Thông tin sách

Bài Học Gây Dựng Tín Đồ Mới - Tập 1

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Messages for Building Up New Believers, Vol. 1
ISBN: 0-7363-0976-4
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 14

Tiếng ViệtTải về
Untitled Document

CHƯƠNG MƯỜI BỐN

CHÚA NHẬT

Kinh Thánh: Khải. 1:10; Thi. 118:22-24; Công. 20:7; 1 Cô. 16:1-2

I. CHÚA NHẬT KHÁC VỚI NGÀY SA-BÁT

Đức Chúa Trời hoàn tất công việc sáng tạo mọi sự trong sáu ngày và nghỉ ngơi khỏi tất cả công việc của Ngài vào ngày thứ bảy. Hai ngàn năm trăm năm sau, Ngài ban bố Mười Mạng Lịnh (Xuất. 20:1-17). Mạng lịnh thứ tư nhắc nhở loài người phải nhớ đến ngày Sa-bát. Nói cách khác, mạng lịnh ấy nhắc nhở loài người nhớ lại công việc của Đức Chúa Trời. Sự nhớ ấy nhắc nhở loài người rằng Đức Chúa Trời đã phục hồi trái đất trong sáu ngày rồi nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy. Ngày thứ bảy nguyên là ngày Đức Chúa Trời nghỉ ngơi. Hai ngàn năm trăm năm sau, Đức Chúa Trời ban ngày thứ bảy làm ngày Sa-bát cho con người và truyền con người nghỉ ngơi vào ngày ấy.

Mọi sự trong Cựu Ước đều là hình bóng của những điều tốt lành sẽ đến (Hê. 10:1). Cũng như tất cả những biểu tượng khác trong Cựu Ước, ngày Sa-bát mà Đức Chúa Trời ban cho con người có ý nghĩa thuộc linh của nó. Đức Chúa Trời tạo dựng con người vào ngày thứ sáu và nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy. Ngay sau khi được tạo dựng, con người đã không bước vào công việc mà vào trong sự nghỉ ngơi của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời làm việc sáu ngày rồi nghỉ ngơi một ngày. Nhưng khi con người đến, thì không phải một ngày theo sau sáu ngày mà sáu ngày theo sau một ngày. Con người nghỉ ngơi trước rồi mới làm việc. Đó là nguyên tắc của phúc âm. Ngày Sa-bát là một biểu tượng của phúc âm. Sự cứu rỗi đến trước; việc làm theo sau. Trước hết chúng ta có sự sống; sau đó chúng ta mới bước đi. Sự nghỉ ngơi đến trước việc làm và sự bước đi. Đó là phúc âm. Đức Chúa Trời cho chúng ta thấy rằng Ngài đã chuẩn bị sự nghỉ ngơi trong sự cứu chuộc rồi. Sau khi đã vào trong sự cứu chuộc ấy, thì chúng ta mới làm việc. Cảm tạ Đức Chúa Trời, chúng ta làm việc vì chúng ta đã nghỉ ngơi trước.

Ý nghĩa của ngày Sa-bát là con người ngưng công việc của mình mà vào trong sự nghỉ ngơi của Đức Chúa Trời. Con người bước vào sự nghỉ ngơi của Đức Chúa Trời có nghĩa là con người không làm công việc riêng của mình mà thay vào đó chấp nhận công việc của Đức Chúa Trời. Vì vậy, phạm ngày Sa-bát là một trọng tội. Nếu anh em làm việc khi Đức Chúa Trời yêu cầu anh em đừng làm việc, thì anh em đã khước từ sự nghỉ ngơi của Đức Chúa Trời.

Phạm ngày Sa-bát cũng giống như việc Môi-se dùng gậy đập vào hòn đá. Đức Chúa Trời đã truyền cho Môi-se “nói cùng vầng đá trước mặt họ, thì vầng đá sẽ chảy nước ra” (Dân. 20:8). Đức Chúa Trời đã không bảo ông dùng gậy đập vầng đá. Đúng ra vầng đá ấy không nên bị đập lần thứ hai; nó đã bị đập một lần rồi (Xuất. 17:1-6). Việc làm ấy đã được thực hiện rồi, và ông không nên lặp lại việc làm ấy một lần nữa. Làm lại bất cứ việc gì có nghĩa là bác bỏ công việc đã được hoàn thành. Lẽ ra Môi-se nên vâng theo lời Đức Chúa Trời và truyền lệnh cho vầng đá để [nó] chảy nước ra. Đập vầng đá lần thứ hai có nghĩa là ông khước từ việc làm đầu tiên của Đức Chúa Trời. Môi-se đã không vâng theo mạng lịnh của Đức Chúa Trời. Kết quả là ông không thể vào trong xứ Ca-na-an (Dân. 20:7-12).

Đối với con người, phạm vào ngày Sa-bát dường như không phải là một vấn đề lớn. Nhưng trong lẽ thật của Đức Chúa Trời, đó là một vấn đề lớn. Con người cần phải vui hưởng sự an nghỉ của Đức Chúa Trời trước rồi mới làm việc. Con người cần phải tiếp nhận phúc âm trước rồi mới bước đi. Con người chỉ nên làm công việc của Đức Chúa Trời sau khi đã vui hưởng sự nghỉ ngơi của Ngài. Nếu phạm ngày Sa-bát thì con người phạm vào nguyên tắc đã được ấn định cách thần thượng. Đó là lý do ngày Sa-bát chiếm một chỗ quan trọng như vậy trong Cựu Ước. Cựu Ước có chép về chuyện một người lượm củi vào ngày Sa-bát. Khi khám phá ra việc làm ấy, toàn thể hội chúng đem người ấy ra ngoài doanh trại và ném đá người ấy đến chết. Người ấy đã phạm ngày Sa-bát của Đức Chúa Trời (Dân. 15:32-36). Một người không nghỉ ngơi là người nghĩ rằng tự mình có thể làm việc và hoạt động; người ấy nghĩ mình không cần việc làm của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời thỏa lòng về việc làm của Ngài. Giữ ngày Sa-bát có nghĩa là con người cũng thỏa lòng về việc làm của Đức Chúa Trời. Giữ ngày Sa-bát có nghĩa là con người nghỉ ngơi trong sự nghỉ ngơi của Đức Chúa Trời và chấp nhận việc làm của Ngài. Đó là tại sao trong Cựu Ước Đức Chúa Trời truyền lệnh không được làm việc vào ngày Sa-bát. Đó là điều Cựu Ước bày tỏ cho chúng ta thấy.

Tuy nhiên, trong Tân Ước thì hoàn cảnh lại khác. Vào ngày Sa-bát, Chúa Jesus đến nhà hội và đọc Lời Thánh (Lu. 4:16); Ngài đến nhà hội và dạy dỗ dân chúng (Mác 1:21). Các sứ đồ cũng đã đến nhà hội biện luận về Lời Thánh vào ngày Sa-bát (Công. 17:1-3; 18:4). Điều ấy cho chúng ta thấy rằng không những có sự nghỉ ngơi thụ động mà cũng có việc làm tích cực vào ngày ấy. Ngày ấy nguyên là một ngày nghỉ ngơi về mặt thuộc thể, nhưng trong Tân Ước thì trở nên một ngày để theo đuổi [những điều] thuộc linh. Đó là một sự tiến bộ so với tình trạng trong Cựu Ước.

Nếu đọc kỹ Kinh Thánh, chúng ta sẽ nhận thấy khải thị của Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh có tính tiệm tiến. Trong bài giảng về việc “Đọc Kinh Thánh” ở chương chín, chúng tôi đã nói rằng chúng ta cần học biết những sự kiện khi đọc Kinh Thánh vì trong những sự kiện ấy có ánh sáng. Một khi những sự kiện thay đổi, thì có nghĩa là có ánh sáng mới. Trường hợp ngày Sa-bát đã xảy ra như vậy. Lúc đầu, Kinh Thánh nói: “Đức Chúa Trời ban phước cho ngày thứ bảy” (Sáng. 2:3), nhưng Kinh Thánh gọi ngày Chúa Jesus sống lại từ người chết là “ngày thứ nhất trong tuần lễ” (Mat. 28:1). Kinh Thánh không nói rằng Chúa Jesus sống lại vào ngày thứ bảy, mà nói rằng Ngài sống lại vào ngày thứ nhất trong tuần lễ. Tất cả bốn sách phúc âm đều cho chúng ta thấy rằng Chúa Jesus sống lại vào ngày thứ nhất trong tuần lễ. Ít nhất năm lần trong những lần Jesus hiện ra sau khi sống lại là vào ngày thứ nhất trong tuần lễ (Gi. 20:1, 11-19; Mat. 28:1-9; Lu. 24:1, 13-15, 34, 36). Trong Công vụ các Sứ đồ, sự đổ ra của Thánh Linh xảy ra vào ngày lễ Ngũ tuần, tức ngày theo sau ngày Sa-bát (Lê. 23:15-16), cũng là ngày thứ nhất trong tuần. Ngày thứ nhất trong tuần là Chúa Nhật. Về sau, chúng tôi sẽ nói thêm về điểm này. Tất nhiên, sự kiện đó không có nghĩa là Đức Chúa Trời muốn thay thế ngày Sa-bát bằng Chúa Nhật. Nhưng Kinh Thánh cho chúng ta thấy rõ rằng Đức Chúa Trời chuyển sự chú ý của chúng ta sang ngày thứ nhất trong tuần.

Ở phần trước, chúng tôi đã đề cập rằng ngày Sa-bát là một biểu tượng của phúc âm. Biểu tượng của phúc âm ra đi khi thực tại của phúc âm đến. Phúc âm là nguyên tắc ở đằng sau ngày Sa-bát, cũng như thập tự giá là nguyên tắc ở đằng sau sinh tế. Trong Cựu Ước, bò đực và chiên con được dâng làm sinh tế là biểu tượng về Chiên Con của Đức Chúa Trời, tức Chúa Jesus. Hiện nay không cần bò đực và chiên con nữa vì Chúa Jesus đã đến. Ngày nay nếu một người vẫn còn đem con bò đực hay chiên con dâng lên cho Đức Chúa Trời, thì người ấy không biết gì về thập tự giá. Làm sao một người có thể dâng lên một con bò đực hay một chiên con khi Chúa đã trở nên của tế lễ rồi? Cũng vậy, phúc âm đã đến. Bây giờ, con người có thể nghỉ ngơi trong Đức Chúa Trời qua phúc âm. Đức Chúa Trời đã hoàn thành toàn thể công việc của Ngài qua sự cứu chuộc của Con Ngài trên thập tự giá. Vì vậy, Ngài không truyền cho chúng ta trước hết phải làm việc mà truyền cho chúng ta trước hết phải nghỉ ngơi. Chúng ta cần phải nghỉ ngơi trong công tác của Con Ngài. Chúng ta không đến với Đức Chúa Trời để làm bất cứ việc gì; chúng ta đến với Ngài để nghỉ ngơi. Phúc âm đem chúng ta vào sự nghỉ ngơi trong Đức Chúa Trời. Chúng ta chỉ hầu việc sau khi đã nghỉ ngơi. Sau khi có phúc âm thì sự nghỉ ngơi đến, và ngày Sa-bát tự phát bị hủy bỏ đối với các tín đồ cũng như việc dâng sinh tế bằng bò đực và chiên con bị hủy bỏ. Đối với chúng ta ngày Sa-bát đã chấm dứt cũng như việc dâng sinh tế bằng bò đực và chiên con đã chấm dứt. Ngày Sa-bát là một biểu tượng trong Cựu Ước; biểu tượng ấy đã trở thành hiện thực trong Tân Ước rồi.

II. NỀN TẢNG CỦA CHÚA NHẬT

Trong Cựu Ước, Đức Chúa Trời đã chọn một trong bảy ngày, là ngày thứ bảy, làm ngày Sa-bát Thánh. Trong Tân Ước, nguyên tắc chọn một ngày trong bảy ngày vẫn tiếp tục. Tất nhiên, việc giữ ngày thứ bảy trong Cựu Ước đã chấm dứt. Nhưng Tân Ước có ngày riêng của Tân Ước. Không phải ngày Sa-bát trở nên Chúa Nhật. Trong Cựu Ước, Đức Chúa Trời đã chọn ngày thứ bảy trong tuần. Trong Tân Ước, Ngài đã chọn ngày thứ nhất trong tuần. Không phải Ngài gọi ngày thứ bảy là ngày thứ nhất. Ngài đã chọn một ngày khác. Ngày ấy hoàn toàn khác với ngày Sa-bát trong Cựu Ước.

Thi Thiên 118:22-24 là một phân đoạn Kinh Thánh rất trọng yếu. Phân đoạn ấy chép: “Tảng đá mà thợ xây loại ra, đã trở nên đá đầu góc nhà. Điều ấy là từ Đức Giê-hô-va, một sự kỳ diệu trước mặt chúng tôi. Này là ngày Đức Giê-hô-va làm nên, chúng tôi sẽ hân hoan và vui mừng trong ngày ấy”. Ở đây chúng ta thấy có nhóm chữ tảng đá mà thợ xây loại ra. Người thợ xây quyết định một tảng đá có hữu dụng hay không. Nếu người thợ xây nói không thể dùng tảng đá ấy, thì nó phải bị quăng đi. Nhưng ở đây, điều kỳ diệu là: Đức Chúa Trời đã làm cho Ngài, tức “tảng đá mà thợ xây loại ra”, trở nên “đá đầu góc nhà”, tức nền móng. Đức Chúa Trời đã đặt trách nhiệm quan trọng nhất ở trên Ngài. “Điều ấy là từ Đức Giê-hô-va, một sự kỳ diệu trước mặt chúng tôi”. Điều này thật sự kỳ diệu. Câu 24 nói với chúng ta một điều còn kỳ diệu hơn nữa: “Này là ngày Đức Giê-hô-va làm nên, chúng tôi sẽ hân hoan và vui mừng trong ngày ấy”. Điều này có nghĩa là ngày Đức Giê-hô-va làm nên chính là ngày mà tảng đá bị người thợ xây loại ra đã trở nên đá đầu góc nhà. Mặc dầu người thợ xây loại tảng đá ấy ra, nhưng Đức Giê-hô-va đã thực hiện một điều kỳ diệu vào ngày đó. Ngài đã làm cho tảng đá ấy trở nên đá đầu góc nhà. Vậy, đó là ngày Đức Giê-hô-va đã làm nên.

Chúng ta cần phải nhận biết Đức Giê-hô-va đã làm nên ngày nào. Ngày mà tảng đá bị người thợ xây loại ra rồi trở nên đá đầu góc nhà thật sự là ngày nào? Ngày ấy là ngày nào? Công vụ các Sứ đồ 4:10-11 chép: “Tất cả các ông và toàn dân Y-sơ-ra-ên hãy biết rằng trong danh Jesus Christ Người Na-xa-rét, là người các ông đã đóng đinh trên thập tự giá, và Đức Chúa Trời đã làm cho sống lại từ người chết, trong [danh] ấy mà người này khỏe mạnh đứng trước mặt các ông. Đây là tảng đá bị các ông, là thợ xây, coi không ra gì, đã trở nên [đá] đầu góc”. Câu 10 chép: “Là người các ông đã đóng đinh trên thập tự giá, và Đức Chúa Trời đã làm cho sống lại từ người chết”. Câu 11 chép: “Đây là tảng đá bị các ông, là thợ xây, coi không ra gì, đã trở nên [đá] đầu góc”. Nói cách khác, tảng đá ấy đã trở nên đá đầu góc chính lúc Chúa Jesus sống lại. Thời điểm người thợ xây loại [tảng đá ấy] ra là thời điểm Chúa Jesus bị đóng đinh trên thập tự giá, trong khi thời điểm Ngài được làm đá đầu góc là thời điểm Đức Chúa Trời làm cho Ngài sống lại từ người chết. Vì vậy, “Ngày Đức Giê-hô-va làm nên” là ngày Chúa Jesus sống lại. Đấng bị loài người loại ra đã được Đức Chúa Trời làm cho sống lại. Sự sống lại ấy là “từ Đức Giê-hô-va”. Ngày Chúa Jesus sống lại là ngày Đức Giê-hô-va làm nên. Điều ấy kỳ diệu trước mặt chúng ta vì đó không phải là ngày con người làm nên mà là ngày Đức Giê-hô-va làm nên. Ngày Đức Giê-hô-va làm nên là ngày gì? Đó là ngày Chúa Jesus sống lại.

Tại đây, chúng ta nhận thấy rằng Chúa Nhật của chúng ta hoàn toàn khác với ngày Sa-bát trong Cựu Ước. Vào ngày Sa-bát trong Cựu Ước, một người không thể làm điều này điều kia; mọi sự đều tiêu cực. Nếu một người phạm ngày Sa-bát, thì người ấy sẽ bị giết chết. Đó là một hình phạt rất nặng. Nhưng ngày nay, chúng ta không phải chịu sự sỉ nhục đó. Đức Chúa Trời đã nói tiên tri rằng Ngài sẽ chọn một ngày khác trong thời đại Tân Ước. Đức Chúa Trời đã không nói những gì chúng ta có thể làm và không thể làm vào ngày ấy. Thay vào đó, Ngài bảo chúng ta điều gì cần phải được thực hiện. Đức Chúa Trời muốn chúng ta hân hoan và vui mừng vào ngày mà Ngài đã làm nên. Vì vậy, nét đặc trưng của Chúa Nhật là chỉ có lời truyền bảo tích cực, chứ không có mạng lịnh tiêu cực nào.

Chúng tôi muốn xem xét ngày này thêm một chút nữa. Đức Chúa Trời không những sắp xếp các ngày lại thành từng tháng, từng năm, mà cũng tập hợp các ngày lại thành từng tuần nữa. Mỗi bảy ngày là một đơn vị, kết thúc vào ngày thứ bảy. Trong phần trước chúng tôi đã nói rằng ngày Sa-bát là một biểu tượng và thuộc về cõi sáng tạo cũ. Cõi sáng tạo mới bắt đầu khi Chúa phục sinh. Cõi sáng tạo cũ kết thúc vào ngày thứ bảy của bảy ngày. Ngày ấy rõ ràng hoàn tất một tuần lễ. Khởi đầu của cõi sáng tạo mới là vào ngày thứ nhất của bảy ngày; ngày ấy rõ ràng chỉ về một sự khởi đầu mới. Tuần lễ thứ nhất hoàn toàn cũ kỹ, và tuần lễ thứ hai hoàn toàn mới mẻ. Giữa cõi sáng tạo cũ và cõi sáng tạo mới có một sự phân cách rõ ràng và dứt khoát. Không phải tuần lễ được chia thành hai phần, một phần cũ và một phần mới. Một tuần hoàn toàn thuộc về cõi sáng tạo cũ, và tuần sau đó hoàn toàn thuộc về cõi sáng tạo mới. Chúng ta không có một tuần lễ chỉ có một nửa mà chỉ có một tuần lễ trọn vẹn. Chúa Jesus sống lại vào ngày thứ nhất trong tuần, và trọn tuần lễ ấy hoàn toàn thuộc về cõi sáng tạo mới. Hội thánh ở trên đất được hình thành vào ngày lễ Ngũ tuần, cũng nhằm ngày thứ nhất trong tuần lễ. Điều ấy cũng chỉ về một điều hoàn toàn mới mẻ. Nếu Chúa Jesus không sống lại vào ngày thứ nhất trong tuần lễ mà sống lại vào ngày thứ bảy hay bất cứ ngày nào khác, thì một phần trong tuần thuộc về cõi sáng tạo mới còn phần kia thuộc về cõi sáng tạo cũ; sự phân rẽ đã không được rõ ràng. Sự phục sinh của Chúa là vào ngày thứ nhất trong tuần, đó là khởi đầu của một tuần lễ. Tuần này thuộc về cõi sáng tạo cũ, và tuần kia thuộc về cõi sáng tạo mới. Những gì thuộc cõi sáng tạo cũ đã chấm dứt vào ngày cuối cùng trong tuần lễ, tức là vào ngày thứ bảy. Cõi sáng tạo mới bắt đầu vào ngày thứ nhất của một tuần lễ khác. Kết quả là cõi sáng tạo mới rõ ràng được tách khỏi cõi sáng tạo cũ.

Đức Chúa Trời cố ý chọn ra một ngày từ bảy ngày và gọi ngày ấy bằng một cái tên đặt biệt. Khải-thị 1:10 gọi ngày ấy là Chúa Nhật (the Lord’s day). Một số người nói rằng “Chúa Nhật” (the Lord’s day) là “ngày của Chúa” (the day of the Lord) được đề cập ở chỗ khác trong Kinh Thánh. Nhưng nói như vậy là sai trật. Trong nguyên văn, “Chúa Nhật” và “ngày của Chúa” là hai điều hoàn toàn khác biệt. “Chúa Nhật” là ngày đầu tiên trong tuần, trong khi “ngày của Chúa” là ngày Chúa đến (1 Tê. 5:2; 2 Tê. 2:2; 2 Phi. 3:10). Hai ngày này hoàn toàn khác biệt. Những tác phẩm của các giáo phụ Hội thánh ban đầu cho chúng ta nhiều bằng chứng là “Chúa Nhật” chỉ về ngày thứ nhất trong tuần. Đó cũng là ngày Hội thánh nhóm họp. Một số người nói rằng các Cơ-đốc-nhân ở thế kỷ thứ hai và thứ ba nhóm vào ngày Sa-bát và chỉ đổi sang Chúa Nhật vào thế kỷ thứ tư. Điều ấy không đúng với sự thật. Trong các tác phẩm của những giáo phụ Hội thánh ban đầu có nhiều trường hợp chứng minh rằng các buổi nhóm luôn luôn được tổ chức vào ngày đầu tiên trong tuần. Sự kiện này đã như vậy từ thời các môn đồ của Giăng cho đến thế kỷ thứ tư. (Xin xem phần phụ lục ở cuối chương này).

III. CHÚNG TA PHẢI LÀM GÌ VÀO CHÚA NHẬT

Kinh Thánh nhấn mạnh đến ba điều chúng ta cần phải làm vào ngày thứ nhất trong tuần:

Thứ nhất, Thi Thiên 118:24 đề cập đến thái độ mà tất cả các con cái của Đức Chúa Trời cần phải có vào ngày thứ nhất trong tuần. Đó là hân hoan và vui mừng. Chúa chúng ta đã sống lại từ người chết. Đó là ngày Đức Giê-hô-va làm nên, và chúng ta phải hân hoan và vui mừng vào ngày ấy. Chúng ta phải duy trì thái độ ấy. Ngày ấy là ngày Chúa chúng ta sống lại. Không có ngày nào khác giống như ngày ấy. Chúa đã hiện ra và nhóm với các môn đồ vào ngày thứ nhất trong tuần. Sự tuôn đổ Thánh Linh vào ngày lễ Ngũ tuần cũng đã xảy ra vào ngày thứ nhất trong tuần. Việc người thợ xây loại bỏ hòn đá và việc hòn đá ấy trở nên đá đầu góc chỉ về sự đóng đinh và sự phục sinh của Chúa. Sự khước từ của người Do-thái là sự loại bỏ của người thợ xây, và sự phục sinh của Chúa là sự Ngài trở nên đá đầu góc. Đó là ngày Đức Giê-hô-va làm nên, và chúng ta phải hân hoan và vui mừng trong ngày ấy. Hành động đó cần phải là phản ứng tự nhiên của chúng ta.

Thứ hai, Công vụ các Sứ đồ 20:7 nói rằng: “Vào ngày thứ nhất trong tuần, khi chúng tôi nhóm họp với nhau để bẻ bánh...” Theo nguyên văn, ngày thứ nhất trong tuần ở đây không phải chỉ về ngày thứ nhất trong một tuần lễ cụ thể nào đó. Câu ấy có nghĩa là họ nhóm lại bẻ bánh vào ngày thứ nhất của mỗi tuần lễ. Bấy giờ tất cả các Hội thánh tự động nhóm lại với nhau bẻ bánh để nhớ đến Chúa vào ngày thứ nhất trong tuần. Có ngày nào khác tốt hơn ngày thứ nhất trong tuần không? Ngày thứ nhất trong tuần là ngày Chúa chúng ta sống lại từ người chết. Ngày thứ nhất trong tuần cũng là ngày chúng ta gặp Chúa. Một điều chúng ta phải làm vào ngày thứ nhất trong tuần là nhớ đến Chúa. Đó là ngày Chúa chọn. Điều đầu tiên chúng ta cần phải làm vào ngày thứ nhất trong tuần là đến với Chúa. Chúa Nhật là ngày thứ nhất trong tuần. Thứ hai là ngày thứ nhì trong tuần. Chúng ta cần gặp Chúa vào ngày thứ nhất trong tuần.

Trong Kinh Thánh, sự bẻ bánh chỉ về hai điều: nhớ đến Chúa và công bố sự tương giao của chúng ta với tất cả các con cái của Đức Chúa Trời. Thứ nhất, đó là công bố sự tương giao của chúng ta với Đức Chúa Trời, tức chúng ta tương giao với Chúa, và thứ hai, đó là sự tương giao của chúng ta với Thân Thể, tức chúng ta tương giao với Hội thánh. Bánh tượng trưng cho Chúa, và cũng tượng trưng cho Hội thánh. Chúa Nhật là ngày tốt nhất để chúng ta tương giao với Chúa. Đó cũng là ngày tốt nhất để chúng ta tương giao với tất cả các con cái của Đức Chúa Trời. Mặc dầu ở trên đất, chúng ta bị thời gian và không gian giới hạn nên không thể tương giao với tất cả các con cái của Đức Chúa Trời và bắt tay tất cả, nhưng mỗi Chúa Nhật, dù ở nơi nào thì mỗi con cái của Đức Chúa Trời đều đặt tay mình trên ổ bánh ấy. Mỗi con cái của Đức Chúa Trời đều chạm đến ổ bánh ấy. Khi chạm đến ổ bánh ấy, chúng ta tương giao với tất cả các con cái của Đức Chúa Trời. Chúng ta không những gặp Chúa mà cũng gặp tất cả các anh chị em của mình. Trong buổi nhóm ấy, chúng ta không những tương giao với các anh chị em cùng bẻ bánh với mình mà cũng tương giao với tất cả những người chạm đến ổ bánh ấy. Vào ngày ấy, hàng ngàn và hàng triệu tín đồ trên khắp thế giới chạm đến ổ bánh ấy. “Chúng ta tuy nhiều nhưng chỉ là một ổ bánh, một Thân Thể; vì tất cả chúng ta đều dự phần trong một ổ bánh” (1 Cô. 10:17). Chúng ta cùng bẻ bánh với nhau, và có sự tương giao trong ổ bánh ấy.

Là một tín đồ mới, anh em phải học tập xóa bỏ tất cả những hàng rào ngăn cách chính mình với các con cái khác của Đức Chúa Trời. Ngay từ đầu, anh em cần học tập yêu thương và tha thứ. Anh em không thể chạm đến ổ bánh ấy nếu không học tập yêu thương và tha thứ. Anh em không được ghét bất cứ con cái nào của Đức Chúa Trời. Không được có hàng rào nào giữa anh em và họ; không được loại trừ bất cứ con cái nào của Đức Chúa Trời. Ngoại trừ những người bị loại ra vì có vấn đề trong hành vi (1 Cô. 5:11) hay lẽ thật (2 Gi. 7-11), không con cái nào của Đức Chúa Trời bị loại bỏ. Tất cả các con cái bình thường của Đức Chúa Trời đều cần tương giao với nhau. Khi nhớ đến Chúa và chạm đến Ngài, chúng ta chạm đến tất cả những người thuộc về Ngài. Chúa vô cùng yêu thương chúng ta đến nỗi Ngài phó chính Ngài vì chúng ta. Chúng ta không thể không nhớ đến Ngài, và chúng ta không thể không yêu thương những người Ngài yêu thương. Chúng ta không thể không tha thứ những người Ngài tha thứ, và chúng ta không thể không nhớ đến những người Ngài nhớ đến. Không ngày nào tốt hơn ngày thứ nhất trong tuần vì đó là ngày Chúa làm nên. Đó là ngày Chúa chúng ta sống lại. Vào ngày ấy, chúng ta nhớ đến tất cả những người đã cùng với mình trở nên cõi sáng tạo mới là điều rất tự nhiên.

Thứ ba, 1 Cô-rin-tô 16:1-2 chép: “Bây giờ về việc quyên góp cho các thánh đồ, như tôi đã hướng dẫn các Hội thánh tại Ga-la-ti, thì anh em cũng hãy làm như vậy. Vào ngày thứ nhất mỗi tuần lễ, mỗi người trong anh em hãy tùy sự phát đạt của mình mà tự dành dụm để riêng, hầu khỏi thu góp lúc tôi đến”. Tại đây, chúng ta thấy điều thứ ba phải làm vào ngày thứ nhất trong tuần. Phao-lô chỉ dẫn các Hội thánh tại Ga-la-ti và Hội thánh tại Cô-rin-tô làm cùng một việc. Điều này cho thấy rõ rằng vào thời các sứ đồ ngày thứ nhất trong tuần là một ngày rất đặc biệt. Có sự bẻ bánh để nhớ đến Chúa, và có sự quyên góp cho các thánh đồ vào ngày thứ nhất trong tuần. Vào ngày thứ nhất mỗi tuần lễ, mỗi người cần phải dâng hiến theo thu nhập của mình. Đó là một sự thực hành tốt. Một mặt, chúng ta có sự bẻ bánh, và mặt khác, chúng ta có sự dâng hiến. Một mặt, chúng ta nhớ đến thể nào Chúa đã phó chính Ngài vì chúng ta, và mặt khác, chúng ta cũng dâng lên cho Chúa vào ngày ấy. Người nào càng nhận lãnh từ Chúa, thì càng phải ban cho. Một của lễ cảm tạ dưới hình thức của cải vật chất phải được bao gồm trong lời cảm tạ và ngợi khen chúng ta dâng lên cho Ngài (Hê. 13:16). Điều ấy làm Đức Chúa Trời hài lòng. Dâng hiến tiền của vật chất cho Chúa vào ngày của Ngài là điều chúng ta phải bắt đầu thực hành ngay khi tin nhận.

Chúng ta không nên bỏ tiền của mình vào thùng tiền dâng một cách vô tâm. Khi còn ở nhà, chúng ta cần phải đếm, chuẩn bị và gói tiền của mình lại một cách kỉnh kiền. Rồi khi đến [nhóm], chúng ta nên bỏ số tiền ấy vào trong thùng tiền dâng. Phao-lô cho chúng ta thấy rằng sự dâng hiến vật chất cần phải được thực hiện một cách có ý thức và thường xuyên. Vào ngày thứ nhất mỗi tuần lễ, chúng ta phải để dành theo thu nhập của mình và nói với Chúa rằng: “Thưa Chúa, Ngài đã ban cho cách dồi dào. Chúa ơi, con đem đến Ngài những gì con có được và dâng lên cho Ngài”. Anh em phải ấn định số tiền anh em sẽ để dành. Nếu có nhiều thì anh em nên dâng thêm. Nếu có ít hơn thì anh em có thể dâng ít hơn. Bẻ bánh là một vấn đề nghiêm túc, và dâng hiến của cải vật chất cũng là một vấn đề nghiêm túc.

Chúa đã cố ý dành ra một ngày trong tuần và gọi ngày ấy là Chúa Nhật. Chúng tôi hi vọng các anh chị em sẽ vui hưởng ân điển của Chúa cách dư dật và hầu việc Ngài cách đúng đắn vào ngày ấy. Chúa Nhật của chúng ta khác với ngày Sa-bát trong Cựu Ước. Ngày Sa-bát nhấn mạnh đến những điều chúng ta không được làm. Người Do-thái đã nổi giận với Chúa Jesus khi Ngài chữa lành người bệnh và đuổi quỉ vào ngày Sa-bát. Tuy nhiên, Chúa Nhật không phải là ngày để thân thể được nghỉ ngơi; đó cũng không phải là lúc chúng ta ngưng công việc của mình. Về cơ bản, Chúa Nhật và ngày Sa-bát là hai vấn đề khác nhau. Quan niệm làm việc hay không làm việc vào Chúa Nhật không là vấn đề đối với chúng ta. Bất cứ điều gì chúng ta làm vào những ngày khác, chúng ta cũng có thể làm vào Chúa Nhật. Bất cứ điều gì chúng ta không làm vào những ngày khác, chúng ta cũng không nên làm vào Chúa Nhật. Kinh Thánh không nói vào Chúa Nhật chúng ta có thể đi bộ, mua sắm, làm điều này hay điều kia hay không. Kinh Thánh cũng không nói chúng ta có nên giữ Chúa Nhật như người ta giữ ngày Sa-bát hay không. Nhưng Kinh Thánh bảo chúng ta phải hân hoan và vui mừng vào Chúa Nhật; Kinh Thánh cũng bảo chúng ta phải đến với Chúa với tấm lòng đơn thuần để nhận lấy ân điển từ Ngài, để nhớ đến Ngài, để hầu việc Ngài, và để dâng chính mình cho Ngài. Chúng ta phải biệt riêng Chúa Nhật làm một ngày đặc biệt trong cuộc sống mình. Tối thiểu, ngày thứ nhất trong tuần được biệt riêng cho Chúa. Ngày ấy không phải là ngày của chúng ta; ngày ấy là ngày của Chúa. Thời gian ấy không phải là của chúng ta, mà là của Chúa. Công việc của chúng ta dành cho Chúa. Sự nghỉ ngơi của chúng ta cũng dành cho Chúa. Dầu có làm điều này hay điều kia, chúng ta vẫn dành cho Chúa. Tại đây không có hương vị của ngày Sa-bát. Đó là ngày chúng ta dâng lên cho Chúa. Đó là ý nghĩa của Chúa Nhật.

Giăng diễn tả thật hay khi ông nói rằng: “Tôi đã ở trong linh vào Chúa Nhật” (Khải. 1:10). Chúng tôi hi vọng nhiều người trong chúng ta có thể nói rằng: “Tôi đã ở trong linh vào Chúa Nhật”. Chúng tôi hi vọng rằng đó là ngày Hội thánh ở trong linh và là ngày chúng ta được ban phước. Chúng tôi hi vọng rằng ngay từ đầu, các anh chị em mới tin sẽ lưu ý đến Chúa Nhật. Hãy dâng ngày thứ nhất trong tuần cho Chúa và thưa với Ngài rằng: “Đây là ngày của Ngài”. Nếu thực hiện điều ấy từ khi còn non trẻ thì sau bảy mươi năm chúng ta có thể nói mình đã dâng trọn mười năm cho Chúa. Đó là một ơn phước lớn cho Hội thánh. “Chúa ơi! Con dâng trọn thời giờ của mình vào ngày ấy cho Ngài. Con mừng rỡ và vui vẻ đến bẻ bánh để nhớ đến Ngài. Con đem tất cả những gì con có đến trước mặt Ngài và dâng tất cả những điều ấy lên cho Ngài”. Nếu làm như vậy, chúng ta sẽ thấy ơn phước của Đức Chúa Trời tuôn đổ trên Hội thánh cách dồi dào.

PHỤ LỤC — NHỮNG VĂN PHẨM CỔ ĐIỂN CỦA HỘI THÁNH VỀ CHÚA NHẬT

Trong Sự Dạy Dỗ Của Mười Hai Sứ Đồ (một trong những tác phẩm đầu tiên của Hội thánh ngoại trừ Kinh Thánh, được viết vào khoảng giữa năm 75 S.C. và 90 S.C., tức là cùng thời kỳ với sách Khải-thị) có chép rằng: “Nhưng mỗi Chúa Nhật, sau khi đã xưng nhận những quá phạm của mình, anh em cùng nhóm với nhau, bẻ bánh và dâng lời cảm tạ, để lễ vật của anh em có thể được thuần khiết” (Alexander Roberts và James Donaldson, chủ biên, The Ante-Nicene Fathers. Grand Rapids: Wm. B. Eerdmans Publishing Company, 1979. Quyển VII, tr. 381). Điều này cho chúng ta thấy rõ rằng ngay từ cuối thế kỷ thứ nhất, các tín đồ đã nhóm với nhau vào Chúa Nhật.

Sứ đồ Giăng có một môn đồ tên là Ignatius sinh năm 30 S.C. và bị tuận đạo năm 107 S.C. Vào năm 100 S.C., ông viết một bức thư cho người Mạc-nê-si. Trong chương chín của thư ấy, ông nói rõ: “Vậy, nếu những người được dưỡng dục theo lề thói cổ xưa [chỉ về những người trong Do-thái giáo] đã đến chỗ sở hữu một hi vọng mới, không còn giữ ngày Sa-bát nữa, nhưng sống trong sự tôn trọng Chúa Nhật, thì cũng vào ngày ấy, sự sống của chúng ta đã được làm cho nảy mầm bởi chính Ngài và sự chết của Ngài...” (như trên, Quyển I, tr. 62). Điều này cho thấy rõ rằng Hội thánh ban đầu đã không giữ ngày Sa-bát mà thay vào đó giữ Chúa Nhật.

Vào khoảng năm 120 S.C., Ba-na-ba (không phải Ba-na-ba trong Kinh Thánh) đã viết một bức thư. Trong chương mười lăm có một câu nói rằng: “Cũng vậy, tại sao chúng ta vui mừng giữ ngày thứ tám, đó cũng là ngày Jesus sống lại từ người chết” (như trên, Quyển I, tr. 147).

Một giáo phụ Hội thánh nổi tiếng khác là Justin Martyr. Ông sinh năm 100 S.C. và tuận đạo năm 165 S.C. Vào năm 138 S.C., ông viết một quyển sách tựa là The First Apology (Lời Biện Hộ Đầu Tiên). Trong tác phẩm ấy, ông nói rằng: “Vào ngày được gọi là Sunday [Chủ Nhật], tất cả những người tại thành thị và nông thôn đều nhóm lại tại một chỗ, và những kỷ niệm về các sứ đồ hay những bài viết của các vị tiên tri được đọc đến khi nào thời giờ còn cho phép; sau khi người đọc dừng lại, người hướng dẫn dùng lời nói chỉ dẫn và khích lệ [người nghe] bắt chước những điều tốt lành ấy. Sau đó, tất cả chúng tôi đều đứng lên cầu nguyện, và như đã nói ở phần trước, khi phần cầu nguyện kết thúc thì bánh, rượu và nước được đem đến, và người hướng dẫn theo cung cách ấy dâng lên lời cầu nguyện và cảm tạ theo khả năng của mình, và những người khác tán thành, nói A-men; rồi [người ta] phân phát cho mỗi người, và [họ] dự phần trong những thứ đã được cảm tạ, còn những người vắng mặt thì các chấp sự đem đến cho họ một phần. Rồi những người phát đạt, sẵn lòng dâng hiến điều mỗi người nghĩ là thích đáng; và những thứ quyên góp được giao cho người hướng dẫn là người giúp đỡ các trẻ mồ côi, góa phụ, những người vì bị bệnh hay vì nguyên nhân nào khác đang nghèo túng, những người bị xiềng xích, và những khách lạ lưu lại giữa vòng chúng tôi, tóm lại là chiếu cố đến tất cả những người túng thiếu. Nhưng Chủ Nhật là ngày tất cả chúng tôi nhóm chung với nhau, vì đó là ngày thứ nhất mà vào ngày ấy Đức Chúa Trời là Đấng đã thay đổi sự tối tăm và vật thể mà làm nên thế giới; và cũng vào ngày ấy, Jesus Christ, là Đấng Cứu Rỗi của chúng ta đã sống lại từ người chết. Vì Ngài đã chịu đóng đinh vào trước ngày Saturn (ngày thứ bảy); và Ngài đã hiện ra với các sứ đồ và môn đồ của Ngài sau ngày Saturn, dạy dỗ họ những điều ấy, tức những điều chúng tôi đã trình cho anh em để anh em xem xét” (như trên, Quyển I, tr. 186). Ở một chỗ khác, ông viết rằng: “Chúng ta được cắt bì khỏi sự giả dối và tội lỗi qua Đấng sống lại từ người chết vào ngày thứ nhất sau ngày Sa-bát, [tức là qua] Chúa Jesus Christ chúng ta. Vì ngày đầu tiên sau ngày Sa-bát vẫn được gọi là ngày thứ nhất trong tất cả các ngày, tuy nhiên, ngày thứ tám theo số tất cả những ngày trong chu kỳ vẫn là ngày thứ nhất” (như trên, Quyển I, tr. 215).

Vào năm 170 S.C. có một giáo phụ Hội thánh trong Hội thánh tại Sạt-đe tên là Mi-lét-tô (Mileto). Trong các bài viết của ông có câu như sau: “Hôm nay, chúng tôi đã trải qua ngày Chúa Phục Sinh. Trong thời gian này, chúng tôi đọc nhiều thư tín” (không được biết nguồn tài liệu).

Có một giáo phụ Hội thánh nổi tiếng tên là Cle-mơn (Clement) tại thành phố Alexandria vào năm 194 S.C. Ông nói rằng: “Hôm nay, ngày thứ bảy, đã trở nên một ngày làm việc, cũng là một ngày làm việc bình thường”. Sau đó, ông nói rằng: “Chúng ta cần phải giữ ngày Chúa Nhật” (như trên, Quyển II, tr. 545).

Vào năm 200 S.C., giáo phụ Hội thánh Tơ-tu-li-an (Tertullian) nói rằng: “Vào Chúa Nhật, chúng ta đặc biệt vui mừng. Chúng ta giữ ngày này, tức ngày Chúa chúng ta sống lại. Không còn trở ngại và không còn lo âu”. Vào thời ấy, đã có một số người chỉ trích việc giữ Chúa Nhật là một sự thờ lạy mặt trời. Vì vậy, Tơ-tu-li-an đáp lại rằng: “Chúng ta vui mừng vào Chúa Nhật. Chúng ta không thờ lạy mặt trời. Chúng ta khác với những người vốn lười biếng và tiệc tùng vào ngày thứ bảy” (như trên, Quyển III, tr. 123).

Ô-ri-gen (Origen) là một người nổi tiếng khác giữa vòng các giáo phụ Hội thánh, vốn là một nhà thần học nổi tiếng tại Alexandria. Ông nói rằng: “Giữ Chúa Nhật là dấu hiệu của một Cơ-đốc-nhân trọn vẹn” (như trên, Quyển IV, tr. 647).

Một số người nói rằng các tín đồ xưa kia giữ ngày Sa-bát, và Con-xtan-tin (Constantine) đổi ra giữ ngày thứ nhất trong tuần vào thế kỷ thứ tư. Điều ấy không đúng sự thật. Con-xtan-tin tuyệt nhiên không thay đổi ngày ấy. Ông chỉ thừa nhận sự thực hành ấy; Hội thánh đã giữ Chúa Nhật từ lâu rồi. Trước năm 313 S.C., các Cơ-đốc-nhân bị bắt bớ. Sau năm 313 S.C., Con-xtan-tin cai trị La Mã và ban hành một sắc lệnh tại Milan để ngăn chận việc bắt bớ các Cơ-đốc-nhân. Vào năm 321 S.C., Con-xtan-tin ban hành một sắc lệnh thứ hai trong đó ông nói rằng: “Vào Chúa Nhật, những viên chức và thường dân, những người sống tại thành thị, phải nghỉ ngơi, và mọi công việc cần phải được đình chỉ” (Philip Schaff và Henry Wace, chủ biên, The Nicene and Post-Nicene Fathers. Grand Rapids: Wm. B. Eerdmans Publishing Company, 1979. Quyển I, tr. 644-5). Con-xtan-tin hoàn toàn không đề cập gì đến ngày Sa-bát trong sắc lệnh ấy. Ông chỉ thừa nhận ngày thứ nhất trong tuần là ngày của Hội thánh.

Qua những nguồn tài liệu trên, chúng ta nhận thấy rằng việc giữ ngày Chúa Nhật bắt đầu từ thời các sứ đồ và các giáo phụ Hội thánh. Điều ấy đã được thực hành trải qua các thời đại.