Thông tin sách

Bài Học Gây Dựng Tín Đồ Mới - Tập 1

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Messages for Building Up New Believers, Vol. 1
ISBN: 0-7363-0976-4
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 17

Tiếng ViệtTải về
Untitled Document

CHƯƠNG MƯỜI BẢY

BẺ BÁNH

Kinh Thánh: Mat. 26:26-28; 1 Cô. 10:16-22; 11:23-32

I. THIẾT LẬP BỮA ĂN TỐI CỦA CHÚA

Trong hội thánh có một bữa ăn tối mà tất cả các con cái của Đức Chúa Trời cần phải tham dự. Bữa ăn tối ấy được Chúa Jesus thiết lập vào đêm cuối cùng Ngài ở trên đất. Ngày hôm sau Ngài sẽ bị đóng đinh. Đó là bữa ăn tối cuối cùng Chúa đã tham dự vào đêm cuối cùng của Ngài ở trên đất. Dầu rằng sau khi sống lại Ngài cũng ăn uống, nhưng việc ăn uống ấy khác với sự ăn uống thông thường. Việc ăn uống ấy không bắt buộc.

Bữa ăn tối cuối cùng đó như thế nào? Đằng sau bữa ăn tối ấy có một [bối cảnh] lịch sử. Người Do Thái có một lễ tiệc được gọi là lễ Vượt Qua; đó là để kỷ niệm việc họ được giải phóng khỏi ách nô lệ tại Ai Cập. Đức Chúa Trời đã cứu họ cách nào? Ngài truyền con dân Israel bắt một chiên con, tùy theo nhà của cha họ, một chiên con cho mỗi nhà, và làm thịt nó vào tối ngày thứ mười bốn của tháng đầu tiên. Sau đó, họ phải lấy huyết bôi trên hai thanh dọc cửa và thanh ngang cửa của nhà họ. Đêm ấy, họ ăn thịt [chiên con] cùng với bánh không men và rau đắng. Sau khi ra khỏi Ai Cập, Đức Chúa Trời truyền họ hằng năm phải giữ lễ tiệc ấy để kỷ niệm (Xuất. 12:1-28). Vì vậy, đối với người Do Thái, lễ Vượt Qua được thiết lập để nhắc họ nhớ lại cuộc giải cứu ấy.

Đêm cuối cùng trước khi Chúa Jesus lìa khỏi thế giới chính là đêm có tiệc lễ Vượt Qua. Sau khi cùng ăn chiên con lễ Vượt Qua với các môn đồ, Chúa thiết lập bữa ăn tối của chính Ngài. Chúa đã cố gắng cho chúng ta thấy rằng chúng ta cần phải dự bữa ăn tối của Ngài như cách người Do Thái dự tiệc lễ Vượt Qua.

Chúng ta hãy so sánh hai vấn đề này. Người Do Thái đã được cứu rỗi và được giải phóng khỏi Ai Cập, rồi họ giữ tiệc lễ Vượt Qua. Các con cái của Đức Chúa Trời ngày nay được cứu và được giải phóng khỏi những tội lỗi của thế gian này, rồi họ dự bữa ăn tối của Chúa. Người Do Thái có chiên con của họ. Chúng ta cũng có Chiên Con của chúng ta — là Chúa Jesus, tức chính Chiên Con của Đức Chúa Trời. Chúng ta đã được giải cứu khỏi những tội lỗi của thế gian, khỏi quyền lực của Sa-tan, và chúng ta hoàn toàn đứng về phía Đức Chúa Trời. Do đó, chúng ta dự bữa ăn tối của Chúa như cách người Do Thái dự phần ăn chiên con lễ Vượt Qua.

Sau khi Ngài dự tiệc lễ Vượt Qua, “Jesus lấy bánh mà ban phước, rồi Ngài bẻ ra, trao cho các môn đồ, và nói rằng: Hãy nhận lấy, ăn đi; đây là thân thể Ta. Rồi Ngài lấy chén mà dâng lời cảm tạ, và Ngài trao cho họ, nói rằng: Tất cả các ngươi hãy uống chén này đi, vì đây là huyết Ta, tức huyết của giao ước, được đổ ra cho nhiều người để tha thứ tội lỗi họ” (Mat. 26:26-28). Đó là bữa ăn tối Chúa đã thiết lập.

Ý nghĩa của bữa ăn tối là gì? Ấy là khi cả gia đình đến với nhau ăn uống trong sự an bình sau một ngày làm việc. Đó không phải là một bữa ăn vội vã như bữa điểm tâm hay bữa ăn trưa. Đó là bữa ăn tối an bình trong sự yên nghỉ trọn vẹn. Bầu không khí giữa vòng các con cái của Đức Chúa Trời cũng phải như vậy khi họ dự bữa ăn tối của Chúa. Họ hoàn toàn không được vội vã. Tâm trí của họ không được bận rộn nghĩ về điều này hay điều kia. Thay vào đó, họ phải vui hưởng sự yên nghỉ của mình trong nhà Đức Chúa Trời.

Chúa đã dùng bánh không men, thay vì bánh có men, vì Ngài đã thiết lập bữa ăn tối của Ngài trong lễ Vượt Qua (Xuất. 12:15). “Sản phẩm của cây nho” được đề cập đến trong Ma-thi-ơ chương 26, Mác chương 14 và Lu-ca chương 22 cũng có thể được dịch là “trái của cây nho”. Trong buổi nhóm bẻ bánh, chúng ta có thể dùng rượu nho hoặc nước nho, miễn sao đó là sản phẩm của cây nho.

II. Ý NGHĨA BỮA ĂN TỐI CỦA CHÚA

A. Nhớ Đến Chúa

Tại sao Chúa muốn chúng ta duy trì bữa ăn tối của Ngài? Chúa nói: “Hãy làm điều này... để nhớ Ta” (1 Cô. 11:25). Vậy, ý nghĩa thứ nhất của bữa ăn tối là nhớ đến Chúa. Chúa biết là chúng ta sẽ quên Ngài. Mặc dầu ân điển chúng ta nhận được là quá vĩ đại và sự cứu chuộc chúng ta nhận được là quá kỳ diệu, nhưng kinh nghiệm bản thân cho chúng ta biết rằng con người dễ quên Ngài. Thậm chí chỉ một chút bất cẩn là một người vừa được cứu có thể quên mất sự cứu rỗi của Chúa. Đó là lý do Chúa có chủ tâm truyền bảo chúng ta rằng: “Hãy làm điều này... để nhớ Ta”.

Chúa muốn chúng ta nhớ đến Ngài, không phải chỉ vì chúng ta hay quên, mà cũng vì Chúa cần chúng ta nhớ đến Ngài như vậy. Chúa không muốn chúng ta quên Ngài. So với chúng ta, Ngài vĩ đại hơn nhiều; chúng ta không bao giờ có thể thấu hiểu sự vĩ đại của Ngài. Chúng ta không làm ích gì thêm cho Ngài bằng cách nhớ đến Ngài. Dầu vậy, vì cớ chúng ta mà Ngài nói: “Hãy làm điều này... để nhớ Ta”. Chúa đã hạ cố muốn chúng ta nhớ đến Ngài. Trước hết Ngài hạ cố làm Đấng Cứu Rỗi của chúng ta. Ngài cũng hạ cố chiếm hữu lòng chúng ta và giành được sự tưởng nhớ của chúng ta. Ngài không muốn chúng ta quên Ngài. Ngài mong muốn hằng tuần chúng ta liên tục sống trước mặt Ngài và nhớ đến Ngài. Ngài yêu cầu điều ấy để chúng ta có thể nhận được những ơn phước thuộc linh từ Ngài. Chúa muốn chúng ta nhớ đến Ngài; đó là sự đòi hỏi của Ngài trong tình yêu thương. Nếu không luôn luôn nhớ đến Ngài và không đặt sự cứu chuộc của Ngài ở trước mặt mình, chúng ta sẽ dễ dàng bị vướng vào những tội lỗi của thế gian. Giữa vòng các con cái của Đức Chúa Trời sẽ dễ có những cuộc tranh cãi. Chúng ta sẽ bị thiệt hại rất nhiều. Đó là lý do Chúa muốn chúng ta nhớ đến Ngài. Chúng ta được ban phước khi nhớ đến Ngài. Đó là một cách tiếp nhận ơn phước của Ngài. Chúng ta tiếp nhận ân điển của Chúa nhờ nhớ đến Ngài.

Một ơn phước lớn lao trong việc nhớ đến Chúa là chúng ta được phân cách khỏi quyền lực của các tội lỗi trong thế gian. Cứ vài ngày một lần, chúng ta được nhắc lại thể nào mình đã tiếp nhận Chúa và thể nào Ngài đã chết vì chúng ta. Nhờ đó, chúng ta được phân cách khỏi các tội lỗi của thế gian. Đó là một ơn phước mà chúng ta nhận được từ buổi nhóm bẻ bánh khi nhớ đến Chúa.

Một lý do thuộc linh khác của việc bẻ bánh nhớ đến Chúa là ngăn ngừa các con cái Đức Chúa Trời tranh cãi và chia rẽ. Khi tôi nhớ lại là mình đã được cứu và một anh em khác cũng nhớ lại là mình đã được cứu, thì làm sao chúng ta có thể không yêu thương nhau? Khi tôi ngẫm nghĩ thấy Chúa Jesus đã tha thứ vô số tội lỗi của mình và tôi thấy một chị em đến bữa ăn tối của Chúa cũng được huyết Ngài cứu chuộc, thì làm sao tôi có thể không tha thứ cho chị ấy? Làm sao tôi có thể cứ bắt lỗi chị và gây chia rẽ vì lầm lỗi ấy? Trong suốt hai ngàn năm lịch sử hội thánh, nhiều cuộc tranh cãi giữa vòng các con cái của Đức Chúa Trời đã được giải quyết khi họ gặp nhau tại bàn của Chúa. Thù hận và oán giận đều đã được tan biến tại bàn của Chúa. Khi nhớ đến Chúa, chúng ta cũng nhớ đến thể nào mình đã được cứu và được tha thứ. Chúa đã tha cho chúng ta món nợ mười ngàn ta-lâng. Làm sao chúng ta có thể bắt bạn của mình, là người thiếu chúng ta một trăm đê-na-ri, và bóp cổ người ấy? (Mat. 18:21-35). Khi một anh em nhớ đến Chúa, lòng anh em ấy mở ra đón nhận tất cả các con cái của Đức Chúa Trời. Anh em ấy sẽ nhận thấy rằng tất cả những người được Chúa cứu chuộc đều được Ngài yêu thương, và tự phát anh em ấy cũng yêu thương họ. Chúng ta không thể có sự ganh tị, thù hận, tranh chấp và thiếu lòng tha thứ khi ở trong Chúa. Chúng ta nhớ đến việc Chúa tha thứ những tội lỗi của mình mà lại tranh cãi với các anh chị em khác thì thật là vô lý. Nếu hay gây gỗ, ganh tị, thù ghét và không tha thứ, thì chúng ta không thể nhớ đến Chúa. Vì vậy, mỗi khi chúng ta nhóm lại nhớ đến Chúa, thì Chúa nhắc nhở chúng ta về tình yêu thương của Ngài và công tác của Ngài trên thập tự giá. Ngài nhắc nhở chúng ta rằng tất cả những người được cứu đều được Ngài yêu thương. Chúa yêu thương chúng ta và phó chính Ngài vì chúng ta. Ngài phó chính mình vì chúng ta và vì tất cả những người thuộc về Ngài. Ngài yêu thương tất cả những người thuộc về Ngài, và tự phát chúng ta cũng yêu thương tất cả những con cái của Ngài vì chúng ta không thể ghét những người Ngài yêu thương.

“Hãy làm điều này... để nhớ Ta”. Chúng ta không bao giờ có thể nhớ đến những người mình không biết. Chúng ta không bao giờ có thể nhớ đến những điều mình chưa kinh nghiệm. Tại đây, Chúa muốn chúng ta nhớ đến Ngài, điều ấy có nghĩa là chúng ta đã gặp Ngài tại Gô-gô-tha và đã tiếp nhận ân điển của Ngài rồi. Chúng ta ở đây nhớ lại những gì Ngài đã thực hiện. Chúng ta nhìn lại để nhớ đến Chúa như cách người Do Thái nhìn lại để kỷ niệm tiệc lễ Vượt Qua.

Tại sao quá nhiều người lười biếng và không kết quả? Đó là vì họ quên rằng những tội lỗi trước kia của mình đã được rửa sạch (2 Phi. 1:8-9) . Đó là tại sao Chúa muốn chúng ta nhớ đến Ngài và yêu thương Ngài. Ngài muốn chúng ta luôn luôn nhớ đến Ngài. Chúng ta cần phải ghi nhớ rằng chén ấy là giao ước mới được ban hành bởi huyết Ngài; huyết ấy tuôn ra vì chúng ta. Chúng ta cũng phải ghi nhớ rằng bánh ấy là thân thể Ngài được ban cho vì chúng ta. Trong sự bẻ bánh của chúng ta, đó là điều đầu tiên chúng ta cần phải nhấn mạnh.

B. Tuyên Bố Sự Chết Của Chúa

Bữa ăn tối của Chúa còn có một ý nghĩa khác. 1 Cô-rin-tô 11:26 nói: “Vì mỗi khi anh em ăn bánh này và uống chén này thì tuyên bố sự chết của Chúa cho tới khi Ngài đến”. Khi ăn bánh và uống chén, chúng ta tuyên bố sự chết của Chúa. Chữ tuyên bố cũng có thể dịch là “công bố”. Điều ấy có nghĩa là công bố sự chết của Chúa cho những người khác. Khi truyền bảo chúng ta dự bữa ăn tối của Ngài, không những Chúa đòi hỏi chúng ta nhớ đến Ngài mà còn đòi hỏi chúng ta công bố sự chết của Ngài.

Tại sao bánh và chén tuyên bố sự chết của Chúa? Huyết nguyên ở trong thịt. Khi huyết được tách ra khỏi thịt, thì có nghĩa là sự chết đã xảy ra. Khi thấy rượu trong chén, chúng ta thấy huyết, và khi thấy bánh trên bàn, chúng ta thấy thịt. Huyết Chúa thì ở một bên còn thịt Ngài thì ở một bên. Huyết được tách khỏi thịt. Đó là một lời tuyên bố về sự chết của Chúa. Trong buổi nhóm ấy, chúng ta không cần nói với những người khác rằng: “Chúa chúng tôi đã chết vì anh”. Họ nhận biết sự chết đã xảy ra khi họ thấy huyết được tách khỏi thịt.

Bánh là gì? Đó là lúa mì được nghiền thành bột. Ở trong chén có gì? Có nho bị ép. Khi nhìn bánh, anh em nhớ đến lúa mì bị nghiền, và khi nhìn chén, anh em nhớ đến nho bị ép. Điều ấy rõ ràng nhắc chúng ta về sự chết. Hạt lúa mì chỉ là một hạt; nếu trước hết hạt lúa mì không bị nghiền thì không thể nào trở nên bánh được. Cũng vậy, nếu trước hết chùm nho không bị ép thì chùm nho ấy không thể nào trở nên rượu được. Nếu một hạt lúa mì tự cứu lấy nó thì sẽ không có bánh. Cũng vậy, nếu một chùm nho tự cứu lấy nó thì sẽ không có rượu. Tại đây, Chúa nói qua Phao-lô rằng: “Vì mỗi khi anh em ăn bánh này và uống chén này thì tuyên bố sự chết của Chúa cho tới khi Ngài đến”. Chúng ta ăn những hạt lúa đã bị nghiền, và uống những trái nho đã bị ép. Đó là tuyên bố sự chết của Chúa.

Có lẽ cha mẹ, con cái và những người bà con khác của anh em chưa biết Chúa. Nếu anh em đem họ đến buổi nhóm và khi nhìn thấy ổ bánh, họ sẽ hỏi: “Đó là gì vậy? Ý nghĩa của việc bẻ bánh ấy là gì? Ý nghĩa của chén là gì?” Anh em có thể trả lời rằng: “Chén chỉ về huyết và bánh chỉ về thịt. Hai thứ ấy đã được tách rời. Sự kiện ấy bày tỏ cho anh điều gì?” Họ sẽ đáp: “Sự kiện đó có nghĩa là sự chết đã xảy ra”. Huyết ở một bên và thịt ở một bên. Huyết và thịt được tách rời, và điều ấy ngụ ý sự chết. Trong phòng nhóm, chúng ta có thể cho mọi người biết rõ rằng sự chết của Chúa được bày tỏ tại đây. Chúng ta cần phải rao giảng phúc âm không những bằng môi miệng của mì phúc âm nh, hay bằng các ân tứ của mình, mà cũng bằng bữa ăn tối của Chúa nữa. Đó là một cách rao giảng phúc âm. Nếu người ta nhận thức rằng việc dự bữa ăn tối của Chúa không phải là một nghi lễ thì đó là một điều lớn lao trong vũ trụ. Chúng ta tuyên bố sự chết của Ngài khi chúng ta dự bữa ăn tối của Chúa. Jesus từ Na-xa-rét, Con Đức Chúa Trời, đã chết. Đó là một sự kiện cực kỳ lớn lao được bày ra trước mặt chúng ta.

Theo cái nhìn của loài người, Chúa Jesus không còn ở trên đất nữa. Nhưng biểu tượng của thập tự giá, tức bánh và chén, vẫn còn ở đây. Mỗi khi nhìn thấy bánh và chén, chúng ta nhớ đến sự chết của Chúa trên thập tự giá. Biểu tượng ấy của thập tự giá nhắc nhở chúng ta liên tục cần nhớ đến sự chết của Chúa vì chúng ta.

“Vì mỗi khi anh em ăn bánh này và uống chén này thì tuyên bố sự chết của Chúa cho tới khi Ngài đến”. Chúa chắc chắn sẽ trở lại; đó là một niềm an ủi lớn cho chúng ta. Khi chúng ta liên kết sự [Chúa] đến ấy với bữa ăn tối của Chúa thì điều ấy đặc biệt đầy ý nghĩa. Anh em không thưởng thức một bữa ăn ngon vào buổi tối sao? Bữa ăn tối là bữa ăn cuối cùng trong ngày. Mỗi tuần chúng ta đều dự bữa ăn tối ấy của Chúa. Hội thánh đã tham dự cùng một bữa ăn tối ấy hằng tuần trong gần hai ngàn năm. Bữa ăn tối ấy vẫn chưa kết thúc. Chúng ta tiếp tục ăn bữa ăn tối ấy. Chúng ta chờ đợi và đợi chờ cho đến khi Chúa trở lại. Khi Chúa trở lại, chúng ta sẽ không còn ăn bữa ăn tối ấy nữa. Khi chúng ta gặp Chúa của mình mặt đối mặt, bữa ăn tối ấy sẽ không còn nữa. Khi lại được nhìn thấy Ngài, chúng ta sẽ không cần nhớ đến Ngài theo cách ấy nữa.

Vậy, bữa ăn tối của Chúa là để nhớ đến Ngài và tuyên bố sự chết của Ngài cho đến khi Ngài đến. Bữa ăn tối của Chúa là để nhớ đến Ngài. Chúng tôi hi vọng rằng ngay từ đầu, các anh chị em sẽ tập trung vào việc nhìn xem Ngài. Khi một người nhớ đến chính Chúa, tự phát người ấy nhớ đến sự chết của Ngài, và khi người ấy nhớ đến sự chết của Ngài, tự phát mắt người ấy chăm chú nhìn về vương quốc — một ngày kia, Chúa sẽ trở lại và đón rước chúng ta về với chính Ngài. Thập tự giá luôn luôn dẫn đến sự tái lâm của Ngài, luôn luôn dẫn đến vinh quang. Khi nhớ đến Chúa, chúng ta phải ngửng đầu lên và nói rằng: “Thưa Chúa, con muốn nhìn thấy mặt Ngài; khi con nhìn thấy mặt Ngài, mọi điều khác sẽ dần dần tan biến”. Chúa muốn chúng ta nhớ đến Ngài. Ngài muốn chúng ta liên tục tuyên bố sự chết của Ngài và loan báo sự chết của Ngài cho tới khi Ngài đến.

III. Ý NGHĨA BÀN CỦA CHÚA

1 Cô-rin-tô chương 10 có một cách diễn đạt khác về buổi nhóm bẻ bánh. Tại đó không gọi buổi nhóm ấy là bữa ăn tối mà gọi là bàn. Cũng như bữa ăn tối, tức buổi nhóm được Chúa thiết lập vào đêm cuối cùng trước khi Ngài chết, buổi nhóm này dành để nhớ đến Chúa và tuyên bố sự chết của Ngài cho tới lúc Ngài đến. Nhưng đó chỉ là một phương diện của buổi nhóm bẻ bánh. Có một phương diện khác về sự bẻ bánh của hội thánh, ấy là phương diện được tượng trưng bằng bàn của Chúa (c. 21). Ý nghĩa bàn của Chúa được nói rõ trong các câu 16 và 17; các câu ấy chép: “Chén ơn phước mà chúng ta chúc phước không phải là sự tương giao của huyết Đấng Christ sao? Bánh chúng ta bẻ không phải là sự tương giao của thân thể Đấng Christ sao? Thấy rằng chúng ta tuy nhiều nhưng chỉ là một ổ bánh, một Thân thể; vì tất cả chúng ta đều dự phần trong một ổ bánh”. Hai vấn đề được bày tỏ tại đây là: sự tương giao và sự hiệp một.

A. Sự Tương Giao

Điều thứ nhất mà bàn của Chúa tượng trưng là sự tương giao. “Chén ơn phước mà chúng ta chúc phước không phải là sự tương giao của huyết Đấng Christ sao?” Chúng ta không chia sẻ chén của Chúa khi nhóm lại sao? Đó là sự tương giao. 1 Cô-rin-tô chương 11 nói đến sự liên hệ giữa các môn đồ và Chúa, nhưng chương mười nói về sự liên hệ giữa các thánh đồ. Bữa ăn tối là để chúng ta nhớ đến Chúa, và bàn là để chúng ta có sự tương giao hỗ tương với nhau. “Chén ơn phước mà chúng ta chúc phước không phải là sự tương giao của huyết Đấng Christ sao?” Điểm nhấn mạnh tại đây không chỉ là uống huyết của Đấng Christ nhưng là cùng dự phần trong huyết ấy. Sự cùng dự phần ấy là sự tương giao.

“Chén ơn phước mà chúng ta chúc phước” — tại đây chữ chén ở thể số ít. Chén được đề cập trong Ma-thi-ơ 26:27 cũng ở thể số ít. Theo nguyên văn, đoạn này cũng có thể được dịch là: “Và nhận lấy chén và dâng lời cảm tạ, Ngài trao cho họ, nói rằng: Tất cả các ngươi, hãy uống đi”. Đó là lý do chúng tôi không đồng ý dùng nhiều chén, vì một khi có nhiều hơn một chén thì ý nghĩa bị thay đổi. Chén chúng tôi chúc phước, đó không phải là sự tương giao của huyết Đấng Christ sao? Chúng ta nhận lấy cùng một chén. Ý nghĩa của việc có cùng một chén là sự tương giao. Nếu không mấy thân mật thì chúng ta chắc chắn không thể uống chung một chén, mỗi người uống một ngụm từ chén ấy. Các con cái của Đức Chúa Trời uống cùng một chén. Mọi người đều uống cùng một chén. Người này uống một ngụm, người kia uống một ngụm. Chúng ta có nhiều người, nhưng uống từ cùng một chén. Điều ấy chỉ về sự tương giao.

B. Sự Hiệp Một

Ý nghĩa thứ hai về bàn của Chúa là sự hiệp một. “Bánh chúng ta bẻ không phải là sự tương giao của thân thể Đấng Christ sao? Thấy rằng chúng ta tuy nhiều nhưng chỉ là một ổ bánh, một Thân thể; vì tất cả chúng ta đều dự phần trong một ổ bánh” (1 Cô. 10:16-17). Tại đây chúng ta nhận thấy các con cái của Đức Chúa Trời là một. Bánh được đề cập trong chương mười một có một ý nghĩa khác biệt so với bánh được nói đến trong chương mười. Trong chương mười một, Chúa nói rằng: “Đây là thân thể Ta được ban cho vì các ngươi” (c. 24); ở đây chỉ về thân thể vật lý của Chúa. Bánh trong chương mười chỉ về hội thánh. “Chúng ta tuy nhiều nhưng chỉ là một ổ bánh, một Thân Thể” (c. 17). Chúng ta là ổ bánh và ổ bánh ấy là hội thánh.

Chúng ta cần thấy phương diện tưởng nhớ, phương diện tuyên bố và phương diện tương giao của bàn của Chúa; chúng ta cũng cần thấy sự hiệp một. Tất cả các con cái của Đức Chúa Trời là một cũng như ổ bánh là một. Chúng ta chỉ có một ổ bánh. Người này bẻ ra và nhận lấy một miếng của ổ bánh ấy. Người kia bẻ ra và nhận lấy một miếng khác. Nếu tất cả các miếng bánh nhỏ mà chúng ta bẻ ra và ăn được gom lại, thì không phải chúng ta vẫn có một ổ bánh sao? Dầu ổ bánh ấy được bẻ ra và ở trong mỗi người chúng ta, nhưng đó vẫn là một ổ bánh trong Linh. Một khi bánh thuộc thể được ăn vào thì bánh ấy không còn nữa, và chúng ta không thể thâu những miếng bánh ấy trở lại. Nhưng nói về mặt thuộc linh thì bánh vẫn là một, và đó là một ở trong Linh. Cũng như ổ bánh ấy, Đấng Christ nguyên là một. Đức Chúa Trời ban phát một ít Christ vào trong anh em và một ít Christ vào trong tôi. Một Đấng Christ bây giờ được tản mát và cư ngụ trong nhiều chi thể. Đấng Christ vốn thuộc linh. Mặc dầu Ngài được phân tán, nhưng Ngài không bị chia cắt; Ngài vẫn là một. Đức Chúa Trời ban Đấng Christ cho anh em và cho tôi, nhưng trong Linh, Đấng Christ vẫn là một. Bánh được phân tán vẫn là một ở trong Linh, chứ không bị chia cắt. Khi các con cái của Đức Chúa Trời bẻ bánh, họ không những nhớ đến Chúa, tuyên bố sự chết của Ngài và tương giao với nhau, mà còn thừa nhận sự hiệp một giữa vòng họ. Ổ bánh ấy tượng trưng cho sự hiệp một của hội thánh Đức Chúa Trời.

Yếu tố cơ bản của bàn Chúa là bánh. Bánh ấy rất trọng yếu. Nói chung, bánh ấy tượng trưng cho tất cả các con cái của Đức Chúa Trời. Theo một ý nghĩa cụ thể, ổ bánh ấy tượng trưng cho các con cái của Đức Chúa Trời tại một địa phương cụ thể. Nếu có vài con cái của Đức Chúa Trời nhóm lại với nhau và chỉ thấy chính họ và nếu ổ bánh của họ chỉ bao gồm một vài người trong họ, thì ổ bánh ấy quá nhỏ. Ổ bánh ấy không bao hàm đúng mức. Ổ bánh ấy phải bao gồm tất cả các con cái của Đức Chúa Trời tại một địa phương, và phải đại diện cho hội thánh tại địa phương ấy. Không phải chỉ có vậy. Ổ bánh ấy cũng phải bao gồm tất cả các con cái của Đức Chúa Trời ở trên đất. Chúng ta phải nhận thấy rằng ổ bánh ấy tuyên bố sự hiệp một giữa vòng các con cái của Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta muốn thiết lập một hội thánh riêng của mình, thì ổ bánh của chúng ta quá nhỏ và không thể đại diện cho toàn thể hội thánh. Nếu tại nơi kia có một cái bàn và những người tham dự nơi bàn ấy không thể nói: “Chúng tôi tuy nhiều nhưng là một Thân Thể”, thì chúng ta không thể nhận lấy bánh ấy vì đó không phải là bàn của Chúa.

Chúng ta phải nhớ đến Chúa, và lòng chúng ta phải mở ra đối với các anh chị em mỗi khi bẻ bánh. Tất cả các con cái của Đức Chúa Trời, hễ được cứu chuộc bởi huyết quí báu, thì đều được bao gồm trong một ổ bánh ấy. Lòng chúng ta cần được Chúa mở rộng, và cần rộng lớn như ổ bánh ấy. Chúng ta tuy nhiều nhưng là một ổ bánh. Thậm chí các anh chị em không cùng bẻ bánh với chúng ta cũng được bao gồm trong ổ bánh ấy. Nếu chúng ta hoàn toàn loại họ ra khi bẻ bánh, thì bánh của chúng ta chưa lớn đủ, và lòng chúng ta chưa lớn đủ. Như vậy là không đúng. Chúng ta không thể có ý tưởng loại trừ các anh em nào đó hay xua đuổi họ. Ổ bánh ấy không cho phép chúng ta làm những người hẹp hòi.

Nếu một anh em chưa bao giờ cùng chia sẻ bánh với chúng ta đến dự bàn của Chúa và nếu người đó đã kết hiệp với Chúa, thì người đó cũng ở trong ổ bánh. Chúng ta có tiếp nhận người đó hay không? Xin ghi nhớ rằng chúng ta không phải là chủ của bữa tiệc ấy. Cùng lắm chúng ta chỉ là những người tiếp tân. Bàn ấy là của Chúa chứ không phải của chúng ta. Chúa lập ra bàn của Ngài tại một địa phương theo cùng một nguyên tắc đầu tiên khi Ngài lập ra bàn ấy tại phòng rộng trên lầu cao xưa kia; phòng ấy vốn được [Chúa] mượn. Ngày nay, Chúa chỉ dùng nơi này để lập bàn của Ngài. Chúng ta không thể cấm những người khác bẻ bánh. Bàn ấy là của Chúa. Quyền tiếp nhận hay không tiếp nhận thuộc về Ngài. Chúng ta không có quyền ấy. Chúng ta không thể loại bỏ những người Chúa tiếp nhận, và không thể loại ra người nào thuộc về Ngài. Chúng ta chỉ có thể khước từ những người bị Chúa khước từ và những người không thuộc về Ngài. Chúng ta chỉ có thể khước từ những người cứ ở trong tội lỗi và không muốn thoát ra. Chúng ta chấm dứt tương giao với họ vì họ đã chấm dứt tương giao với Chúa. Chúng ta không thể khước từ bất cứ người nào đã được Chúa tiếp nhận. Cũng vậy, chúng ta không thể tiếp nhận những người Chúa không tiếp nhận, tức những người đã mất sự tương giao giữa mình với Chúa. Vì vậy, chúng ta phải biết một người rất rõ trước khi có thể quyết định xem người ấy có nên được tiếp nhận tại bàn của Chúa hay không. Chúng ta cần phải rất cẩn thận trong việc tiếp nhận người ta vào buổi nhóm bẻ bánh. Chúng ta không thể bất cẩn. Công việc này phải được thực hiện theo sự mong muốn của Chúa.

IV. NHỮNG VẤN ĐỀ THÍCH ĐÁNG KHÁC LIÊN QUAN ĐẾN BUỔI NHÓM BẺ BÁNH

Cuối cùng, chúng ta phải đề cập đến hai ba điều sau. Cụ thể, chúng ta phải quan tâm đến một vấn đề tại buổi nhóm bẻ bánh: Là những người đã được huyết Chúa rửa sạch, chúng ta không đến cầu xin sự rửa sạch của huyết Ngài. Là những người đã nhận được sự sống của Chúa, chúng ta không đến cầu xin [để được] sự sống của Ngài. Vì vậy, chúng ta chỉ nên có những lời chúc phước tại buổi nhóm này. “Chén ơn phước mà chúng ta chúc phước”. Thật ra, chúng ta chúc phước điều Chúa đã ban phước rồi. Vào đêm Ngài bị phản, Chúa “lấy bánh mà ban phước,... rồi Ngài lấy chén mà dâng lời cảm tạ” (Mat. 26:26-27). Tại đó, Chúa chỉ ban phước và dâng lời cảm tạ. Sau khi Chúa bẻ bánh, Ngài và các môn đồ đi ra ca hát (c. 30). Không khí thích hợp của buổi nhóm ấy là chúc phước và ngợi khen. Trong buổi nhóm ấy, chúng ta không nài xin hay rao giảng. Nói về một điều gì đó trực tiếp liên quan đến Chúa thì có thể không sao. Thậm chí có thể không cần làm như vậy là không cần thiết. Nhưng chắc chắn là bất cứ loại rao giảng nào khác cũng đều không thích hợp. (Phao-lô rao giảng lời [Chúa] tại một buổi nhóm bẻ bánh ở Trô-ách trong Công-vụ chương 20 là một trường hợp ngoại lệ). Chúng ta phải tự giới hạn mình chỉ cảm tạ và ngợi khen trong buổi nhóm ấy.

Chúng ta bẻ bánh mỗi tuần một lần. Khi Chúa thiết lập bữa ăn tối, Ngài nói: “Mỗi khi..., hãy làm điều này...” (1 Cô. 11:25). Hội thánh đầu tiên bẻ bánh vào ngày thứ nhất trong tuần (Công. 20:7). Chúa chúng ta không những đã chết mà cũng sống lại. Chúng ta nhớ đến Chúa trong sự phục sinh. Ngày thứ nhất trong tuần là ngày Chúa sống lại. Điều quan trọng nhất vào ngày thứ nhất trong tuần là nhớ đến Chúa. Tôi hi vọng tất cả các anh chị em không quên điều này.

Chúng ta cũng phải được kể là “xứng đáng” khi chúng ta nhớ đến Chúa. 1 Cô-rin-tô 11:27-29 nói: “Vậy, bất cứ ai ăn bánh này hay uống chén này của Chúa một cách không xứng đáng sẽ mắc tội với thân và huyết của Chúa. Nhưng hãy để mỗi người tự xét mình, và theo cách ấy hãy để người ăn bánh và uống chén. Vì ai ăn và uống mà không biện biệt thân thể, là ăn và uống sự xét đoán cho chính mình”. Điều quan trọng nhất phải nhớ khi chúng ta đến bàn là được kể xứng đáng. Vấn đề ấy không liên quan gì đến con người có xứng đáng hay không mà liên quan đến thái độ của người ấy có xứng đáng hay không. Nếu người nào thuộc về Chúa, người ấy có thể nhận lấy bánh. Nếu không thuộc về Chúa thì người ấy không thể nhận lấy bánh. Vậy, đó không phải là vấn đề con người có xứng đáng hay không. Đó là vấn đề thái độ. Khi nhận lấy bánh, nếu bất cẩn hay không biện biệt thân thể thì chúng ta sai trật. Đó là lý do Chúa muốn chúng ta biện biệt. Mặc dầu không có nan đề đối với con người của chúng ta, nhưng chúng ta phải nhận thức rằng chúng ta đang dự phần trong thân thể của Chúa khi chúng ta ăn. Chúng ta không nên có thái độ bất cẩn, cẩu thả, khinh thường và phóng túng. Chúng ta phải nhận lấy bánh cách xứng đáng với thân thể của Chúa. Chúa đã ban cho chúng ta huyết Ngài và thịt Ngài. Chúng ta cần phải nhận lấy và nhớ đến Chúa một cách tin kính.