Thông tin sách

Bài Học Gây Dựng Tín Đồ Mới - Tập 1

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Messages for Building Up New Believers, Vol. 1
ISBN: 0-7363-0976-4
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 15

Thánh caTải về

CHƯƠNG MƯỜI LĂM

HÁT THÁNH CA

Kinh Thánh: Thi. 104:33; Êph. 5:19; Mat. 26:30; Công. 16:25

Sau khi một người tin nhận Chúa, một người phải học tập hát thánh ca. Khi một Cơ Đốc nhân đến buổi nhóm mà không biết hát thánh ca thì thật khó khăn. Sự cầu nguyện thường bị sao lãng trong buổi nhóm, nhưng hát thánh ca thậm chí còn bị sao lãng hơn nữa. Chúng ta phải tập hát thánh ca. Không phải chúng ta cố gắng làm nhạc sĩ, nhưng chúng ta cần phải quen thuộc với những bài thánh ca. Đây là một vấn đề quan trọng.

I. CẢM XÚC Ở ĐẰNG SAU CÁC BÀI THÁNH CA

Trong Kinh Thánh có những lời tiên tri, câu chuyện lịch sử, các giáo lý, lời dạy dỗ và những mạng lịnh. Trong Kinh Thánh cũng có những bài ca. Bài ca là sự biểu lộ những cảm xúc tế nhị nhất của con người. Những cảm xúc trong lời cầu nguyện của một người trước mặt Đức Chúa Trời không thể nào sánh được với cảm xúc trong những bài hát người ấy [dâng lên] trước mặt Đức Chúa Trời; cảm xúc trong lời cầu nguyện không bao giờ tinh tế và mềm mại bằng cảm xúc trong những bài ca. Đức Chúa Trời muốn chúng ta có những cảm xúc tinh tế và mềm mại. Đó là lý do Ngài ban cho chúng ta nhiều bài ca trong Kinh Thánh. Ngoại trừ Thi Thiên, Nhã Ca và Ca Thương cũng có những bài ca trong lịch sử và các mạng lịnh nữa (Xuất. 15:1-18; Phục. 32:1-43). Thậm chí trong các Thư tín của Phao-lô, chúng ta thấy rải rác có những bài thánh ca trong các lời dạy dỗ của ông (La. 11:33-36; 1 Ti. 3:16; v.v...). Tất cả những ví dụ ấy cho chúng ta thấy Đức Chúa Trời muốn dân Ngài có những cảm xúc tinh tế và mềm mại.

Cảm xúc của Chúa chúng ta thật tinh tế và mềm mại. Chúng ta vừa có những cảm xúc tinh tế vừa có những cảm xúc thô thiển. Sự phẫn nộ và tức giận rõ ràng là những cảm xúc thô thiển. Một số người không phẫn nộ, nhưng những cảm xúc của họ cũng không tinh tế. Đức Chúa Trời muốn chúng ta kiên nhẫn, thương xót, đầy lòng nhân từ và cảm thông, vì những điều đó đều là các cảm xúc tinh tế. Đức Chúa Trời muốn chúng ta ca hát giữa những thử thách của mình, muốn chúng ta ngợi khen chúc tụng danh Ngài giữa những nỗi khổ của mình, vì tất cả những điều ấy đều biểu lộ những cảm xúc tế nhị. Khi một người yêu thương người khác, cảm xúc của người ấy thật mềm mại. Khi một người tha thứ hay thương xót người khác, cảm xúc của người ấy cũng mềm mại.

Đức Chúa Trời muốn dẫn dắt các con cái Ngài đến chỗ bước đi với những cảm xúc tế nhị hơn, mềm mại hơn và “thi vị” hơn. Một người càng học biết về Đức Chúa Trời, thì những cảm xúc của người ấy càng tế nhị, mềm mại và “thi vị” hơn. Những người không học hỏi được bao nhiêu trước mặt Đức Chúa Trời thì có những cảm xúc thô thiển và không tinh tế. Nếu một Cơ Đốc nhân bước vào buổi nhóm một cách ồn ào và không quan tâm đến những người khác, thì người ấy không cư xử như một Cơ Đốc nhân điều độ. Thậm chí khi hát, giọng của người ấy nghe cũng không như một bài hát. Nếu một người chạy vào buổi nhóm, đâm bổ vào người bên này bên kia, làm ngã bàn ghế, thì người ấy không cư xử như một người đầy những lời ca tiếng hát. Chúng ta phải nhận thức rằng từ ngày chúng ta được cứu, hằng ngày Đức Chúa Trời huấn luyện chúng ta để có những cảm xúc tế nhị và mềm mại. Để làm một Cơ Đốc nhân tốt, một người phải có những cảm xúc tế nhị và mềm mại. Những cảm xúc sâu xa nhất tuôn ra từ tấm lòng của một người được diễn đạt trong những bài ca. Chúng ta không muốn có những cảm xúc thô thiển. Cảm xúc thô thiển không liên quan gì đến thánh ca, và không phải là của một Cơ Đốc nhân.

II. NHỮNG ĐIỀU KIỆN CẦN CÓ CỦA MỘT BÀI THÁNH CA

Bài thánh ca nào muốn đạt tiêu chuẩn cũng phải thỏa đáp ba điều kiện cơ bản. Nếu một bài thánh ca không thỏa đáp được bất cứ điều kiện nào, thì đó không phải là một bài thánh ca hay.

Trước hết, lời của bài thánh ca phải được đặt nền tảng trên lẽ thật. Nhiều bài thánh ca đáp ứng được hai điều kiện kia nhưng chứa đựng những sai lầm về mặt lẽ thật. Nếu chúng ta yêu cầu con cái của Đức Chúa Trời hát những bài thánh ca ấy, thì chúng ta dẫn họ rơi vào tình trạng sai trật. Chúng ta đặt vào tay họ những sự sai trật của con người khi họ đến trước mặt Chúa; chúng ta đưa dẫn họ vào một cảm xúc không đúng đắn. Khi các con cái của Đức Chúa Trời hát thánh ca, cảm xúc của họ hướng về Đức Chúa Trời. Nếu các bài thánh ca chứa đựng những giáo lý sai trật, thì họ sẽ bị đánh lừa trong cảm xúc của mình và không chạm được thực tại. Đức Chúa Trời không gặp chúng ta theo cảm xúc “thi vị” của bài thánh ca; Ngài gặp chúng ta theo lẽ thật được truyền đạt trong bài thánh ca. Chúng ta chỉ có thể đến trước mặt Đức Chúa Trời trong lẽ thật. Nếu không đến với Đức Chúa Trời trong lẽ thật, thì chúng ta ở trong tình trạng sai trật và sẽ không chạm được thực tại.

Ví dụ, một bài thánh ca về phúc âm nói rằng huyết của Chúa Jesus tẩy sạch lòng chúng ta. Nhưng Tân Ước không nói về việc huyết của Chúa Jesus tẩy sạch lòng chúng ta. Huyết của Chúa không tẩy sạch lòng chúng ta; trong Kinh Thánh không có lời ấy. Hê-bơ-rơ 9:14 nói rằng huyết của Chúa Jesus thanh tẩy lương tâm chúng ta — lương tâm là một phần của lòng chứ không phải là chính tấm lòng. Huyết Chúa rửa sạch chúng ta khỏi những tội lỗi của mình. Vì chúng ta đã được rửa sạch khỏi những tội lỗi của mình, nên lương tâm chúng ta không còn cáo trách chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời nữa. Vì vậy, huyết chỉ tẩy sạch lương tâm chứ không tẩy sạch tấm lòng. Lòng chúng ta không thể được huyết tẩy sạch. Lòng con người dối trá hơn tất cả mọi vật (Giê. 17:9). Dầu có cố gắng rửa sạch tấm lòng bao nhiêu đi nữa, nó không bao giờ có thể được tẩy sạch. Sự dạy dỗ của Kinh Thánh về tấm lòng là tấm lòng bằng đá của chúng ta được cất đi và Đức Chúa Trời ban cho chúng ta một tấm lòng bằng thịt (Êxc. 36:26). Ngài ban cho chúng ta một tấm lòng mới; Ngài không tẩy sạch tấm lòng cũ. Khi một người tin nhận Chúa, Đức Chúa Trời ban cho người ấy một tấm lòng mới. Ngài không tẩy sạch tấm lòng cũ của người ấy nhưng rửa đi những quá phạm trong lương tâm người ấy. Đức Chúa Trời không rửa tấm lòng của người ấy. Nếu chúng ta đến với Chúa và ngợi khen Ngài rằng: “Huyết Jesus tẩy sạch lòng tôi”, thì lời ngợi khen của chúng ta không phù hợp với lẽ thật. Đó là một vấn đề nghiêm trọng. Nếu một bài thánh ca mà có lầm lỗi về mặt giáo lý, thì bài thánh ca ấy sẽ đem người ta vào những cảm xúc sai trật.

Nhiều bài thánh ca không phân biệt các thời đại. Chúng ta không biết bài thánh ca ấy nên được Áp-ra-ham hay Môi-se hát. Chúng ta không biết bài thánh ca ấy nên được người Do Thái hay Cơ Đốc nhân hát. Chúng ta không biết bài thánh ca ấy thuộc về Cựu Ước hay Tân Ước. Khi hát loại thánh ca như vậy, nó làm cho anh em cảm thấy như thể anh em là một thiên sứ không dính dấp gì đến sự cứu chuộc, anh em không có tội và không cần huyết. Nếu một bài thánh ca không rõ ràng trong lời dạy dỗ về các thời đại, và nếu không phản ảnh thời đại ân điển, thì bài thánh ca ấy sẽ dẫn các con cái của Đức Chúa Trời rơi vào sự sai trật.

Nhiều bài thánh ca chỉ bày tỏ hi vọng chứ không nói gì đến sự bảo đảm. Những bài ấy bày tỏ hi vọng được cứu rỗi, nỗi ao ước được cứu rỗi, và việc theo đuổi sự cứu rỗi, nhưng hoàn toàn không có sự bảo đảm cho Cơ Đốc nhân. Chúng ta phải ghi nhớ rằng mỗi Cơ Đốc nhân đều cần phải đến với Đức Chúa Trời với lòng tin chắc hoàn toàn. Chúng ta đến với Đức Chúa Trời với sự bảo đảm trọn vẹn của đức tin. Nếu một bài thánh ca cho người ta cảm giác là người ấy đang ở sân ngoài, lời ca của người ấy sẽ làm cho người ấy nghĩ rằng mình không thuộc về dân của Đức Chúa Trời mà chỉ khao khát thuộc về dân Ngài. Nhiều bài thánh ca cho người ta ấn tượng là ân điển của Đức Chúa Trời vẫn còn ở xa và một người vẫn cần tìm kiếm ân điển ấy. Những bài thánh ca như vậy đặt Cơ Đốc nhân vào vị trí sai trật. Đó không phải là vị trí của Cơ Đốc nhân. Vị trí của Cơ Đốc nhân là một vị trí đầy tin tưởng, một vị trí ban cho người ấy sự tin chắc rằng mình đã được cứu. Bài thánh ca nào không tạo cho một Cơ Đốc nhân sự bảo đảm như vậy thì không được hát.

Một lỗi lầm khác thường thấy trong nhiều bài thánh ca là ý niệm con người vào trong vinh quang sau khi chết. Nhiều bài thánh ca nói về việc bước vào vinh quang khi chết như thể một người bước vào vinh quang qua sự chết. Nhưng Kinh Thánh không nói rằng con người vào trong vinh quang sau khi chết. Vào trong vinh quang là một điều khác với sự chết. Sau khi chết, chúng ta không vào trong vinh quang. Sau khi chết, chúng ta chờ đợi sự sống lại. Chúa chỉ vào trong vinh quang sau khi Ngài sống lại. Đó là sự dạy dỗ minh bạch trong Kinh Thánh (1 Cô. 15:43; 2 Cô. 5:2-3). Bài thánh ca nào tạo cho các con cái của Đức Chúa Trời ấn tượng sai trật là con người vào vinh quang khi chết thì hoàn toàn không được hát, vì không có điều ấy. Vì vậy, một bài thánh ca tốt phải chính xác về mặt giáo lý. Nếu không đạt tiêu chuẩn giáo lý thì bài thánh ca ấy sẽ dễ dàng dẫn các Cơ Đốc nhân vào tình trạng sai trật.

Thứ hai, chỉ có giáo lý chính xác không tạo thành một bài thánh ca. Một bài thánh ca cần phải có tính cách thi ca trong hình thức và cấu trúc của nó. Một mình lẽ thật thì chưa đủ. Sau khi có lẽ thật, vẫn cần đến tính chất thi ca trong hình thức và cấu trúc. Chỉ khi nào có tính chất thi ca thì một bài thánh ca mới ra một bài thánh ca. Hát không phải là rao giảng. Chúng ta không thể hát một sứ điệp. Có một bài thánh ca bắt đầu với những lời lẽ như sau: “Đức Chúa Trời chân thật đã tạo dựng các từng trời, trái đất và con người”. Có thể đó là một chủ đề hay để rao giảng, nhưng không phải là ca hát. Đó là một giáo lý chứ không phải là một bài thánh ca. Tất cả những bài ca trong sách Thi Thiên đều có tính chất thi ca. Mỗi Thi Thiên đều tế nhị và mềm mại trong hình thức cùng cách diễn đạt, và bày tỏ tâm trí của Đức Chúa Trời theo tính cách thi ca. Đưa mỗi dòng vào một vần luật nào đó vẫn chưa tạo thành một bài thánh ca. Cấu trúc phải có tính chất thi ca, và hình thức cũng phải có tính chất thi ca.

Thứ ba, thêm vào lẽ thật, cấu trúc và hình thức có tính chất thi ca, một bài thánh ca cũng cần đem đến sự tác động thuộc linh. Một bài thánh ca phải chạm đến thực tại thuộc linh.

Ví dụ, Thi Thiên 51 là một thi thiên về sự ăn năn do Đa-vít [viết]. Khi đọc Thi Thiên ấy, chúng ta nhận thấy sự ăn năn của Đa-vít thật chính xác về mặt giáo lý, những lời lẽ của ông được chọn kỹ, và cấu trúc của Thi Thiên ấy thật phức tạp. Nhưng hơn thế nữa, chúng ta cảm thấy có một điều gì đó ở bên trong các lời lẽ; trong Thi Thiên ấy có một thực tại thuộc linh, một cảm xúc thuộc linh. Chúng ta có thể gọi đó là gánh nặng của bài thánh ca. Đa-vít ăn năn, và cảm xúc về sự ăn năn của ông dầm thấm toàn bộ Thi Thiên. Nhiều khi đọc sách Thi Thiên, chúng ta có ấn tượng là mỗi cảm xúc được diễn đạt trong các Thi Thiên ấy đều thành thực. Khi tác giả Thi Thiên vui mừng, người ấy nhảy lên và reo mừng. Khi buồn rầu thì tác giả khóc. Các Thi Thiên ấy không phải là những lời lẽ trống không thiếu vắng thực chất. Đằng sau những lời lẽ ấy có thực tại thuộc linh.

Vì vậy, một bài thánh ca không những phải chính xác trong lẽ thật và có tính chất thi ca trong hình thức và cấu trúc, mà còn phải đầy dẫy cảm nhận về thực tại thuộc linh. Nói cách khác, nếu một bài thánh ca có ý định làm đổ nước mắt, thì nó cần phải làm cho anh em khóc. Nếu có ý định khơi dậy sự vui mừng, thì bài thánh ca ấy phải làm cho anh em sung sướng. Khi đề cập đến một điều gì, bài thánh ca ấy phải làm cho anh em cảm nhận chính điều ấy. Chúng ta không thể hát một bài thánh ca về sự ăn năn mà không vang vọng lại sự hưởng ứng trong lòng mình; chúng ta không thể cười đùa trong khi hát bài thánh ca ấy. Chúng ta không thể nói mình hát lên những lời ngợi khen cho Đức Chúa Trời, mà không có niềm vui và sự vui mừng. Chúng ta không thể hát một bài thánh ca về sự dâng mình, mà không có cảm giác gì về sự dâng mình cả. Chúng ta không thể nói rằng một bài thánh ca kêu gọi sự phủ phục và tan vỡ trước mặt Đức Chúa Trời, nhưng chính mình vẫn ung dung và kiêu ngạo. Nếu một bài thánh ca không cho chúng ta cảm xúc chính xác về một chủ đề, thì đó không phải là một bài thánh ca hay. Cảm xúc của một bài thánh ca phải chân thật, và phải chạm đến thực tại thuộc linh.

Một bài thánh ca phải chính xác trong lẽ thật và có tính chất thi ca trong hình thức. Đồng thời, một bài thánh ca hay phải gợi lên trong người hát thực tại thuộc linh đằng sau những lời lẽ, tức là chạm đến những gì bài thánh ca ấy diễn tả. Bằng không, bài thánh ca ấy chưa đạt tiêu chuẩn. Tất cả ba điều kiện ấy phải được thỏa đáp trước khi một bài thánh ca có thể được xem là một thánh ca hay.

III. NHỮNG BÀI THÁNH CA MẪU

Bây giờ, chúng ta hãy xem xét một vài bài thánh ca để minh họa quan điểm của mình:

Bài Mẫu 1: Thánh Ca 127

1. Kìa! Vạn tiếng đồng thanh kêu lớn:

“Kìa, Chiên Con của Đức Chúa Trời!”;

Ngàn ngàn thánh đồ [hưởng ứng] đáp lời,

Lập tức hòa âm vang dậy [khắp nơi].

 

2. “Ngợi khen Chiên Con!”, đồng ca vang rần

Vạn vật trên trời chung họp cùng dâng

Ầm ầm vang xa, mọi lưỡi góp phần

Rền vang khắp nơi bài ca bất tận.

 

3. Hương thơm cảm tạ này bay lên mãi

Đến tận ngai Cha, dâng tận ngai Ngài.

Mọi đầu gối đều quỳ trước Jesus.

Mọi tâm trí trên trời đều hiệp một.

 

4. Mọi ý định của Cha là muốn rằng

Trao cho Con sự tôn kính ngang bằng,

Tất cả hào quang Con đều chiếu rạng,

Khiến vinh quang Cha được biết mọi đàng.

 

5. Nhờ Linh lan tỏa khắp nơi nơi,

Đoàn đông vô số vây mừng Chiên Con,

Đấng được bao phủ bằng ánh sáng và niềm vui không tàn phai,

Họ tung hô Ngài như Đấng “Ta Là” vĩ đại.

 

6. Bây giờ cõi sáng tạo mới tràn ngập niềm hoan hỉ

Nghỉ ngơi yên tĩnh không xao động gì.

Trong ơn cứu rỗi của Jesus được hưởng phước,

Chẳng biết gì nỗi sầu khổ với xiềng gông.

 

7. Kìa! lại [trổi lên] những khúc nhạc thượng thiên!

[Trầm bổng] vang lên bài ca khen ngợi;

Trong toàn cõi sáng tạo tiếng a-men vang dậy.

A-men! Sự vui mừng hưởng ứng cất tiếng lên.

Hiếm khi nào chúng ta gặp một bài thánh ca hay như bài này. Bài thánh ca này đã được J. N. Darby sáng tác, nguyên có mười ba câu. Khi cùng Wigram chỉnh lại bài thánh ca này vào năm 1881, ông đã xóa bỏ một vài câu. Bây giờ chỉ còn bảy câu.

Bài thánh ca này dường như bày tỏ với con người, nhưng thật ra lại hướng về Đức Chúa Trời. Khi hát bài này, chúng ta cảm thấy như thể mình được nâng lên cảnh trường vũ trụ trong Khải Thị chương 4 và 5, là cảnh sau khi Chúa thăng thiên. Tại đây, chúng ta thấy Gô-gô-tha, sự phục sinh và sự thăng thiên. Cõi trời đầy dẫy vinh quang, và [nghe] đến tên Jesus, hàng vạn tiếng nói bắt đầu ngợi khen, và hàng vạn đầu gối quì xuống thờ phượng. Trên các từng trời, dưới đất và bên dưới đất, những lời ngợi khen vang dội từ mọi hướng. Toàn thể vũ trụ đều hát lên lời ngợi khen Ngài. Không bài ca nào khác sánh kịp sự vĩ đại và uy nghi ấy! Một người kém khả năng sẽ không thể nào viết được một bài thánh ca như vậy.

“Kìa! Vạn tiếng đồng thanh kêu lớn”. Hàng vạn tiếng ấy bất chợt phát ra! Như thể một tín đồ nhỏ bé, một con sâu nhỏ xíu, một con người bé nhỏ, hết sức hô lớn lên rằng: “Kìa! vạn tiếng đồng thanh kêu lớn: ‘Chiên Con của Đức Chúa Trời!’. Nghe kìa, hàng ngàn thánh đồ đáp lại”. Ngay khi Chiên Con của Đức Chúa Trời được cất lên thì có sự đáp ứng của cả vũ trụ. Một bên là tiếng ngợi khen, còn bên kia là tiếng đáp lại. Hàng vạn tiếng kêu lên rằng: “Chiên Con đã bị giết xứng đáng nhận được quyền năng, sự phong phú, sự khôn ngoan, sức mạnh, sự tôn trọng, vinh quang và sự chúc tụng” (Khải. 5:12). Ngay cả khi âm thanh ấy chưa lắng xuống, ngàn ngàn tiếng nói đã hòa. “Và mọi vật trên trời, dưới đất, bên dưới đất, trên biển cùng mọi vật ở trong chúng” (Khải. 5:13) cùng đáp lại. Kết quả là gì? “Lập tức hòa âm vang dậy [khắp nơi]”. Âm thanh ấy bộc phát cách hùng tráng vô song. Bất cứ ai chạm đến câu này cũng sẽ lập tức nghĩ đến sự bé nhỏ của chính mình. Câu đầu tiên cất người ấy lên một quang cảnh vĩ đại và uy nghi tại đó hàng vạn tiếng nói kêu lên và hàng ngàn thánh đồ đáp lại. Âm thanh ngân vang một cách uy nghi và bất tận để đồng tâm tôn cao Chiên Con của Đức Chúa Trời. Ngay phần mở đầu đã cho [chúng ta] một cảm giác kính sợ về sự vĩ đại của lời ngợi khen của cả vũ trụ.

Mỗi câu tiếp theo đều theo sát câu đi trước. “ ‘Ngợi khen Chiên Con!’, đồng ca vang rần”. Chúng ta nghe tiếng kêu lên: “Ngợi khen Chiên Con” từ khắp mọi phương trời. Tất cả đều hô vang rằng: “Ngợi khen Chiên Con!” “Ngợi khen Chiên Con” ở đây, “ngợi khen Chiên Con” ở đó, và ở khắp mọi nơi. Những tiếng nói ấy đến từ khắp phương trời. “Vạn vật trên trời chung họp cùng dâng”. Vạn vật trên trời có nghĩa là toàn thể cõi trời. Muôn vật tại đó quần tụ lại để hát lên những lời ngợi khen. “Ầm ầm vang xa mọi lưỡi góp phần” — mọi môi miệng đều xưng nhận. Điểm này tự nhiên đưa đến Phi-líp 2:11: “Và mọi lưỡi đều công khai xưng nhận Jesus Christ là Chúa”. Mọi môi miệng đều xưng nhận; đó là tại sao tiếng ấy “ầm ầm vang xa”. Bài ca bất tận ấy vang rền khắp vũ trụ. Toàn thể vũ trụ tuôn trào “bài ca bất tận” ấy.

Không những có các tiếng nói, mà còn có “Hương thơm cảm tạ này bay lên mãi”. Hương thơm cảm tạ ấy luôn bay lên “đến tận ngai Cha”. Không những môi miệng kêu lên, mà lòng biết ơn cũng luôn dâng lên Đức Chúa Trời. Không những chúng ta lấy môi miệng mình kêu lên đến Chiên Con, mà lòng chúng ta cũng dâng lên Đức Chúa Trời, như thể kế hoạch của Đức Chúa Trời và sự cứu chuộc của Chúa đã trở nên một thực thể không thể nào tách rời. Chúng ta ngợi khen Chiên Con, và cũng cảm tạ Đức Chúa Cha. Lòng biết ơn như vậy trong sự ngợi khen và cảm tạ bay lên Đức Chúa Trời như một thức hương.

Lời ngợi khen ấy không dừng lại tại đó. Miệng kêu la và reo hò, nhưng điều ấy vẫn chưa phải là tất cả, vì mọi đầu gối đều phải quì xuống và thờ phượng. Mọi đầu gối đều phải quì xuống và thờ phượng Chúa. Trước hết là “mọi lưỡi”, rồi đến “mọi đầu gối”. Tự phát mọi đầu gối đều quì xuống trước Jesus. Một mặt, chúng ta dâng sự cảm tạ lên Cha. Mặt khác, chúng ta phủ phục trước mặt Chúa. Dòng tiếp theo rất thi vị: “Mọi tâm trí trên trời đều hiệp một”. Đó không phải là rao giảng. Những người không có cảm xúc bén nhạy không thể chạm đến bất cứ điều gì tại đây. Nhưng khi một người được đưa đến giai đoạn nhìn thấy đối tượng mà mọi lưỡi đều ngợi khen và mọi đầu gối đều quì xuống thờ phượng, thì tự phát người ấy sẽ tuyên bố rằng: “Mọi tâm trí trên trời đều hiệp một biết bao!” Nhóm chữ mọi tâm trí... hiệp một đầy thi vị.

Một khi tác giả bản thánh ca này chạm đến Cha và Con, thì ông mở ra giáo lý về Con và giáo lý về Cha. Hiện tại, mọi sự đều được khai mở. “Tất cả hào quang Con đều chiếu rạng, / Khiến vinh quang Cha được biết mọi đàng”. Vinh quang ở bên trong, trong khi hào quang thì ở bên ngoài. Điều Cha có là vinh quang. Vinh quang ấy của Cha trở nên hào quang nơi Con. Hào quang của Con là sự bày tỏ vinh quang của Cha. Đối với Cha thì có vinh quang; đối với Con thì có sự bày tỏ vinh quang ấy. Sự bày tỏ không ở với Cha mà ở với Con. “Mọi ý định của Cha”. Ý định là ở bên trong, và các ý định ấy là “muốn... trao cho Con sự tôn kính ngang bằng”. Đó không phải là hành động của Cha, mà là những ý định của Cha; đó không phải là công việc của Cha, mà là kế hoạch của Cha. Ngài muốn mặc khải cho loài người rằng Con được tôn kính cách bình đẳng. Câu thứ ba chuyển từ Cha sang Con. Câu thứ tư chuyển từ Con sang Cha rồi từ Cha trở về với Con; câu ấy bắt đầu với Con và kết thúc với Con. Trong câu thứ ba, tác giả bắt đầu đề cập đến Con, và trong câu thứ tư lại đề cập đến Con một lần nữa. Tại đây, chúng ta thấy giáo lý về Cha và Con.

Người nào đã chạm đến Cha và Con thì không thể chỉ dừng lại nơi Cha và Con. Nên câu năm tiếp tục rằng: “Nhờ Linh lan tỏa khắp nơi nơi...” Linh bắt đầu bước ra. Một khi Linh xuất hiện, thì quang cảnh xoay khỏi Con và Cha. Linh lan tỏa khắp nơi, dầm thấm tất cả và bao hàm tất cả. Vũ trụ đầy dẫy Thánh Linh.

“Đoàn đông vô số... tung hô Ngài”. Đoàn đông ở đây là một lối diễn đạt đầy thi vị. Các thiên sứ thiên thượng, những vật thọ tạo thiên thượng và vô số những sinh vật thiên thượng đều tung hô Ngài. “Tung hô Ngài như Đấng ‘Ta Là’ vĩ đại”. Đấng ‘Ta Là’ vĩ đại là Đức Giê-hô-va (so sánh với Xuất. 3:14; 6:2). Đây thật sự là một bài thánh ca ngợi khen, một bài thánh ca tuyệt diệu để ngợi khen!

Bây giờ, chúng ta phải chuyển sang những vật xung quanh chúng ta: “Bây giờ cõi sáng tạo mới tràn ngập niềm hoan hỉ / Nghỉ ngơi yên tĩnh không xao động gì”. Cảnh vật chung quanh đầy dẫy vui mừng, yên nghỉ, bình an và yên tĩnh. Mọi người đều vui mừng, yên nghỉ, bình lặng và yên tĩnh. Đó là vì mọi người đều “được phước trong sự cứu rỗi trọn vẹn của Jesus” và “chẳng biết gì nỗi sầu khổ với xiềng gông”. Tất cả các nan đề đều trôi đi.

Vô tình, chúng ta có thể nấn ná lại quá lâu, nên “Kìa! Lại [trổi lên] những khúc nhạc thượng thiên!” Anh em có thể nghe khúc nhạc ấy không? “[Trầm bổng] vang lên bài ca khen ngợi”. Tiếng ngợi khen lại vang rền từ mọi phương hướng. Lại còn nghe thêm nữa: “Trong toàn cõi sáng tạo tiếng A-men vang dậy”. Toàn cõi sáng tạo tràn ngập lời ngợi khen và tiếng a-men. Mọi chân trời góc đất đều kêu lên: “A-men!”. Tại sao? “A-men! Sự vui mừng hưởng ứng cất tiếng lên”. Chữ a-men cuối cùng là đầy chất thơ nhất. Đó không phải là tiếng a-men một người thốt lên sau một bài hát, mà là tiếng a-men được cất lên trong “sự vui mừng hưởng ứng”.

Bài thánh ca ấy cho chúng ta thấy một vũ trụ đã được cứu chuộc; quang cảnh ấy được mô tả trong Khải Thị chương 4 và 5, và Phi-líp chương 2. Đó là lời ngợi khen trong cõi đời đời.

Bài Mẫu 2: Thánh Ca 578

1. Ý chí tôi yếu đuối, sức lực tôi bạc nhược,

Và mọi niềm hi vọng của tôi gần như đã ra đi;

Con chỉ có thể tin cậy sự hành động thật của Ngài

Dịu dàng nắm giữ và dẫn dắt con.

 

2. Con đã hết sức cố gắng mà vẫn thất bại,

Như trước kia con từng thất bại và lỗi lầm;

Sự kiên nhẫn của Ngài là niềm tin cậy duy nhất của con

Để nâng đỡ và gìn giữ con đến với lời Ngài.

 

3. Mỗi khi lòng con kiêu căng,

Thì con gần sự sa ngã biết bao;

Con không dám làm, con chẳng dám nghĩ,

Con cần chính Ngài trong mọi việc lớn nhỏ.

 

4. Ngài là Đấng Cứu Rỗi, là sức lực và sự nâng đỡ của con,

Chúa ơi, con đến tìm kiếm mặt Ngài;

Dầu con là người yếu đuối nhất trong những người yếu đuối,

Sức lực của con không là gì khác hơn là ân điển của Ngài.

Đây là một bài thánh ca hay, hướng đến Đức Chúa Trời.

“Ý chí tôi yếu đuối, sức lực tôi bạc nhược”. Ở bên trong, ý chí của tôi thật yếu đuối, trong khi ở bên ngoài, sức lực của tôi thật bạc nhược. Ở bên trong, người ấy muốn quyết chí, nhưng lại quá yếu đuối. Ở bên ngoài, người ấy muốn thực hiện một điều gì đó, nhưng lại quá bạc nhược. Người ấy không thể quyết chí, cũng không thể chạy đua. Vì vậy mà “mọi niềm hi vọng của tôi gần như đã ra đi”. Người ấy có thể làm gì khác? Người ấy chỉ có thể “tin cậy sự hành động thật của Ngài”. Trước hết tác giả nói với chính mình, nhưng bây giờ thì quay sang Đức Chúa Trời. Người ấy đến với Đức Chúa Trời và ngưỡng trông Ngài “dịu dàng nắm giữ và dẫn dắt con”. Điều đó có nghĩa là ngoại trừ sự dẫn dắt dịu dàng từng bước của Ngài, bây giờ người ấy không còn hi vọng nào nữa. Đó là chỗ người ấy đứng.

Sau đó, dòng kế tiếp nói rằng: “Con đã hết sức cố gắng mà vẫn thất bại”. Đó không phải là rao giảng; đó là thi ca. “Như trước kia con đã thất bại và lỗi lầm”. Người ấy nên làm gì? “Sự kiên nhẫn của Ngài là niềm tin cậy duy nhất của con”. Người ấy tin cậy nơi sự kiên nhẫn của Chúa để làm gì? “Để nâng đỡ và gìn giữ con đến với lời Ngài”. Người ấy không có hi vọng nào khác. Hi vọng duy nhất của người ấy ở trong quyền năng của Chúa. Quyền năng của Ngài nâng đỡ và gìn giữ người ấy trong sự vâng phục. Người ấy nhận thấy chính mình hoàn toàn vô vọng; người ấy sáng tỏ về chính mình.

Trong câu thứ ba, chúng ta nhận thấy một người của Đức Chúa Trời từ từ trèo lên cao. “Mỗi khi lòng tôi kiêu căng” — có nghĩa là mỗi khi người ấy kiêu ngạo hoặc tự mãn một chút (chỉ một chút thôi) — “thì con gần sự sa ngã biết bao”. Người ấy đã có quá nhiều kinh nghiệm như vậy rồi. Người ấy nên làm gì đây? “Con không dám làm, con chẳng dám nghĩ”. Người ấy không dám làm điều gì cả; thậm chí người ấy không suy nghĩ đến bất cứ điều gì. “Con cần chính Ngài trong mọi việc lớn nhỏ” — có nghĩa là người ấy cần Chúa trong mọi sự và mọi nơi. Đó là một người có cảm xúc đã trải qua lửa luyện lọc cách triệt để. Họ không thô thiển trước mặt Đức Chúa Trời. Mỗi một lời đều đầy chất thơ và cảm xúc. Mỗi một lời đều chạm đến Đức Chúa Trời và chỉ một mình Đức Chúa Trời.

Tuy nhiên, một người biết chính mình không cứ ở trong chính mình. Cuối cùng, người ấy phải cầu nguyện với Đức Chúa Trời rằng: “Ngài là Đấng Cứu Rỗi, là sức lực và sự nâng đỡ của con, / Chúa ơi, con đến tìm kiếm mặt Ngài”. Con không có phương cách nào, không có hi vọng, không có gì cả. Con chỉ có thể đến tìm kiếm Ngài. “Dầu con là người yếu đuối nhất trong những người yếu đuối” — tại đây người ấy ám chỉ đến câu một. Người ấy không kết thúc một cách đột ngột. Ý chí của tôi thật yếu đuối. Sức lực của tôi thật bạc nhược. Tôi không thể quyết chí. Tôi không thể chạy. Tôi là người yếu đuối nhất trong những người yếu đuối. Tôi phải làm gì? “Sức lực của tôi không là gì khác hơn là ân điển của Ngài”. Ân điển của Chúa là tất cả những gì chúng ta cần. Ân điển đó làm cho người ấy tiến lên.

Nếu cảm xúc của chúng ta được thử nghiệm và luyện lọc, thì mỗi khi đến với Đức Chúa Trời và chạm đến một bài thánh ca được thử nghiệm và luyện lọc như vậy, chúng ta không thể không bị bài thánh ca ấy thu hút.

Bài Mẫu 3: Thánh Ca 377

1. Nếu con đường tôi bước đi

Dẫn đến thập tự giá,

Nếu con đường Ngài chọn

Dẫn đến khổ đau và mất mát,

Xin bù đắp lại

Hằng ngày, hằng giờ

Bằng sự thông công không bóng mờ

Với Ngài là Chúa đáng được chúc tụng.

 

2. Nếu bớt đi vui thú trần gian,

Chúa ơi, xin ban cho thêm cõi trời.

Nguyện linh ngợi khen Ngài,

Dầu lòng này tan nát;

Chúa ơi, nếu các mối quan hệ trìu mến của trần gian

Bị đổ vỡ do lệnh của Ngài,

Nguyện mối dây ràng buộc chúng ta,

Được gần gũi hơn, ngọt ngào hơn.

 

3. Dẫu phải cô đơn trên đường,

Xin làm vui tươi lối đi ấy bằng nụ cười của Ngài;

Xin Ngài làm bạn đồng hành của con

Trong suốt thời gian chóng qua trên đất;

Chúa ơi, nguyện con sống một cách vô kỷ

Nhờ ân điển của Ngài để chỉ làm

Một ống dẫn được tẩy sạch

Để sự sống của Ngài [tuôn đổ] qua con.

Đây cũng là một bài thánh ca rất hay. Cách diễn đạt và lời lẽ đầy thi vị, và cảm xúc rất sâu sắc. Mọi yếu tố về bài thánh ca này đều thuộc về một lãnh vực cao hơn, thật cao quý và trưởng thành. Hiếm có bài thánh ca nào về sự tương giao đạt đến một tiêu chuẩn như vậy. [Bài thánh ca này] không nhuốm chút vẻ gì là quá khích hay thiếu tự nhiên. Đó là một sự biểu lộ chân thành đối với Chúa của một người thật sự yêu Ngài. Đó là sự thuận phục hoàn toàn sinh ra từ sự dâng mình trọn vẹn. Đó là tiếng nói thuận phục phát xuất từ tấm lòng của một người không có chút nào chống cự Chúa.

“Nếu con đường tôi bước đi / Dẫn đến thập tự giá, / Nếu con đường Ngài chọn / Dẫn đến khổ đau và mất mát, / Xin bù đắp lại / Hằng ngày, hằng giờ / Bằng sự thông công không bóng mờ / Với Ngài là Chúa đáng được chúc tụng”. Câu này đầy dẫy sự dâng mình và sự thuận phục.

Câu hai là câu hay nhất trong toàn bài thánh ca. Ở đây, cảm xúc còn dâng lên cao hơn nữa. “Nếu bớt đi vui thú trần gian” — tác giả đang suy gẫm — “Chúa ơi, xin ban cho thêm cõi trời”. Người ấy cầu nguyện với Đức Chúa Trời, không phải để được giải cứu hay được thay đổi, mà để được có thêm sự tương giao. “Nguyện linh ngợi khen Ngài, / Dầu lòng này tan nát”. Đây là một người có thể phân biệt giữa lòng và linh. Lòng có thể vỡ tan, nhưng linh có thể ngợi khen. Lòng có thể tan nát, nhưng linh vẫn tươi mới trước mặt Đức Chúa Trời. Người ấy biết sự khác biệt giữa lòng và linh. Người ấy không cầu xin cho lòng mình được vui thỏa mà cầu xin cho linh được bù đắp. Người ấy bắt đầu đi lên, những dòng tiếp theo còn cao hơn nữa. Dòng đầu tiên nói: “Nếu bớt đi thú vui trần gian”, trong khi dòng thứ năm nói: “Chúa ơi, nếu các mối quan hệ trìu mến của trần gian, / Bị đổ vỡ...” Hai dòng ấy được chữ trần gian liên kết lại. Đó là thi ca. “Chúa ơi, nếu các mối quan hệ trìu mến của trần gian / Bị đổ vỡ do lệnh của Ngài, / Nguyện mối dây ràng buộc chúng ta, / Được gần gũi hơn, ngọt ngào hơn”. Người ấy không tìm kiếm sự thỏa hiệp, cũng không tìm kiếm sự giải thoát. Người ấy chỉ cầu xin có được sự tương giao tốt đẹp hơn. Người ấy nhảy từ “các mối quan hệ trìu mến của trần gian” trong dòng thứ năm sang “mối dây ràng buộc chúng ta”. Diễn tả như vậy thật là duyên dáng. Cảm xúc thật ý nhị, lời lẽ thật xác đáng, và cấu trúc thật tuyệt vời. Câu này tuyệt đẹp!

Vì câu hai đạt đến đỉnh cao rồi, nên câu ba biến thành một lời cầu nguyện: “Dẫu phải cô đơn trên đường, / Xin làm vui tươi lối đi ấy bằng nụ cười của Ngài”. “Xin làm vui tươi lối đi ấy bằng nụ cười của Ngài” — câu này rất thuộc linh và đầy chất thơ. “Chúa ơi, nguyện con sống một cách vô kỷ / Nhờ ân điển của Ngài để chỉ làm / Một ống dẫn được tẩy sạch / Để sự sống của Ngài [tuôn đổ] qua con”. Nói như vậy có nghĩa là người ấy không cầu xin gì ngoại trừ làm một bình chứa vô kỷ và thánh khiết để thi hành ý chỉ của Đức Chúa Trời. Đó là lời nguyện sau cùng của một người đã dâng mình đang ở trong những nỗi khổ đau. Nếu đọc kỹ bài thánh ca này, chúng ta sẽ nhận thấy đây thật sự là một bài thánh ca hay và ý nhị. Chúng ta phải đến với Đức Chúa Trời để học những bài thánh ca ấy và linh của những bài thánh ca ấy.

IV. PHÂN LOẠI THÁNH CA

Chúng ta có thể sắp xếp các bài thánh ca thành bốn loại: (1) tiếng kèn phúc âm; (2) những lời ngợi khen; (3) Đấng Christ là sự sống; và (4) nếp sống hội thánh.

Loại thứ nhất là tiếng kèn phúc âm. Loại này được dùng để rao giảng phúc âm, bao gồm những bài ca về sự lên án tội lỗi, vị trí của tội nhân, tình yêu thương của Đức Chúa Trời, sự công chính của Ngài, sự cứu chuộc của thập tự giá, sự ăn năn, đức tin nơi Đức Chúa Trời v.v...

Các bài thánh ca về phúc âm dành cho những người bạn đang nghe phúc âm và chúng ta cùng hát chung. Nhưng tại đây có một nan đề. Các bài thánh ca ấy do những người đã được cứu sáng tác. Chúng ta có những cảm xúc nào đó, nhưng những người bạn [đang nghe] phúc âm thì không có các cảm xúc ấy. Không dễ gì yêu cầu họ hát những bài ca không chạm đến cảm xúc của họ. Tuy nhiên, nếu Đức Chúa Trời ban phước cho những bài thánh ca ấy, thì những nhu cầu ẩn giấu của các tội nhân sẽ được chạm đến, và họ sẽ nhận thấy tình trạng của chính mình cũng như sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Đôi khi, một tội nhân không biết cách cầu nguyện hoặc đến với Đức Chúa Trời, nhưng các bài thánh ca ấy giúp họ đến với Đức Chúa Trời và cầu nguyện. Lời diễn đạt của bài thánh ca trở nên lời diễn đạt của người ấy. Đôi khi, một bài thánh ca có thể có tác dụng hơn so với một bài giảng. Trong bất cứ trường hợp nào, chúng ta vẫn cần sự ban phước của Đức Chúa Trời.

Các bài thánh ca phúc âm được bao gồm trong quyển thánh ca để các con cái của Đức Chúa Trời sử dụng. Trong việc truyền giảng phúc âm, chúng ta nên viết những bài thánh ca trên các tấm vải lớn hay in các bài thánh ca ấy trên những tờ giấy lớn. Theo cách ấy, chúng ta có thể mời những người bạn [đến nghe] phúc âm cùng hát theo chúng ta. Họ không dễ gì tìm ra bài thánh ca trong quyển thánh ca.

Loại thứ hai là lời ngợi khen. Ngay vào ngày được cứu, chúng ta nhận được sự vui mừng thiên thượng, và sự cảm tạ cùng những lời ngợi khen từ bên trong chúng ta tuôn trào dâng lên cõi thiên thượng. Khi chúng ta tiến bộ hơn trên bước đường thuộc linh của mình, và khi sự hiểu biết của chúng ta về tình yêu thương, sự công chính, ân điển và vinh quang của Đức Chúa Trời tăng trưởng, thì lòng và môi miệng của chúng ta tuôn ra những lời ngợi khen bất tận. Loại thánh ca này bao gồm tất cả những lời ngợi khen của chúng ta dành cho Chúa và Đức Chúa Trời.

Loại thánh ca thứ ba liên quan đến Đấng Christ là sự sống. Mục tiêu sự cứu chuộc của Đức Chúa Trời là chúng ta sống sự sống của Đấng Christ. Đức Chúa Trời không đòi hỏi chúng ta phải bắt chước Đấng Christ. Đức Chúa Trời muốn Đấng Christ phục sinh được sống bày tỏ ra từ chúng ta. Khi ở trên đất, Đấng Christ đã được bày tỏ qua thân thể mà Ngài nhận được từ Ma-ri. Từ khi Ngài phục sinh và thăng thiên, thân thể của Ngài là hội thánh, và bây giờ Ngài muốn được bày tỏ qua hội thánh.

Khi còn là những tội nhân, chúng ta cần sự cứu rỗi và sự xưng công chính. Sau khi trở thành tín đồ, chúng ta chuyển sang theo đuổi sự hiểu biết và kinh nghiệm sự sống của Đấng Christ; chúng ta tìm cách sống bày tỏ sự sống của Đấng Christ ấy. “Tôi không còn sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi” (Ga. 2:20). Ngài đã sống ở trên đất thay cho chúng ta. Ngài đã xử lý những tội lỗi, sự cám dỗ và xác thịt của chúng ta. Bây giờ, Ngài trở nên sự sống, sự thánh khiết, tình yêu thương và sự vui mừng của chúng ta. Ngài đang làm việc chứ không phải chúng ta. Đó là mục tiêu công tác của Thánh Linh trong thời đại này. Loại thánh ca này bao gồm mọi vấn đề từ sự theo đuổi ban đầu của chúng ta về sự hiểu biết sự sống bề trong đến sự bày tỏ trọn vẹn sự sống ấy trong đức tin, sự tương giao, sự thỏa lòng, chiến tranh và sự phục vụ. Tóm lại là bao gồm mọi vấn đề liên quan đến sự theo đuổi và kinh nghiệm sự sống ấy.

Loại thánh ca thứ tư liên quan đến nếp sống hội thánh. Loại này bao gồm mọi vấn đề liên quan đến bước đi Cơ Đốc, kinh nghiệm hằng ngày, môi trường, công tác và các công việc của một Cơ Đốc nhân. Loại này bao gồm những bài thánh ca dành cho các buổi nhóm, lễ cưới, tiệc yêu thương, gia đình, con cái, sự đau yếu, v.v...

VI. CÁCH DÙNG THÁNH CA

Khi chọn thánh ca, chúng ta phải chú ý đến những điểm sau đây:

A. Đối Tượng Của Một Bài Thánh Ca

Các bài thánh ca được hát cho ba loại đối tượng. Nói cách khác, các bài thánh ca hướng về ba đối tượng.

1. Hướng Về Đức Chúa Trời

Hầu hết các bài thánh ca đều hướng về Đức Chúa Trời. Đối tượng của loại thi ca này là Đức Chúa Trời. Hầu hết những Thi Thiên trong sách Thi Thiên là thi ca hướng về Đức Chúa Trời. Thi Thiên 51 là một Thi Thiên nổi tiếng về sự cầu nguyện với Đức Chúa Trời. Tất cả những bài thánh ca về sự ngợi khen, cảm tạ và cầu nguyện đều được hát cho Đức Chúa Trời.

2. Hướng Về Con Người

Các thi thiên khác thì hướng về con người. Thi Thiên 37 và 133 là các ví dụ về loại Thi Thiên ấy. Loại thánh ca ấy hoặc rao giảng cho con người hoặc khích lệ con người đến với Đức Chúa Trời. Tất cả những bài thánh ca về phúc âm và những bài thánh ca khuyên bảo đều được hát cho con người.

Cô-lô-se 3:16 nói: “Dạy dỗ và khuyên bảo nhau bằng những thi thiên, các bài thánh ca, những bài hát thuộc linh, mà hát cho Đức Chúa Trời bằng ân điển trong lòng anh em”. Tại đây chúng ta nhận thấy các thi thiên và những bài thánh ca có thể được dùng để dạy dỗ và khuyên bảo. Đó là hướng về con người. Nhưng đồng thời cũng liên quan đến “hát cho Đức Chúa Trời bằng ân điển trong lòng anh em”. Đó cũng hướng về Đức Chúa Trời. Vì vậy, ngay cả những bài thánh ca hướng về con người cũng hướng về Đức Chúa Trời.

Trong hội thánh không nên có quá nhiều bài thánh ca hướng về con người. Trong sách Thi Thiên, loại bài ca ấy chiếm một phần nhỏ. Chúng ta có thể có những bài thánh ca hướng về con người, nhưng có quá nhiều loại thánh ca như vậy thì không thích hợp. Khi có quá nhiều loại thánh ca ấy, chúng ta sẽ bỏ qua mục đích chính của thánh ca. Mục đích chính của thánh ca là hướng dẫn con người đến với Đức Chúa Trời.

3. Hướng Về Chính Mình

Vẫn còn một loại thánh ca thứ ba trong Kinh Thánh, đó là những bài thánh ca chúng ta hát cho chính mình. Nhiều phân đoạn trong sách Thi Thiên có nhóm chữ Hỡi hồn ta! Tất cả các bài thánh ca ấy đều hướng về chính mình. Thi Thiên 103 và 121 là những ví dụ thích hợp về các bài thánh ca ấy. Loại thánh ca ấy là sự tương giao của một người với hồn của chính mình. Đó là một người thảo luận với chính lòng mình và đối thoại với chính mình. Mọi người biết Đức Chúa Trời đều biết ý nghĩa của việc tương giao với chính lòng mình. Khi có mối tương giao với Đức Chúa Trời, một người tự nhiên học được cách tương giao với lòng mình. Vào những lúc ấy, một người hát với chính mình, reo hò với chính mình, nói chuyện với chính mình, và nhắc nhở chính mình. Những bài thánh ca như vậy thường kết thúc bằng cách xoay về với Đức Chúa Trời. Một người có thể bắt đầu bằng cách tương giao với lòng mình, nhưng luôn luôn kết thúc trong sự tương giao với Đức Chúa Trời.

Mỗi loại trong ba loại thánh ca ấy có thể được dùng theo cách của riêng nó. Những bài thánh ca về sự cứu rỗi, tương giao, cảm tạ và ngợi khen đều được hát hướng về Đức Chúa Trời. Khi hội thánh nhóm lại với nhau, chúng ta phải chọn những bài thánh ca hướng về Đức Chúa Trời; lòng chúng ta phải được hướng về Đức Chúa Trời. Khi chúng ta tham gia vào công tác, hoặc khi nói chuyện với các thánh đồ hay những tội nhân, những bài thánh ca dùng như một phần của sự rao giảng, và chúng ta hát hướng về con người. Khi ở một mình, chúng ta có thể hát những bài thánh ca để tương giao với chính mình. Trong các buổi nhóm hội thánh (buổi nhóm bẻ bánh, buổi nhóm cầu nguyện và buổi nhóm tương giao), chúng ta cần học tập hát cho Đức Chúa Trời; thỉnh thoảng chúng ta có thể hát với chính mình. Trong các buổi nhóm liên quan đến công tác (buổi nhóm truyền giảng phúc âm và buổi nhóm rao giảng lời), chúng ta có thể dùng những bài thánh ca hướng về con người cũng như những bài thánh ca hướng về Đức Chúa Trời. Khi ở một mình hay khi có những nhu cầu riêng tư, chúng ta có thể dùng những bài thánh ca dành cho chính mình.

B. Các Cách Khác Nhau Để Hát Thánh Ca

Theo chúng tôi biết thì trong Kinh Thánh có ba cách hát: cả hội chúng hát, hát đối đáp và đơn ca.

Trong Cựu Ước, chúng ta thấy trong một số trường hợp người Lê-vi hát một mình. Còn trong những trường hợp khác thì toàn thể hội chúng hát. Sách Thi Thiên dành để hát trong hội chúng. Khi đến với Tân Ước, chúng ta nhận thấy việc hát thánh ca cũng được thực hành giữa công chúng. Vào đêm cuối Chúa và các môn đồ ở với nhau, Ma-thi-ơ 26:30 chép rằng: “Sau khi hát một bản thánh ca, họ đi ra lên núi Ô-liu”. Câu này cho thấy họ cùng hát thánh ca với nhau. Vì vậy, cả hội chúng hát thấy có trong Cựu Ước lẫn Tân Ước.

Sau khi hội thánh thành hình, hát đối đáp và đơn ca được thêm vào sự hát của cả hội chúng. Cả Cô-lô-se 3:16 lẫn Ê-phê-sô 5:19 đều đề cập đến vấn đề hát đối đáp. Trong lúc hát đối đáp, sau khi một anh em hát, thì một anh em khác hát đáp lại. Người anh em đầu tiên có thể lại hát nữa, và người anh em kia lại hát đáp lời. Hoặc vài anh em hát và một nhóm anh em khác hát đáp lại. Nhóm anh em thứ nhất lại hát, và nhóm kia lại hát đáp lời. Trong các hội thánh đầu tiên, cách hát đối đáp như vậy gần như phổ biến tương đương với việc cả hội chúng hát. Đó là các anh em hát cho các anh em. Tuy nhiên, khi hệ thống giáo phẩm giáo dân hình thành trong hội thánh, hát đối đáp biến thành một loại hát giữa hàng giáo phẩm và giáo dân, còn được gọi là tụng ca. Về sau, loại hát ấy trở nên cách đọc đối đáp.

Chúng tôi tin rằng Chúa vẫn đang khôi phục vấn đề hát thánh ca giữa vòng chúng ta. Trong Kinh Thánh [đề cập đến] việc hát cho nhau. Vì vậy, chúng ta cần phải hát cho nhau. Chúng ta có thể thay phiên nhau hát từng câu một, giữa các chị em và các anh em, giữa một người và cả hội chúng, giữa các nhóm khác nhau. Những người ngồi hàng trên có thể thay phiên nhau hát đối đáp với những người ngồi hàng sau, hoặc những người ngồi bên trái có thể thay phiên nhau hát cho những người ngồi bên phải. Tất cả những cách ấy đều là những cách hát thích hợp.

Trong Kinh Thánh cũng có đơn ca. 1 Cô-rin-tô 14:26 nói: “Ai có hoặc thi ca, hoặc sự dạy dỗ, hoặc sự khải thị, hoặc tiếng lạ, hoặc thông dịch”. Nhóm chữ ai có hoặc thi ca chỉ về đơn ca. Trong buổi nhóm, một anh em có thể nhận được một khải thị. Một anh em khác có thể nhận được sự dạy dỗ, và một anh em thứ ba nữa có thể nhận được một thi thiên. Thi thiên ở đây được hát bởi cá nhân. Một anh em cảm thấy mình có một thi thiên hay một lời ngợi khen; người ấy được đầy dẫy ở bên trong, và muốn hát lớn lên lời ấy. Người ấy không làm điều ấy một mình, tức điều những người khác không muốn làm. Người ấy hát thay cho toàn thể hội thánh. Loại hát đơn ca ấy có thể dựa vào hay không dựa vào một bài đã được chép sẵn, có thể theo hay không theo một bản nhạc quen thuộc. Nhiều khi, chúng ta có thể hát “những bài hát thuộc linh”, tức loại được đề cập đến trong Kinh Thánh (Côl. 3:16; 1 Cô. 14:15). Trong khi một người hát những bài hát như vậy, tự phát Thánh Linh cung ứng âm nhạc và giai điệu. Người ấy được Thánh Linh cảm thúc để hát. Trong loại hát đơn ca ấy, người hát cần phải đặt trọn bản thể của mình vào trong bài thánh ca ấy, và người nghe cần phải học tập tiếp nhận sự cung ứng từ linh của người hát. Người nghe đừng quá chú ý đến giai điệu, mà phải ráng hết sức nhận lấy sự cung ứng từ linh. Dầu là với một bản nhạc có sẵn hay với một giai điệu tùy ứng, loại đơn ca ấy cần được thực hiện dưới sự cảm thúc đặc biệt của Thánh Linh; việc ấy không giống như sự đơn ca của những người ưa thích phô trương xác thịt của mình. Những người không có sự cung ứng của linh không nên hát đơn ca.

C. Sự Huấn Luyện Thực Tiễn

Trước hết chúng ta phải làm quen với bảng mục lục của quyển thánh ca. Chúng ta phải nhớ rõ cách các bài thánh ca được phân loại. Nếu hiểu nguyên tắc phân loại, ghi nhớ tính chất và cách dùng mỗi loại, và biết chỗ của mỗi bài thánh ca, thì anh em sẽ dễ dàng tìm thấy bài thánh ca mình muốn khi có nhu cầu.

Tìm một bài thánh ca phù hợp với anh em nhất và học bài thánh ca ấy. Hiểu những lời lẽ và cách chấm câu, và tìm hiểu xem các tư tưởng của tác giả được khai triển từ đầu đến cuối ra sao. Lòng anh em phải mở ra. Anh em phải có những cảm xúc nhạy bén, một ý chí mềm mại và một tâm trí sáng suốt.

Sau đó, anh em vẫn cần tập hát. Anh em có thể học hai đến ba bài thánh ca mỗi tuần. Lúc đầu, nếu không thể hát được, anh em có thể ngâm nga một vài điệu vào mỗi buổi sáng, hay anh em có thể sáng tác những điệu hát đơn giản để ngâm nga theo bài thánh ca ấy. Qua đó, anh em sẽ chạm đến linh của bài thánh ca ấy và làm gia tăng cảm nhận thuộc linh của mình. Tuy nhiên, anh em vẫn phải tập hát cho đúng theo các nốt nhạc. Sau khi đã học hát đúng giọng, anh em có thể hát theo bất cứ cách nào Linh hướng dẫn, dầu đó là cả hội chúng hát, hát đối đáp hay đơn ca.

Thánh ca trau dồi những cảm xúc tinh tế và mềm mại trong một Cơ Đốc nhân. Tôi hi vọng tất cả chúng ta đều có thể học được một điều gì trước mặt Đức Chúa Trời. Nếu có thể đến với Đức Chúa Trời một cách tinh tế và mềm mại, chúng ta sẽ phát triển một sự tương giao thân mật hơn với Ngài. Cảm tạ Chúa, trong cõi đời đời, mọi cảm xúc của chúng ta đều sẽ tinh tế và mềm mại. Chúng ta biết rằng những lời ngợi khen trên các từng trời nhiều hơn những lời cầu nguyện trên đất. Những lời cầu nguyện sẽ qua đi, nhưng những lời ngợi khen sẽ đầy dẫy vũ trụ trong cõi đời đời. Vào ngày ấy, mọi cảm xúc của chúng ta đều sẽ tinh tế và mềm mại. Đó sẽ là ngày ngọt ngào và sung sướng nhất.