắp xếp bởi một người nào đó. Điều đó chỉ có thể ngẫu nhiên hình thành hay do được sắp đặt. Hoặc có ai đó đã sắp xếp những điều ấy, hoặc chúng đã được hình thành cách ngẫu nhiên. Một trong hai trường hợp phải đúng.

BỞI SỰ NGẪU NHIÊN?

Bất cứ điều gì ngẫu nhiên xảy ra đều xảy ra mà không vì một lý do nào cả; bất cứ điều gì hình thành do được sắp xếp đều nói lên rằng có một người nào đó ở đằng sau hậu trường đang hoạch định và thi hành. Nếu không có ai trong vũ trụ này sắp xếp mọi sự, và nếu mọi sự đều xảy ra cách ngẫu nhiên, thì chúng ta thật sự bối rối và lúng túng. Một vài người bạn đã nói rằng vũ trụ được hình thành khi một vật thể va chạm vào một vật thể khác và một vật thể thứ ba được sinh ra. Tôi không thể hiểu loại lý luận ấy. Trên thế giới này, tôi chưa bao thấy một vật thể nào là kết quả của hai vật thể tình cờ va chạm vào nhau. Chiếc khăn tay của tôi không phải được hình thành bởi một vài cành cây va chạm vào nhau để tạo ra bông vải, và bông vải va chạm với bông vải để tạo ra những sợi len, và những sợi len va chạm với nhau để tạo ra một chiếc khăn tay. Đơn giản là tôi không thể hiểu được cách lý luận ấy. Không gì trong vũ trụ này được hình thành do sự va chạm ngẫu nhiên.

Tôi xin kể cho các bạn nghe một câu chuyện có thật để minh họa về việc sự ngẫu nhiên sinh ra nhiều điều. Một người kia đi thăm một nhà máy tại Mỹ chuyên sản xuất máy xay thịt, và người ấy nói chuyện với viên quản lý nhà máy. Những máy xay thịt này có thể được tìm thấy khắp nơi tại Thượng Hải giữa những người hàng thịt; đó là những cái máy nhỏ dùng để nghiền thịt bò thành từng mảnh nhỏ. Trong khi tham quan, người ấy trò chuyện với viên quản lý về nguồn gốc của vũ trụ. Viên quản lý nói rằng phải có một Đức Chúa Trời khôn ngoan và đầy quyền năng, là Đấng đã sắp xếp mọi sự trong vũ trụ. Người kia thì nói rằng: “Không có Đức Chúa Trời trong vũ trụ, và mọi sự đều ngẫu nhiên hình thành”. Viên quản lý không tranh luận, mà dẫn người ấy đến nơi sản xuất máy xay thịt. Ông nói với người ấy: “Cái máy nhỏ của tôi chỉ được tạo thành bởi tám bộ phận. Vì bạn đã nói rằng vũ trụ được hình thành bởi sự ngẫu nhiên, xin thử ráp cái máy này lại với nhau bằng sự ngẫu nhiên. Tôi sẽ đặt tám bộ phận ấy và một vài con ốc vào một cái hộp. Xin lắc cái hộp xem bạn có thể tạo nên một cái máy xay thịt nhờ lắc như vậy không. Tôi có vài trăm công nhân tại nhà máy này. Những người thợ lành nghề nhất có thể lắp ráp hai trăm cái máy mỗi ngày. Nếu tôi mướn một cô gái chất phác ở nông thôn, tức một người chưa từng thấy một cái máy như vậy, cho dầu chậm chạp đến đâu đi nữa, trong vòng một vài ngày cô ta sẽ hoàn thành công việc. Nhưng nếu lắc cái hộp như tôi đã nói, thì sau một tháng hay thậm chí một năm bạn cũng không thể có được một cái máy. Điều đó không thể xảy ra được!” Một cái máy nhỏ chỉ đáng giá ba đô-la bảy không thể được tạo ra bởi sự ngẫu nhiên. Có thể nào vũ trụ bao la đã được tạo ra bởi sự ngẫu nhiên không? Có thể nào mọi vật thể trên thế giới đều được tạo ra bởi sự ngẫu nhiên không? Trong nửa tiếng đồng hồ, một người thợ mộc có thể làm ra một chiếc ghế như cái mà tôi đang ngồi. Nhưng nếu chúng ta đợi nó được tạo ra bởi sự ngẫu nhiên, tôi e rằng hôm nay chúng ta đã không có được một chiếc ghế nào để ngồi. Nhiều điều trong vũ trụ này hình thành bởi sự ngẫu nhiên là điều thật sự không thể tin được. Phải có một Đấng nào đó đã thiết kế vũ trụ, đặt nó trong tình trạng trật tự và hợp lý như vậy. Thậm chí một người ngu dại và thất học nhất trên thế giới cũng có thể kết luận như vậy. Nếu không phải là một kẻ ngu dại, người ấy phải tin là có một Đức Chúa Trời. Nếu không tin như vậy thì tấm trí người ấy phải có điều gì đó sai trật. Trong bất cứ trường hợp nào, chắc chắn phải có một Đức Chúa Trời. Tin không có Đức Chúa Trời thì thật là vô lý. Những ai không tin nơi Đức Chúa Trời phải có một điều gì đó sai trật trong tâm trí người ấy.

CHỨNG CỚ CỦA LƯƠNG TÂM

Những ví dụ trên chỉ là những chứng minh khách quan về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời. Chúng ta hãy xem xét vấn đề sự hiện hữu của Đức Chúa Trời từ một góc độ khác, đó là cấu tạo tâm lý của con người. Một tổ chức lớn tại Mỹ được gọi là Hội Địa Dư Quốc Gia (National Geographic Society) đã tìm hiểu các nền văn hóa và địa dư của những vùng khác nhau trên thế giới. Qua nhiều cuộc khảo sát của các hội viên, hội ấy đưa ra một kết luận là mọi chủng tộc trên thế giới, bất kể có văn hóa hay man rợ, tiến bộ hay lạc hậu, đều có một điểm chung là có một niềm tin đối với Đức Chúa Trời. Khắp nơi, thậm chí giữa vòng thổ dân Miao chưa khai hóa, dân chúng cũng tin nơi Đức Chúa Trời. Một người có thể đần độn và không thể suy nghĩ một cách hợp lý; người ấy có thể không có khả năng đưa ra nhiều lý do. Nhưng nếu dò xét lòng mình, người ấy biết là có một Đức Chúa Trời. Nhiều người chỉ bướng bỉnh trong lời nói của mình, nhưng trong lương tâm, họ biết là có Đức Chúa Trời.

Vào năm 1925 có một nhà truyền giảng đi xuyên qua một khu rừng tại Nam Mỹ. Thình lình, ông nghe tiếng kêu cứu, liền chạy về hướng ấy. Khi đến gần một dòng sông, ông trông thấy một người ở trên một chiếc xuồng đang bị cuốn trôi theo dòng nước. Con sông chảy xiết, và cách người ấy không xa có một thác nước. Nếu không ai đến cứu, người ấy sẽ rơi xuống thác nước mà chết. Vào lúc đó, người ấy dùng hết sức lực của mình kêu lớn: “Trời ơi, cứu con, Trời ơi, cứu con!” Khi thấy vậy, ông cố gắng hết sức và cứu được người ấy.

Ngày hôm sau, nhà truyền giảng lại đi xuyên qua khu rừng ấy và trông thấy vài trăm người tụ tập chung quanh một người đang diễn thuyết. Ông tiến đến gần để nghe xem người ấy đang nói gì. Người ấy nói về Đức Chúa Trời, và đưa ra nhiều lý do chứng minh tại sao không có Đức Chúa Trời. Sau khi chấm dứt, người ấy thách thức những người nghe rằng: “Tôi đã đưa ra nhiều lý do chứng minh Đức Chúa Trời không hiện hữu. Nếu ai không đồng ý với những lý do đó, bây giờ người ấy có thể nêu lên những lý lẽ của mình”. Nhà truyền giảng ấy bước lên bục và nói: “Tôi không biết cách tranh luận, và cũng không thể đưa ra nhiều lý lẽ. Nhưng tôi xin kể cho các bạn một câu chuyện. Hôm qua khi băng ngang một cánh rừng, tôi nghe có người kêu lớn: “Trời ơi, cứu con, Trời ơi, cứu con!” Tôi chạy về hướng có tiếng kêu bên dòng sông và thấy một người ngồi trong một chiếc xuồng. Dòng nước chảy xiết, và chiếc xuồng đang bị cuốn trôi dần đến một thác nước. Mạng sống của người ấy đang bị đe dọa, và tôi đã cố gắng cứu người ấy rồi mang về nhà. Bây giờ tôi muốn giới thiệu người ấy cho các bạn. Người hôm qua cầu cứu Đức Chúa Trời là người hôm nay đang đứng đây nêu ra cho các bạn nhiều lý lẽ chứng minh rằng không có Đức Chúa Trời. Các bạn có thể đích thân hỏi người ấy xem tôi nói có đúng không”.

Đúng thế, nhiều người có lương tâm bị “trùm kín”. Trước khi lương tâm được tỉnh thức, họ có thể đưa ra nhiều lý do nói rằng không có Đức Chúa Trời. Nhưng đến cuối cuộc đời, khi sắp chết, và khi suy nghĩ về tương lai của mình, lương tâm của họ cho biết là có Đức Chúa Trời. Bây giờ họ có thể gạt vấn đề sang một bên. Họ có thể nói rằng mình còn trẻ và những vấn đề như vậy không quan trọng. Nhưng sẽ có một ngày khi họ bước vào cõi đời đời, lương tâm đang ngủ của họ sẽ [thức dậy] lên tiếng. Tôi từng nói rằng lương tâm có thể ngủ, nhưng sẽ không bao giờ chết. Một ngày kia, nó sẽ lên tiếng. Tuy nhiên, đến lúc ấy mới biết Đức Chúa Trời thì có thể đã quá trễ rồi.

Có hai cha con người kia tại Anh Quốc là những người vô thần nhiệt thành và mạnh mẽ. Một ngày kia, người cha sắp chết, và đang trăn trở trên giường. Ông có vẻ rất âu lo, bồn chồn. Thấy vậy, người con sợ rằng niềm tin cha mình sẽ bị rúng động, nên khuyến khích ông rằng: “Cha ơi, hãy nắm chắc”. Người cha xoay sang con hỏi trong nước mắt: “Nắm chắc cái gì?” Họ không có Đức Chúa Trời, thì có gì để cho họ nắm chắc? Nhưng chúng ta phải cảm ơn Chúa vì có một điều để chúng ta có thể nắm vững. Có một điều để chúng ta có thể dựa vào. Chúng ta biết Đấng mình đang tin.

Các bạn ơi, xin lắng nghe tiếng nói ở bên trong. Tâm trí của chúng ta thường gợi lên cho chúng ta những ý tưởng sai lầm, và bị tác động bởi những ảnh hưởng ở bên ngoài. Nhưng tiếng nói ở bên trong thì đáng tin cậy; nó đại diện cho con người thật của chúng ta. Xin lắng nghe sự thôi thúc ở bên trong.

Tôi đã tra xét vấn đề và kết luận rằng không ai sinh ra là người vô thần cả; mọi người đều trở nên người vô thần bởi ảnh hưởng của môi trường chung quanh. Đó là lý do tại sao lương tâm của chúng ta là sự chỉ dẫn có giá trị nhất, và chúng ta nên luôn luôn bước theo sự hướng dẫn của lương tâm.

LỜI CHỨNG VỀ SỰ CẦU NGUYỆN

Chúng ta đã thấy sự vĩ đại và nhỏ bé của vũ trụ, trật tự của vũ trụ và tâm lý của con người, và đã nêu lên rằng tất cả những điều ấy đều chứng minh cho sự hiện hữu của Đức Chúa Trời trong vũ trụ. Bây giờ chúng ta sẽ xem xét một phương diện khác, đó là kinh nghiệm của các Cơ Đốc nhân về Đức Chúa Trời. Trên thế giới này, các Cơ Đốc nhân biết Đức Chúa Trời nhiều nhất. Qua kinh nghiệm của họ, chúng ta có thể chứng minh sự hiện hữu của Đức Chúa Trời. Chúng ta biết Đức Chúa Trời qua việc Ngài đáp lời cầu nguyện, qua ân điển mà Ngài đã bày tỏ khi tha tội cho chúng ta, và qua sự che chở, bảo vệ đặc biệt của Ngài. Nếu không có Đức Chúa Trời thì không có những tín đồ.

Tôi sẽ kể cho bạn một ít kinh nghiệm bản thân về sự cầu nguyện. Tôi thường không nói cho những người khác biết kinh nghiệm của mình trong sự cầu nguyện, nhưng hôm nay tôi sẽ thuật lại một ít. Vào những ngày tết nguyên đán năm 1926, tôi đang công tác trong các làng mạc. Lúc ấy, một vài anh em như anh Wang Lien-chun, Si-môn Meek và Faithful Luk đang ở tại Phúc Châu chuẩn bị cho một buổi truyền giảng.

Họ mời tôi tham gia, nhưng tôi nghĩ là đã có quá nhiều người rồi, nên tôi không cần đến. Trái lại, tôi nghĩ rằng mình nên đi rao giảng tại nông thôn. Sau đó, tôi mời sáu anh em cùng đi với mình. Hai người trong số họ bây giờ đang giúp ông X. tại Vườn Kun-shan ở Thượng Hải. Một người đang ở tại Pai-ya-tan tỉnh Phúc Kiến, hai người khác đang học lái máy bay tại Amoy, và một người hiện nay ở tại Lien-jiang. Tôi đề cập đến họ vì tất cả đều liên quan đến biến cố ấy, và họ có thể làm chứng về điều này. Chúng tôi xuống thuyền đi đến một làng kia gọi là làng Hoa Mận. Nơi ấy có rất nhiều cá, và những ngư phủ tại đó kiếm được rất nhiều tiền nhờ đánh cá. Giữa vòng sáu anh em ấy có một người chỉ mới mười sáu mười bảy tuổi. Anh đã bị đuổi học. Bà mẹ đành bó tay đối với anh, và đem anh đến với chúng tôi. Trong tháng đầu tiên, chúng tôi hầu như thất vọng về anh. Nhưng qua tháng thứ hai, anh đã được cứu. Sau khi được cứu, anh muốn phục vụ Chúa. Vào tháng thứ ba, anh cùng đi với chúng tôi rao giảng tại làng Hoa Mận. Tôi đã thu xếp từ trước với một thầy giáo mà tôi quen biết ở làng ấy, để ông cho chúng tôi tạm trú tại trường học trong thời gian chúng tôi ở đó. Nhưng khi chúng tôi đến, ông giáo đuổi chúng tôi và không cho phép trú ngụ, vì ông khám phá ra rằng chúng tôi đến để giảng phúc âm. Chúng tôi đi loanh quanh tới lui mãi đến tối mà vẫn không thể tìm ra được một nơi để tạm trú. Cuối cùng chúng tôi đến một cửa tiệm thảo dược, được ông chủ tiệm sẵn lòng cho chúng tôi ở trọ, và chúng tôi tạm trú trên căn gác xép của ông.

Lần đầu tiên chúng tôi ra đi [rao giảng phúc âm] là vào buổi chiều mồng 7. Những người ở đó đều có một đặc điểm là rất lễ phép nhưng lại rất dè dặt. Trước khi chúng tôi nói dứt câu là họ đã bỏ đi rồi. Sau khi chúng tôi nói với họ được ít lời, họ yêu cầu chúng tôi đừng nói nữa. Chúng tôi hỏi lý do, nhưng họ không nói gì cả. Chúng tôi thật bối rối. Tối đến khi về nhà trọ, chúng tôi nhận thấy rằng tất cả anh em đều đồng cảm nhận như nhau và cùng kinh nghiệm những tình huống tương tự. Chúng tôi hỏi người chủ tiệm thảo dược, là người mà chúng tôi đã quen biết nhiều hơn, về kinh nghiệm của chúng tôi. Ông nói chúng tôi đừng để những chuyện ấy quấy rầy mình. Hôm sau, chúng tôi lại ra đi bán những ấn phẩm phúc âm và rao giảng phúc âm. Sau cùng, anh bạn trẻ tuổi [trong nhóm] lâm vào một tình cảnh phiền phức. Hôm đó anh ấy không còn có thể kiềm chế mình được nữa, nên đã nắm lấy một người dân làng và buộc người ấy nói cho biết trong làng đang xảy ra chuyện gì. Người ấy nói: “Anh không biết tại đây chúng tôi có bao nhiêu thần thánh rồi ư. Chúng tôi không thể nhận thêm vị thần nào nữa. Ở đây chúng tôi có một vị thần là Đại Vương, mỗi năm Ngài đều ngự ra trong cuộc rước kiệu vào ngày lễ hội. Các anh đã đến không phải lúc, vì chúng tôi sẽ có lễ hội vào ngày 11, và mọi người đều không rảnh để nghe về Giê-su của các anh. Vị thần vĩ đại này rất đáng tin cậy, đã có từ triều đại nhà Thanh. Từ đời nhà Thanh cho đến nay đã hai trăm năm rồi, và mỗi lần ngày hội đến, thời tiết luôn luôn quang đãng. Chưa có lần nào là mưa cả”. Khi nghe như vậy, anh bạn trẻ tuổi ấy nổi giận nói: “Năm nay trời sẽ mưa vào ngày hội”. Khi anh bạn ấy nói điều đó thì có nhiều thanh niên trai tráng trong làng có mặt tại đó. Nghe lời ấy, họ đều bị chấn động và nói rằng: “Những nhà truyền giảng này nói rằng năm nay trời sẽ mưa khi Đại Vương ngự ra trong cuộc rước kiệu”. Chưa đầy hai tiếng đồng hồ sau, cả làng Hoa Mận đều hay tin này. Họ loan truyền khắp nơi rằng những nhà truyền giảng tuyên bố là sẽ có mưa vào ngày vị Đại Vương ngự ra trong cuộc rước kiệu. Một số người bắt đầu đồn đãi rằng: “Nếu có mưa thì Đức Chúa Trời của họ linh ứng; nếu không mưa thì vị Đại Vương linh ứng”. Sau khi về nhà, chúng tôi nhận thức rằng lời anh bạn của chúng tôi nói không phải là một chuyện thường. Tôi nói với anh bạn trẻ tuổi ấy rằng: “Không ai có thể điều khiển được thời tiết. Làm sao anh có thể nói như vậy được?” Anh bạn ấy đáp: “Chúng ta có thể đi cầu nguyện”. Tôi nói: “Vâng, chúng ta có thể cầu nguyện. Nhưng liệu Đức Chúa Trời có đáp lời cầu nguyện của chúng ta không? Đây có phải là điều phù hợp với ý muốn của Ngài không?” Tuy nhiên, chúng tôi đều đi cầu nguyện. Bữa ăn đã được dọn ra, nhưng không ai trong chúng tôi buồn ăn. Tất cả đều đi cầu nguyện cho đến khi nỗi lo âu không còn nữa rồi chúng tôi cảm thấy bình an và tin tưởng. Sau đó, chúng tôi trở lại ăn cơm. Trong khi đang ăn, chúng tôi nói với người chủ tiệm rằng: “Tất cả chúng tôi đều biết rằng trời sẽ mưa vào ngày 11 khi vị Đại Vương được rước kiệu”. Người chủ tiệm nói: “Tôi thì không nghĩ thế. Đừng nói những chuyện vô lý như vậy nữa. Trước hết, có hơn hai ngàn gia đình tại làng Hoa Mận, và tất cả đàn ông trai tráng trong làng đều làm nghề đánh cá để sinh nhai. Các bạn tưởng họ không biết gì về thời tiết sao? Họ có thể tiên đoán thời tiết vài ngày trước. Thứ hai, xin quan tâm đến cái tiệm nhỏ bé của tôi. Tôi trông cậy vào cái tiệm này để sinh nhai. Đừng để cái tiệm của tôi lâm vào tình trạng nguy hiểm”. Tuy nhiên, tất cả chúng tôi rất bình an và tin tưởng, và chắc chắn rằng Đức Chúa Trời đã nghe lời cầu nguyện của mình. Hôm sau là ngày 10, và chúng tôi lại ra đi. Lần này, không những anh bạn trẻ tuổi ấy bảo những người khác rằng trời sẽ mưa vào ngày 11, mà tất cả chúng tôi cũng nói như thế. Tất cả chúng tôi đều nói rằng ngày hôm sau trời sẽ mưa. Khi chúng tôi cố gắng bán những văn phẩm phúc âm, họ không mua và không chịu tiếp nhận lời chúng tôi giảng. Họ đều nói: “Hãy đợi xem ngày mai điều gì sẽ xảy ra. Nếu có mưa thì Giê-su là Đức Chúa Trời. Nếu không mưa thì vị Đại Vương của chúng tôi linh ứng”.

Điều rất lạ lùng là vào đêm mồng 9, chúng tôi nhận được một lời hứa là “Đức Chúa Trời của Ê-li ở đâu?” [Ê-li là vị tiên tri Do Thái thời xưa đã cầu xin Chúa ban mưa trong cơn hạn hán và Ngài đã làm theo lời cầu nguyện của ông - LND] Điều đó liên quan đến vinh quang của Đức Chúa Trời. Vừa sang ngày 11, tức khuya mồng 10, chúng tôi lại cầu nguyện. Nếu trời không mưa sáng hôm sau, chúng tôi sẽ không thể giảng phúc âm cho hàng vạn người tại làng Hoa Mận nữa, và tại đó cánh cửa rao giảng phúc âm sẽ bị đóng lại. Không ai sẽ vào được nữa. Một hai người trong chúng tôi có đức tin yếu hơn nghĩ rằng mình nên cầu xin Đức Chúa Trời ban mưa xuống ngay lúc ấy. Đối với họ, tốt hơn là trời đổ mưa vào ngay đêm đó. Chúng tôi lên giường và thức dậy rất trễ vào sáng hôm sau. Tôi ngủ gần cửa sổ, và khi thức dậy, mặt trời chiếu thẳng vào mặt tôi. Tôi nghĩ: “Thôi rồi! Mặt trời đã xuất hiện. Chúng tôi sẽ làm gì đây?” Thậm chí tôi không buồn mặc áo vào, và vội quì xuống cầu nguyện. Sau đó, tất cả những anh em khác từng người một đều thức dậy, và mỗi người đều quì xuống cầu nguyện, thưa rằng: “Đức Chúa Trời ơi, hôm nay là ngày để Ngài biểu lộ vinh quang của Ngài. Xin ban mưa xuống và chứng minh Ngài là Đức Chúa Trời”. Chúng tôi đều cầu nguyện một cách sốt sắng, tha thiết. Về sau tất cả chúng tôi đều tự trách mình vì đã cầu nguyện một cách quá khẩn thiết như vậy [trong khi] biết rằng Đức Chúa Trời đã nghe lời cầu nguyện của chúng tôi rồi. Chúng tôi xuống gác ăn sáng. Tôi là người hướng dẫn giữa vòng họ, và để nâng cao tinh thần của anh em, tôi bảo anh bạn lo việc ẩm thực rằng: “Hôm nay không cần chuẩn bị khẩu phần ăn trưa; chúng ta sẽ không thể ra đi được vì trời sẽ mưa”. Chúng tôi cầu nguyện chúc phước cho thức ăn. Sau đó, một anh em tiếp tục cầu nguyện rằng: “Chúa ơi, nguyện Ngài gìn giữ đức tin của chúng con và chứng minh Ngài là Đức Chúa Trời”. Tất nhiên, đó là một lời cầu nguyện tự phát. Sau đó, chúng tôi đi múc cháo vào chén của mình. Tôi ngồi đối diện cửa sổ. Không bao lâu sau khi ăn xong tô cháo đầu tiên, những giọt nước mưa bắt đầu rơi xuống mái nhà gây nên những tiếng động nhỏ. Chúng tôi nhìn nhau và bắt đầu hiểu điều đang xảy ra. Chúng tôi tiếp tục ăn chén thứ hai. Tôi hỏi: “Chúng ta có nên cầu nguyện không?” Một anh em đáp: “Sao lại không? Cơn mưa này có vẻ như quá nhỏ. Trời phải mưa thật lớn để những người khác nhận thấy rằng đây là một công việc rõ ràng của Đức Chúa Trời chứ không phải là chuyện tình cờ”. Rồi chúng tôi bắt đầu cầu nguyện. Sau khi cầu nguyện xong, bầu trời tối sầm lại và cơn mưa càng nặng hạt. Tiếng mưa rơi trên mái nhà trở nên to hơn. Mưa lại càng trút xuống lớn hơn. Sau bữa ăn sáng, chúng tôi ra đứng ngoài cửa tiệm xem Đại Vương đi kiệu. Theo chương trình, cuộc rước kiệu Đại Vương bắt đầu lúc 9 giờ sáng. Nhưng từ chín giờ đến mười một giờ, mưa vẫn chưa tạnh. Vì cuộc rước kiệu không thể diễn ra sau một giờ nào đó, nên dân làng miễn cưỡng kiệu Đại Vương ra. Hôm ấy, trời mưa như trút nước, tạo nên những vũng nước sâu 6 đến 9 tấc dọc đường rước kiệu. Khi Đại Vương được rước khỏi điện thờ, cái kiệu chỉ xoay xở tiến được vài bước. Một trong những người khiêng kiệu trợt chân té xuống nước, và Đại Vương cũng bị ngã theo. Ba ngón tay và một cánh tay của vị thần bị gãy, còn đầu thì bị cong queo. Dân làng lại nâng vị Đại Vương lên, bẻ đầu lại vị trí cũ, và cố gắng đưa kiệu tiến tới trước. Lúc ấy, ở đằng sau, có tiếng những thanh niên la lớn: “Năm nay Đại Vương bị khốn đốn rồi. Năm nay Ngài gặp rắc rối rồi”. Họ la lớn trong khi rước kiệu. Cơn mưa càng lúc càng lớn hơn, và rõ ràng là họ không thể đi tiếp được nữa. Họ dời Đại Vương vào hội trường do tổ tiên của thị tộc Chan đã để lại. Vài vị bô lão trong làng bước vào và hỏi Đại Vương tại sao năm nay lại mưa. Sau cùng họ nảy ra một trò bịp bợm thật khéo! Họ xoay sở bảo mọi người rằng: “Ngay từ đầu, Đại Vương đã không có ý định đi kiệu vào ngày hôm nay. Bà con đã lầm lẫn rồi. Đại Vương phán rằng Ngài có ý định đi kiệu lúc 8 giờ tối ngày 14. Hôm nay mới là ngày 11”. Các vị bô lão đề nghị dời cuộc rước kiệu đến ngày 14. Nhưng thanh niên trai tráng lại thắc mắc: “Thế thì tại sao Đại Vương lại bị vấp ngã, và tại sao cánh tay và các ngón tay của Ngài bị gãy?”

Đến giờ ăn trưa, chúng tôi cầu nguyện Đức Chúa Trời ban cho một ngày quang đãng để chúng tôi lại ra đi công tác. Đức tin của chúng tôi trở nên mạnh mẽ, và chúng tôi cầu nguyện xin Chúa ban một trận mưa khác vào ngày 14. Sau khi ăn, chúng tôi lại đi ra rao giảng. Chiều hôm ấy, bầu trời thật quang đãng, và số sách chúng tôi mang theo không đủ đáp ứng nhu cầu. Trong chốc lát, chúng đều được bán sạch.

Chúng tôi phải rời làng và trở về nhà vào ngày 15. Vì vậy, chúng tôi cầu nguyện xin Chúa cho một bầu trời quang đãng vào ngày 12, 13 và 14 để chúng tôi có thể công tác. Chúng tôi cũng cầu nguyện rằng trời sẽ mưa vào đêm 14 để mọi người đều biết Đại Vương không phải là Đức Chúa Trời. Ngày 12, 13 và 14 đều là những ngày quang đãng. Chúng tôi quyết định lập một buổi truyền giảng phúc âm tại tiệm thảo dược vào đêm 14. Khi ấy, người chủ tiệm đã tin nhận Chúa. Cho đến ngày nay, người chủ tiệm vẫn là một anh em tốt. Vào đêm 14, trời bắt đầu mưa, và nhiều người chờ đợi bên ngoài cửa tiệm. Chúng tôi lên gác xép cầu nguyện Đức Chúa Trời ban thêm mưa. Ngợi khen Chúa, càng lúc mưa càng trở nên lớn hơn. Khi dân làng mang Đại Vương khỏi điện thờ, có mười bảy mười tám người đàn ông đi theo kiệu. Họ bị vấp ngã năm sáu lần. Nhiều thanh niên ở đàng sau hô to: “Có Đức Chúa Trời. Không có Đại Vương”. Chúng tôi hoàn thành một công tác tốt đẹp tại đó. Vào sáng ngày 15, chúng tôi rời làng trước khi trời sáng. Ngợi khen Chúa.

Chúng ta đã dâng lên nhiều lời cầu nguyện và được Chúa đáp lời. Sự đáp ứng cho những lời cầu nguyện ấy chứng minh có Đức Chúa Trời. Những kinh nghiệm thuộc linh của chúng ta chứng minh là Đức Chúa Trời chúng ta đang sống.

LÀM THẾ NÀO CON NGƯỜI CÓ THỂ GẶP ĐỨC CHÚA TRỜI?

Chúng ta không thể bỏ qua vấn đề này một cách khinh suất. Chúng ta phải hỏi: “Nếu có Đức Chúa Trời thì chúng ta nên làm gì?” Tin rằng có Đức Chúa Trời cũng chưa đủ. Xin đọc A-mốt 4:12: “Khá sửa soạn mà gặp Đức Chúa Trời ngươi”. Thưa các bạn, các bạn đã sửa soạn gặp Đức Chúa Trời của mình chưa? Nếu bạn biết có Đức Chúa Trời, bạn không thể sống một cách dại dột hay chỉ ăn không ngồi rồi. Trước hết, bạn phải chuẩn bị gặp Đức Chúa Trời của mình. Thưa các bạn, các bạn đã sẵn sàng gặp Đức Chúa Trời của mình chưa? Tôi hi vọng rằng không ai trong chúng ta vẫn còn bị những người vô thần lừa dối nữa.

Nếu có một Đức Chúa Trời, chúng ta phải làm gì để có thể gặp Ngài? Duy chỉ cần làm một việc: ấy là tin Chúa Giê-su. Đó là cách duy nhất để gặp Đức Chúa Trời vì Ngài ban ân điển cho chúng ta qua Đấng Christ. Ở ngoài Đấng Christ, mọi người đều bị kết án.

Ê-phê-sô 2:16-18 chép: “Qua thập tự giá Ngài giải hòa cả hai với Đức Chúa Trời trong một Thân thể, vì tại nơi đó Ngài đã diệt trừ sự thù nghịch rồi. Và Ngài đã đến, công bố sự bình an là phúc âm cho anh em là kẻ ở xa, và [công bố] sự bình an cho kẻ ở gần. Vì qua Ngài mà cả hai chúng ta đều đồng trong một Thánh Linh mà được vào cùng Cha”. Xin đặc biệt chú ý đến 3:12: “Trong Ngài, chúng ta nhơn đức tin đến Ngài mà có được sự dạn dĩ và đến cùng [Đức Chúa Trời] trong sự tin chắc [của mình]”. Làm thế nào chúng ta có thể gặp Đức Chúa Trời? Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng chỉ bởi tin Giê-su, chúng ta mới có sự dạn dĩ để đến với Ngài.

Có một điều ngăn cản chúng ta gặp Đức Chúa Trời, đó là tội lỗi. Một khi tội lỗi tồn tại thì chúng ta không thể thấy mặt Đức Chúa Trời. Tội lỗi xoay chúng ta khỏi Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã chuẩn bị một phương cách để chúng ta đối phó với các tội lỗi của mình, đó là sự đóng đinh của Chúa trên thập tự giá. Qua thập tự giá, Ngài cất đi những tội lỗi của chúng ta. Ngài đã chết vì những tội lỗi của chúng ta, và Ngài đã bị đánh đập vì chúng ta. Ngài đã bị treo trên thập tự giá vì những tội lỗi của chúng ta. Chúa Giê-su đã chết và sống lại. Bây giờ, ai tin Ngài cũng có thể dạn dĩ đến với Đức Chúa Trời vì bức tường ngăn cách ở giữa đã được cất đi. Nan đề tội lỗi được giải quyết, và chúng ta có thể đến với Đức Chúa Trời mà không phải sợ hãi. Một ngày kia, tất cả chúng ta đều sẽ thấy Đức Chúa Trời. Chúng ta hoặc sẽ được chấp nhận làm dân của Đức Chúa Trời hoặc bị khước từ như những kẻ thù nghịch với Đức Chúa Trời. Chúa đã chết, và mọi nan đề tội lỗi đã được giải quyết. Chúng ta hãy đến với Đức Chúa Trời và tiếp nhận Ngài. Nếu còn điều gì ngăn trở thì không ai có thể đến với Đức Chúa Trời. Những người không thể đến với Đức Chúa Trời là ai? Thưa các bạn, bạn có phải là một Cơ Đốc nhân không? Hay là một người vô thần? Tôi nài xin bạn tin nhận Chúa Giê-su. Có ai tại đây muốn tiếp nhận Giê-su Christ làm Cứu Chúa của mình không?

Thưa các bạn, xin ghi nhớ là một ngày kia các bạn sẽ trông thấy Đức Chúa Trời. Bạn sẽ không còn cách nào để trốn tránh; sau cùng bạn sẽ phải mặt đối mặt với Đức Chúa Trời. Cách ẩn núp duy nhất là ẩn núp trong Chúa! Không còn có cách nào khác nữa. Một ngày kia khi bạn đối diện với Đức Chúa Trời nhưng muốn trốn khỏi Ngài, thì có lẽ đã quá trễ. Vì vậy, tất cả những người muốn tiếp nhận Chúa nên tiếp nhận Ngài bây giờ. Đừng chậm trễ nữa.

Có thể một số người nói rằng họ không thật sự hiểu sự cứu chuộc của Chúa. Dường như họ thấy khó hiểu được thế nào huyết của Chúa lại có thể đem chúng ta đến với Đức Chúa Trời. Tất cả những gì chúng ta cần phải làm là xét lại lương tâm của mình. Trước mặt chúng ta là một phiên tòa xét xử các tội lỗi của chính mình. Cũng có một nhân chứng ở bên trong chúng ta, ấy là lương tâm của mình. Lương tâm quí báu làm chứng chống lại những tội lỗi của chúng ta. Nhiều người sợ không dám nghĩ ngợi về Đức Chúa Trời; họ cố gắng tránh xa Đức Chúa Trời vì họ có một phiên tòa như vậy trong lương tâm của mình. Họ cố gắng phủ nhận Đức Chúa Trời. Nhưng thưa các bạn, các bạn không cần phải lo sợ, vì Chúa Giê-su là Đấng Trung Gian [hòa giải] của chúng ta.

Chúa chúng ta đã rời các từng trời huy hoàng và vinh hiển để đem chúng ta đến đó. Ngài đã chịu đựng hình phạt để chúng ta có thể có sự bình an. Ngài đã chết vì chúng ta để chúng ta có thể có sự sống. Ngài đã bị khước từ để chúng ta có thể được chấp nhận. Chúng ta có thể đặt gánh nặng tội lỗi của mình xuống vì Đức Chúa Trời đã xét xử Chúa [Giê-su là Đấng chịu tội thế cho chúng ta]. Điều duy nhất chúng ta cần phải làm là tin Ngài và đến gần Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta không tin Chúa đã cất đi những tội lỗi của mình, tương lai chúng ta thật là u ám. Tôi hi vọng rằng chúng ta đều sẽ mở lòng mình tiếp nhận Chúa. Nếu làm như vậy, chúng ta sẽ nhận thấy rằng Đức Chúa Trời không còn là vị thẩm phán nữa, mà là người Cha yêu thương của mình.

Nhiều người trong chúng ta biết rằng tại nước Ý thường có những cơn động đất. Ngày kia, một cơn động đất xảy ra tại đó khiến nhiều nhà cửa sụp đổ hư hại và cây cối ngã xuống ngổn ngang. Nhiều người xách đồ đạc, bồng bế con cái mà chạy. Họ đều rất hoảng sợ. Nhưng có một bà cụ kia không chạy quanh một cách điên cuồng như những người khác; bà dựa vào cột cửa mà cười. Bà không mang theo gì cả và cũng không cố tìm một nơi an toàn để trú ẩn. Điều duy nhất bà làm là cười [khi thấy] nhiều người đang chạy để cứu mạng sống mình. Vài người hiếu kỳ hỏi bà cụ rằng: “Cụ ơi, cụ có điên không? Cơn động đất làm cho cụ điên phải không? Cụ ơi, hãy thu nhặt đồ đạc của cụ nhanh lên rồi chạy đi chứ”. Cụ vẫn cười và nói: “Tôi đã nói với các ông bà về những điều sẽ xảy đến và thúc giục các ông bà tin Chúa Giê-su Christ. Tôi từng nói rằng nếu không tin Chúa Giê-su, các ông bà sẽ xuống hồ lửa và chịu lửa lưu huỳnh. Nhưng các ông bà đã không để ý đến và không chịu lắng nghe tôi, còn xem lời nói của tôi là trò đùa. Hôm nay, Đức Chúa Trời chỉ cử động một ngón tay nhỏ của Ngài, và các ông bà lại quá hoảng sợ. Các ông các bà không biết làm gì, chạy loanh quanh một cách bất lực. Quang cảnh đó đối với tôi thật là nực cười”. Các bạn ơi, các bạn có bao giờ nghĩ đến tương lai của mình chưa? Khi ngày ấy đến, có phải các bạn sẽ như những người chạy thục mạng và vô cùng bất lực ấy không? Tất cả những ai đã tin Chúa Giê-su sẽ không bị rúng động; họ sẽ ở trong sự bình an. Bạn có sợ những cơn động đất không? Nếu bạn sợ, hồ lửa còn đáng sợ hơn biết bao? Bạn có sợ hồ lửa không? Một cơn động đất thật kinh khủng và đáng sợ, nhưng so với hồ lửa thì không là gì cả. Thưa các bạn, những cơn động đất không thể so sánh được với hồ lửa. Khi nghĩ đến một cơn động đất, xin bạn hãy nhớ đến hồ lửa. Bạn có muốn chịu sự đau đớn của hồ lửa không? Thưa các bạn, hãy đến tin nhận Chúa Giê-su để bạn có thể thoát khỏi sự đau đớn của hồ lửa và vui hưởng ơn phước từ trời.