Thông tin sách

Ánh Sáng Của Chúa Và Tình Trạng Tự Phân Tích

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Ánh sáng của Chúa và tình trạng tự phân tích
ISBN:
Mua sách tại:

Untitled Document

ÁNH SÁNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI VÀ TÌNH TRẠNG TỰ PHÂN TÍCH

Kinh Thánh: Hê. 4:12; Thi. 139:23-24; 119:130; Êph. 5:13; Gi. 1:4; Sáng 32:30

TỰ PHÂN TÍCH LÀ MỘT CĂN BỆNH THUỘC LINH

Trên bước đường theo Chúa, nhiều Cơ Đốc nhân rơi vào căn bệnh tự phân tích. Họ muốn biết điều gì là ý Chúa và điều gì không phải là ý Chúa. Họ muốn biết điều gì là thuộc linh và điều gì là thuộc hồn. Họ muốn biết điều gì thuộc về Đức Chúa Trời và điều gì thuộc về chính họ. Trong khi lo âu phân tích như vậy, đôi khi họ cảm thấy một điều gì đó thuộc về Đức Chúa Trời, và đôi khi họ cảm thấy nó thuộc về chính mình. Họ phân tích mọi sự và cố gắng xác định để xem mình đang hành động bởi quyền năng của Đức Chúa Trời hay bởi năng lực của hồn mình. Ngay khi có một tư tưởng, họ cố gắng xác định để xem tư tưởng ấy đến từ Đức Chúa Trời hay từ chính mình. Kết quả là họ thường bị mắc vào sự nội hướng.

ÁNH SÁNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI KHÁC VỚI SỰ PHÂN TÍCH CỦA CON NGƯỜI

Đôi khi chúng ta cảm thấy mình đang làm điều đúng. Nhưng khi một người thuộc linh nói điều gì đó với chúng ta, chúng ta thình lình nhận thức rằng những gì trước đó mình cho là tuyệt đối đúng thật ra là hoàn toàn sai. Khi ấy, chúng ta không cần hỏi lý do, cũng không phân tích gì nữa, tự động chúng ta sáng tỏ về mọi điều. Đó là ánh sáng của Đức Chúa Trời. Ánh sáng ấy đến khi lời sống động của Đức Chúa Trời, giống như gươm hai lưỡi, đâm vào trong chúng ta và phân chia hồn với linh. Khi ấy, chúng ta rất sáng tỏ về những gì thuộc về Đức Chúa Trời và những gì thuộc về chúng ta. Chúng ta biết đâu là ý muốn của Đức Chúa Trời và đâu là ý muốn của mình. Có cả một thế giới khác biệt giữa ánh sáng của Đức Chúa Trời và sự phân tích của con người, đó là hai điều khác hẳn nhau.

Tôi từng hết sức cố gắng làm điều đúng. Tôi cảm thấy mình khá thánh khiết và thuộc linh. Về sau, tôi nói chuyện với một chị em là người rất sâu xa trong Chúa. Chị chỉ nói một vài lời, nhưng sau khi chúng tôi cầu nguyện, tôi nhận ra mình đã sai lầm. Tôi cảm thấy mình ô uế và xa cách sự thánh khiết của Đức Chúa Trời. Đó là ánh sáng của Đức Chúa Trời chiếu rọi trên tôi. Ý kiến và cảm xúc riêng của con người thường là lừa dối, nhưng ánh sáng của Đức Chúa Trời luôn luôn bày tỏ quan điểm của Ngài. Sự hiểu biết mà một người nhận được qua ánh sáng của Đức Chúa Trời là sự nhận biết đúng đắn về chính mình.

Lời Đức Chúa Trời truyền đạt ý muốn của Ngài. Khi lời Đức Chúa Trời đến với chúng ta, lời ấy trở nên gươm hai lưỡi. Khi lời Ngài chiếu soi trên mình, chúng ta thấy chính mình và ngã xuống. Tôi thừa nhận rằng mình là một người có ý chí cứng cỏi. Tôi không dễ dàng nhận lỗi ngay cả khi những người khác chỉ lỗi tôi ra. Nhưng một khi ánh sáng của Đức Chúa Trời đến, tôi thấy lỗi mình. Không một sự tự phân tích hay nội hướng nào của con người có thể sánh với ánh sáng của Đức Chúa Trời. Ánh sáng của Đức Chúa Trời đến với hồn và linh, ngay cả xương và tủy. Ánh sáng của Ngài có thể bày tỏ những điều kín giấu trong lòng người. Mặc dầu hồn người có thể hiểu giáo lý, những giáo lý này không ích lợi gì nếu thiếu ánh sáng của Đức Chúa Trời. Ít nhất trong đời sống mình, chúng ta phải kinh nghiệm một sự mở mắt [thuộc linh] cơ bản. Chúng ta phải gặp ánh sáng của Đức Chúa Trời như vậy rồi mới có thể tiến lên trên đường lối Ngài. Cả Giăng và Phao-lô đã hoàn thành chức vụ Đức Chúa Trời giao phó vì họ thấy ánh sáng.

Một số tín đồ thích chờ đợi những kinh nghiệm đặc biệt. Họ nghĩ rằng mình sẽ như thế nào đó vào một ngày nào đó. Nhưng khi ngày ấy đến, tất cả những gì họ thấy có thể không phải là sự khải thị thật. Thông thường, đó là sự tự phân tích của con người hơn là ánh sáng của Đức Chúa Trời. Tất cả những ai kinh nghiệm sự khải thị của Đức Chúa Trời đều kinh nghiệm công việc của Đức Chúa Trời. Nếu một người thấy ánh sáng, ánh sáng sẽ tự phát đem người ấy đến chỗ thực hành. Vì vậy, trong công tác của Đức Chúa Trời, chúng ta không nên tin cậy sự phân tích của con người, trái lại, chúng ta nên nhìn vào ánh sáng của Ngài. Công việc trong Gia-cơ chương 2 chỉ về những gì chúng ta giúp đỡ các anh chị em khác, không chỉ về hành vi của chính Cơ Đốc nhân đó. Do đó, những công việc ấy hoàn toàn khác với công việc được đề cập ở trên.

ĐIỀU KIỆN ĐỂ NHẬN ĐƯỢC ÁNH SÁNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Làm thế nào chúng ta nhận được ánh sáng của Đức Chúa Trời? Chỉ có một điều kiện để chúng ta nhận được ánh sáng, ấy là cần có sự mở ra. Không có một điều kiện nào khác. Đây là điều kiện duy nhất, chúng ta phải mở ra từ bên trong. Không một điều gì có thể ngăn chận ánh sáng. Cách duy nhất giữ cho ánh sáng không vào được là đóng kín chính mình lại. Đó là điều đầu tiên chúng ta phải coi chừng. Nếu một người nào có thiên hướng về một điều gì và cho rằng mình đúng, đó là người “khép kín” lại, người ấy không thể trông mong nhận được ánh sáng từ Đức Chúa Trời. Ánh sáng của Đức Chúa Trời chỉ đến với những ai trống không, tức là những người mở ra từ bên trong. Thi Thiên 139:23 chép: “Đức Chúa Trời ơi, xin hãy tra xét tôi và biết lòng tôi. Hãy thử thách tôi và biết tư tưởng đầy lo lắng của tôi”. Câu này nói rằng Đức Chúa Trời là Đấng biết, chúng ta không phải là người biết. Con người không thể biết tư tưởng và lòng mình nhờ sự tự phân tích. Sự tự phân tích của chúng ta chỉ dẫn mình đến sự tự lừa dối, chứ không dẫn đến ánh sáng được. Tuy nhiên, khi ánh sáng Đức Chúa Trời chiếu trên chúng ta, mắt bề trong của mình sẽ mở ra, và chúng ta không cần hỏi điều gì, vì Đức Chúa Trời đã chỉ ra tất cả những ý tưởng và ý định của lòng chúng ta rồi. Đức Chúa Trời ban sự khải thị cho các tín đồ của Ngài qua ánh sáng Ngài và dẫn đắt họ theo con đường sự sống. Chúng ta cần noi gương tác giả Thi Thiên để xin Đức Chúa Trời dò xét lòng chúng ta và thử thách tư tưởng chúng ta. Khi Ngài phán, chúng ta cần nhận lãnh lời Ngài với một tấm lòng thành thật và mở ra.