Thông tin sách

Cầu Nguyện Để Được Khải Thị

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Cầu nguyện để được khải thị
ISBN:
Mua sách tại:

Untitled Document

CẦU NGUYỆN ĐỂ ĐƯỢC KHẢI THỊ

Kinh Thánh: Êph. 1:3-23

Khi bắt đầu nhận biết Đức Chúa Trời, công việc Ngài và kế hoạch đời đời của Ngài mà Ngài đã định trong cõi đời đời, chúng ta bắt đầu nhận thấy ánh sáng trong sách Ê-phê-sô thật phong phú, cao cả và đặc biệt. Chúng ta cần nhận thức một điều trước mặt Chúa: trong sách Ê-phê-sô, Đức Chúa Trời khiến Phao-lô dâng lên hai lời cầu nguyện. Một lời cầu nguyện được tìm thấy trong chương một, trong khi lời cầu nguyện kia được tìm thấy trong chương ba. Lời cầu nguyện trong chương một là cơ bản, trong khi lời cầu nguyện trong chương ba là vì sự xây dựng. Trong chương một, Phao-lô cầu nguyện để chúng ta nhận thức được mối liên hệ giữa mình với Chúa. Trong chương ba, ông muốn chúng ta không những nhận biết mối liên hệ giữa mình với Chúa, mà cũng nhận biết mối liên hệ giữa mình với Hội thánh. Bây giờ chúng ta sẽ nói về lời cầu nguyện của Phao-lô trong chương một.

Trong câu 17, Phao-lô cầu nguyện: “Xin Đức Chúa Trời của Chúa Giê-su Christ chúng ta, là Cha của vinh quang, ban cho anh em linh của sự khôn ngoan và khải thị để hiểu biết đầy đủ về Ngài”. Vì sao Phao-lô muốn các tín đồ có linh khôn ngoan và khải thị? Ông muốn họ có linh ấy để nhận biết những điều sau:

(1) “Hiểu biết đầy đủ về Ngài” (c. 17). Đó là biết chính Đức Chúa Trời.

(2) “Hi vọng về sự kêu gọi của Ngài, và sự phong phú thuộc vinh hiển của cơ nghiệp Ngài trong các thánh đồ là gì” (c. 18). Điều này chỉ về kế hoạch đời đời của Đức Chúa Trời và sự hoàn thành kế hoạch ấy. Đức Chúa Trời kêu gọi chúng ta để trở nên con cái Ngài. Những người con này là cơ nghiệp của Ngài. Sự kêu gọi của Ngài đã được thực hiện trước buổi sáng thế. Trong cõi đời đời sắp đến, Ngài sẽ có một cơ nghiệp trong các thánh đồ, một cơ nghiệp đầy dẫy sự phong phú về vinh hiển. Trong cõi đời đời quá khứ Đức Chúa Trời đã quyết định, và trong cõi đời đời tương lai, Ngài sẽ đạt được kết quả. Hai điều này hợp lại với nhau tạo nên kế hoạch đời đời của Đức Chúa Trời và mục tiêu của kế hoạch ấy. Phao-lô cố gắng bày tỏ cho chúng ta kế hoạch đời đời của Đức Chúa Trời.

(3) “Sự lớn lao vượt trổi của quyền năng Ngài đối với chúng ta là những người tin” (c. 19). Đây chỉ về loại quyền năng Đức Chúa Trời sử dụng ngày nay để đạt đến mục tiêu của Ngài và hoàn thành kế hoạch của Ngài. Ngày nay, vấn đề này liên quan đặc biệt đến mối liên hệ của chúng ta với Ngài và kế hoạch đời đời của Ngài. Chúng ta phải nhận biết những điều ấy và phải nhận lãnh khải thị từ nơi Chúa về những điều ấy.

HIỂU BIẾT ĐẦY ĐỦ VỀ NGÀI

Phao-lô xin Đức Chúa Trời ban cho chúng ta linh của sự khôn ngoan và sự khải thị để nhận biết ba điều này. Điều đầu tiên là để “hiểu biết đầy đủ về Ngài”. Thật kỳ diệu khi chúng ta có thể hiểu biết đầy đủ về Đức Chúa Trời.

Khi Phao-lô ở A-thên, ông đi ngang qua một bàn thờ, trên đó có ghi: “THẦN CHƯA BIẾT” (Công. 17:23). Trong tâm trí của người A-thên, không cách nào biết được Đức Chúa Trời. Họ không thể biết Đức Chúa Trời bằng tâm trí hay qua các triết lý của mình. Họ có thể tạo thành một giả thuyết và suy đoán, nhưng họ vẫn không biết Đức Chúa Trời. Cũng giống như một số người ngày nay miệng nói có Đức Chúa Trời, nhưng không biết Ngài.

Trước khi Chúa Giê-su chết, Ngài phán: “Và, đây là sự sống đời đời, ấy là họ nhận biết Cha là Đức Chúa Trời thực hữu duy nhất, cùng Giê-su Christ, Đấng mà Cha đã sai đến” (Gi. 17:3). Ngài bày tỏ cho chúng ta sự sống đời đời là gì. Sự sống đời đời là nhận biết Đức Chúa Trời. Các thánh đồ Ê-phê-sô đã biết Đức Chúa Trời, chúng ta không thể nói rằng họ không biết gì về Đức Chúa Trời. Rõ ràng họ biết Đức Chúa Trời, vì họ đã có sự sống đời đời rồi. Nhưng trong lời cầu nguyện thứ nhất của mình, Phao-lô cầu xin Đức Chúa Trời “ban cho anh em linh khôn ngoan và khải thị để hiểu biết đầy đủ về Ngài”. Trong khi người A-thên không biết gì về Đức Chúa Trời, lời cầu nguyện này bày tỏ rằng Cơ Đốc nhân, là người đã nhận lãnh sự sống đời đời và đã biết Đức Chúa Trời từ đầu, vẫn có thể không hiểu biết đầy đủ về Ngài.

Ngay sau khi chúng ta tin Chúa, hay một vài năm sau khi tin Chúa, chúng ta không thể nói mình không biết chút gì về Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, chúng ta thường lệ thuộc rất nhiều vào tâm trí hay cảm xúc để giúp đỡ mình tiến lên trong cuộc hành trình [thuộc linh]. Chúng ta biết chút ít về Đức Chúa Trời. Nhưng ngoài sự hiểu biết ít oi ấy, chúng ta lệ thuộc rất nhiều vào tư tưởng và ý kiến của mình. Nếu không có các tư tưởng và ý kiến ấy hỗ trợ, chúng ta cảm thấy kiến thức của mình về Đức Chúa Trời không bảo đảm và lý luận của chúng ta không vững chắc. Vì vậy, chúng ta thường cần sự hỗ trợ của tâm trí để duy trì đời sống Cơ Đốc của mình. Dường như khi gặp bế tắc trong lý luận hay giáo lý, chúng ta không thể tiến lên nếu thiếu sự giúp đỡ của tâm trí mình. Vào những lúc khác, chúng ta cần cảm xúc, những cảm xúc ấm áp, những cảm xúc vui mừng và những cảm xúc phấn khởi. Chúng ta cần những cảm xúc thêm vào kiến thức của mình trước khi có thể tiến lên.

Tuy nhiên, một ngày kia, Đức Chúa Trời ban cho chúng ta linh của sự khôn ngoan và khải thị. Khi ấy, Ngài bày tỏ chính Ngài cho chúng ta một cách tươi mới, đặc biệt và sâu xa, để chúng ta có thể nói rằng không những chúng ta biết Ngài, nhưng còn biết Ngài cách đầy đủ. Khi ấy chúng ta có thể tuyên bố: “Bây giờ tôi biết. Tôi đã thấy, và sáng tỏ. Tôi không cần một sự hỗ trợ nào cả. Tôi không cần tâm trí hay cảm xúc hỗ trợ cho mình nữa. Bây giờ tôi đã hiểu biết đầy đủ về Đức Chúa Trời”.

Có lẽ một vài người trong anh em không hiểu điều tôi muốn nói. Tôi xin minh họa điều này bằng một vài ví dụ. Một Cơ Đốc nhân từng nói: “Tôi đã tin Chúa hai mươi hai năm. Trong hai năm đầu, tôi cố gắng nhiều để tin. Nếu anh em hỏi tôi đã được cứu chưa, tôi có thể nói dứt khoát với anh em là tôi đã được cứu; không ai có thể nói tôi chưa được cứu. Tôi biết mình đã được cứu, và tôi biết mình đã có sự sống đời đời. Nhưng có một nan đề: khi những người khác hỏi tôi có tin Đức Chúa Trời không, tôi phải cố gắng nói với họ rằng tôi tin. Dường như tôi cố nắm lấy lòng tin của mình, nếu tôi không nắm chặt lấy nó, tôi sẽ trở nên như không phải là Cơ Đốc nhân vậy. Lòng tin tưởng nơi Chúa của tôi là một sự tin cậy mỏi mệt. Tôi có tin Đức Chúa Trời không? Có, tôi tin. Nhưng tôi có biết Ngài không? Không, tôi không biết. Tôi cần nhiều lý do và giáo lý để hỗ trợ cho lòng tin của mình. Tôi chỉ có thể bình an khi tìm được đủ lý do để bảo đảm là mình đúng và khi tìm được những giáo lý đúng. Chỉ khi ấy tôi mới có thể nói với những người khác về đức tin của mình. Tôi cần sự hỗ trợ của tâm trí để làm một Cơ Đốc nhân. Nhưng ngày nay, tôi có thể làm chứng rằng tôi không giống như vậy nữa. Tôi có thể nói tôi biết Đức Chúa Trời của mình. Tôi không cần lý luận để hỗ trợ đức tin mình, và tôi không cần bất cứ bằng cớ nào ở bên ngoài để bảo vệ lòng tin của mình”.

Anh chị em ơi, khi chúng ta thật sự biết Đức Chúa Trời thì cũng giống như vậy. Sự hiểu biết này đến từ sự khải thị. Đó không phải là vấn đề dạy dỗ minh bạch, nhưng là vấn đề thuộc sự hiểu biết bên trong. Sự hiểu biết này không giống như sự hiểu biết chúng ta có khi mới tin, phải nắm giữ cách cẩn thận, giống như cầm một tách đầy nước, nếu không nó sẽ đổ. Nhiều người tin Chúa Giê-su theo cách giống như cầm một tách nước đầy; họ bước đi rất cẩn thận. Họ sợ nghe điều này hay điều kia. Nhưng một ngày kia, Đức Chúa Trời ban cho họ một khải thị, và họ biết Ngài; họ bắt đầu có sự hiểu biết đầy đủ về Ngài, và họ thật sự thấy Ngài. Khi ấy, họ không còn có nan đề gì nữa. Anh chị em ơi, nếu anh chị em thật sự biết Ngài, đức tin của cả thế giới sẽ không giúp đỡ mình, và lòng vô tín của cả thế giới cũng không làm cho mình rúng động. Dầu những cuộc tranh luận của người khác nghe có vẻ hợp lý, dầu họ nói Kinh Thánh sai, dầu họ có nhiều lý luận làm người ta không tin hơn là tin, nhưng không lý luận nào có thể khiến anh chị em rúng động. Anh chị em có thể dạn dĩ tuyên bố: “Tôi biết ở bên trong. Sự hiểu biết của tôi sâu xa hơn tâm trí mình. Sự hiểu biết của tôi sâu xa hơn cảm xúc của mình. Không một điều gì ở bên ngoài có thể làm rúng động sự hiểu biết bên trong này”.

Đây thật là vấn đề vô cùng quan trọng. Nhiều Cơ Đốc nhân sống theo cảm xúc. Nếu họ cảm thấy hạnh phúc và vui vẻ, họ nói Đức Chúa Trời thật nhân từ đối với họ. Nếu họ cảm thấy nguội lạnh, lãnh đạm, và nếu họ cảm thấy mọi sự đều nhạt nhẽo, hầu như họ nói: “Đức Chúa Trời ở đâu? Khó nhận biết Ngài quá!” [Đời sống thuộc linh của] nhiều người được duy trì bởi cảm xúc. Một khi cảm xúc ra đi, họ chao đảo và rúng động. Sở dĩ như vậy là vì họ không hiểu biết Ngài cách đầy đủ. Đức Chúa Trời phải dẫn chúng ta đến chỗ chúng ta không còn quan tâm đến việc mình cảm thấy lạnh hay nóng, lãnh đạm hay phấn khởi, vì chúng ta đã biết Đức Chúa Trời. Sự hiểu biết của chúng ta sâu hơn niềm vui, sự đau đớn hay bất kỳ một cảm giác nào. Mặc dầu bề ngoài có thể có niềm vui, sự đau đớn hay một cảm giác nào đó, nhưng không cảm giác nào làm cho chúng ta thay đổi, vì ở bên trong chúng ta biết Ngài. Anh chị em ơi, chỉ có những Cơ Đốc nhân như vậy mới đứng vững, chỉ có những Cơ Đốc nhân như vậy mới không bị rúng động. Đức Chúa Trời chỉ có thể sử dụng loại người này.

Có anh em kia tin Chúa chưa được bao lâu thì một người nói với anh ấy rằng trong Kinh Thánh có nhiều điểm sai lầm. Anh lo âu đến nỗi suýt khóc. Anh tin rằng Kinh Thánh đúng, và anh tin rằng không thể có điều gì sai trong Kinh Thánh. Nhưng những người khác chỉ cho anh một vài chỗ khiến anh hơi lo ngại. Anh lo rằng điều gì sẽ xảy ra nếu Kinh Thánh thật sự sai lầm. Anh đề cập điều này với một chị em lớn tuổi hơn. Anh nghĩ rằng chắc chắn chị ấy sẽ lo ngại nếu chị nghe nói về một vài sai lầm trong Kinh Thánh vì chị rất yêu Chúa và Kinh Thánh. Nhưng trước sự ngạc nhiên của mình, sau khi anh đề cập đến vấn đề ấy, chị phản ứng như không có chuyện gì xảy ra. Chị chỉ nói: “Điều đó không quan trọng”.

Anh suy nghĩ: “Không quan trọng đối với chị, nhưng quan trọng đối với tôi”. Anh nài ép chị trả lời. Cuối cùng chị đáp rằng sự hiểu biết của một người về Đức Chúa Trời không tùy thuộc vào việc những câu hỏi như vậy có được trả lời hay không. Anh suy nghĩ: “Có lẽ một người già như chị không cần suy nghĩ về những câu hỏi này. Nhưng tôi là một người trẻ, tôi có một tâm trí biết suy nghĩ. Tôi không thể để vấn đề này trôi qua cách dễ dàng”. Về sau, anh ấy để ra một năm học Kinh Thánh và nghiên cứu những lời tuyên bố không có bằng chứng. Cuối cùng, anh tìm được bằng cớ để chứng minh Kinh Thánh đúng đắn và không có gì sai lầm cả. Anh cảm thấy một khối đá lớn được cất đi khỏi lòng mình. Thật ra, nếu biết Đức Chúa Trời, anh không cần phải mất thì giờ lo lắng. Anh chị em ơi, nếu chúng ta biết Đức Chúa Trời cách đầy đủ, thì dầu thêm bao nhiêu câu hỏi khác đưa đến, cũng chẳng có khối đá nào làm nặng lòng chúng ta, không điều gì có thể quấy rầy chúng ta. Những người khác có thể minh chứng thế này, thế kia, nhưng các Cơ Đốc nhân có thể minh chứng một điều: Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời. Chúng ta biết Đức Chúa Trời của mình. Ngài rất thật. Một khi chúng ta biết, thì chúng ta biết. Nếu chúng ta biết Ngài cách đầy đủ, mọi nan đề sẽ ra đi. Đó không phải là vấn đề những lý luận đầy sức thuyết phục hay giáo lý minh bạch, nhưng là vấn đề khải thị. Sự khải thị là điều không thể thiếu được. Chúng ta phải cầu xin Đức Chúa Trời ban cho chúng ta một linh của sự khải thị, để chúng ta có thể hiểu biết Ngài cách đầy đủ. Sự hiểu biết này là nền tảng cho một tín đồ, và là điều rất cần thiết.

NHẬN BIẾT SỰ KÊU GỌI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI VÀ CƠ NGHIỆP CỦA NGÀI

Không những Đức Chúa Trời muốn chúng ta biết Ngài mà Ngài còn muốn chúng ta biết sự kêu gọi của Ngài. Ngài muốn chúng ta biết sự kêu gọi của mình là gì và cơ nghiệp Ngài trong các thánh đồ là gì. Nói cách khác, không những Đức Chúa Trời muốn chúng ta biết Ngài, nhưng Ngài muốn chúng ta biết những gì Ngài đang làm từ cõi đời đời đến cõi đời đời. Ngài muốn chúng ta biết kế hoạch đời đời của Ngài và mục đích của kế hoạch ấy.

Thư Ê-phê-sô nói về những điều kéo dài từ cõi đời đời đến cõi đời đời. Thư này bày tỏ kế hoạch đời đời của Đức Chúa Trời. Phao-lô nói về sự kêu gọi của Đức Chúa Trời, cơ nghiệp Ngài trong các thánh đồ, và quyền năng Ngài đối với chúng ta là những người tin. Điều này cho thấy khi một người thật sự hiểu kế hoạch đời đời của Đức Chúa Trời, và khi người ấy thấy những gì Đức Chúa Trời đang làm từ cõi đời đời đến cõi đời đời, người ấy sẽ nhận thức rằng kế hoạch đời đời của Đức Chúa Trời có liên quan đến mọi người được kêu gọi. Điều này cũng liên quan đến cơ nghiệp mà Đức Chúa Trời có được trong các thánh đồ, và liên quan đến quyền năng mà Ngài bày tỏ giữa vòng họ. Điều này cho chúng ta thấy kế hoạch đời đời của Đức Chúa Trời không phải là một điều gì trừu tượng, hay không quan trọng, không cần thiết, hay là điều gì mà một người có thể lẩn tránh. Anh chị em ơi, kế hoạch đời đời của Đức Chúa Trời liên quan rất nhiều đến mỗi người trong chúng ta. Khi chúng ta nói về kế hoạch đời đời của Đức Chúa Trời, đừng nghĩ rằng đây là một điều không thể dò lường được, hay không thể hiểu được. Không, kế hoạch đời đời của Đức Chúa Trời liên hệ rất nhiều đến sự kêu gọi của chúng ta, liên hệ rất nhiều đến cơ nghiệp của Đức Chúa Trời, và liên hệ rất nhiều đến quyền năng của Đức Chúa Trời và sự hành động của quyền năng ấy trong chúng ta.

Trước hết, chúng ta hãy xem xét sự kêu gọi của Đức Chúa Trời và cơ nghiệp của Ngài, sau đó, chúng ta sẽ xem xét quyền năng được bày tỏ cho chúng ta là những người tin.

Trước hết, chúng ta hãy xem sự kêu gọi của Đức Chúa Trời. Câu 18 chép: “[Xin] mắt của lòng anh em được soi sáng, để anh em có thể biết được hi vọng về sự kêu gọi của Ngài là gì”. Tôi không biết có bao nhiêu Cơ Đốc nhân biết rằng có một hi vọng ở trước mắt họ. Nhiều người chỉ hi vọng về thiên đàng. Cảm tạ Chúa vì có thiên đàng, đúng là có thiên đàng. Nhưng ấy không phải là mục tiêu mà vì đó Đức Chúa Trời đã kêu gọi chúng ta. Đó không phải là hi vọng về sự kêu gọi của Ngài. Như vậy, sự kêu gọi đó là gì? Câu 4 chép: “Cũng như trước sự sáng thế Ngài đã lựa chọn chúng ta trong Đấng Christ, để chúng ta trở nên thánh khiết và không tì vết trước mặt Ngài trong tình yêu thương”. Đó là sự kêu gọi của Ngài. Sự kêu gọi của Đức Chúa Trời là để chúng ta giống Ngài. Về mặt tích cực, ấy là trở nên thánh khiết, và về mặt tiêu cực, là không tì vết và không chỗ trách được. Anh chị em ơi, đó là một sự kêu gọi lớn lao biết bao! Nếu anh chị em chưa bao giờ yếu đuối, và chưa bao giờ nhận biết rằng mình vi phạm, thì anh chị em sẽ không thấy sự kêu gọi này đặc biệt dường nào. Nhưng nếu anh chị em biết chút ít về sự yếu đuối, vô giá trị và sai lầm của mình, anh chị em sẽ nhận thức sự kêu gọi này quí báu biết bao. Anh chị em sẽ nói: “Cảm tạ Chúa. Ngài đã kêu gọi con để trở nên thánh khiết và không tì vết; Ngài đã kêu gọi con để trở nên không chỗ trách được và hoàn hảo như chính Ngài”. Cảm tạ Chúa, một ngày nào đó, Ngài sẽ đạt được mục tiêu mà vì đó Ngài đã chọn lựa chúng ta. Ngày nay, anh chị em yếu đuối và vô giá trị đến đâu cũng không quan trọng, anh chị em có nhiều khuyết điểm và lỗi lầm đến đâu cũng không quan trọng. Tạ ơn Chúa, một ngày kia, Ngài sẽ đem chúng ta đến chỗ đứng trước mặt Ngài, thánh khiết và không có tì vết giống như Ngài. Đức Chúa Trời đã lựa chọn chúng ta vì điều ấy, và đó là điều Ngài đã kêu gọi chúng ta bước vào. Vì Ngài đã ấn định điều này, chắc chắn Ngài sẽ hoàn thành. Bây giờ chúng ta đã biết mình có hi vọng gì trước mặt Đức Chúa Trời. Chúng ta có hi vọng, và hi vọng của chúng ta là trở nên giống Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã lựa chọn và kêu gọi chúng ta vì điều ấy.

Thứ hai, chúng ta hãy xem xét cơ nghiệp của Đức Chúa Trời trong các thánh đồ. Câu 18 chép: “Xin mắt của lòng anh em được soi sáng, để anh em có thể biết được... sự phong phú thuộc vinh hiển của cơ nghiệp Ngài trong các thánh đồ là gì”. Đức Chúa Trời có cơ nghiệp gì trong các thánh đồ? Các thánh đồ là cơ nghiệp của Đức Chúa Trời, họ là tài sản của Ngài. Câu này không nói rằng Đức Chúa Trời đã ban cho các thánh đồ một cơ nghiệp. Trái lại, câu này nói các thánh đồ đã trở nên cơ nghiệp của Đức Chúa Trời. Phao-lô nói Đức Chúa Trời có một cơ nghiệp trong các thánh đồ. Một cơ nghiệp như vậy thật vinh quang, không những vinh quang mà còn là sự phong phú về vinh quang.

Trong Ê-phê-sô 1:5 và 11, từ ngữ định trước được sử dụng. Câu 5 chép: “Theo niềm vui thích tốt lành của ý chỉ Ngài, Ngài đã định trước chúng ta qua Giê-su Christ đạt đến quyền làm con cho chính Ngài”. Câu này cho biết địa vị làm con của chúng ta là điều đã được định trước. Câu 11 chép: “Ấy cũng trong Ngài mà chúng ta được chỉ định làm một cơ nghiệp, đã được định trước theo mục đích của Đấng hành động mọi sự theo quyết nghị của ý chỉ Ngài”. Câu này cho biết chúng ta đã được định trước để trở nên cơ nghiệp của Ngài. Dầu có liên quan với nhau, câu 5 và câu 11 hơi khác nhau một chút.

Đức Chúa Trời có một kế hoạch đời đời kéo dài từ cõi đời đời đến cõi đời đời. Kế hoạch của Ngài là có được nhiều con. Nhiều người không nhận biết vấn đề quyền làm con là lớn lao dường nào. Nhưng chúng ta phải nhận biết rằng mục tiêu của Đức Chúa Trời là có nhiều con. Kế hoạch của Đức Chúa Trời liên quan đến các con. Ga-la-ti 4:6 chép: “Lại vì anh em là con, nên Đức Chúa Trời đã sai Linh của Con Ngài vào lòng chúng ta, kêu rằng: ‘A-ba, Cha!’ ” Điều này bày tỏ Đức Chúa Trời đã đặt Linh của Con Ngài vào trong chúng ta vì mục đích làm cho chúng ta trở nên con Ngài. Hê-bơ-rơ 2:10 chép: “Vì Đấng mà mọi sự là vì Ngài và mọi sự đều do Ngài, là [Đấng] thích hợp trong việc dẫn dắt nhiều con vào trong vinh quang”. Điều này cho thấy khi Đức Chúa Trời đạt đến mục tiêu của Ngài, nhiều con sẽ ở trong vinh quang. Đức Chúa Trời đang dẫn dắt nhiều con vào trong vinh quang. Mục đích của Ngài là có được nhiều con. Ngài gọi những người con này là cơ nghiệp của Ngài. Trong Ê-phê-sô chương 1, Đức Chúa Trời bày tỏ cho chúng ta thấy, một mặt, Ngài định trước chúng ta là con (c. 5), mặt khác, Ngài định trước chúng ta là cơ nghiệp của Ngài (c. 11).

Cơ nghiệp của Đức Chúa Trời là gì? Cơ nghiệp của Đức Chúa Trời là một điều gì đó thuộc về Ngài. Đức Chúa Trời đã định trước chúng ta đạt đến quyền làm con, và Ngài cũng định trước chúng ta là cơ nghiệp Ngài. Mỗi người trong chúng ta đều thuộc về Đức Chúa Trời. Phao-lô cầu xin cho mắt chúng ta được soi sáng để biết sự phong phú về vinh quang của cơ nghiệp Ngài trong các thánh đồ. Vinh quang này là gì? Vinh quang này nghĩa là giống như Đức Chúa Trời và tôn vinh Ngài. Đó là điều Đức Chúa Trời ao ước. Ngài đã lựa chọn chúng ta để làm dân của Ngài, cơ nghiệp Ngài và các con Ngài. Nguyện Chúa mở mắt chúng ta để thấy điều này vinh hiển biết bao!

Không những chúng ta cần phải biết Ngài, mà còn cần phải biết công việc, kế hoạch, và mục tiêu của Ngài. Để có sự hiểu biết ấy, chúng ta cần một khải tượng. Không có khải tượng, chúng ta chỉ thấy chút ít, giới hạn và tạm thời. Về công tác thuộc linh, chúng ta thường có gánh nặng với những đề án nhỏ bé trong tay mình. Chúng ta vui mừng khi thấy công việc mình có kết quả tốt, và buồn rầu khi không thấy những thành quả tốt của công tác mình. Cái nhìn của chúng ta bị giới hạn trong một lãnh vực nhỏ bé, và chúng ta không thấy những điều rộng lớn hơn trước mắt Chúa. Những gì chúng ta thấy thật là vụn vặt. Chúng ta giống như cậu bé có một tờ giấy bạc mười đô-la trong tay. Đồng tiền ấy chiếm lòng cậu bé. Đó là toàn bộ tài sản của cậu. Nhiều khi mắt chúng ta cũng nhỏ bé như vậy, chúng ta không nhìn thấy những điều đời đời. Chúng ta phải nhận biết rằng Đức Chúa Trời nhìn từ cõi đời đời đến cõi đời đời. Ngài ao ước mở mắt chúng ta và giải cứu chúng ta khỏi tình trạng hẹp hòi. Con người quá hẹp hòi. Chúng ta quá hẹp hòi và công việc trong tay chúng ta cũng quá nhỏ hẹp. Đức Chúa Trời muốn giải cứu chúng ta khỏi lãnh vực nhỏ hẹp này. Ngài muốn chúng ta thấy hi vọng về sự kêu gọi của Ngài và sự phong phú về vinh quang của cơ nghiệp Ngài trong các thánh đồ. Đây không những là vấn đề nhu cầu của con người, mà còn là vấn đề nhu cầu của Đức Chúa Trời. Vì sao chúng ta phải rao giảng phúc âm? Chúng ta rao giảng phúc âm không những vì con người có nhu cầu, nhưng thậm chí vì Đức Chúa Trời còn có nhu cầu lớn hơn. Đừng nghĩ rằng phúc âm ân điển và phúc âm vương quốc là hai phúc âm khác nhau. Không, đó không phải là hai phúc âm khác nhau, mà là một phúc âm với hai khía cạnh. Về phương diện con người, đó là phúc âm ân điển. Về phương diện Đức Chúa Trời, đó là phúc âm vương quốc. Đức Chúa Trời muốn qui tụ nhiều người về với chính Ngài và có nhiều người hoàn thành mục đích của Ngài. Vì lý do ấy, chúng ta không chỉ nên đặt công tác mình trên cái nhìn của con người mà thôi, nhưng trên cái nhìn của Đức Chúa Trời nữa. Đức Chúa Trời muốn có một dân tộc. Ngài muốn có loài người để tôn vinh chính Ngài. Việc chúng ta rao giảng phúc âm và chinh phục con người là vì mục đích đáp ứng nhu cầu này của Đức Chúa Trời. Vì vậy, con cái Đức Chúa Trời cần có một khải tượng, một khải tượng của cõi đời đời. Một khải tượng thay đổi công tác, quan điểm và đời sống Cơ Đốc của chúng ta. Một khi nhìn thấy khải tượng, chúng ta không còn ở trong công tác vụn vặt của mình nữa. Chúng ta không thể nắm giữ những quan niệm và phương pháp quá khứ, chúng ta không thể luôn luôn bận tâm với những điều được và mất nhỏ nhặt của mình.

Một vài anh chị em đã nghe về kế hoạch và mục đích của Đức Chúa Trời. Nhưng khi quay sang công tác và rao giảng phúc âm, họ nói: “Tôi không biết làm thế nào để liên hệ công tác của mình với kế hoạch của Đức Chúa Trời. Khi bận rộn với công tác và khi hai tay đang làm việc, tôi không còn nhìn thấy những gì tôi đã nghe về kế hoạch và mục đích đời đời của Đức Chúa Trời. Kế hoạch và mục đích của Ngài lu mờ và biến mất. Đang khi nghe thì tôi rất sáng tỏ. Nhưng chỉ trong vòng một thời gian ngắn, tôi quên tất cả”. Chúng ta phải nhận thức rằng mình dễ quên những gì mình nghe, nhưng không dễ quên những gì mình thấy. Quên giáo lý là điều rất dễ, nhưng chúng ta không dễ gì quên một khải tượng. Vì vậy, vấn đề nằm ở chỗ chúng ta có thấy gì không, và mắt của lòng chúng ta có được mở ra không. Nếu Đức Chúa Trời đã mở mắt lòng chúng ta, và nếu chúng ta thật thấy sự kêu gọi, cơ nghiệp, kế hoạch và mục đích của Ngài, tự phát chúng ta sẽ thấy tất cả công tác của mình, cả lớn lẫn nhỏ đều phải liên hệ đến kế hoạch của Ngài. Nếu không liên hệ đến kế hoạch của Ngài, chúng không thể được kể là công tác của Đức Chúa Trời.

Chúng ta cần được Đức Chúa Trời mở mắt và ban cho mình một khải tượng. Đó sẽ là một sự giải cứu lớn lao. Điều này sẽ giải cứu chúng ta ra khỏi chính mình và thế giới nhỏ hẹp của mình. Chúng ta sẽ cảm thấy hễ khi nào công tác của cõi đời đời chưa xong, thì mình chưa thể nghỉ được. Một khi kế hoạch đời đời của Đức Chúa Trời chưa hoàn thành, chúng ta không thể thỏa mãn. Sự hứa nguyện của lòng chúng ta, gánh nặng trên vai chúng ta và công tác trong tay chúng ta sẽ không là gì khác hơn điều Đức Chúa Trời muốn làm. Ngay cả sự chuyển động của một viên đá cũng phải hướng về việc xây dựng một công tác kéo dài từ cõi đời đời đến cõi đời đời. Nguyện Chúa ban cho chúng ta ân điển để duy trì khải tượng này. Chúng ta dễ đánh mất những gì mình thấy về khải tượng này. Công tác của chúng ta rất dễ thiếu khải tượng này. Không nhất thiết Đức Chúa Trời muốn chúng ta làm những việc lớn. Tuy nhiên, bất cứ điều gì chúng ta làm phải nằm trong lãnh vực rộng lớn ấy, phải được kết hợp với mục tiêu vĩ đại ấy, và phải là một phần của công tác lớn lao ấy. Khó có thể xác định là phải chăng công tác của cả đời sống chúng ta chỉ bao gồm những điều nhỏ bé mà mình đang làm. Nhưng nếu điều nhỏ bé ấy là những gì Đức Chúa Trời muốn chúng ta làm, thì đó thật sự là công tác vĩ đại vì chắc chắn đó là một phần công tác mà Đức Chúa Trời đang thực hiện từ cõi đời đời đến cõi đời đời.

NHẬN BIẾT QUYỀN NĂNG CỦA NGÀI

Ê-phê-sô bàn đến một điều gì đó kéo dài từ cõi đời đời đến cõi đời đời. Về một mặt, chúng ta thấy cõi đời đời quá khứ. Trong cõi đời đời quá khứ, Đức Chúa Trời có một sự định trước, một kế hoạch và một ý muốn. Mặt khác, chúng ta nhìn thấy cõi đời đời tương lai. Trong cõi đời đời tương lai, Đức Chúa Trời sẽ hoàn thành mục đích riêng của Ngài, và đạt được những gì Ngài theo đuổi. Ở giữa hai cõi đời đời, tức là trong cõi thời gian, Ngài đang làm gì? Ngài đang làm gì để hoàn thành điều Ngài quyết định làm trong cõi đời đời quá khứ và điều Ngài sẽ đạt được trong cõi đời đời tương lai?

Lời cầu nguyện của Phao-lô có hai phương diện, phương diện chủ quan và phương diện khách quan. Về phương diện khách quan, ông cầu xin để chúng ta được hiểu biết đầy đủ về Đức Chúa Trời và biết hi vọng về sự kêu gọi của Ngài và sự phong phú về vinh quang của cơ nghiệp Ngài trong các thánh đồ. Về phương diện chủ quan hay trong kinh nghiệm, ông cầu xin cho chúng ta được “biết sự lớn lao vượt trổi của quyền năng Ngài đối với chúng ta là những người tin”. Sau khi biết Đức Chúa Trời và công việc Ngài từ cõi đời đời đến cõi đời đời, chúng ta sẽ thấy quyền năng Ngài trong chúng ta, và chỉ khi ấy, phương diện chủ quan sẽ bắt đầu. Trước hết, chúng ta cần nhìn thấy cách khách quan, và sau đó, chúng ta cần sự hành động [của Ngài] trong kinh nghiệm của mình. Nhiều Cơ Đốc nhân đã bỏ một trong hai phương diện này, họ đã hoàn toàn bỏ lơ một trong hai phương diện. Họ nghĩ rằng mình có thể bỏ sự nhận biết Đức Chúa Trời và ý muốn đời đời của Ngài sang một bên, và họ cho việc nhận lấy quyền năng từ Đức Chúa Trời cho chính mình là ưu tiên, để họ có thể thánh khiết hơn, đắc thắng hơn và thuộc linh hơn trong chính mình. Họ chú ý đến chính mình, chứ không phải là Đức Chúa Trời. Nhưng trọng tâm của Đức Chúa Trời thì khác: qua sự hiểu biết của chúng ta về Ngài và mục đích đời đời của Ngài, Ngài sẽ hành động trong chúng ta đến mức chúng ta sẽ hoàn thành mục đích đời đời của Ngài. Đức Chúa Trời hành động trong chúng ta vì mục đích hoàn thành ý muốn đời đời của Ngài. Tất cả những sự đắc thắng và công tác cá nhân đều để hoàn thành mục tiêu đời đời của Đức Chúa Trời.

Giữa vòng các con cái Đức Chúa Trời, nhiều người đã đảo lộn thứ tự này. Họ chú ý đến những điều cá nhân. Họ quan tâm đến sự đắc thắng của bản thân, sự thánh khiết của bản thân và sự trả lời cho những lời cầu nguyện của bản thân. Đã đành những người không có lòng tìm kiếm Chúa là như vậy, nhưng những người đang tìm kiếm, hi vọng tiến lên một cách đúng đắn trước mặt Chúa cũng làm như thế. Nhiều lúc, họ chỉ ao ước những nan đề cá nhân được giải quyết trước mặt Đức Chúa Trời. Họ chú tâm vào những nan đề của bản thân. Họ chỉ ao ước và hi vọng Đức Chúa Trời giải cứu và giải thoát mình để họ sống một cuộc đời bình an và hạnh phúc. Nhiều người lấy mình làm trung tâm. Cuộc sống của họ xoay chung quanh chính mình, và họ chỉ chú ý đến chính mình.

Đúng là Đức Chúa Trời cần hành động trên chúng ta, và chúng ta cần sự đắc thắng, thánh khiết, quyền năng, sức mạnh, tự do và sự giải cứu có tính cách cá nhân. Nhưng kết quả không phải chỉ là như vậy. Trước hết, Đức Chúa Trời muốn chúng ta nhìn thấy khải tượng và biết mục tiêu của công tác Ngài, và sau đó, Ngài muốn hành động bên trong chúng ta để hoàn thành mục tiêu ấy. Mục tiêu của Ngài không chỉ là ban cho chúng ta một cuộc sống đắc thắng hay một đời sống thánh khiết. Mục tiêu của Ngài không nhỏ bé như vậy. Đức Chúa Trời ao ước bày tỏ cho chúng ta công tác của Ngài mà Ngài đã dự định hoàn thành từ cõi đời đời đến cõi đời đời. Mỗi người được cứu chuộc đều có phần trong kế hoạch của Ngài, và Đức Chúa Trời hành động theo sự hành động của đại năng do sức mạnh của Ngài vì mục đích hoàn thành kế hoạch đời đời của Ngài.

Như vậy, chúng ta cần phải thấy một nguyên tắc rất quan trọng: sự hành động trong kinh nghiệm dựa trên sự nhìn thấy khách quan. Quyền năng trong kinh nghiệm dựa trên khải tượng khách quan. Trước hết, có một khải tượng, và sau đó là quyền năng. Trước hết có phương diện khách quan, và sau đó là chủ quan. Nếu một người không có khải tượng, người ấy không thể mong Đức Chúa Trời hành động trong mình. Giả sử một người cha trao cho con mình một số tiền và nhờ con mua một món hàng. Mục tiêu của người cha không phải là tăng thêm số tiền trong túi con. Mục tiêu của ông là con ông sẽ trở lại đem theo món hàng đã mua. Cũng vậy, Đức Chúa Trời ban cho chúng ta quyền năng không chỉ vì sự vui hưởng thuộc linh của bản thân chúng ta, nhưng vì để đạt đến mục tiêu của Ngài. Chúng ta cần phải giải quyết vấn đề này cách thấu đáo trước mặt Chúa. Chúng ta có thể nghĩ vấn đề này quá rộng. Vấn đề này rộng lớn thật, nhưng nó liên hệ rất mật thiết đến tương lai thuộc linh của chúng ta. Nhiều người không kinh nghiệm hành động chủ quan của Đức Chúa Trời bên trong họ vì họ chưa bao giờ nhận được một khải tượng. Mọi hành động trong kinh nghiệm đều dựa trên khải tượng chúng ta nhận được từ Đức Chúa Trời. Khải tượng đến trước, và hành động trong kinh nghiệm theo sau. Trước hết chúng ta thấy khải tượng, và sau đó chúng ta có công tác chủ quan. Trước hết chúng ta biết hi vọng về sự kêu gọi và sự phong phú về vinh quang của cơ nghiệp Ngài trong các thánh đồ, sau đó, chúng ta biết sự lớn lao vượt trổi của quyền năng Ngài đối với chúng ta. Nguyện Chúa ban ân điển cho chúng ta để nhìn thấy rằng làm đầy tớ trong nhà của Đức Chúa Trời vẫn chưa đủ, chỉ làm trọn vài bổn phận cũng chưa đủ. Chúng ta phải là bạn của Đức Chúa Trời, là những người hiểu lòng Ngài. Chúng ta phải nhìn thấy, hiểu biết và có một khải tượng; khải tượng này phải bắt lấy chúng ta và chiếm hữu lòng chúng ta đến nỗi chúng ta nhận biết trước mặt Chúa công tác của Đức Chúa Trời là công tác của chúng ta.

Một người chỉ có thể trở nên hữu dụng trước mặt Đức Chúa Trời khi nhìn thấy một khải tượng; người ấy chỉ có thể trở nên hữu dụng khi biết công việc của Đấng Christ trong mình và quyền năng của Đức Chúa Trời trong mình. Khải tượng cho chúng ta nhìn thấy kế hoạch của Đức Chúa Trời, trong khi quyền năng làm chúng ta có khả năng hoàn thành chương trình đó. Khải tượng làm cho chúng ta hiểu kế hoạch của Đức Chúa Trời, trong khi quyền năng làm cho chúng ta có khả năng thực hiện kế hoạch của Ngài. Khải tượng khiến cho chúng ta hiểu kế hoạch của Đức Chúa Trời, trong khi quyền năng làm cho chúng ta thực hiện kế hoạch của Ngài. Vị sứ đồ cho chúng ta thấy không những chúng ta phải biết hi vọng về ơn kêu gọi của Đức Chúa Trời và sự phong phú về vinh quang của cơ nghiệp Ngài trong các thánh đồ, mà chúng ta cũng phải biết “sự lớn lao vượt trổi của quyền năng Ngài đối với chúng ta là những người tin”. Không những chúng ta phải biết Đức Chúa Trời, kế hoạch của Ngài, và mục tiêu của Ngài, mà còn phải biết quyền năng của sức mạnh Ngài. Nếu quyền năng của Đức Chúa Trời chưa hành động gì trong chúng ta, có nghĩa là chúng ta không thật sự biết Đức Chúa Trời, và không thật sự biết kế hoạch cùng mục đích của Ngài. Nếu chúng ta chỉ biết Đức Chúa Trời, kế hoạch và mục đích của Ngài, mà không biết sự lớn lao vượt trổi của quyền năng Ngài, thì mọi sự chỉ là khách quan, không phải là chủ quan [hay trong kinh nghiệm]. Đó là lý do vì sao chúng ta cần biết Đức Chúa Trời. Chúng ta cần phải biết kế hoạch, mục đích của Ngài, và chúng ta cần biết quyền năng phục sinh của Ngài.

Câu 19 chép: “Và biết sự lớn lao vượt trổi của quyền năng Ngài đối với chúng ta là người tin là thế nào”. Quyền năng này thật sự lớn lao. Lớn lao đến nỗi Đức Chúa Trời phải mở mắt chúng ta trước khi chúng ta có thể nhìn thấy sự vĩ đại của quyền năng ấy. Lớn lao đến nỗi ngay cả các thánh đồ Ê-phê-sô cũng không biết tầm cỡ của quyền năng ấy. Quyền năng ấy lớn đến nỗi tự họ không thể dò lường được; họ cần Phao-lô cầu nguyện cho, để Đức Chúa Trời ban cho họ linh của sự khôn ngoan và sự khải thị, và mở mắt lòng họ. Chúng ta không thể nói quyền năng ấy lớn đến đâu. Chúng ta chỉ có thể nói rằng quyền năng ấy lớn, lớn hơn những gì chúng ta suy nghĩ và những gì chúng ta biết.

Như vậy, chúng ta đừng bao giờ xem thường những gì ở trong chiếc bình bằng đất. Chúng ta phải nhận biết có một báu vật bên trong chiếc bình bằng đất này (2 Cô. 4:7). Chúng ta có tin sự kiện như thế không? Có một báu vật bên trong chiếc bình bằng đất. Báu vật bên trong chiếc bình bằng đất quí báu đến nỗi ngay cả chính chúng ta cũng không sáng tỏ là quí báu đến đâu. Một mặt, chúng ta thấy bình bằng đất này là đền tạm thuộc đất sẽ qua đi. Nhưng mặt khác, chúng ta thấy quyền năng của Chúa quá đỗi lớn lao đối với chúng ta. Con cái Đức Chúa Trời phải biết những gì họ nhận lãnh vào giây phút mình được tái sinh. Khi một người được tái sinh, người ấy nhận lãnh Chúa. Kinh nghiệm ấy có thể chỉ kéo dài một phút, nhưng mất ba mươi đến bốn mươi năm để một người khám phá ra những gì mình nhận lãnh trong một phút ấy. Kinh nghiệm của một phút qua đi nhanh chóng, nhưng một người cần ba mươi đến bốn mươi năm để tiếp tục kinh nghiệm ân tứ lớn lao mà mình đã nhận lãnh trong một phút ấy, và để Đức Chúa Trời mở mắt mình hầu có thể thấy được một sự ban cho như vậy. Từ giây phút đó trở đi, quyền năng quá đỗi lớn lao của Đức Chúa Trời bắt đầu hành động trong người ấy. Sự tái sinh xảy ra trong một thời gian rất ngắn. Nhưng những ai mắt được mở ra sẽ đồng ý rằng điều họ có là một sự sống của cõi đời đời; sự sống này sẽ kéo dài cho đến đời đời, và có quyền năng quá đỗi lớn lao của Đức Chúa Trời. Không người con nào của Đức Chúa Trời có thể hiểu đầy đủ sự lớn lao của những gì mình đã nhận lãnh vào giây phút được tái sinh. Nhưng phước cho những ai biết nhiều hơn người khác một chút.

Sự tăng trưởng của chúng ta không tùy thuộc vào việc chúng ta đã nhận lãnh bao nhiêu quyền năng từ Chúa, nhưng tùy thuộc vào việc chúng ta đã thấy được bao nhiêu về quyền năng mình đã nhận lãnh từ Chúa. Vào giây phút chúng ta được tái sinh, Đức Chúa Trời đặt một báu vật như vậy vào trong chiếc bình bằng đất, nhưng chúng ta cần cả một cuộc đời để khám phá sự vĩ đại của báu vật này. Chúng ta cần cả cuộc đời để khám phá báu vật này thuộc loại nào. Nếu một người thấy không có sự khác biệt giữa báu vật mình đã nhận lãnh vào ngày được cứu và báu vật mình có mười hay hai mươi năm sau, thì người ấy không tiến bộ chút nào. Mặc dầu đã sống cuộc đời Cơ Đốc mười hay hai mươi năm, người ấy vẫn giống như một em bé mới ra đời. Đức Chúa Trời ao ước chúng ta thấy sự lớn lao vượt trổi của quyền năng Ngài đối với chúng ta qua sự khải thị của Thánh Linh. Chúng ta mạnh hay yếu tùy thuộc vào việc chúng ta thấy được bao nhiêu. Những người thấy là những người mạnh mẽ, và những người không thấy là những người yếu đuối. Người mạnh mẽ không phải là những người đã nhận lãnh, và người yếu đuối không phải là những người chưa nhận lãnh; tất cả chúng ta đều đã nhận lãnh. Ngày nay vấn đề là chúng ta có thấy hay không. Đức Chúa Trời hành động bên trong chúng ta không vì chúng ta xin Ngài điều này, điều kia. Ngài đã ban cho chúng ta mọi sự mà Ngài có thể ban cho; mọi sự đều ở trong chúng ta. Ngày nay chúng ta cần cầu xin Đức Chúa Trời ban cho chúng ta một linh của sự khôn ngoan và sự khải thị để chúng ta có thể thấy được. Những người thấy là những người có kinh nghiệm. Trong quá khứ, nhiều thánh đồ kinh nghiệm một sự tiến bộ thuộc linh lớn lao không phải nhờ nhận lãnh một sự tuôn đổ quyền năng từ Đức Chúa Trời, nhưng nhờ thức tỉnh bên trong và reo lên: “Cảm tạ Chúa, tất cả những điều này thuộc về con”. Họ không van xin mãi về những điều họ không có. Trái lại, họ thấy mình có mọi sự, và dâng lên lời cảm tạ và ngợi khen. Những người chưa bao giờ thấy điều này không biết sự lớn lao vượt trổi của quyền năng Ngài.

Quyền năng này lớn lao bao nhiêu? Phao-lô nói rằng “y theo sự hành động của đại năng do sức mạnh của Ngài”. Chúng ta nên lưu ý từ ngữ “y theo”. Chúng ta phải nhận thức rằng quyền năng đối với những người tin là y theo sự hành động của đại năng do sức mạnh của Ngài. Nói cách khác, quyền năng hành động trong Hội thánh lớn bằng đại năng của sức mạnh đã hành động trong Đấng Christ. Đại năng của sức mạnh mà Đức Chúa Trời hành động trong chúng ta lớn bằng đại năng của sức mạnh Ngài đã hành động trong Đấng Christ. Giữa hai điều này không có sự khác biệt nào cả. Tôi không biết anh em có thấy điều này chưa. Nếu chưa, anh em cần cầu nguyện. Anh em không nên nghĩ rằng tình trạng của mình ổn thỏa vì mình đã đọc sách Ê-phê-sô vài lần, và có thể đọc thuộc lòng câu 19 và 20 trong chương 1. Dầu anh em có đọc thuộc lòng được những câu ấy hay không, thì không quan trọng; điều quan trọng là sự khải thị và sự nhìn thấy. Phao-lô cầu xin cho chúng ta thấy được sự lớn lao vượt trổi của quyền năng Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta. Nếu không thấy rằng quyền năng trong chúng ta giống như quyền năng trong Đấng Christ, chúng ta vẫn cần cầu nguyện để thấy được. Nếu quyền năng được biểu lộ trong chúng ta không tương xứng với quyền năng trong Đấng Christ, chúng ta phải thú nhận rằng vẫn có những điều chúng ta chưa thấy. Chúng ta phải thừa nhận cách khiêm nhường là vẫn có nhiều điều mình chưa thấy, và Đức Chúa Trời cần phải bày tỏ những điều ấy cho chúng ta. Nhưng dầu chúng ta có nhìn thấy những điều ấy hay không, sự thật vẫn y nguyên: quyền năng ở trong những người tin nơi Đấng Christ lớn bằng quyền năng ở trong Đấng Christ. Cảm tạ Chúa vì đây là một sự thật. Nguyện Chúa mở mắt chúng ta để chúng ta thật sự thấy. Chúng ta không cầu xin Đức Chúa Trời truyền thêm quyền năng cho mình từ bên ngoài. Chúng ta chỉ cần cầu xin Đức Chúa Trời giúp đỡ mình khám phá và thấy hơn nữa về những gì chúng ta có ở bên trong. Nếu Đức Chúa Trời mở mắt chúng ta và chúng ta thấy, chúng ta sẽ ngợi khen Ngài về những gì mình đã có.

Bây giờ chúng ta hãy xem xét quyền năng này đã làm gì. Phao-lô nói: “Y theo sự hành động của đại năng do sức mạnh của Ngài, mà Ngài đã hành động trong Đấng Christ khi khiến Đấng ấy từ kẻ chết sống lại”. Quyền năng này làm cho Đấng Christ có thể sống lại từ trong kẻ chết. Mỗi khi xem xét sự phục sinh, chúng ta thấy đó là một tư tưởng quí báu cho mình. Phục sinh có nghĩa là được giải thoát khỏi sự đau đớn của sự chết (Công. 2:24). Sự chết không thể giữ được Đấng Christ. Không ai đi vào sự chết lại có thể ra khỏi đó mà vẫn sống động. Chưa bao giờ có một người như vậy. Suốt những thời đại qua, mọi người đều chết. Họ đi vào sự chết và ở lại trong sự chết; họ không thể ra khỏi. Nhưng tại đây có một con người ra khỏi sự chết. Con người này là Chúa chúng ta. Ngài phán: “Ta là sự sống lại và sự sống” (Gi. 11:25). Ngài là sự sống; vì vậy, những ai tin Ngài sẽ không bao giờ chết. Ngài là sự phục sinh; vì vậy, những ai tin Ngài dầu đã chết cũng sẽ sống lại. Tất cả những ai đi vào sự chết đều bị sự chết giam cầm; không ai có thể ra khỏi. Chỉ có một quyền năng đã mạnh mẽ đủ để đi vào sự chết và ra khỏi sự chết. Quyền năng ấy là quyền năng của Đức Chúa Trời. Anh chị em ơi, khi anh chị em thấy một người hấp hối và ao ước người ấy được tiếp tục sống, đó là lúc anh chị em nhận thức quyền lực của sự chết lớn lao dường nào. Con người dễ đi vào sự chết nhưng không thể ra khỏi đó. Con người có thể từ chối sự sống nhưng không thể từ chối sự chết. Công tác của Sa-tan đến qua bóng tối và qua sự chết. Nhưng có một quyền năng từ Đức Chúa Trời có thể vượt qua sự chết mà không bị sự chết giam cầm. Uy quyền của ma quỉ không thể thắng hơn quyền năng ấy được, quyền lực của Âm-phủ cũng không thể nuốt quyền năng ấy được. Đó là sự phục sinh. Sự phục sinh là điều vượt qua sự chết và không bị sự chết ảnh hưởng. Quyền năng này hiện đang ở trong chúng ta. Quyền năng đã làm cho Đấng Christ sống lại từ giữa vòng những người chết làm cho chúng ta có thể vượt qua sự chết mà không bị nó cầm giữ. Quyền năng này đã làm cho Chúa Giê-su sống lại từ giữa vòng người chết, cũng có thể làm cho chúng ta sống lại từ những người chết.

Quyền năng này từ Đức Chúa Trời không những làm cho Đấng Christ sống lại từ những người chết, mà còn đặt Ngài ngồi “bên hữu Ngài tại trên trời, vượt trên tất cả”. Hơn nữa, quyền năng này còn “bắt muôn vật phục dưới chân Ngài, lập Ngài làm Đầu mọi sự cho Hội thánh”. Đức Chúa Trời lập Đấng Christ làm Đầu mọi sự cho Hội thánh. Đấng Christ là Đầu mọi sự vì ích lợi của Hội thánh. Đó là lý do vì sao Hội thánh có thể nhận được nguồn cung ứng quyền năng từ Chúa. Anh chị em ơi, quyền năng ở bên trong anh chị em là một quyền năng như vậy. Có một báu vật như vậy bên trong anh chị em. Nếu anh chị em vẫn nói rằng mình không làm một Cơ Đốc nhân nổi, Đức Chúa Trời có thể ban thêm điều gì để anh chị em có khả năng? Anh chị em nên nói với Chúa: “Ngài không cần ban thêm điều gì cho con. Ngài đã làm mọi sự rồi”. Quyền năng này hiện nay được “lắp đặt” vào bên trong anh chị em. Đối với một Cơ Đốc nhân, không có nan đề nào không thể giải quyết được, và không có cám dỗ nào không thể vượt qua được. Quyền năng ở trong Cơ Đốc nhân là quyền năng phục sinh; đó là một quyền năng vượt trên mọi sự, đặt mọi sự dưới chân Đấng Christ. Đó chính là quyền năng đã hành động trong Đấng Christ.

Phao-lô rất cẩn thận khi viết sách Ê-phê-sô. Ông e ngại rằng chúng ta sẽ bị dẫn dắt lầm lạc mà nghĩ rằng hành động trong kinh nghiệm này là một điều thuộc cá nhân. Vì vậy, tiếp theo nhóm chữ “lập Ngài làm Đầu mọi sự”, ông thêm các từ ngữ “cho Hội thánh, là Thân thể của Ngài, tức là sự đầy đủ của Đấng làm đầy dẫy tất cả cho tất cả”. Hành động trong kinh nghiệm không phải vì cá nhân, nhưng vì Thân thể. Đức Chúa Trời bày tỏ cho chúng ta rằng kế hoạch cho cõi đời đời của Ngài có liên quan đến Hội thánh, chứ không phải những cá nhân. Hội thánh có liên hệ đến kế hoạch đời đời của Đức Chúa Trời. Trong cõi đời đời quá khứ, đó là Hội thánh. Trong cõi đời đời tương lai, đó sẽ là Hội thánh. Ngày nay, công tác của Đức Chúa Trời cũng là Hội thánh. Mọi sự liên quan đến Hội thánh, chứ không phải với cá nhân. Nếu quyền năng được bày tỏ trong anh em ngày nay, ấy là vì Hội thánh, không phải chỉ vì một mình anh em. Đức Chúa Trời muốn Hội thánh, không phải những cá nhân, nhận lãnh quyền năng này. Tự mình, chúng ta không bao giờ có được quyền năng này. Chúng ta phải xin Đức Chúa Trời đầy ân điển đối với chúng ta để chúng ta nhìn thấy Thân thể của Đấng Christ, và nhìn thấy rằng sự sống của chúng ta chỉ được giữ gìn trong Thân thể. Một chi thể cô lập không có giá trị gì. Để sự sống được gìn giữ có nghĩa là sự sống ở bên trong không bị rối loạn và sự sống bên trong người khác cũng không bị rối loạn. Nếu một mạch máu bị vỡ, và máu tiếp tục chảy ra, cả Thân thể sẽ chết. Về mặt tích cực, khi tai nghe, toàn thân cùng nghe. Khi mắt thấy, toàn thân đều thấy. Điều gì một chi thể nhận lãnh là điều tất cả các chi thể nhận lãnh. Vì vậy, chúng ta phải học tập sống trong Thân thể. Chúng ta phải học tập bớt xem xét về chính mình và quí trọng Hội thánh. Chúng ta phải học tập cùng tiến lên với tất cả những con cái khác của Đức Chúa Trời. Chúng ta phải nhìn thấy rằng Thân thể là chiếc bình gìn giữ sự sống. Phao-lô nói: “Hội thánh, là Thân thể của Ngài, tức là sự đầy đủ của Đấng đầy dẫy tất cả trong tất cả”. Những ai biết Hội thánh thì kinh nghiệm được quyền năng quá đỗi lớn lao như vậy. Nếu một người không nhìn thấy Hội thánh và không từ chối chính mình, quyền năng quá đỗi lớn lao ấy không cách nào được bày tỏ trong người ấy. Vì vậy, khi chúng ta nói về Đức Chúa Trời hành động trong kinh nghiệm của chúng ta, thì đơn vị cơ bản là Hội thánh, chứ không phải cá nhân.

Nguyện Đức Chúa Trời mở mắt chúng ta để chúng ta thật sự nhìn thấy công tác của Ngài bên trong mình. Quyền năng lớn lao này đến từ sự nhìn thấy của chúng ta, chứ không đến từ bất cứ phương tiện nào khác của ân điển. Vấn đề cơ bản là sự khải thị và nhìn thấy. Chỉ nghe giáo lý suông thì cũng vô ích. Nếu nghe nhiều giáo lý mà không có sự khải thị, chúng ta sẽ không kinh nghiệm được chút quyền năng nào trong mình, và các giáo lý chúng ta đã nghe sẽ giống như những tài khoản vô dụng, mà từ những tài khoản này, không bao giờ chúng ta có thể rút ra tiền mặt hay sử dụng nó được. Nguyện Chúa giải cứu chúng ta khỏi những giáo lý vô dụng như vậy, và nguyện Ngài ban cho chúng ta một linh của sự khôn ngoan và sự khải thị để có thể thật sự thấy một vài điều.

CẦN SỰ KHẢI THỊ

Chúng ta đã thấy phần nào về lời cầu nguyện của Phao-lô cho các thánh đồ ở Ê-phê-sô chương 1. Có một điểm chính trong lời cầu nguyện này: ông hi vọng rằng họ sẽ nhận lãnh một linh của sự khôn ngoan và sự khải thị để mắt họ mở ra thấy được một vài điều. Một trong những điều Ê-phê-sô chương 1 nói đến là tất cả những công việc của Đức Chúa Trời đều đã hoàn tất. Chúng ta không cần Đức Chúa Trời làm thêm các công tác, nhưng chúng ta cần được khải thị về những công tác mà Ngài đã hoàn thành. Đức Chúa Trời đã hoạch định. Ngày nay, con cái của Đức Chúa Trời cần biết kế hoạch và mục đích của Ngài. “Vì kẻ đến cùng Đức Chúa Trời cần phải tin rằng Ngài là [thực hữu]” (Hê. 11:6). Đức Chúa Trời là Đấng [Ta] là; Ngài không bao giờ thay đổi. Ngày nay chúng ta cần sự khải thị để thấy Đức Chúa Trời. Vị sứ đồ cầu nguyện để Đức Chúa Trời ban cho chúng ta một linh của sự khôn ngoan và sự khải thị để hiểu biết Ngài cách đầy đủ, tức Đấng đã “là”, để chúng ta hiểu biết đầy đủ về kế hoạch định trước của Ngài và hiểu biết công việc đã hoàn tất của Ngài. Nhiều người hi vọng rằng Đức Chúa Trời sẽ sắp đặt vài điều mới và làm một vài công tác mới trong kế hoạch của Ngài. Nhưng vị sứ đồ cho chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời không cần làm như vậy. Ngài muốn chúng ta thấy rõ ràng rằng Đức Chúa Trời đã “là”. Vấn đề không phải là ao ước kế hoạch của Đức Chúa Trời như thế này hay thế khác; Đức Chúa Trời đã sắp xếp mọi sự rồi, và chúng ta chỉ cần thấy những gì Ngài đã sắp xếp. Chúng ta không cần Ngài làm một điều gì nữa cả; chúng ta chỉ cần nhìn thấy những gì Ngài đã làm. Nếu thấy được, chúng ta sẽ có kinh nghiệm tươi mới. Chúng ta cần một linh của sự khôn ngoan để hiểu công việc Ngài, và chúng ta cần một linh của sự khải thị để biết những gì Ngài đã làm. Khi ấy, chúng ta sẽ trở thành những con người hữu dụng theo cái nhìn Đức Chúa Trời.

Phao-lô cho chúng ta thấy hai phần công tác của Đức Chúa Trời. Phần thứ nhất được thực hiện trước buổi sáng thế. Phần thứ hai được thực hiện trên thập tự giá. Một phần có liên quan đến kế hoạch đời đời của Ngài, là phần được thực hiện trước buổi sáng thế. Phần kia liên quan đến sự sa ngã và thất bại của chúng ta, là điều được Ngài xử lý trên thập tự giá. Mọi sự Ngài muốn đã được quyết định trước khi tạo lập thế giới. Ngài lựa chọn và định trước, không ai có thể lay chuyển. Từ khi tạo lập thế giới, con người đã sa ngã, và Sa-tan bước vào phá hoại công việc của Đức Chúa Trời. Nhưng tạ ơn Chúa vì quyền năng Ngài quá đỗi lớn lao đối với những người tin. Có sự sa ngã, nhưng cũng có sự cứu chuộc. Có sự chết nhưng cũng có sự phục sinh. Đức Chúa Trời có một kế hoạch đời đời, và Ngài cũng có thập tự giá cứu chuộc. Dường như con người đã phá hỏng kế hoạch đời đời, nhưng điều gì sự sa ngã phá hỏng, sự phục sinh phục hồi và đem trở lại. Thập tự giá có thể phá vỡ sự nguyền rủa của sự sa ngã, và sự phục sinh cất bỏ được sự chết. Chúng ta có thể thấy công tác của Đức Chúa Trời được hoàn tất qua thập tự giá và qua sự phục sinh.

Công tác của Đức Chúa Trời đã hoàn tất. Không ai trong chúng ta cần cầu xin Đức Chúa Trời làm thêm một điều gì cho mình. Một số người nói: “Thật tuyệt vời nếu Đức Chúa Trời sắp đặt thêm một điều nữa trước khi tạo lập thế giới”. Nhưng Phao-lô nói sự sắp đặt của Ngài trước khi tạo lập thế giới là hoàn hảo. Có lẽ chúng ta nói: “Thật tuyệt vời nếu Đức Chúa Trời làm thêm một điều nữa cho chúng ta hôm nay”. Nhưng Đức Chúa Trời muốn chúng ta nhận biết rằng mọi sự đã hoàn tất trên thập tự giá và bởi sự phục sinh. Ngày nay các tín đồ không cần xin Đức Chúa Trời làm thêm gì nữa cả. Điều chúng ta cần hôm nay là sự khải thị của Đức Chúa Trời. Phao-lô không cầu xin Đức Chúa Trời làm thêm một chút công việc nào. Ông không ao ước Đức Chúa Trời ban cho chúng ta một ân điển phong phú hơn. Ông không cầu xin Đức Chúa Trời bày tỏ thêm quyền năng Ngài trong chúng ta. Ông cầu xin Đức Chúa Trời ban cho chúng ta linh của sự khôn ngoan và sự khải thị để hiểu biết đầy đủ về Ngài, và xin Ngài soi sáng con mắt của lòng chúng ta để thấy và biết niềm hi vọng về sự kêu gọi của chúng ta, sự phong phú về vinh quang của cơ nghiệp Ngài trong các thánh đồ, và sự lớn lao vượt trổi của quyền năng Ngài đối với chúng ta. Phao-lô không cầu xin cho chúng ta có Ngài nhiều thêm, nhưng xin cho chúng ta thấy vinh quang, sự phong phú và sự lớn lao của những điều mình đã nhận lãnh. Điều thiếu hụt ngày nay không phải là công tác của Đức Chúa Trời, mà là sự khải thị về công tác của Ngài. Điều chúng ta cần ngày nay không phải là thêm công tác của Đức Chúa Trời, mà là thấy thêm về công tác của Ngài hơn. Lời cầu nguyện của Phao-lô trong Ê-phê-sô chương 1 là xin cho các thánh đồ thấy những gì Đức Chúa Trời đã làm. Ông không cầu xin Đức Chúa Trời ban cho các tín đồ thêm quyền năng, ông không cầu xin Đức Chúa Trời thêm công tác. Ông cầu xin sự khôn ngoan và sự khải thị. Sự khôn ngoan và khải thị này sẽ làm cho chúng ta thấy được những gì Đức Chúa Trời đã hoàn thành. Câu trả lời cho lời cầu nguyện này là sự nhìn thấy. Đây không phải là vấn đề Đức Chúa Trời có làm một công tác nào hay không. Đây là vấn đề chúng ta có nhận lãnh được sự khải thị hay không. Có một sự khác biệt lớn lao ở đây. Nhiều Cơ Đốc nhân đang hi vọng điều này, điều kia, như thể Đức Chúa Trời chưa bao giờ làm một công việc nào trên đời sống họ hay chưa bao giờ ban cho họ gì cả. Nhưng điều Ê-phê-sô chương 1 đặc biệt bày tỏ cho chúng ta là Đức Chúa Trời đã làm mọi sự rồi. Ngài không để lại gì cho chúng ta làm. Ngài đã hoàn tất mọi sự trong cõi đời đời quá khứ, trên thập tự giá và trong sự phục sinh. Ngày nay chỉ còn lại một vấn đề: chúng ta có thấy hay không? Đức Chúa Trời có hành động chăng không phải là vấn đề quyết định. Chúng ta có nhìn thấy công tác đã hoàn thành của Đức Chúa Trời không mới là vấn đề quyết định.

Tôi xin dùng một việc đơn giản để minh họa. Giả sử một anh em nọ vô cùng nóng tính, và anh không thể đắc thắng tính nóng nảy của mình một lần, hai lần, ba lần. Anh thắc mắc sao Đức Chúa Trời không giải quyết tính nóng nảy của mình. Dường như anh đổ lỗi cho Đức Chúa Trời phần nào. Anh em có nhận thấy nan đề nằm ở sự kiện anh ấy vẫn hi vọng Đức Chúa Trời sẽ làm một việc gì đó không? Anh nghĩ rằng mọi sự sẽ tốt đẹp nếu Đức Chúa Trời chuyển động ngón tay Ngài một chút. Nhưng Ê-phê-sô 1:3 nói rằng Đức Chúa Trời “đã ban phước cho chúng ta đủ mọi phước thuộc linh ở trong cõi thiên thượng trong Đấng Christ”. “Đã ban phước” có nghĩa là điều đó đã được thực hiện. Đức Chúa Trời không muốn chúng ta xin Ngài làm thêm điều gì nữa. Ngài muốn mở mắt chúng ta để thấy rằng Ngài đã làm mọi sự rồi. Ha-lê-lu-gia! Đức Chúa Trời muốn chúng ta nhìn thấy rằng Ngài đã làm mọi sự rồi. Đó là điều Ê-phê-sô chương 1 muốn bày tỏ cho chúng ta. Có lẽ chúng ta cầu nguyện: “Đức Chúa Trời ơi, tại sao Ngài không ban cho con thêm quyền năng để con có thể xua đuổi tính nóng nảy và những thói xấu của con đi?” Có lẽ chúng ta cầu xin cho được quyền năng lớn hơn, nhưng Kinh Thánh nói rằng chúng ta không cần quyền năng lớn hơn; điều chúng ta cần là linh của sự khôn ngoan và sự khải thị để thấy sự lớn lao vượt trổi của quyền năng ở trong mình. Một ngày kia, nếu Đức Chúa Trời mở mắt chúng ta, chúng ta sẽ thấy quyền năng ở trong mình lớn biết dường nào. Khi đó, chúng ta sẽ sẵn sàng đồng ý rằng không có gì lớn hơn quyền năng này.

Anh chị em ơi, anh chị em có nhận thấy rằng quyền năng của sự phục sinh là quyền năng lớn lao nhất của Đức Chúa Trời không? Kinh Thánh mặc khải một sự thật cho chúng ta: sự phục sinh là đỉnh điểm của công tác Đức Chúa Trời. Vào thời điểm phục sinh, công tác của Đức Chúa Trời đạt đến đỉnh cao nhất. Đức Chúa Trời muốn mở mắt chúng ta để thấy rằng Ngài không cần làm thêm công tác nào nữa. Công tác của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ đã đạt đến đỉnh điểm, không thể thêm gì vào đó được. Do đó, trong Ê-phê-sô chương 1, Phao-lô không cầu xin Đức Chúa Trời làm thêm điều gì. Trong lời cầu nguyện của mình, Phao-lô không mong Đức Chúa Trời làm thêm gì nữa. Cảm tạ và ngợi khen Chúa! Công việc của Đức Chúa Trời đã hoàn tất, không thể thêm gì vào đó. Tất cả những gì Đức Chúa Trời muốn làm là mở mắt chúng ta để chỉ cho chúng ta thấy một chút. Ngay khi chúng ta thấy quyền năng đang hiện hữu, quyền năng ấy sẽ được biểu lộ trong chúng ta.

Giữa vòng con cái Đức Chúa Trời, nhiều người hi vọng về một sự cứu rỗi trong tương lai. Đối với họ, sự cứu rỗi sẽ đến vào ngày mai hay sang năm. Nhưng Đức Chúa Trời muốn bày tỏ cho chúng ta một sự cứu rỗi đã hoàn tất. Không cần chờ đợi ở tương lai. Đối với nhiều người, sự đắc thắng là một điều gì đó thuộc về ngày mai hay tương lai. Lòng khao khát, hi vọng và lời cầu nguyện của nhiều người hướng về tương lai. Nhưng nếu được khải thị, chúng ta sẽ thấy những sự kiện đã được Đức Chúa Trời hoàn thành. Sự khải thị cho chúng ta thấy những gì Đức Chúa Trời đã hoàn thành, chứ không phải những gì Ngài sẽ hoàn thành. Nhiều người hi vọng được giải cứu vì họ có một số yếu đuối và thất bại nào đó trong chính mình. Nhưng nếu Đức Chúa Trời mở mắt chúng ta, chúng ta sẽ thấy rằng sự yếu đuối và thất bại của mình đã được giải quyết tại thập tự giá. Khi mắt được mở ra, chúng ta sẽ nói: “Đức Chúa Trời ơi, con cảm tạ và ngợi khen Ngài vì Ngài đã làm xong mọi sự. Cảm tạ và ngợi khen Ngài vì Ngài đã đắc thắng những điều này rồi”.

Chúng tôi rất quí Ê-phê-sô chương 1 vì chương này bày tỏ sự tha thứ, sự cứu chuộc và sự nhận lãnh Linh đều là những sự kiện đã được hoàn thành. Chương này cho thấy mọi sự đã thuộc về chúng ta rồi, và chúng ta chỉ cần một điều, đó là sự khải thị. Một khi chúng ta có sự khải thị, mọi sự sẽ được đặt đúng chỗ. Chúng ta vẫn còn yếu đuối vì chúng ta chưa thấy. Chúng ta vẫn vô dụng vì chúng ta chưa thấy. Mặc dầu Chúa Giê-su rất mạnh mẽ khi Ngài ở trên đất, nhưng chúng ta thật yếu đuối vì chúng ta chưa thấy. Quyền năng Đức Chúa Trời đối với những người tin chính là quyền năng đã hành động trong Đấng Christ. Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta quyền năng này. Sự khác biệt nằm ở sự kiện chúng ta không thấy nhiều như Chúa chúng ta đã thấy. Ngày nay sự khác biệt không nằm ở chỗ chúng ta có loại quyền năng hay mức độ quyền năng nào. Sự khác biệt nằm ở sự việc nhìn thấy của chúng ta. Ngày nay, điều chúng ta thiếu là sự khải thị. Một khi chúng ta có sự khải thị, mọi sự sẽ tốt đẹp.

Đó là lý do vì sao chúng tôi nhiều lần nhấn mạnh là chúng ta cần sự khải thị. Không có sự khải thị, không có điều gì hiệu quả cả. Chúng tôi đã nhiều lần nhấn mạnh rằng chỉ nghe suông một điều gì đó thì cũng vô ích, chúng ta cần phải thấy điều đó. Đó là vấn đề khải thị, chứ không phải vấn đề giáo lý. Chúng ta không được ích lợi gì dầu làm cho mình thật quen thuộc, thậm chí học thuộc lòng cả Ê-phê-sô chương 1. Nhưng ngay giây phút nhìn thấy, chúng ta trở nên một con người khác. Phao-lô cầu nguyện rằng: “Xin Đức Chúa Trời... ban cho anh em linh của sự khôn ngoan và sự khải thị” (c. 17). Ngoài Thánh Linh ra, không điều gì có giá trị. Sự thông minh là vô giá trị, và các giáo lý là vô ích. Một mình Thánh Linh có thể mở mắt và làm cho chúng ta nhìn thấy được. Khi Thánh Linh thật sự mở mắt chúng ta và làm cho chúng ta thấy, ngay lập tức chúng ta sẽ nói: “Cảm tạ Đức Chúa Trời vì điều đó đã được làm xong”. Chúng ta không nên mong Đức Chúa Trời ban cho mình một quyền năng lớn hơn. Chúng ta chỉ cần nhìn thấy sự lớn lao của quyền năng mà Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta rồi. Một linh khôn ngoan sẽ làm cho chúng ta hiểu, và một linh khải thị sẽ làm cho chúng ta thấy. Có nhu cầu về sự khôn ngoan và có nhu cầu về sự khải thị. Chúng ta cần sự khôn ngoan trước khi có thể hiểu và trở nên sáng tỏ; chúng ta cần sự khải thị trước khi có thể thấy và am tường.

Có lẽ chúng ta đã nhiều lần nghe nói về kế hoạch đời đời của Đức Chúa Trời, và có lẽ chúng ta đã nghe về vị trí của Hội thánh và kế hoạch đời đời của Ngài. Nhưng chúng ta bắt đầu liên hệ đến kế hoạch đời đời này khi nào? Khởi điểm ấy là lúc chúng ta được khải thị. Sự khải thị làm cho chúng ta có thể thấy được sự sắp đặt và công tác đã hoàn tất của Đức Chúa Trời trong cõi đời đời quá khứ, và sự khải thị làm cho chúng ta có thể thấy những gì Đức Chúa Trời đã làm trên thập tự giá. Sự khải thị bày tỏ cho chúng ta kế hoạch của cõi đời đời và công tác của thập tự giá, và sự khải thị làm cho chúng ta có thể hiểu, thấy và biết được quyền năng mà Đức Chúa Trời có đối với chúng ta. Sự khải thị làm cho chúng ta trở thành một phần của Hội thánh, và từ nay trở đi sự khải thị làm cho chúng ta nên một chiếc bình hữu ích trong tay Chúa.

Có lẽ một số người trong chúng ta rất quen thuộc với những lời [tôi chia sẻ trong bài] này rồi. Nhưng chúng ta cần được nhắc nhở một lần nữa trước mặt Chúa về tầm quan trọng của sự khải thị. Chúng ta tin rằng ngày nay Đức Chúa Trời trên trời đang quan tâm đến sự khải thị của Ngài vì Ngài đã hoàn thành tất cả những gì Ngài muốn hoàn thành. Vấn đề ngày nay là con người đã thấy được bao nhiêu. Chúng ta không cần hỏi điều gì khác. Chúng ta nên giống như Phao-lô, là người cầu nguyện cho chính mình và cho những anh chị em khác để Đức Chúa Trời ban cho chúng ta linh của sự khôn ngoan và sự khải thị. Chúng ta phải hạ mình xuống trước mặt Chúa và cầu nguyện: “Chúa ôi, con muốn nhìn thấy! Con muốn thấy!”