Thông tin sách

Bài Học Gây Dựng Tín Đồ Mới - Tập 1

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Messages for Building Up New Believers, Vol. 1
ISBN: 0-7363-0976-4
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 16

Tiếng ViệtTải về
Untitled Document

CHƯƠNG MƯỜI SÁU

NGỢI KHEN

Kinh Thánh: Thi. 22:3; 50:23; 106:12, 47; 146:2; Hê. 13:15

Ngợi khen là công việc cao cả nhất được các con cái của Đức Chúa Trời thực hiện. Chúng ta có thể nói rằng sự biểu lộ cao cả nhất của đời sống thuộc linh một thánh đồ là việc người ấy ngợi khen Đức Chúa Trời. Ngai của Đức Chúa Trời là điểm cao nhất trong vũ trụ, tuy nhiên Ngài lại “ngự ngai trên sự ngợi khen của Israel” (Thi. 22:3). Danh của Đức Chúa Trời và thậm chí chính Đức Chúa Trời được tôn cao qua sự ngợi khen.

Đa-vít nói trong một thi thiên rằng ông cầu nguyện Đức Chúa Trời ba lần mỗi ngày (Thi. 55:17). Tuy nhiên, trong một thi thiên khác, ông nói mình ngợi khen Đức Chúa Trời bảy lần mỗi ngày (119:164). Đa-vít đã được Thánh Linh cảm thúc khi ông nhìn nhận tầm quan trọng của sự ngợi khen. Ông chỉ cầu nguyện ba lần mỗi ngày, nhưng lại ngợi khen bảy lần mỗi ngày. Hơn nữa, ông chỉ định người Lê-vi chơi đàn xante và đàn hạc để tôn cao, cảm tạ và ngợi khen Đức Chúa Trời trước rương giao ước của Ngài (1 Sử. 16:4-6). Khi Sa-lô-môn hoàn tất công việc xây dựng đền thờ của Đức Giê-hô-va, thì các thầy tế lễ khiêng rương giao ước vào Nơi Chí Thánh. Lúc các thầy tế lễ ra khỏi Nơi Thánh, những người Lê-vi đứng cạnh bàn thờ, thổi kèn và ca hát với chập chỏa, đàn xante cùng đàn hạc. Họ cùng nhau cất tiếng ngợi khen Đức Chúa Trời. Vào lúc ấy, vinh quang của Đức Giê-hô-va đầy dẫy Nhà Ngài (2 Sử. 5:12-14). Cả Đa-vít lẫn Sa-lô-môn đều chạm đến lòng Đức Chúa Trời và dâng lên các sinh tế là lời ngợi khen để làm đẹp lòng Đức Chúa Trời. Đức Giê-hô-va ngự trên những lời ngợi khen của Israel. Chúng ta cần phải ngợi khen Chúa suốt cuộc đời của mình. Chúng ta phải hát ngợi khen Đức Chúa Trời chúng ta.

I. SINH TẾ LÀ LỜI NGỢI KHEN

Kinh Thánh lưu ý nhiều đến sự ngợi khen. Điều này thường được đề cập trong Kinh Thánh. Sách Thi thiên đầy dẫy những lời ngợi khen. Sách Thi thiên thật ra là sách ngợi khen trong Cựu Ước. Nhiều lời ngợi khen được trích dẫn trong Thi thiên.

Tuy nhiên, Thi thiên không những bao gồm các chương về sự ngợi khen, mà còn có các chương [nói] về sự đau khổ. Đức Chúa Trời muốn dân Ngài biết rằng những người ngợi khen chính là những người đã được đưa qua những hoàn cảnh thử thách và những cảm xúc của người ấy đã bị thương. Các thi thiên ấy cho chúng ta thấy con người được Đức Chúa Trời dẫn qua bóng tối tăm. Họ đã bị hất hủi, vu khống và bắt bớ. “Các lượn sóng và nước lớn của Ngài đã ngập tôi” (42:7). Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã làm hoàn hảo các lời ngợi khen ra từ những người ấy. Lời ngợi khen không phải lúc nào cũng phát xuất từ môi miệng của những người thuận buồm xuôi gió, mà thường ra từ môi miệng của những người ở dưới sự sửa trị và thử thách. Trong Thi thiên chúng ta có thể chạm đến những tình cảm bị tổn thương nhất, và trong Thi thiên chúng ta cũng có thể tìm thấy những lời ngợi khen tuyệt vời và cao cả nhất. Đức Chúa Trời dùng nhiều sự gian khổ, khó khăn và vu khống để tạo ra những lời ngợi khen trong dân của Ngài. Ngài khiến họ học tập qua những cảnh ngộ khó khăn để trở nên những người ngợi khen trước mặt Chúa.

Người sung sướng nhất không phải luôn luôn là những người có lời ngợi khen lớn nhất. Lời ngợi khen lớn nhất rất thường ra từ những người đang trải qua những gian khổ. Loại ngợi khen ấy làm vui lòng Đức Chúa Trời nhất và được Ngài ban phước. Đức Chúa Trời không muốn loài người ngợi khen Ngài chỉ khi nào họ ở trên đỉnh núi quan sát Ca-na-an là miền đất hứa. Điều Đức Chúa Trời mong muốn hơn nữa là nhìn thấy dân Ngài sáng tác thi thiên và ngợi khen Ngài khi họ “đi trong trũng bóng chết” (23:4). Đó là lời ngợi khen chân chính.

Điều ấy cho chúng ta thấy tính chất của sự ngợi khen theo cái nhìn của Đức Chúa Trời. Theo tính chất, sự ngợi khen là một của tế lễ, một sinh tế. Nói cách khác, lời ngợi khen ra từ nỗi đau đớn và sự chịu khổ. Hê-bơ-rơ 13:15 nói: “Nhờ Ngài, chúng ta hãy liên tục dâng sinh tế bằng lời ngợi khen cho Đức Chúa Trời, đó là bông trái của môi miệng xưng nhận danh Ngài”. Sinh tế là gì? Sinh tế là một của tế lễ. Một của tế lễ có nghĩa là chết và mất mát. Người dâng lên một của tế lễ phải chịu một sự mất mát nào đó. Một của tế lễ, một sinh tế, phải được dâng lên. Sự dâng lên ấy tạo nên một sự mất mát. Bò đực và chiên con là của anh em. Khi dâng chúng lên thì anh em hi sinh chúng. Dâng lên một điều gì không có nghĩa là có được điều gì, mà có nghĩa là chịu mất mát. Khi một người dâng lên lời ngợi khen của mình, người ấy mất mát một điều gì đó; người ấy dâng một sinh tế lên cho Đức Chúa Trời. Nói cách khác, Đức Chúa Trời gây ra những vết thương; Ngài phá vỡ và cắt xẻ một người cách sâu xa, nhưng đồng thời người ấy xoay về Ngài và ngợi khen Ngài. Chịu khổ để dâng lên Đức Chúa Trời lời ngợi khen là một loại của tế lễ. Đức Chúa Trời thích loài người ngợi khen Ngài như vậy. Đức Chúa Trời thích được ngự trên loại ngợi khen ấy. Làm sao Đức Chúa Trời có thể nhận được sự ngợi khen Ngài? Đức Chúa Trời muốn các con cái Ngài ngợi khen Ngài giữa những đau khổ của mình. Chúng ta không nên ngợi khen Đức Chúa Trời chỉ khi nào có lợi. Tuy lời ngợi khen được dâng lên do được lợi cũng là lời ngợi khen, nhưng điều đó không thể được xem là một của tế lễ. Nguyên tắc dâng hiến đặt nền tảng trên sự mất mát. Một của tế lễ bao hàm trong đó yếu tố mất mát. Đức Chúa Trời muốn chúng ta ngợi khen Ngài giữa sự mất mát của mình. Điều đó tạo thành một của tế lễ thật.

Không những chúng ta phải cầu nguyện với Đức Chúa Trời, mà hơn nữa còn phải học tập ngợi khen Ngài. Ngay từ lúc khởi đầu bước đường Cơ Đốc của mình, chúng ta cần nhìn thấy tầm quan trọng của sự ngợi khen. Chúng ta phải liên tục ngợi khen Đức Chúa Trời. Đa-vít đã nhận được ân điển từ Đức Chúa Trời để ngợi khen bảy lần mỗi ngày. Ngợi khen Chúa mỗi ngày là một sự luyện tập hữu ích, là một bài học rất tốt và là một sự thực hành thuộc linh rất tốt. Chúng ta cần phải học tập ngợi khen Đức Chúa Trời khi thức dậy vào sáng sớm. Chúng ta phải học tập ngợi khen Ngài khi gặp phải những nan đề, lúc nhóm trong một buổi nhóm, hay khi ở một mình. Chúng ta cần phải ngợi khen Đức Chúa Trời ít nhất là bảy lần mỗi ngày. Đừng để Đa-vít thắng chúng ta trong sự ngợi khen. Nếu chúng ta chưa học tập ngợi khen Chúa mỗi ngày thì khó mà có loại sinh tế bằng sự ngợi khen được đề cập đến trong Hê-bơ-rơ chương 13.

Khi học tập ngợi khen, anh em sẽ khám phá ra rằng có những ngày anh em không thể tập trung sức lực để ngợi khen. Có lẽ anh em đã ngợi khen Đức Chúa Trời bảy lần hôm nay, hôm qua và hôm kia. Có lẽ anh em đã ngợi khen Ngài một tuần hay một tháng trước. Nhưng một ngày kia, anh em khám phá ra rằng mình không thể thốt lên một lời ngợi khen nào. Vào những ngày ấy, anh em sống trong đau đớn, trong sự tối tăm hoàn toàn hay trong những nỗi khó khăn kinh khủng. Trong những ngày như vậy, anh em đau khổ vì bị hiểu lầm và vu khống. Anh em bận lo đổ nước mắt tự thương hại mình. Làm sao anh em có thể ngợi khen Chúa trong những ngày như vậy? Anh em không thể ngợi khen vì anh em bị tổn thương, chịu đau đớn, và lâm vào tình cảnh khó khăn. Anh em cảm thấy phản ứng hiển nhiên trước mắt là than phiền thay vì ngợi khen. Anh em cảm thấy điều hiển nhiên nhất phải làm là lằm bằm thay vì cảm tạ. Anh em không cảm thấy thích ngợi khen, và không muốn ngợi khen. Anh em cảm thấy rằng ngợi khen không thích hợp trong cảnh ngộ và tâm trạng như vậy. Ngay giây phút ấy, anh em cần phải ghi nhớ rằng ngai của Đức Giê-hô-va không thay đổi, danh Ngài không thay đổi, và vinh quang Ngài cũng không thay đổi. Anh em cần phải ngợi khen Ngài vì Ngài đáng được ngợi khen. Anh em cần phải chúc tụng Ngài chỉ vì Ngài đáng được mọi lời chúc tụng. Dầu anh em đang ở giữa nhiều nan đề, Ngài vẫn đáng được ngợi khen. Mặc dầu lâm vào thế cùng quẫn, anh em vẫn phải ngợi khen Ngài. Ngay giây phút ấy, lời ngợi khen của anh em trở nên một sinh tế bằng sự ngợi khen. Anh em ngợi khen cũng giống như anh em giết con bò mập nhất của mình. Việc ấy giống như đặt Y-sác yêu dấu lên bàn thờ. Lời ngợi khen trong nước mắt của anh em là sinh tế bằng sự ngợi khen. Của tế lễ là gì? Một của tế lễ ngụ ý những thương tích, chết chóc, mất mát và hi sinh. Anh em bị thương tích trước mặt Đức Chúa Trời. Anh em chết trước mặt Đức Chúa Trời. Anh em chịu mất mát, và hi sinh trước mặt Đức Chúa Trời. Nhưng anh em nhận thức rằng ngai của Đức Chúa Trời được thiết lập trên các từng trời và không thể bị lay động, và anh em không cầm lại được lời ngợi khen của mình. Đó là sinh tế bằng sự ngợi khen. Đức Chúa Trời muốn các con cái Ngài ngợi khen Ngài trong mọi sự và qua mọi cảnh ngộ.

II. NGỢI KHEN VÀ CHIẾN THẮNG

Chúng ta đã thấy rằng sự ngợi khen của mình là một sinh tế. Nhưng hơn thế nữa, chúng ta phải nhận thấy rằng ngợi khen là cách đắc thắng những cuộc tấn công thuộc linh. Nhiều người nói rằng Sa-tan sợ lời cầu nguyện của các con cái Đức Chúa Trời; hắn bỏ chạy mỗi khi con cái Đức Chúa Trời quì xuống cầu nguyện. Đó là lý do hắn thường tấn công các con cái Đức Chúa Trời và ngăn trở họ cầu nguyện. Đó là một sự tấn công thông thường. Nhưng chúng tôi muốn chỉ ra một sự thật khác, ấy là sự tấn công mãnh liệt nhất của Sa-tan không phải nhắm vào sự cầu nguyện, mà nhắm vào sự ngợi khen. Nói như vậy không có nghĩa là Sa-tan không tấn công sự cầu nguyện. Ngay giây phút một Cơ Đốc nhân cầu nguyện thì Sa-tan bắt đầu tấn công. Rất dễ nói chuyện với người ta, nhưng ngay giây phút một người cầu nguyện thì Sa-tan đến với nhiều nan đề. Hắn sẽ làm cho một người cảm thấy khó cầu nguyện. Đó là một sự thật. Nhưng Sa-tan không chỉ tấn công sự cầu nguyện, mà còn tấn công sự ngợi khen của các con cái Đức Chúa Trời. Mục tiêu tối hậu của Sa-tan là ngăn chặn mọi lời ngợi khen Đức Chúa Trời. Cầu nguyện là một cuộc chiến, nhưng ngợi khen là một chiến thắng. Cầu nguyện chỉ về chiến trận thuộc linh, nhưng ngợi khen chỉ về chiến thắng thuộc linh. Mỗi khi chúng ta ngợi khen, thì Sa-tan bỏ chạy. Vì vậy, Sa-tan ghét nhất là sự ngợi khen của chúng ta. Hắn sẽ dùng hết sức lực của mình để ngăn chặn lời ngợi khen của chúng ta. Khi các con cái Đức Chúa Trời chịu những nghịch cảnh và cảm thấy bị đè nén mà ngưng ngợi khen thì thật là dại dột. Nhưng khi được đưa đến chỗ hiểu biết Đức Chúa Trời hơn, họ sẽ nhận thấy rằng ngay cả nhà tù tại Phi-líp cũng có thể trở nên một nơi để ca hát (Công. 16:25). Phao-lô và Si-la đã ngợi khen Đức Chúa Trời trong ngục tù. Lời ngợi khen của họ phá tung mọi cánh cửa của ngục thất.

Trong Công-vụ, cửa nhà tù được mở ra hai lần. Một lần cửa nhà tù mở ra cho Phi-e-rơ còn lần kia là cho Phao-lô. Trong trường hợp của Phi-e-rơ, hội-thánh tha thiết cầu nguyện cho ông, và một thiên sứ mở cửa đem ông ra (12:3-12). Trong trường hợp của Phao-lô, ông và Si-la hát thánh ca ngợi khen Đức Chúa Trời, và tất cả các cửa đều mở ra còn các xiềng xích thì bị bẻ gãy. Hôm ấy, người cai ngục tin nhận Chúa, và toàn thể gia đình ông đều được cứu một cách vui mừng (16:19-34). Phao-lô và Si-la dâng lên sinh tế bằng sự ngợi khen trong nhà tù. Các vết thương trên thân thể họ chưa được chữa lành; cơn đau của họ chưa bớt. Chân họ bị cùm, và họ bị nhốt trong nhà tù của Đế quốc La Mã. Có gì đáng vui mừng đâu? Có gì đáng để ca hát đâu? Nhưng có hai người với linh siêu việt vượt trên mọi sự. Họ nhận thấy Đức Chúa Trời vẫn ngồi trên các từng trời; Ngài không thay đổi chút nào. Chính họ có thể thay đổi, hoàn cảnh của họ có thể thay đổi, cảm xúc của họ có thể thay đổi, và thân thể của họ có thể chịu đau khổ, nhưng Đức Chúa Trời vẫn đang ngồi trên ngai. Ngài vẫn đáng được họ chúc tụng. Người anh em của chúng ta là Phao-lô và Si-la đã cầu nguyện, ca hát, và ngợi khen Đức Chúa Trời. Loại ngợi khen phát xuất từ sự đau đớn và mất mát là một sinh tế bằng sự ngợi khen. Loại ngợi khen ấy là một chiến thắng.

Khi cầu nguyện, anh em vẫn ở trong hoàn cảnh của mình. Nhưng khi ngợi khen, anh em bay vượt lên trên hoàn cảnh của mình. Trong khi cầu nguyện và khẩn xin, anh em bị những công việc của mình trói buộc; anh em chưa thoát khỏi chúng. Càng cầu khẩn, anh em càng thấy mình bị trói buộc và áp chế. Nhưng nếu Đức Chúa Trời cất anh em lên trên lao tù, xiềng xích, các vết thương đau đớn trên thân thể, sự đau khổ và nhục nhã, anh em sẽ dâng lên lời ngợi khen danh Ngài. Phao-lô và Si-la hát thánh ca. Họ ca ngợi Đức Chúa Trời. Họ được Đức Chúa Trời đem đến chỗ [nhận thấy] lao tù, nhục nhã và đau đớn không còn là nan đề đối với họ nữa. Họ có thể ngợi khen Đức Chúa Trời. Khi họ ngợi khen như vậy, các cửa ngục thất mở ra, xiềng xích rơi xuống, và thậm chí người cai ngục cũng được cứu.

Nhiều khi, sự ngợi khen có kết quả tại những chỗ sự cầu nguyện thất bại. Đó là một nguyên tắc rất căn bản. Nếu anh em không thể cầu nguyện thì tại sao không ngợi khen? Chúa đã đặt một điều nữa trong tay anh em để anh em chiến thắng và khoe khoang trong chiến thắng. Mỗi khi anh em không còn sức cầu nguyện và nhận thấy linh mình bị đè nén cách nặng nề, bị tổn thương hay chùng xuống, thì hãy ngợi khen Ngài. Nếu anh em không thể cầu nguyện thì hãy cố gắng ngợi khen. Chúng ta bao giờ cũng nghĩ rằng mình nên cầu nguyện khi gánh nặng còn nặng trĩu và nên ngợi khen khi gánh nặng không còn nữa. Nhưng xin ghi nhớ rằng có những lúc gánh nặng quá nặng đến nỗi anh em không thể cầu nguyện. Đó là lúc anh em phải ngợi khen. Chúng ta không ngợi khen khi không có gánh nặng; chúng ta ngợi khen khi gánh nặng trở nên quá nặng. Khi anh em gặp phải những hoàn cảnh và vấn đề khác thường, cảm thấy bối rối và suy sụp, xin chỉ ghi nhớ một điều: “Tại sao không ngợi khen?” Đó là một cơ hội bằng vàng. Nếu anh em dâng lên lời ngợi khen của mình ngay giây phút ấy, Linh Đức Chúa Trời sẽ hành động trong anh em, mở tung tất cả các cánh cửa, và bẻ gãy mọi xiềng xích.

Chúng ta cần học tập duy trì linh cao cả ấy, tức linh vượt lên trên mọi cuộc tấn công. Cầu nguyện có thể không đem chúng ta đến ngai, nhưng ngợi khen chắc chắn đem chúng ta đến ngai bất cứ lúc nào. Cầu nguyện có thể không làm cho chúng ta đắc thắng trong mọi lúc, nhưng ngợi khen thì không thất bại một lần nào. Các con cái Đức Chúa Trời cần phải mở miệng mình ra ngợi khen Ngài, không phải chỉ khi họ không có nan đề, không bị đau đớn, không bị tổn thương hay không gặp khó khăn, mà thậm chí còn phải ngợi khen nhiều hơn nữa khi có nan đề và bị thương tích. Khi một người ngẩng đầu lên trong những hoàn cảnh ấy và nói: “Thưa Chúa, con ngợi khen Ngài”, mắt người ấy có thể đẫm lệ, nhưng miệng người ấy thì đầy dẫy lời ngợi khen. Lòng có thể đau đớn, nhưng linh người ấy vẫn ngợi khen. Linh người ấy bay vút lên cao như lời ngợi khen của chính mình. Người ấy có thể cùng thăng thiên với lời ngợi khen của mình. Những người lằm bằm là dại dột. Càng lằm bằm, thì họ càng bị chôn vùi dưới những lời lằm bằm của mình. Càng phàn nàn, thì họ càng đắm chìm trong những lời phàn nàn của mình. Càng để các nan đề ập đến trên họ, thì họ càng trở nên mệt mỏi. Nhiều người có vẻ năng nổ hơn một chút; họ cầu nguyện khi có nan đề. Họ cố gắng và chiến đấu để thoát ra khỏi hoàn cảnh của mình. Mặc dầu những hoàn cảnh và thương tích cố chôn vùi họ, họ vẫn không chịu bị chôn, và cố gắng thoát ra bằng sự cầu nguyện. Họ thường xoay xở thoát ra bằng sự cầu nguyện. Nhưng cũng có những lúc sự cầu nguyện không hiệu quả. Dường như không điều gì có thể giải cứu họ cho đến khi họ ngợi khen. Anh em cần dâng lên sinh tế bằng sự ngợi khen. Nói như vậy nghĩa là anh em cần xem sự ngợi khen là một sinh tế và dâng lên cho Đức Chúa Trời. Khi đặt chính mình vào trong một vị thế đắc thắng như vậy, lập tức anh em vượt lên trên mọi sự, và không nan đề nào có thể chôn vùi anh em. Đôi khi anh em có thể cảm thấy điều gì đang cố đè bẹp mình. Nhưng ngay khi ngợi khen, anh em sẽ thoát ra khỏi tình trạng nản lòng của mình.

Chúng ta hãy xem 2 Sử Ký 20:20-22. “Vào sáng sớm, họ đều chỗi dậy, tiến vào đồng hoang Thê-cô-a; khi họ đi, Giô-sa-phát đứng mà nói rằng: Hỡi người Giu-đa và cư dân Giê-ru-sa-lem! Hãy nghe ta: Hãy tin cậy Chúa Đức Chúa Trời các ngươi, thì các ngươi sẽ vững chắc; hãy tin các tiên tri Ngài, thì các ngươi sẽ được thạnh vượng. Khi ông đã bàn với dân chúng, thì chỉ định những người ca hát cho Chúa đi ra trước đạo quân ngợi khen vẻ đẹp của sự thánh khiết rằng: Hãy ngợi khen Chúa, vì sự thương xót Ngài hằng có đời đời. Khi chúng bắt đầu ca hát và ngợi khen, thì Chúa đặt phục binh xông vào con cái Am-môn, Mô-áp và [những người ở] núi Sê-i-rơ đã đến chống lại Giu-đa; và họ đều bị đánh bại”. Đây là một trận chiến. Vào thời Giô-sa-phát cai trị, quốc gia Giu-đa đã đến đường cùng, và rất yếu kém. Mọi sự đều ở trong một tình trạng hỗn loạn. Người Mô-áp, người Am-môn và dân ở núi Sê-i-rơ đến xâm chiếm Giu-đa. Giu-đa hoàn toàn tuyệt vọng; họ cảm thấy chắc chắn sẽ bị đánh bại. Giô-sa-phát là một vị vua được phục hưng, và là một người kính sợ Đức Chúa Trời. Tất nhiên, không có vị nào trong những vị vua sau cùng của Giu-đa là hoàn hảo, ấy thế mà Giô-sa-phát lại là một người theo đuổi Đức Chúa Trời. Ông truyền Giu-đa phải tin nơi Đức Chúa Trời. Ông đã làm gì? Ông lập những người ca hát để hát ngợi khen Đức Giê-hô-va. Ông cũng truyền những người ấy ngợi khen vẻ đẹp của sự thánh khiết, bước đi phía trước quân đội và nói rằng: “Ngợi khen Chúa; vì sự thương xót Ngài hằng có đời đời”. Xin lưu ý đến nhóm chữ khi chúng bắt đầu trong câu tiếp theo. Đó là một lời rất quí báu. “Khi chúng bắt đầu ca hát và ngợi khen, thì Đức Giê-hô-va đặt phục binh xông vào con cái Am-môn, Mô-áp và [những người ở] núi Sê-i-rơ”. Khi chúng bắt đầu có nghĩa là ngay giây phút ấy. Khi mọi người hát ngợi khen Đức Giê-hô-va, Ngài chỗi dậy đánh bại dân Am-môn, dân Mô-áp và những người từ núi Sê-i-rơ. Không gì chuyển động tay Chúa nhanh như lời ngợi khen. Cầu nguyện không phải là cách tốt nhất chuyển động tay Chúa; ngợi khen mới là cách nhanh nhất. Xin đừng hiểu lầm là chúng ta không phải cầu nguyện. Chúng ta cần cầu nguyện, và cần cầu nguyện mỗi ngày. Tuy nhiên, chỉ nhờ ngợi khen mà chúng ta có thể đắc thắng nhiều điều.

Tại đây, chúng ta nhận thấy rằng sự đắc thắng thuộc linh không phải tùy thuộc vào chiến trận mà tùy thuộc vào lời ngợi khen. Chúng ta cần học tập đắc thắng Sa-tan bằng lời ngợi khen của mình. Chúng ta đắc thắng Sa-tan không phải chỉ nhờ cầu nguyện mà cũng nhờ ngợi khen nữa. Nhiều người ý thức về tính hung ác của Sa-tan và những nhược điểm của chính mình, và họ quyết tâm chiến đấu và cầu nguyện. Tuy nhiên, tại đây chúng ta tìm thấy một nguyên tắc rất độc đáo: Sự đắc thắng thuộc linh không tùy thuộc vào chiến trận mà tùy thuộc vào sự ngợi khen. Các con cái của Đức Chúa Trời thường bị cám dỗ nghĩ rằng các nan đề của mình quá lớn và họ phải tìm cách nào đó để giải quyết các nan đề ấy. Họ quan tâm nhiều đến việc tìm cách nào để đắc thắng. Nhưng càng cố gắng tìm ra một phương cách, thì họ càng khó đắc thắng hơn. Làm như vậy là họ tự đặt mình trên cùng một bình diện với Sa-tan. Cả hai đều ở trong trận chiến; Sa-tan đánh bên này, còn họ thì đánh bên kia. Đứng ở vị thế ấy thì không dễ gì thắng được. Nhưng 2 Sử Ký chương 20 đưa ra một bức tranh khác. Bên này là quân đội, còn bên kia thì hát thánh ca. Những người ấy hoặc là có đức tin lớn nơi Đức Chúa Trời, hoặc là điên cuồng. Cảm tạ Đức Chúa Trời, chúng ta không phải là những người điên cuồng. Chúng ta là những người có đức tin nơi Đức Chúa Trời.

Nhiều con cái của Đức Chúa Trời ở dưới những thử thách gay go; họ thường bị thử nghiệm. Khi những thử thách trở nên gay go và cuộc chiến trở nên ác liệt, họ giống như Giô-sa-phát. Họ bị vây hãm trong tình trạng rối ren của mình. Bên này thì quá mạnh, còn bên kia thì quá yếu; [lực lượng] hai bên không tương xứng. Họ bị kẹt trong cơn lốc. Các nan đề của mình quá lớn và họ không thể nào đắc thắng được. Vào những lúc như vậy, họ dễ chuyển sang chú ý đến các nan đề của mình; mắt họ dễ chăm chăm nhìn những nỗi khó khăn của mình. Càng trải qua những thử thách, một người càng dễ bị các nan đề của mình trói buộc. Hoàn cảnh ấy là thời điểm tốt nhất để thử nghiệm. Cuộc thử nghiệm lớn nhất đến khi người ấy nhìn vào chính mình hay hoàn cảnh của mình. Càng bị thử nghiệm, một người càng có khuynh hướng nhìn vào chính mình hay hoàn cảnh của mình. Nhưng đối với những người hiểu biết Đức Chúa Trời, càng bị thử nghiệm thì họ càng đặt sự trông cậy của mình nơi Chúa. Càng bị thử nghiệm thì họ càng học tập ngợi khen. Vậy, chúng ta phải học tập đừng nhìn chính mình. Chúng ta phải học tập nhìn Chúa. Chúng ta cần phải ngửng đầu lên và thưa với Chúa rằng: “Ngài ở trên mọi sự; con ngợi khen Ngài!” Những lời ngợi khen lớn tiếng, những lời ngợi khen phát xuất từ tấm lòng, và những lời ngợi khen tuôn ra từ những cảm xúc bị tổn thương là các sinh tế bằng sự ngợi khen làm hài lòng Đức Chúa Trời và được Ngài chấp nhận. Một khi sinh tế bằng sự ngợi khen lên đến Đức Chúa Trời, thì kẻ thù là Sa-tan bị lời ngợi khen đánh bại. Sinh tế bằng sự ngợi khen rất công hiệu trước mặt Đức Chúa Trời. Hãy để những lời ngợi khen cao quý nhất của anh em bật ra dâng lên cho Đức Chúa Trời, thì anh em chắc chắn sẽ đứng vững và đắc thắng. Khi ngợi khen, anh em sẽ tìm thấy con đường chiến thắng mở rộng trước mắt mình!

Các tín đồ mới đừng nghĩ rằng mình phải trải qua nhiều năm tháng trước khi có thể học tập bài học ngợi khen. Họ cần phải nhận thức rằng ngay lập tức họ có thể bắt đầu ngợi khen. Mỗi khi gặp phải một nan đề, anh em phải cầu xin sự thương xót để anh em dừng lại không xoay xở và mưu tính nữa, mà thay vào đó anh em học tập bài học ngợi khen. Có thể thắng được nhiều cuộc chiến nhờ ngợi khen. Nhiều trận chiến bị thua vì thiếu ngợi khen. Nếu tin nơi Đức Chúa Trời, thì giữa các nan đề của mình, anh em có thể thưa với Chúa rằng: “Con ngợi khen danh Ngài. Ngài [trổi] cao hơn mọi sự. Ngài mạnh mẽ hơn mọi sự. Sự nhân từ của Ngài hằng có đời đời!” Người nào ngợi khen Đức Chúa Trời thì vượt trên mọi sự. Người ấy liên tục đắc thắng nhờ sự ngợi khen của mình. Đó là một nguyên tắc, và cũng là một sự thật.

III. SỰ NGỢI KHEN SINH-RA-ĐỨC-TIN

Thi thiên 106:12 là một lời rất quí báu. “Bấy giờ họ tin lời của Ngài; họ hát ngợi khen Ngài”. Đó là tình trạng của con dân Israel trong đồng hoang. Họ tin, và họ ca hát. Họ tin, nên họ ngợi khen. Sự ngợi khen có một yếu tố cơ bản là đức tin. Anh em không thể mở miệng ngợi khen một cách hư không. Anh em không thể nói một cách khinh suất rằng: “Con cảm tạ Chúa! Con ngợi khen Chúa!” Anh em phải tin. Chỉ sau khi đã tin thì anh em mới có thể ngợi khen. Khi có nan đề hay lúc buồn rầu, anh em cầu nguyện, và đang khi cầu nguyện, một loại đức tin chỗi dậy trong lòng anh em. Ngay giây phút ấy, anh em mở miệng mình ra ngợi khen. Đó là một phương cách sống động, nhưng đừng làm điều ấy một cách hờ hững. Khi đối diện với nan đề, một người cần phải cầu nguyện. Nhưng ngay khi thấy mình có một ít đức tin, ngay khi bắt đầu tin nơi Đức Chúa Trời và sự vĩ đại, quyền năng, lòng cảm thương, vinh quang của Ngài, cùng với biểu hiện của vinh quang Ngài, thì người ấy cần phải bắt đầu ngợi khen. Nếu người nào có được đức tin nhưng sau đó không ngợi khen, thì chẳng bao lâu người ấy sẽ nhận thấy đức tin mình biến mất. Chúng tôi nói điều này từ kinh nghiệm bản thân. Một khi có đức tin ở bên trong thì anh em cần phải ngợi khen. Nếu không ngợi khen thì sau đó ít lâu anh em sẽ mất đi đức tin. Bây giờ, anh em có thể có đức tin. Nhưng sau đó ít lâu, anh em sẽ bị mất đức tin ấy. Vì vậy, chúng ta phải học tập ngợi khen. Chúng ta phải học tập thốt lên những lời ngợi khen. Chúng ta phải mở miệng mình ra ngợi khen. Chúng ta không nên chỉ có một tấm lòng ngợi khen, mà còn phải có những lời ngợi khen thực sự được thốt nên lời. Anh em phải ngợi khen Đức Chúa Trời trước mọi nan đề của mình và trước mặt Sa-tan. Anh em nên thưa với Chúa rằng: “Chúa ơi! Con ngợi khen Ngài!” Cứ làm như vậy cho đến khi anh em được chuyển từ tình trạng không có cảm xúc đến tình trạng có cảm xúc, hay từ tình trạng có cảm xúc yếu ớt đến tình trạng có cảm xúc mạnh mẽ. Cứ thực hành như vậy cho đến khi anh em chuyển từ đức tin nhỏ bé đến đức tin trọn vẹn.

Một khi vinh quang của Đức Chúa Trời đầy dẫy mắt anh em, thì anh em có thể tin. Một khi vinh quang Ngài đầy dẫy linh anh em, thì anh em có thể ngợi khen. Anh em phải nhận thấy rằng Đức Chúa Trời ở trên mọi sự và đáng được anh em ngợi khen. Khi anh em ngợi khen, thì Sa-tan bỏ chạy. Đôi lúc chúng ta cần cầu nguyện. Nhưng khi sự cầu nguyện của chúng ta đạt tới giai đoạn có đức tin và sự bảo đảm, thì chúng ta biết rằng Chúa đã đáp ứng lời cầu nguyện của mình, và chúng ta cần phải ngợi khen rằng: “Chúa ơi, con cảm tạ Ngài! Con ngợi khen Ngài! Vấn đề này đã được giải quyết rồi!” Đừng đợi đến khi vấn đề kết thúc rồi mới ngợi khen. Chúng ta phải ngợi khen ngay khi có đức tin. Đừng đợi đến khi kẻ thù bỏ chạy rồi mới hát. Chúng ta phải hát để đuổi hắn đi. Chúng ta phải học tập ngợi khen bằng đức tin. Khi chúng ta ngợi khen Ngài trong đức tin, kẻ thù sẽ bị đánh bại và bị đuổi đi. Chúng ta phải tin trước khi có thể ngợi khen. Trước hết chúng ta tin và ngợi khen, rồi sẽ kinh nghiệm chiến thắng.

IV. VÂNG PHỤC ĐEM ĐẾN SỰ NGỢI KHEN

Các nan đề của chúng ta chủ yếu rơi vào hai loại. Loại thứ nhất là các nan đề phát sinh từ môi trường và những sự việc chung quanh chúng ta. Đó là nan đề của Giô-sa-phát. Cách đắc thắng loại nan đề này là ngợi khen. Loại thứ hai là các nan đề bên trong chúng ta. Các lời nói có thể gây tổn thương cho chúng ta. Những người khác có thể xúc phạm, bắt bớ, bạc đãi, chống đối, thù ghét chúng ta không vì lý do gì cả, hay vu khống chúng ta mà không có cơ sở gì cả. Chúng ta có thể cảm thấy không thể chịu nổi những điều ấy nữa, và không thể vượt qua. Những nan đề ấy liên quan đến chiến thắng riêng tư của chúng ta. Một anh em có thể nói một điều gì đó không đúng đắn. Một chị em có thể đối xử với anh em cách vô lý. Anh em có thể cảm thấy gần như không thể nào đắc thắng những điều ấy. Trọn bản thể của anh em có thể chiến đấu, phàn nàn và đòi hỏi công lý. Anh em cảm thấy khó tha thứ cho những người khác. Anh em khó đắc thắng cảm xúc của mình. Anh em bị xúc phạm, vu khống, bắt bớ, và không thể khắc phục tình cảnh ấy. Cầu nguyện không giúp được bao nhiêu. Anh em muốn chiến đấu và gắng sức chống lại, nhưng không thể làm được. Càng cố gắng giũ bỏ gánh nặng ấy, anh em càng trở nên tệ hại hơn. Anh em thấy thật khó đắc thắng. Xin ghi nhớ rằng khi lâm vào cảnh gian khổ vô cùng và chịu nỗi bất công ghê gớm, đó không phải là lúc anh em cầu nguyện mà là lúc ngợi khen. Anh em nên cúi đầu và thưa với Chúa rằng: “Con cảm ơn Ngài. Những gì Ngài làm không bao giờ sai trật. Con chấp nhận tất cả những điều này từ tay Ngài. Con cảm tạ Ngài. Con ngợi khen Ngài”. Nếu anh em làm như vậy, tất cả các nan đề của mình sẽ ra đi. Chiến thắng không liên quan gì đến việc vật lộn với xác thịt. Chiến thắng cũng không liên quan gì đến việc cố gắng tha thứ những người khác hay phấn đấu để tha thứ cho những người khác bằng sức riêng của mình. Chiến thắng đến khi một người cúi đầu và ngợi khen Chúa: “Con ngợi khen Ngài vì đường lối của Ngài. Sự sắp đặt của Ngài luôn luôn tốt đẹp. Bất cứ những gì Ngài làm cũng đều đúng”. Khi ngợi khen Chúa như vậy, linh anh em sẽ bay vượt lên trên các nan đề của mình, cũng bay vượt lên trên những vết thương bề trong của anh em. Những người bị tổn thương trong những cảm xúc của mình đều thiếu sự ngợi khen. Nếu anh em có thể ngợi khen Chúa, sự đau đớn của anh em sẽ biến thành lời ngợi khen. Linh anh em sẽ vượt lên trên các đỉnh cao, và anh em sẽ thưa với Chúa rằng: “Con cảm tạ và ngợi khen Ngài. Ngài không bao giờ sai trật trong mọi đường lối của Ngài”. Đó là con đường chúng ta chấp nhận trước mặt Chúa. Hãy bỏ lại mọi sự ở đằng sau. Điều ấy vinh hiển biết bao. Đó thật sự là một sinh tế.

Đời sống Cơ Đốc bay lên cao được là nhờ những lời ngợi khen. Ngợi khen là vượt lên trên mọi sự để chạm đến Chúa. Đó là con đường Chúa Giê-su chúng ta đã chọn khi Ngài ở trên đất. Chúng ta cũng phải chọn cùng một con đường ấy. Chúng ta không nên lằm bằm chống đối cõi trời khi lâm vào những thử thách. Chúng ta cần phải bay lên trên những sự thử thách ấy. Một khi ngợi khen, thì chúng ta ở trên những sự thử thách. Những người khác càng cố gắng đè ép chúng ta xuống, chúng ta càng phải chỗi dậy trước mặt Chúa và nói: “Con cảm tạ Ngài và ngợi khen Ngài!” Hãy học tập chấp nhận mọi sự. Hãy học tập biết Ngài là Đức Chúa Trời. Hãy học tập biết những công việc của tay Ngài. Không gì có thể làm cho một người trưởng thành bằng các sinh tế bằng sự ngợi khen. Chúng ta cần học tập không những chấp nhận sự sửa trị của Thánh Linh mà còn ngợi khen sự sửa trị của Thánh Linh. Chúng ta cần học tập không những chấp nhận mà còn hân hoan về sự xử lý của Chúa. Chúng ta cần học tập không những chấp nhận sự sửa phạt của Chúa mà còn sẵn sàng chấp nhận điều ấy cách vui mừng. Nếu chúng ta làm như vậy, một cánh cửa thông suốt và vinh hiển sẽ được mở ra cho chúng ta.

V. NGỢI KHEN TRƯỚC KHI HIỂU

Cuối cùng, trong Thi thiên 50:23, Đức Chúa Trời nói: “Người nào dâng sự cảm tạ làm của lễ, tôn vinh Ta”. Tại đây, sự cảm tạ cũng có thể được dịch là sự ngợi khen. Chúa đang chờ chúng ta ngợi khen. Không gì có thể tôn vinh Đức Chúa Trời bằng những lời ngợi khen. Một ngày kia, tất cả những lời cầu nguyện, công tác, việc nói tiên tri và sự lao khổ sẽ chấm dứt. Nhưng vào ngày ấy, những lời ngợi khen của chúng ta sẽ nhiều hơn những lời ngợi khen của ngày nay. Sự ngợi khen sẽ kéo dài cho đến đời đời, và không bao giờ chấm dứt. Khi chúng ta đến cõi trời và tới quê hương cuối cùng của mình, lúc ấy những lời ngợi khen còn dâng lên cao hơn nữa. Ngày nay, chúng ta có cơ hội học tập bài học tốt nhất; thậm chí ngày nay, chúng ta cũng có thể học tập ngợi khen Đức Chúa Trời.

Ngày nay vẫn là thời kỳ chúng ta còn nhìn trong tấm gương một cách mập mờ (1 Cô. 13:12). Mặc dầu có thể nhìn thấy phần nào về nhiều điều, chúng ta vẫn không thể hiểu ý nghĩa đằng sau những sự việc. Chúng ta chỉ có thể cảm thấy đau đớn từ tất cả những vết thương bề trong và từ những thử thách bên ngoài mà chúng ta đã gặp phải hay kinh nghiệm. Chúng ta không thể thấu hiểu ý nghĩa đằng sau những sự kiện ấy. Đó là lý do chúng ta không ngợi khen. Chúng tôi tin rằng những lời ngợi khen sẽ đầy dẫy trong cõi trời vì trong cõi trời [chúng ta] sẽ hiểu biết trọn vẹn. Sự hiểu biết càng trọn vẹn thì lời ngợi khen càng đầy tràn. Mọi sự đều sẽ rõ ràng khi chúng ta đến trước mặt Chúa vào ngày ấy. Những điều mập mờ đối với chúng ta ngày nay sẽ trở nên rõ ràng vào ngày ấy. Vào ngày ấy, chúng ta sẽ thấy ý chỉ tuyệt hảo của Chúa trong mỗi bước sửa trị của Linh. Nếu không có sự sửa trị của Thánh Linh thì chúng ta không thể tưởng tượng được mình đã sa bại đến mức nào! Nếu một số bước chân của chúng ta không được Thánh Linh chận lại, chúng ta không thể tưởng tượng được sự sa ngã của mình thảm hại đến đâu! Nhiều điều, hàng ngàn và thậm chí hàng triệu điều mà chúng ta không thấy ngày nay, sẽ trở nên rõ ràng đối với chúng ta vào ngày ấy. Khi nhìn thấy mọi sự vào ngày ấy, chúng ta sẽ cúi đầu và ngợi khen Ngài rằng: “Chúa ơi, Ngài không bao giờ sai trật”. Mỗi bước sửa trị của Linh đều là công việc của Đức Chúa Trời trong chúng ta. Nếu không bị bệnh lần ấy, thì chúng ta đã trở thành ra sao? Nếu không thất bại lần ấy, thì chúng ta đã trở nên thế nào? Điều chúng ta đã đương đầu có thể là một nan đề, nhưng nhờ đương đầu với nan đề ấy mà chúng ta có thể tránh những nan đề lớn hơn. Điều chúng ta gặp phải có thể là một sự không may, nhưng qua đó, chúng ta có thể tránh được sự không may lớn hơn. Vào ngày ấy, chúng ta sẽ thấy lý do Chúa cho phép tất cả những điều ấy xảy đến với mình. Ngày nay, Chúa đang dẫn dắt chúng ta tiến lên từng bước. Vào ngày ấy, chúng ta sẽ cúi đầu thưa rằng: “Chúa ơi, con đã là một kẻ ngu dại, vì ngày hôm ấy không ngợi khen Ngài. Con đã là một kẻ ngu dại, vì ngày hôm ấy không cảm tạ Ngài”. Vào ngày ấy, khi mắt được mở ra và chúng ta đã hiểu rõ, chúng ta sẽ xấu hổ biết bao khi nhớ lại những lời lằm bằm của mình. Vì vậy, ngày nay chúng ta phải học tập nói rằng: “Chúa ơi, con không thể hiểu Ngài đang làm gì, nhưng con biết là Ngài không thể sai trật”. Chúng ta phải học tập tin và học tập ngợi khen. Nếu làm như vậy, vào ngày ấy chúng ta sẽ nói rằng: “Chúa ơi! Con cảm tạ Ngài vì ân điển Ngài đã cứu con khỏi những lời phàn nàn và lằm bằm không cần thiết. Thưa Chúa! Con cảm tạ Ngài vì ân điển đã gìn giữ con khỏi lằm bằm trong những ngày ấy”. Đối với nhiều điều, càng có sự hiểu biết, những lời ngợi khen của chúng ta càng lớn lao hơn. Chúng ta mong muốn ngợi khen Chúa vì Ngài thật tốt lành (Thi. 25:8; 100:5). Chúng ta cần luôn luôn nói rằng: “Chúa thật tốt lành”. Ngày nay, chúng ta phải học tập tin rằng Chúa thật tốt lành và Ngài không bao giờ sai trật, mặc dầu không phải lúc nào chúng ta cũng có thể hiểu được những gì Ngài đang làm. Nếu tin thì chúng ta sẽ ngợi khen. Những lời ngợi khen của chúng ta là vinh quang của Ngài. Ngợi khen là tôn vinh Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời xứng đáng [nhận được] mọi vinh quang. Nguyện Đức Chúa Trời nhận được dồi dào những lời ngợi khen từ các con cái Ngài.