Thông tin sách

Bài Học Gây Dựng Tín Đồ Mới - Tập 1

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Messages for Building Up New Believers, Vol. 1
ISBN: 0-7363-0976-4
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 13

Tiếng ViệtTải về
Untitled Document

CHƯƠNG MƯỜI BA

CÁC LOẠI BUỔI NHÓM

Kinh Thánh: Công. 2:14, 40-42; 1 Cô. 10:16-17, 21; 11:20, 23-26; 14:26-36; Mat. 18:19-20

Trong các bài giảng trước, chúng tôi đã bàn về các nguyên tắc của các buổi nhóm. Trong bài này, chúng tôi sẽ bàn về việc thực hành các buổi nhóm. Theo Kinh Thánh, nói chung có năm loại buổi nhóm; đó là buổi nhóm truyền giảng phúc âm, buổi nhóm bẻ bánh, buổi nhóm cầu nguyện, buổi nhóm vận dụng các ân tứ và buổi nhóm rao giảng Lời. Kinh Thánh cho chúng ta thấy năm loại buổi nhóm ấy trong thời các sứ đồ. Ngày nay, hội thánh mà muốn mạnh mẽ thì cũng phải có năm loại buổi nhóm ấy. Chúng ta phải biết cách nhóm một cách đúng đắn theo từng loại buổi nhóm. Nếu biết [cách nhóm họp đúng đắn], chúng ta sẽ nhận được ích lợi từ các buổi nhóm ấy.

I. BUỔI NHÓM TRUYỀN GIẢNG PHÚC ÂM

Trong bốn sách Phúc âm, Công vụ các Sứ đồ và vào những ngày đầu của lịch sử hội thánh, buổi nhóm truyền giảng phúc âm luôn luôn là một buổi nhóm rất quan trọng. Sau khi hội thánh trở nên suy thoái, vào thế kỷ thứ ba và thứ tư, buổi nhóm truyền giảng phúc âm dần dần mấsssst vị trí của nó và được thay thế bằng các buổi nhóm giảng dạy. Hội thánh mà muốn mạnh mẽ thì phải khôi phục lại vị trí của buổi nhóm truyền giảng phúc âm.

Hội thánh hiện hữu ở trên đất không những vì mục đích xây dựng chính mình mà còn để những người khác có thể nhận biết Đấng Christ. Nói về việc xây dựng hội thánh thì ân tứ rao giảng phúc âm có thể bị hạ xuống vị trí cuối cùng. Tuy nhiên, ngay khi hội thánh bắt đầu lan ra thì ân tứ rao giảng phúc âm trở nên ân tứ hàng đầu. Cuộc hành trình của Phi-líp đến Sa-ma-ri trong Công vụ các Sứ đồ chương 8 là một bằng chứng mạnh mẽ về điểm này. Trước hết Đức Chúa Trời sai phái các nhà truyền giảng ra đi chiếm hữu dân chúng cho chính Ngài bằng ân tứ của họ. Chúng ta phải thay đổi thói quen của mình, là thói quen đến buổi nhóm chỉ để nghe giảng. Thay vào đó, chúng ta phải chú ý nhiều đến buổi nhóm truyền giảng phúc âm.

Nếu một anh em học tập tham dự vào việc rao giảng phúc âm ngay sau khi tin nhận Chúa, người ấy sẽ không có thói quen ngồi nghe giảng. Thay vào đó, người ấy sẽ có thói quen rao giảng phúc âm. Trong buổi nhóm truyền giảng phúc âm, mọi người cần phải tích cực tham gia trong công tác ấy; không người nào được thụ động ngồi nghe giảng mà không quan tâm đến sự cứu rỗi của những người khác.

Buổi nhóm truyền giảng phúc âm là lúc toàn thể hội thánh được huy động. Mỗi anh chị em đều có trách nhiệm của mình. Trước buổi nhóm, mỗi người đều cần phải cầu nguyện nhiều. Những anh em tiến bộ hơn trong sự sống và nổi bật hơn trong ân tứ có thể phục vụ với tư cách là người rao giảng phúc âm. Các thánh đồ còn lại phải đồng tâm hiệp ý cầu nguyện cho những anh em rao giảng, để các anh em ấy có thể truyền đạt phúc âm với quyền năng. Tại một buổi nhóm có thể có hai ba anh em rao giảng. Nhưng đừng có quá ba người rao giảng. Khi có quá nhiều người rao giảng thì người nghe sẽ bối rối.

Một anh em hay chị em nên đến buổi nhóm truyền giảng phúc âm như thế nào?

Trước hết, mọi người đều phải biết rõ rằng sứ điệp phúc âm không phải dành cho họ mà dành cho những người chưa tin. Điều này nghe có vẻ như đơn giản. Nhưng nhiều anh chị em tham dự buổi nhóm truyền giảng phúc âm quên rằng người [đang đứng] làm chứng không phải làm chứng cho họ nghe mà làm chứng cho những người chưa tin. Đừng bao giờ đến với tư cách là một người quan sát, và đừng bao giờ đến buổi nhóm ấy với một thái độ lạnh lùng hay không chịu hợp tác. Sứ điệp hay dở ra sao, chúng ta cũng không cần bận tâm. Mục tiêu của chúng ta là cứu người ta và hợp tác với buổi nhóm.

Thứ hai, nếu có thể được thì tất cả các anh chị em nên tham gia buổi nhóm này. Đừng nghĩ rằng vì anh chị em đã được cứu rồi nên không còn cần đến buổi nhóm truyền giảng phúc âm nữa. Đúng, anh em đã được cứu. Nhưng có nhiều điều trong buổi nhóm truyền giảng phúc âm anh em có thể làm. Anh em đến buổi nhóm ấy không phải để nghe phúc âm mà để công tác. Không ai được lười biếng trong buổi nhóm truyền giảng phúc âm. Vài anh chị em nói rằng: “Tôi đã hiểu tất cả về phúc âm rồi. Tôi không cần đến buổi nhóm ấy”. Nhưng đến buổi nhóm truyền giảng phúc âm không liên quan gì đến việc anh chị em đã hiểu phúc âm rồi hay chưa. Anh em hiểu thông suốt về buổi nhóm bẻ bánh rồi. Vậy, tại sao anh em vẫn đến [buổi nhóm ấy]? Anh em phải đến buổi nhóm truyền giảng phúc âm vì anh em cần giúp đỡ buổi nhóm ấy. Anh em cũng cần đến vì anh em có phần trong đó.

Thứ ba, mỗi lần có một buổi nhóm truyền giảng phúc âm, anh em phải đem vài người đến buổi nhóm ấy. Hãy gửi thiệp mời đến bạn bè và bà con của anh em. Hãy mời họ trước vài ngày hay một hai tuần trước khi buổi nhóm ấy được tổ chức. Đôi khi, Đức Chúa Trời ban ân điển cho anh em, và anh em có thể đem mười hay hai mươi người đến buổi nhóm ấy. Nếu anh em có nhiều người như vậy, thì hãy yêu cầu những người khác giúp anh em chăm sóc họ. Chính anh em chăm sóc ba bốn người, và nhờ các anh em khác chăm sóc những người còn lại. Nếu không chăm sóc chu đáo người mới thì đừng đem người nào đến buổi nhóm ấy.

Đừng đợi đến phút cuối mới tới buổi nhóm truyền giảng phúc âm. Tất cả những người tham dự buổi nhóm truyền giảng phúc âm đều phải chuẩn bị chu đáo từ trước. Cho những người mà anh em đã mời biết rõ chỗ anh em sẽ đợi họ. Có lẽ anh em nên đến nhà và đưa họ đến buổi nhóm. Luôn luôn trừ hao một ít thời giờ. Tránh cảnh buổi nhóm đã bắt đầu mà bạn của anh em vẫn chưa tới.

Thứ tư, sau khi đã đem một người bạn đến buổi nhóm thì hãy quan tâm đến người ấy trong buổi nhóm.

A. Ngồi Cạnh Người Ấy

Khi đến phòng nhóm, một người chưa tin không biết phải ngồi ở đâu. Anh em phải cho người ấy biết là nên ngồi ở chỗ nào. Nếu những người tiếp tân đã sắp đặt sẵn rồi, thì anh em phải phối hợp với họ. Nếu đem một người đến buổi nhóm, anh em phải ngồi cạnh người ấy. Nếu anh em đem hai người, thì hãy ngồi ở giữa họ. Nếu anh em đem ba bốn người, thì hãy cùng ngồi với một hai người ở mỗi bên anh em. Đừng chăm sóc nhiều hơn bốn người; chăm sóc bốn người cũng làm cho anh em đủ bận rộn rồi. Nếu anh em đem thêm người, thì hãy yêu cầu các anh chị em khác chăm sóc họ. Hãy giữ nhiều nhất là hai người ở mỗi bên. Cách chúng ta ngồi rất quan trọng. Trong buổi nhóm, chúng ta phải ngồi cạnh những người được mời.

B. Tìm Các Câu Kinh Thánh, Các Bài Thánh Ca Và Giải Thích Những Từ Ngữ

Có nhiều việc phải làm trong khi ngồi cạnh những người bạn đến nghe giảng phúc âm. Anh em có thể giúp họ tìm những câu Kinh Thánh được trích dẫn trong một bài giảng. Nếu người rao giảng đề cập đến một chữ hay một thuật ngữ cần được giải thích, thì anh em phải thì thầm giải thích chữ ấy cho người bạn của mình. Anh em phải bổ túc những chỗ sơ sót của người rao giảng. Giọng nói của anh em không được lớn. Nói nhỏ nhưng rõ ràng. Lần kia, một anh em giảng phúc âm cho một số đông thính giả. Anh em ấy mở đầu rằng: “Tất cả các bạn đều biết chuyện dân Israel ra khỏi Ai Cập”. Một anh em khác đến bên anh nói rằng: “Những người này không biết dân Israel là ai, và cũng không biết gì về Ai Cập”. Điều này cho thấy anh em rao giảng phải tránh các từ ngữ những người chưa tin không hiểu được. Đồng thời các anh chị em ngồi giữa vòng thính giả cần phải giúp đỡ bổ túc những chỗ sơ sót. Nếu gặp trường hợp như vậy, anh chị em cần phải lập tức giải thích cho những người bạn đến nghe phúc âm một cách đơn giản rằng dân Israel là người Do Thái, Ai Cập là một quốc gia, và dân Israel vốn làm nô lệ tại Ai Cập, nhưng về sau họ ra khỏi Ai Cập. Hãy giải thích các điều ấy cho những người bạn của mình một cách đơn giản. Chúng ta cũng phải tìm các bài thánh ca cho bạn của mình. Nhiều bài thánh ca có phần điệp khúc cần được hát đi hát lại. Anh em phải giúp đỡ bạn của mình lặp lại phần điệp khúc ấy.

C. Chú Ý Đến Phản Ứng Của Bạn Mình Và Cầu Nguyện Cho Họ

Trước mặt Chúa, anh em phải quan sát kỹ phản ứng của bạn mình. Nếu anh em cảm thấy phản ứng của người ngồi cạnh mình không được tốt trong buổi truyền giảng, anh em có thể âm thầm cầu nguyện rằng: “Thưa Chúa, xin làm cho lòng anh ấy mềm mại”. Nếu cảm thấy người ấy kiêu ngạo, thì anh em có thể cầu nguyện rằng: “Thưa Chúa, xin phá vỡ sự kiêu ngạo của anh ấy”. Sự thành công của một buổi nhóm truyền giảng phúc âm tùy thuộc vào tình trạng của tất cả các anh chị em. Nếu tất cả các anh chị em đều tham dự buổi nhóm truyền giảng phúc âm và nếu tất cả đều cùng nhau tham gia vào công tác ấy, thì sẽ có một con đường thông suốt cho công việc truyền bá phúc âm. Anh em phải chú ý đến những người mới và quan sát phản ứng của họ đối với bài giảng. Đó là những người anh em đem đến buổi nhóm; anh em biết tình trạng của họ. Mắt anh em phải chăm chú nhìn họ, và phải cầu nguyện cho họ rằng: “Thưa Chúa, xin cảm động lòng anh ấy và làm cho anh ấy hiểu. Chúa ơi, xin chạm đến anh ấy. Xin cất đi sự kiêu ngạo của anh ấy để anh ấy có thể nghe và tiếp nhận lời Ngài”. Đôi khi anh em có thể cảm thấy các anh em trên bục giảng nên đề cập đến một điều gì đó. Anh em có thể cầu nguyện rằng: “Thưa Chúa, xin làm cho anh em ấy nói về điều đó để đáp ứng nhu cầu của người này”. Nhiều khi người anh em trên bục giảng đề cập đến chính những điểm anh em vừa cầu xin như thể anh em ấy đã nghe lời cầu khẩn của anh em. Việc anh em quan tâm đến những người ngồi cạnh mình bằng cách cầu nguyện cho họ thật là quan trọng.

D. Giúp Họ Tiếp Nhận Chúa

Một khi anh em cảm thấy họ được bài giảng chạm đến, anh em cần phải giúp họ tiếp nhận Chúa. Anh em phải đem lời Chúa vào trong lòng họ bằng lời cầu nguyện. Anh em phải mang lời Đức Chúa Trời đến với họ và bắt phục lòng họ bằng cách cầu nguyện rằng: “Thưa Chúa, xin cho anh ấy lắng nghe lời này. Thưa Chúa, xin cho lời này đánh mạnh vào anh ấy. Chúa ơi, xin cho lời này chiếu sáng để anh ấy có thể nhìn thấy”.

Khi người rao giảng bắt đầu “kéo lưới”, tức lúc mời gọi, chúng ta phải khuyến khích họ đáp lại và nói rằng: “Xin đừng bỏ lỡ cơ hội này. Tôi hi vọng anh sẽ tiếp nhận Chúa”. Chúng ta phải thúc đẩy họ khi chúng ta nhận thấy rằng họ được chạm đến nhưng còn do dự. Vì Sa-tan cố gắng hết sức cầm họ lại, nên chúng ta mà không chịu thúc đẩy họ là sai trật. Sa-tan hành động trong lòng người ta để cản trở không cho họ tiếp nhận Chúa, trong khi chúng ta thì cố gắng thúc đẩy họ tin nhận từ tấm lòng của họ. Trong buổi nhóm truyền giảng phúc âm, chúng ta cần giúp bạn của mình tiếp nhận sự cứu rỗi. Khi người anh em trên bục giảng mời gọi những người khác tiếp nhận Chúa, chúng ta phải quan sát kỹ phản ứng của bạn mình. Nếu họ được [Chúa] chạm đến chút nào, chúng ta phải làm phần của mình bằng cách nói rằng: “Bây giờ, anh nên tin và tiếp nhận Chúa. Nếu không tiếp nhận thì anh sẽ chịu khổ trong cõi đời đời”. Giọng nói của chúng ta cần phải nghiêm trang và đứng đắn. Làm như vậy sẽ gây tác động trên họ.

Xin ghi nhớ một nguyên tắc: Trong công việc cố gắng cứu người khác, đừng phân tích xem họ sẽ được cứu hay không. Đừng phân tích xem họ có được Đức Chúa Trời tiền định không. Lòng và trí của chúng ta cần phải tập trung vào việc họ tiếp nhận sự cứu rỗi. Chúng ta phải đem họ đến với Chúa và đừng buông họ ra cho đến khi họ được cứu.

E. Giúp Họ Viết Tên Của Mình Xuống

Sau buổi nhóm, nếu họ cần để tên lại thì anh em phải giúp họ viết tên mình xuống. Nếu họ không biết viết thì anh em phải giúp họ. Nếu có người hỏi tại sao phải để tên của họ lại, thì hãy trả lời rằng: “Chúng tôi muốn có tên của anh để chúng tôi có thể đến thăm anh”. Hãy viết rõ địa chỉ của họ. Hãy ghi xuống khu vực, tên đường, số nhà của họ để những người khác có thể tìm ra khi muốn đến thăm họ.

F. Hướng Dẫn Họ Cầu Nguyện

Anh em đã giúp họ đến giai đoạn này, nhưng bổn phận của anh em vẫn chưa hoàn tất. Anh em còn phải hướng dẫn họ cùng cầu nguyện với mình. Nếu một mình anh em không thể làm được, thì có thể yêu cầu các anh chị em khác giúp anh em cùng cầu nguyện với họ. Đừng bao giờ bất cẩn. Hãy tác động trên họ cho đến khi anh em cảm thấy bình an mà đưa họ về nhà.

G. Đưa Các Thánh Đồ Cùng Đến Thăm Viếng Họ Cho Tới Khi Họ Được Cứu

Sau khi các bạn của anh em đã về nhà, anh em phải thăm viếng họ. Lần đầu tiên thăm viếng, anh em cần phải đưa một hai anh chị em cùng đi với mình. Đó là một phần trách nhiệm của anh em. Khi hội thánh sắp xếp cuộc thăm viếng, anh em phải cùng đi với các anh chị em đến nhà của bạn anh em và nói chuyện với họ. Nghe [giảng] phúc âm một lần thì không đủ. Anh em phải mời họ lần thứ hai và lần thứ ba cho đến khi họ được cứu.

Nguyện Chúa giúp chúng ta đi con đường khôi phục. Chúng ta cần phải xem buổi nhóm truyền giảng phúc âm là một buổi nhóm rất quan trọng. Trong buổi nhóm ấy, mỗi anh chị em đều có việc để làm. Mọi người đều sống động; không người nào lười biếng. Mọi người đều tích cực. Một khi có bầu không khí như vậy, hội thánh sẽ có một bước ngoặc lớn lao, và buổi nhóm truyền giảng phúc âm sẽ trở nên một buổi nhóm công tác dành cho toàn thể hội thánh.

Nếu số người tại một hội thánh địa phương còn ít ỏi và hình thức buổi nhóm còn đơn sơ, anh em không phải [thực hành] theo tất cả các chi tiết nêu trên. Nhưng trên nguyên tắc, mọi anh chị em đều cần phải quan tâm đến buổi nhóm truyền giảng phúc âm. Mọi người đều có trách nhiệm, và mọi người đều cần phải đồng tâm hiệp ý tích cực đẩy mạnh phúc âm và đem người khác đến với sự cứu rỗi.

II. BUỔI NHÓM BẺ BÁNH

Trong 1 Cô-rin-tô chương 10 và 11, Kinh Thánh đề cập đến hai điểm liên quan đến buổi nhóm bẻ bánh. Khi nói về bánh trong 11:24, Phao-lô chỉ về thân thể vật lý của Chúa, nói rằng: “Và trong khi cảm tạ, Ngài bẻ ra mà nói rằng: Đây là thân thể Ta, được ban cho vì các ngươi; hãy làm điều này để nhớ Ta”. Thân thể Đấng Christ đã được phó vì chúng ta. Nhờ đó, những tội lỗi của chúng ta được tha, và chúng ta có được sự sống. Ý tưởng căn bản trong câu này là nhớ đến Chúa. 1 Cô-rin-tô 10:17 cho chúng ta một cái nhìn khác: “Thấy rằng chúng ta tuy nhiều nhưng chỉ là một ổ bánh, một Thân Thể; vì tất cả chúng ta đều dự phần trong một ổ bánh”. Bánh trong chương mười một chỉ về thân thể vật lý của Chúa, trong khi bánh trong chương mười chỉ về chúng ta. Nói cách khác, chương mười một nhấn mạnh đến việc chúng ta nhớ đến Chúa, trong khi chương mười nhấn mạnh đến sự tương giao của chúng ta giữa vòng các con cái của Đức Chúa Trời.

Vậy, chúng ta nhận thấy hai phương diện quan trọng trong buổi nhóm bẻ bánh. Phương diện thứ nhất là hướng lên trời; chúng ta nhớ đến Chúa. Phương diện kia thì tập trung vào bánh ở trên bàn, là điều trượng trưng cho chúng ta, tức các con cái của Đức Chúa Trời, có sự tương giao với nhau. Mỗi người trong chúng ta đều có phần trong ổ bánh. Chúng ta đều là một phần của một ổ bánh ấy. Anh em đã tiếp nhận Chúa và tôi cũng vậy. Sự kiện ấy ban cho chúng ta quyền bước vào cùng một sự tương giao trong Chúa. Do đó, bẻ bánh chỉ về việc chúng ta đến với Chúa để tương giao với Ngài, cũng như việc chúng ta đến với nhau để tương giao với các con cái của Đức Chúa Trời.

Mỗi buổi nhóm bẻ bánh cần phải có hai phần, vì sự cứu rỗi của chúng ta bao gồm hai phần. Trong phần thứ nhất của sự cứu rỗi, chúng ta khám phá thấy mình là những tội nhân, đã định là phải chịu phán xét và chết. Nhưng Chúa đã thương xót chúng ta. Ngài đã xuống thế và chết vì chúng ta. Chúa đã cứu chúng ta và đổ huyết Ngài ra để tha thứ chúng ta. Một khi chúng ta chấp nhận huyết của Chúa Jesus thì những tội lỗi của mình được tha thứ. Đó là phần thứ nhất trong sự cứu rỗi của chúng ta. Nhưng sự cứu rỗi không dừng lại tại đó. Sau khi chúng ta được cứu, Chúa Jesus thuộc về chúng ta và chúng ta thuộc về Ngài. Ngài đem chúng ta đến trước mặt Đức Chúa Trời và làm cho Cha Ngài trở nên Cha chúng ta. Thánh Linh bên trong cũng dạy chúng ta kêu lên rằng: “A-ba, Cha!” (La. 8:14-16). Đó là phần thứ hai của sự cứu rỗi. Nói cách khác, phần thứ nhất của sự cứu rỗi liên quan đến Chúa, và phần thứ hai liên quan đến Cha. Trong phần thứ nhất, chúng ta được tha thứ. Trong phần thứ hai, chúng ta được Đức Chúa Trời chấp nhận. Khi được cứu, chúng ta có mối liên hệ với Chúa; đó là phần đầu của câu chuyện. Trong phần hai, chúng ta có mối liên hệ với Đức Chúa Trời. Chúng ta trên cương vị là một tội nhân đến gần với Chúa, và qua Ngài chúng ta đến với Cha. Trước hết chúng ta gặp Chúa, và sau đó chúng ta gặp Cha. Đó là lý do Kinh Thánh nói: “Tất cả những ai chối Con đều không có Cha; ai xưng nhận Con thì cũng có Cha” (1 Gi. 2:23). Sự cứu rỗi liên quan đến Con; ấy là một vấn đề liên quan đến Chúa. Sự cứu rỗi cũng liên quan đến Cha; ấy là một vấn đề liên quan đến Đức Chúa Trời. Không ai có thể đến với Cha ngoại trừ qua Con. Trước hết chúng ta phải đến với Chúa. Trước hết chúng ta phải đến với thập tự giá để nhận được sự tha thứ, để có Đấng công chính thế chỗ cho kẻ bất chính, rồi chúng ta mới có thể được Chúa đem đến Cha. Thế nên, chúng ta không đến với Cha để nhận được sự cứu rỗi. Thay vào đó, chúng ta đến với Con để được sự cứu rỗi. Sau đó, chúng ta mới đến với Cha. Trước hết chúng ta được tha thứ, rồi chúng ta mới được chấp nhận. Chúng ta phải nhìn thấy điểm này một cách rõ ràng.

Buổi nhóm bẻ bánh là để nhớ đến Chúa. Vì sự cứu rỗi của Chúa bao gồm hai phần, nên buổi nhóm bẻ bánh cũng cần phải có hai phần. Trước khi bẻ bánh, chúng ta nhớ đến Con. Sau khi bẻ bánh, chúng ta chuyển sự chú ý của mình sang Cha. Phần trước khi bẻ bánh là dành cho Chúa, và phần sau khi bẻ bánh là dành cho Đức Chúa Trời.

Khi đến với Chúa, chúng ta khám phá thấy mình là những tội nhân. Chúng ta là con cái của sự không vâng phục, con cái của cơn thạnh nộ ở dưới sự phán xét của Đức Chúa Trời. Chúng ta không có cách nào tự cứu chính mình. Nhưng vì Chúa Jesus đã đổ huyết Ngài để cứu chuộc chúng ta, nên chúng ta có thể đến trước mặt Chúa để nhận lấy sự sống của Ngài. Khi còn là tội nhân, chúng ta đã đến với Chúa. Khi nhận thấy những tội lỗi của mình được tha thứ như thế nào, chúng ta cũng đến với Ngài. Vì thế, trong phần đầu của buổi nhóm bẻ bánh, tất cả những bài thánh ca, lời cảm tạ và lời ngợi khen đều phải hướng về Chúa.

Khi đến với Chúa, chúng ta cần phải dâng cho Ngài lời cảm tạ và lời ngợi khen. Nói đúng ra, chúng ta không được làm bất cứ điều gì khác hơn là dâng lên lời cảm tạ và ngợi khen. Cầu xin bất cứ điều gì trong buổi nhóm này là không thích hợp. Chúng ta không thể cầu xin Chúa đổ huyết Ngài ra cho chúng ta. Điều ấy đã được thực hiện rồi; không còn cần cầu xin điều ấy nữa. Chúng ta chỉ phải ngợi khen và dâng lời cảm tạ. Dù là cầu nguyện hay ca hát, chúng ta cũng phải chỉ cảm tạ và ngợi khen Ngài. Lời cảm tạ hướng về công tác của Chúa, trong khi lời ngợi khen hướng về chính Chúa. Chúng ta dâng lời cảm tạ vì những việc Ngài đã thực hiện, và chúng ta ngợi khen Ngài vì những gì Ngài “là”. Lúc đầu có nhiều lời cảm tạ hơn. Nhưng dần dần chúng ta chuyển sang ngợi khen. Trong khi cảm tạ, chúng ta cũng ngợi khen. Chúng ta nhận thấy công việc Ngài thực hiện cho chúng ta kỳ diệu biết bao, và chúng ta cũng nhận thấy Ngài là một Đấng Cứu Rỗi kỳ diệu dường nào. Sau khi đã dâng lên lời cảm tạ một cách đầy đủ, chúng ta nên bắt đầu ngợi khen. Khi lời ngợi khen của của chúng ta đạt đến đỉnh điểm, thì đó là lúc chúng ta bẻ bánh.

Phần thứ hai bắt đầu sau khi chúng ta bẻ bánh. Chúa không muốn chúng ta dừng lại một khi chúng ta đã đến với Ngài. Chúng ta phải tiếp nhận Chúa, nhưng đó không phải là chỗ dừng lại. Cha tiếp nhận chúng ta khi chúng ta tiếp nhận Chúa là điều thật kỳ diệu. Chúng ta phải sáng tỏ về điểm này. Qua phúc âm, chúng ta nhận được Chúa chứ không nhận được Cha. Kinh Thánh không nói rằng chúng ta nên tiếp nhận Cha, mà luôn luôn nói rằng chúng ta cần phải tiếp nhận Con. Tuy nhiên, chính chúng ta lại được Cha tiếp nhận. Vì chúng ta tiếp nhận Con, nên Cha xem chúng ta là có thể được chấp nhận. Tiếp nhận Con là phân nửa đầu tiên của sự cứu rỗi. Khi Cha tiếp nhận chúng ta, thì sự cứu rỗi được trọn vẹn. Con là Đấng chúng ta tiếp nhận; đó là phân nửa đầu tiên. Đức Chúa Trời là Đấng tiếp nhận chúng ta; sự kiện này hoàn thành phân nửa kia. Do đó, sau khi bẻ bánh, chúng ta đến với Cha. Chúng ta đã tiếp nhận và đã gặp Chúa. Bây giờ, Ngài đem chúng ta đến với Cha. Đó là phần thứ hai trong buổi nhóm bẻ bánh của chúng ta. Chúng ta phải đến với Đức Chúa Trời và ngợi khen Ngài trong phần ấy của buổi nhóm.

Thi Thiên 22 có hai phần. Phần thứ nhất là từ câu 1 đến câu 21, là phân đoạn đề cập đến việc Chúa gánh chịu sự nhục nhã của chúng ta, Ngài chịu đau đớn, và bị Cha lìa bỏ. Phân đoạn ấy chỉ về sự chết của Chúa trên thập tự giá vì chúng ta. Phần thứ hai bắt đầu từ câu 22 và tiếp tục đến cuối đoạn. Phân đoạn ấy đề cập đến việc Chúa hướng dẫn nhiều “em” của Ngài ngợi khen Đức Chúa Trời ở giữa hội chúng. Nói cách khác, phần thứ nhất là chúng ta nhớ đến Chúa, và phần thứ hai là Chúa đem chúng ta đến với Cha để ngợi khen Ngài.

Vào ngày Chúa Jesus sống lại, Ngài nói với Ma-ri rằng: “Ta lên với Cha Ta và Cha các ngươi, Đức Chúa Trời Ta và Đức Chúa Trời các ngươi” (Gi. 20:17). Trong các chương trước của Phúc âm Giăng, Chúa Jesus gọi Cha là “Cha Ta” hay chỉ [gọi là] “Cha”. Nhưng ở đây, Ngài nói rằng: “Cha Ta và Cha các ngươi”. Khi chúng ta tiếp nhận sự chết và sự phục sinh của Chúa vào trong chúng ta, thì Cha Ngài trở nên Cha chúng ta. Ba ẩn dụ trong Lu-ca chương 15 cho chúng ta thấy Người Chăn Chiên tốt lành và Người Cha yêu thương. Người Chăn Chiên tốt lành đến để tìm chúng ta, trong khi Người Cha yêu thương ở nhà chờ đợi chúng ta. Người Chăn Chiên tốt lành đã rời nhà mình để đi tìm con chiên bị lạc, nhưng Người Cha yêu thương thì ở nhà đón nhận chúng ta. Chúng ta đã gặp Người Chăn Chiên tốt lành rồi. Bây giờ, chúng ta sẽ đi gặp Người Cha. Vì vậy, trong phần thứ hai của buổi nhóm, tất cả các bài thánh ca và lời cầu nguyện đều phải hướng về Cha. Chúng ta gặp Con trong phần đầu của buổi nhóm bẻ bánh. Trong phần thứ hai, Chúa đem chúng ta đến với Cha. Thánh Linh là Đấng hướng dẫn buổi nhóm, và Ngài luôn luôn hướng dẫn chúng ta như vậy trong buổi nhóm ấy. Sự hướng dẫn của Thánh Linh sẽ không đi ngược với nguyên tắc cứu rỗi. Chúng ta cần học tập đi theo sự hướng dẫn của Thánh Linh. Nếu chúng ta để cho Ngài được tự do, thì Ngài sẽ hướng dẫn chúng ta theo cách ấy.

Hê-bơ-rơ chương 2 cho chúng ta thấy rằng Chúa Jesus đang đem nhiều con cái vào trong vinh hiển. Khi Chúa Jesus còn ở trên đất, Ngài là Con Độc Sinh của Đức Chúa Trời; Ngài vốn là Con duy nhất. Nhưng Ngài đã chết và sống lại. Bây giờ chúng ta đã tiếp nhận Ngài và đã trở nên những người con của Đức Chúa Trời. Chúa Jesus là Con Trưởng, và chúng ta là nhiều người con. Câu 12 nói rằng: “Tôi sẽ hát thánh ca ngợi khen Ngài ở giữa hội thánh”. Buổi nhóm được nói đến trong Hê-bơ-rơ chương 2 là buổi nhóm gồm có Con Trưởng cùng với nhiều người con cùng hát ngợi khen Cha. Phần thứ hai của buổi nhóm bẻ bánh đúng là buổi nhóm bao gồm Con Trưởng cùng với nhiều người con. Chúng ta cần phải học tập nâng linh mình lên đến đỉnh điểm trong phần này của buổi nhóm. Phần thứ hai của buổi nhóm bẻ bánh là khoảng thời gian tốt nhất ở trên đất để chúng ta hát ngợi khen Cha. Chúng ta cần học tập nâng linh mình lên đến đỉnh cao trong phần này của buổi nhóm.

Đức Chúa Trời ngự “trên những lời ngợi khen của Israel” (Thi. 22:3). Hội thánh của Đức Chúa Trời càng ngợi khen thì hội thánh càng chạm đến ngai. Một người càng ngợi khen thì người ấy càng biết đến ngai. Chúng ta hãy cùng đọc ít câu của một bài thánh ca:

Cha ơi, chúng con đồng dâng lên Ngài một bài ca vui mừng

Cùng với tất cả những người thuộc riêng về Ngài;

Trong sự hiện diện của Ngài chúng con hát vang lời ngợi khen

Để dâng lên cho một mình Ngài;

Ô, ân điển kỳ diệu, đã kéo chúng con đến gần, đem về nhà với Ngài,

Để giờ này ban cho chúng con cùng một vị trí với Con Ngài.

(Thánh Ca 52)

Đó là một bài thánh ca rất hay. Bài ấy chạm đến tình cảm của Con là Đấng hướng dẫn nhiều người con ngợi khen Cha. Khó tìm được một thánh ca nào hay như bài ấy.

Buổi nhóm được đề cập đến trong Hê-bơ-rơ chương 2 là buổi nhóm tốt nhất. Ngày nay, chúng ta học được chút ít. Một ngày kia, khi lên trời, chúng ta sẽ nhóm họp trong sự vui sướng và thỏa lòng. Nhưng trước khi bước vào vinh hiển, chúng ta cần phải kinh nghiệm việc Con Trưởng hướng dẫn nhiều người con ngợi khen Cha và kinh nghiệm việc ngợi khen Cha ở giữa hội thánh. Đó là đỉnh cao nhất mà một buổi nhóm hội thánh có thể đạt tới. Đó là điều rất vinh hiển.

III. BUỔI NHÓM CẦU NGUYỆN

Buổi nhóm truyền giảng phúc âm và buổi nhóm bẻ bánh là những buổi nhóm quan trọng, và buổi nhóm cầu nguyện cũng quan trọng. Mỗi loại buổi nhóm đều có đặc tính và vị trí riêng. Buổi nhóm cầu nguyện có thể được xem là một buổi nhóm dễ mà cũng là một buổi nhóm rất khó. Các tín đồ mới cần phải học vài bài học về vấn đề này.

A. Đồng Tâm Hiệp Ý Cầu Nguyện

Điều kiện cơ bản để các anh chị em cùng cầu nguyện với nhau là phải đồng tâm hiệp ý. Trong Ma-thi-ơ chương 18 Chúa bảo chúng ta phải hòa hợp, tức là đồng tâm hiệp ý. Sự cầu nguyện trong Công vụ các Sứ đồ chương 1 cũng là sự cầu nguyện đồng tâm hiệp ý. Vì vậy, điều kiện thứ nhất để thực hiện buổi nhóm cầu nguyện là đồng tâm hiệp ý. Không người nào được đến buổi nhóm cầu nguyện với một tâm trí bất đồng. Nếu muốn có một buổi nhóm cầu nguyện, thì chúng ta phải đồng tâm hiệp ý cầu xin.

“Nếu hai người trong các ngươi hòa hợp ở trên đất về bất cứ điều gì mà họ cầu xin, thì điều ấy sẽ được thực hiện cho họ từ Cha Ta trên các từng trời” (Mat. 18:19). Đó là một lời rất mạnh. Trong tiếng Hi-lạp, chữ hòa hợp chỉ về âm nhạc. Hãy thử nghĩ xem ba người [đang hòa nhạc] — một người chơi đàn dương cầm, một người khác chơi đàn phong cầm và người thứ ba thổi sáo. Khi ba người hòa tấu mà một người bị lạc điệu, thì âm thanh sẽ rất khó nghe. Chúa muốn tất cả chúng ta cầu nguyện trong sự hòa hợp, chứ không phải cầu nguyện với những “điệu nhạc” khác biệt. Nếu chúng ta có thể hòa hợp, thì hễ chúng ta cầu xin điều gì, Đức Chúa Trời cũng sẽ thực hiện điều ấy. Bất cứ điều gì chúng ta buộc ở dưới đất, cũng sẽ được buộc ở trên trời, và bất cứ điều gì chúng ta mở ở dưới đất, cũng sẽ được mở ở trên trời. Điều kiện cơ bản là phải hòa hợp. Chúng ta phải học tập hòa hợp trước mặt Đức Chúa Trời. Chúng ta không nên cầu nguyện một cách bốc đồng trong tình trạng mọi người cứ giữ lấy ý nghĩ của mình.

B. Phải Cụ Thể

Làm thế nào lời cầu nguyện của chúng ta hòa hợp được? Có lẽ nan đề lớn nhất trong buổi nhóm cầu nguyện là chúng ta nêu lên quá nhiều vấn đề. Một khi có quá nhiều vấn đề trong buổi nhóm cầu nguyện thì không thể nào có sự hòa hợp. Một số buổi nhóm cầu nguyện có quá nhiều vấn đề đến nỗi các buổi nhóm ấy giống như một cửa hàng tổng hợp. Chúng ta không thể tìm thấy một buổi nhóm như vậy trong Kinh Thánh. Điều chúng ta thấy trong Kinh Thánh là người ta cầu nguyện cho những vấn đề cụ thể. Khi Phi-e-rơ bị giam cầm, hội thánh hết lòng cầu nguyện cho ông (Công. 12:5). Họ không cầu nguyện cho nhiều điều mà chỉ cầu nguyện cho một điều cụ thể. Khi vấn đề cụ thể, thì dễ dàng hòa hợp mà cầu nguyện.

Trong mỗi buổi nhóm cầu nguyện, tốt hơn là chỉ cầu nguyện cho một vấn đề. Chúng ta có thể đặc biệt cầu nguyện cho một anh em hay một chị em, hoặc chúng ta có thể đặc biệt cầu nguyện cho tình trạng đau yếu giữa vòng các anh chị em. Trong các trường hợp ấy, tốt hơn là cầu nguyện cho tình trạng đau yếu của một anh em hay của một chị em hoặc chỉ cầu nguyện cho tình trạng đau yếu giữa vòng các anh chị em. Chúng ta không nên đề cập thêm những vấn đề khác. Vào những lúc khác, chúng ta có thể đặc biệt cầu nguyện cho các anh chị em đang có nhu cầu, hoặc có thể đặc biệt cầu nguyện cho các anh chị em suy yếu về mặt thuộc linh. Nếu chỉ có một vấn đề thì chúng ta dễ đồng tâm hiệp ý hơn.

Nếu sau khi đã cầu nguyện kỹ lưỡng về một vấn đề mà vẫn còn thời giờ, thì chúng ta có thể nêu lên một vấn đề khác để cầu nguyện. Nhưng khi mới bắt đầu buổi nhóm cầu nguyện, chúng ta đừng bao giờ nêu lên nhiều hơn một vấn đề. Khi có quá nhiều vấn đề thì sẽ gây nên tình trạng hỗn độn. Các anh em trách nhiệm chỉ nên nêu lên từng vấn đề một. Sau đó, nếu có thêm thì giờ, họ có thể đề cập đến những vấn đề khác. Chúng ta chỉ nên cầu nguyện mỗi lần một vấn đề. Điều cần nhất cho buổi nhóm cầu nguyện là phải có một vấn đề rõ ràng.

Theo Công vụ các Sứ đồ chương 1 và 2, ngày lễ Ngũ-tuần được đem đến nhờ quyền năng của sự cầu nguyện. Xin ghi nhớ rằng thập tự giá là công việc của Con Đức Chúa Trời, trong khi lễ Ngũ-tuần là công việc của các con cái Đức Chúa Trời. Làm thế nào một công việc lớn lao như vậy đã xảy ra? Công việc ấy xảy ra nhờ sự cầu nguyện đồng tâm hiệp ý. Chúng ta hãy học tập trung lời cầu nguyện của mình vào các vấn đề cụ thể, chứ không phải vào nhiều điều.

Nếu chúng ta muốn cầu nguyện cụ thể thì mọi người đến buổi nhóm cầu nguyện đều cần phải chuẩn bị ít nhiều. Chúng ta cần phải cố gắng hết sức cho các anh chị em biết trước những vấn đề sẽ cầu nguyện. Trước hết, hãy để họ nhận lấy gánh nặng rồi mới đến với nhau mà cầu nguyện. Trước tiên, chúng ta cần có cảm xúc và gánh nặng. Sau đó, chúng ta đến với nhau để cầu nguyện.

C. Phải Chân Thành

Một điều kiện cơ bản khác là phải chân thành trong lời cầu nguyện của chúng ta. Trong buổi nhóm cầu nguyện, tôi e rằng nhiều lời thốt ra một cách vô ích. Nhiều người chú ý đến lời lẽ hoa mỹ mà không mấy quan tâm đến việc Đức Chúa Trời có nghe họ hay không. Đối với họ, dường như Đức Chúa Trời có nghe lời cầu nguyện của họ hay không cũng không mấy quan trọng. Những lời cầu nguyện như vậy trong buổi nhóm cầu nguyện thường giả tạo và vô ích.

Lời cầu nguyện chân thành là kết quả của sự mong muốn phát xuất từ tấm lòng. Ấy là điều tuôn ra từ bản thể bên trong của chúng ta. Lời cầu nguyện chân thành không phải được tạo nên bởi những lời lẽ nông cạn và văn hoa. Chỉ những lời chân thành tuôn ra từ phần sâu thẳm nhất của tấm lòng mới có thể được xem là lời cầu nguyện chân thành. Mục tiêu lời chúng ta cầu nguyện là được Đức Chúa Trời trả lời chứ không phải để làm vui lòng các anh chị em.

Nếu lời cầu nguyện của mình không chân thành, chúng ta không thể trông mong hội thánh trở nên mạnh mẽ. Để hội thánh được mạnh mẽ, buổi nhóm cầu nguyện phải mạnh mẽ. Để buổi nhóm cầu nguyện được mạnh mẽ, tất cả những lời cầu nguyện đều phải chân thành; không lời cầu nguyện nào được giả tạo. Nếu không chân thành, chúng ta không thể trông mong nhận được gì từ Đức Chúa Trời.

Cầu nguyện không phải là một bài thuyết giáo, cũng không phải là bài diễn văn. Cầu nguyện là xin Chúa một điều gì đó. Chúng ta không cần nói nhiều lời trước mặt Đức Chúa Trời trong buổi nhóm cầu nguyện như thể Đức Chúa Trời không biết gì và cần được cho biết tất cả các chi tiết. Chúng ta không cần báo cáo hay giảng một sứ điệp cho Ngài. Chúng ta cầu nguyện vì chúng ta có nhu cầu và vì chúng ta yếu đuối. Chúng ta muốn nhận được sự cung ứng và quyền năng thuộc linh qua lời cầu nguyện. Càng cảm thấy nhu cầu bao nhiêu, chúng ta càng cầu nguyện chân thành bấy nhiêu. Nếu chúng ta không cảm thấy có nhu cầu gì, thì những lời cầu nguyện của chúng ta sẽ là những lời cầu nguyện vô ích.

Nguyên nhân cơ bản gây ra những lời cầu nguyện vô ích là người cầu nguyện có ý thức thái quá về những người khác trong buổi nhóm. Ngay khi chúng ta chú ý đến những người khác thì lời cầu nguyện của mình dễ đầy những lời lẽ vô ích. Một mặt, lời cầu nguyện của chúng ta trong buổi nhóm cầu nguyện được dâng lên thay mặt toàn thể buổi nhóm. Mặt khác, chúng ta phải cầu nguyện như thể chúng ta ở một mình trước mặt Đức Chúa Trời; chúng ta phải cầu xin Đức Chúa Trời một cách chân thành theo những nhu cầu của mình.

Nhu cầu của chúng ta càng cấp bách thì lời cầu nguyện của chúng ta sẽ càng chân thành. Chúa Jesus đã có lần nêu lên một hình ảnh minh họa. Một người kia có khách đến nhà mình, nhưng người ấy không còn bánh. Vì vậy, người ấy đến [nhà] bạn mình xin bánh. Nhu cầu thật cấp bách; người ấy không có bánh. Sau khi [người ấy] nài nỉ xin dai dẳng, người bạn kia đã nhượng bộ đáp ứng nhu cầu của người ấy. Sau đó, Chúa Jesus nói: “Vì hễ ai xin sẽ được, ai tìm sẽ gặp, và ai gõ sẽ được mở cho” (Lu. 11:10). Nếu nhu cầu đang cấp bách và chúng ta cầu xin một cách đúng đắn, thì điều cầu xin ấy sẽ được ban cho chúng ta.

D. Phải Ngắn Gọn

Những lời cầu nguyện của chúng ta phải chân thành, và cũng phải ngắn gọn. Hầu như tất cả những lời cầu nguyện trong Kinh Thánh đều ngắn gọn. Lời cầu nguyện Chúa dạy trong Ma-thi-ơ chương 6 thì khá ngắn. Mặc dầu lời cầu nguyện Chúa dâng lên trong Giăng chương 17 trước khi Ngài lìa khỏi thế giới này thì khá dài, nhưng lời cầu nguyện ấy ngắn hơn nhiều so với những lời cầu nguyện của một số con cái Đức Chúa Trời ngày nay. Lời cầu nguyện trong Công vụ các Sứ đồ chương 4 là lời cầu nguyện của toàn thể hội thánh; lời cầu nguyện ấy cũng khá ngắn. Lời cầu nguyện trong Ê-phê-sô chương 1 vốn rất quan trọng, vậy mà cũng ngắn. Đọc xong lời cầu nguyện ấy không mất đến năm phút.

Nhiều lời cầu nguyện trong buổi nhóm cầu nguyện thì vô ích và không thật vì quá dài dòng. Có lẽ hai ba câu trong toàn bài cầu nguyện là chân thành, nhưng phần còn lại là không cần thiết. Hai ba câu ấy dành cho Đức Chúa Trời, nhưng phần còn lại dành cho các anh chị em. Những lời cầu nguyện như vậy kéo lê buổi nhóm. Các tín đồ mới cần phải quên đi những bài cầu nguyện lê thê của những người cũ. Thay vào đó, họ phải dâng lên những lời cầu nguyện ngắn. Không phải tất cả các anh chị em đều có thể dâng lên những lời cầu nguyện dài. Nếu chúng ta tiếp tục dâng lên những lời cầu nguyện dài dòng, hội thánh sẽ bị mất mát nhiều.

Lần kia, D. L. Moody phản ứng một cách rất khôn ngoan đối với một chị em nọ là người đang dâng lên một lời cầu nguyện lê thê trong buổi nhóm. Đang khi lời cầu nguyện của chị làm hao mòn sự nhẫn nại của toàn thể hội chúng, thì Moody đứng lên nói rằng: “Trong khi người chị em của chúng ta vẫn đang cầu nguyện, chúng ta hãy hát bài thánh ca số...”. Một lời cầu nguyện dài làm hao mòn lần sức mạnh của buổi nhóm cầu nguyện. Giả sử, anh em cầu nguyện lâu hơn thời gian anh em nên cầu nguyện năm phút, và một anh em khác cũng làm như vậy. Khi có thêm người dâng lên lời cầu nguyện dài dòng, thì buổi nhóm sẽ kéo lê và nặng nề. Charles Spurgeon có lần nói rằng điều không thích hợp nhất mà một người có thể làm là cầu xin Đức Chúa Trời tha thứ những sự thiếu sót trong một bài cầu nguyện dài. Mackintosh cũng chí lý khi ông nói: “Đừng cố gắng hành hạ các con cái Đức Chúa Trời bằng lời cầu nguyện của anh em”. Có nhiều người đánh đập những người khác không phải bằng roi mà bằng những lời cầu nguyện dài dòng. Họ càng cầu nguyện thì những người khác càng trở nên khó chịu. Mỗi khi nhóm lại, chúng ta cần phải học tập dâng lên những lời cầu nguyện ngắn gọn và chân thành.

E. Đừng Dâng Lên Những Lời Cầu Nguyện Vượt Quá Những Lời Cầu Nguyện Riêng Tư Của Chúng Ta

Một nguyên tắc khác của buổi nhóm cầu nguyện là đừng dâng lên lời cầu nguyện vượt quá lời cầu nguyện riêng tư của chúng ta. Đó là một nguyên tắc hay. Cách anh em cầu nguyện tại buổi nhóm cần phải được chi phối bởi cách anh em cầu nguyện riêng tư ở nhà. Tất nhiên, sự cầu nguyện tại buổi nhóm có khác biệt một chút; sự cầu nguyện ấy không nên giống y như sự cầu nguyện riêng tư của anh em. Theo nguyên tắc thì đừng để những lời cầu nguyện của anh em ở nơi công cộng vượt quá những lời cầu nguyện riêng tư của mình. Cách anh em cầu nguyện tại buổi nhóm cần phải gần giống như cách anh em cầu nguyện riêng tư. Đừng cầu nguyện riêng tư cách này rồi cầu nguyện trong buổi nhóm cách khác. Thật ra, khó có những lời cầu nguyện riêng tư giả tạo, nhưng nhiều lời cầu nguyện trong buổi nhóm lại giả tạo. Nếu anh em đến một buổi nhóm cầu nguyện và liên tục dùng những từ ngữ anh em không dùng trong những lời cầu nguyện riêng tư của mình, thì những lời cầu nguyện của anh em chắc chắn là giả tạo.

Nếu nói về hiệu quả thì lời cầu nguyện tại buổi nhóm luôn luôn hiệu quả hơn so với những lời cầu nguyện riêng tư. Đức Chúa Trời sẵn lòng đáp lại lời cầu nguyện của hội thánh hơn so với những lời cầu nguyện riêng tư. Nhưng ngày nay, chúng ta nhận được nhiều câu trả lời cho những lời cầu nguyện riêng tư hơn so với những lời cầu nguyện tập thể, vì có quá nhiều lời cầu nguyện giả dối và vô ích trong buổi nhóm. Đúng ra sự trả lời cho những lời cầu nguyện tập thể phải nhiều hơn so với sự trả lời cho những lời cầu nguyện của cá nhân; không những phải nhiều hơn mà phải nhiều hơn rất nhiều. Nếu các con cái của Đức Chúa Trời đến với nhau, và mọi người đều cầu nguyện một cách đơn giản, cụ thể, chân thành và hòa hợp, thì các lời cầu nguyện của chúng ta sẽ được [Chúa] trả lời nhiều hơn.

VI. BUỔI NHÓM VẬN DỤNG CÁC ÂN TỨ

Các ân tứ được tìm thấy trong mỗi hội thánh địa phương thì khác nhau. Đức Chúa Trời ban cho các địa phương nào đó ân tứ nói tiên tri, những lời khải thị và những sự dạy dỗ. Đôi khi Ngài thêm [cho ân tứ] nói các thứ tiếng [lạ] và thông dịch các thứ tiếng [lạ]. Tại một số địa phương, Đức Chúa Trời chỉ ban cho các ân tứ giảng dạy chứ không ban cho các ân tứ phép lạ. Tại những địa phương khác thì Ngài vừa ban cho các ân tứ phép lạ vừa ban cho lời dạy dỗ. Chúng ta không thể bắt buộc Đức Chúa Trời phải làm gì trong hội thánh. Tuy nhiên, nguyên tắc nhóm họp luôn luôn như nhau — Đức Chúa Trời muốn tất cả các con cái của Ngài vận dụng ân tứ của mình. Chúng ta không thể thi hành chức năng theo ân tứ mình không có; chúng ta chỉ có thể thi hành chức năng theo những ân tứ mình có. Vì lý do ấy, một địa phương không thể nhất định đòi có buổi nhóm để vận dụng ân tứ, cũng không thể bắt chước các hội thánh khác về bất cứ mặt nào. Địa phương ấy chỉ có thể thi hành chức năng theo các ân tứ mà những anh em tại địa phương ấy sở hữu. Đó là loại buổi nhóm được đề cập đến trong 1 Cô-rin-tô chương 14. Chúng ta cần phải theo Kinh Thánh khi thực hiện loại buổi nhóm vận dụng các chức năng. Các chị em không được mở miệng (c. 34), còn các anh em phải được giới hạn (cc. 32-33). Nếu có ai nói tiên tri thì chỉ nên có hai ba người. Một vài người có thể nêu lên những câu hỏi và tìm sự gây dựng hỗ tương cùng sự soi sáng từ Chúa. Trong những buổi nhóm ấy, trừ phi có sự thông dịch các thứ tiếng [lạ], còn thì không được nói các thứ tiếng [lạ]. Các thứ tiếng [lạ] là để gây dựng các cá nhân trước mặt Đức Chúa Trời. Nói các thứ tiếng [lạ] cộng với thông dịch các thứ tiếng [lạ] thì bằng với nói tiên tri. Nếu chỉ nói các thứ tiếng [lạ] mà không thông dịch các thứ tiếng ấy, thì tâm trí không được bổ ích, và hội thánh sẽ không được xây dựng. Đó là lý do Phao-lô nói: “Nếu không có người thông dịch, hãy im lặng trong hội thánh” (c. 28). Ông không cấm nói các thứ tiếng [lạ], nhưng ông cấm nói các thứ tiếng [lạ] khi thiếu sự thông dịch. Nói cách đơn giản là trong loại buổi nhóm ấy, ai có thi thiên, lời dạy dỗ, khải thị, tiếng [lạ] hay lời thông dịch, hãy làm mọi sự để gây dựng.

Trước mặt Đức Chúa Trời, chúng ta phải đặc biệt lưu ý nhắc nhở tất cả các anh em có ân tứ, tức những người phục vụ trong chức vụ lời, đừng thụ động trong buổi nhóm ấy. Những anh em có ân tứ trong chức vụ lời thường trở nên những khán giả trong buổi nhóm ấy. Họ trở nên thụ động và để những người khác phát biểu. Điều đó là sai trật. Không phải ai cũng có thể nói trong những buổi nhóm như vậy. Chỉ những người có ân tứ mới có thể nói. Chúng tôi không đồng ý là chỉ có một người nói, và chúng tôi cũng không đồng ý là mọi người đều nói. Cho phép chỉ một người nói là sai trật. Cho phép người nào cũng được nói cũng sai trật. Chỉ lời nói của những người có ân tứ mới cung ứng cho các anh chị em; không phải ai cũng có thể làm công việc ấy. Chỉ những người có lời mới có thể nói. Những người không có lời thì nên im lặng. Đáng tiếc là những anh em có ân tứ, tức những người có chức vụ [cung ứng] lời [Chúa], lại thường có thái độ không đúng đối với những buổi nhóm như vậy. Họ nghĩ rằng mọi anh chị em đều có thể mở miệng trong buổi nhóm ấy, và vì vậy mà họ ngồi yên lặng. Thật ra, buổi nhóm ấy dành cho chính anh em có ân tứ và có chức vụ đứng lên nói. Làm sao chúng ta có thể trông mong có một buổi nhóm tốt đẹp khi tất cả những người lẽ ra phải làm môi miệng lại không nói, mà hi vọng tay, chân và tai sẽ nói? Trong buổi nhóm ấy, tất cả những anh em có ân tứ phải gánh trách nhiệm tìm kiếm một lời gì trước mặt Chúa để nói. Một khi có lời thì họ phải nói.

Các buổi nhóm ấy làm nảy sinh nan đề cho những tín đồ mới; họ không biết là mình có ân tứ hay không. Họ liên hệ rất ít đến chức vụ lời. Họ chỉ vừa tin nhận Chúa, và họ chưa làm được bao nhiêu việc. Làm sao họ có thể tham gia buổi nhóm ấy? Tôi hi vọng những người trưởng thành sẽ không khóa miệng những người còn non trẻ. Chúng ta phải cho họ cơ hội nói. Chúng ta nên bảo họ rằng: “Chúng tôi không biết anh em có ân tứ hay không. Chúng tôi không biết Đức Chúa Trời có ban cho anh em chức vụ lời hay không. Vì vậy, lúc đầu, khi anh em tập nói, xin hãy nói cách đơn giản”. Anh em phải cho họ cơ hội, nhưng đừng cho họ quá nhiều cơ hội. Nếu không cho họ cơ hội, anh em sẽ chôn vùi ân tứ của họ. Nhưng nếu anh em cho họ quá nhiều cơ hội, thì họ sẽ làm hư buổi nhóm. Hãy để họ mở miệng nói, nhưng nhắc họ là phải nói ngắn gọn và đơn giản. Nếu họ có ân tứ, anh em phải nói với họ rằng: “Lần sau, anh em có thể nói lâu hơn”. Đối với một số người nào đó, anh em cần nói rằng: “Anh nói quá lâu. Lần sau xin rút ngắn lại”. Anh em phải khích lệ những người có ân tứ tiến lên, và phần nào giới hạn những người không có ân tứ. Nhờ cách ấy, buổi nhóm sẽ trở nên mạnh mẽ mà không phải khóa miệng anh em nào. Các tín đồ mới cần phải học tập trở nên khiêm nhường. Khi được khích lệ thì họ phải nói thường xuyên hơn, và khi được nhắc phải dừng lại thì họ phải nói ít hơn. Họ cần phải theo sự hướng dẫn của những anh em trưởng thành hơn.

Các anh em trách nhiệm trong hội thánh không những phải làm hoàn hảo những người tiến bộ mà cũng phải liên tục tìm kiếm các ân tứ mới. Làm thế nào anh em tìm ra một ân tứ? Các ân tứ được biểu lộ trong buổi nhóm qua việc vận dụng các ân tứ. Trong buổi nhóm ấy, hãy mở mắt anh em ra để nhìn thấy những người có dấu hiệu được Chúa hành động. Anh em phải xem xét tình trạng của những người ấy. Hãy khích lệ họ nếu họ cần phải được khích lệ, và hãy giới hạn họ nếu họ cần phải được giới hạn. Kết quả là các tín đồ mới không những sẽ được giúp đỡ mà cũng có thể giúp đỡ những người khác trong một buổi nhóm như vậy. Khi ấy anh em sẽ hướng dẫn buổi nhóm theo chiều hướng đúng đắn.

V. BUỔI NHÓM GIẢNG DẠY LỜI [CHÚA]

Loại buổi nhóm thứ năm có lẽ không trọng yếu bằng những buổi nhóm khác, nhưng được Đức Chúa Trời dùng để truyền đạt lời Ngài cho các thánh đồ như nhau. Nếu một sứ đồ ghé qua địa phương của chúng ta hay nếu có các sứ đồ, giáo sư, tiên tri hay người cung ứng lời định cư giữa vòng chúng ta, thì chúng ta cần phải có một buổi nhóm để truyền đạt lời. Chúng tôi không nói rằng loại buổi nhóm như vậy vốn không quan trọng. Chúng tôi nói rằng loại buổi nhóm ấy là buổi nhóm đơn giản nhất trong tất cả các buổi nhóm. Một buổi nhóm mà tại đó người ta đến lắng nghe lời là loại buổi nhóm đơn giản nhất, nhưng cũng như các buổi nhóm khác, có nhiều điều phải được học tập. Đừng đến nhóm trễ và làm cho những người khác phải chờ đợi anh em. Hãy tuân theo lời chỉ dẫn của những người tiếp tân, và ngồi chỗ được định cho anh em; đừng tự chọn chỗ ngồi cho mình. Nếu thính giác hay thị giác của anh em yếu hay gặp trở ngại, thì hãy giải thích cho những người tiếp tân để họ có thể chọn một chỗ thích hợp cho anh em. Hãy đem theo Kinh Thánh và thánh ca của mình.

Về mặt thuộc linh, lòng anh em phải mở ra khi đến các buổi nhóm này. Những người có thành kiến không cần đến buổi nhóm ấy, vì lời sẽ vô dụng đối với họ. Nếu một người đóng lòng mình lại đối với Đức Chúa Trời, người ấy không thể mong nhận được chút ân điển nào từ Ngài. Mọi người lắng nghe lời đều phải chú ý đến vấn đề này. Phân nửa trách nhiệm của bài giảng thuộc về người giảng, còn phân nửa kia thuộc về người nghe. Người giảng không thể nào chia sẻ một sứ điệp cho những tấm lòng khép kín và cho những người cố ý khước từ sứ điệp ấy.

Linh cũng như lòng cần được mở ra. Điều quan trọng là linh phải mở ra trong buổi nhóm ấy. Khi một người thật sự cung phụng lời [Chúa] rao giảng, thì linh của người ấy mở ra. Nhưng nếu người ấy chạm đến các linh mở ra hơn nữa trong buổi nhóm, thì linh của người ấy sẽ trở nên mạnh mẽ khi tuôn đổ. Nếu linh của buổi nhóm ngột ngạt, hờ hững hay khép kín, thì linh của người giảng sẽ như con chim bồ câu ở ngoài chiếc tàu Nô-ê, bay quanh tàu để rồi sau đó quay lại với con tàu ấy. Linh của buổi nhóm cần được mở ra, và linh của người cung phụng cần được giải phóng. Linh của buổi nhóm càng mở ra, thì linh của người tiên tri sẽ càng được giải phóng. Nếu linh của người nghe không mở ra, thì linh của người tiên tri không thể được giải phóng. Chúng ta cần học tập trở nên mềm mại và mở linh mình ra. Hãy để Thánh Linh tuôn ra. Chúng ta không nên bao phủ chính mình bằng những ý kiến lạnh lùng và ương ngạnh. Chúng ta cần phải làm một nhân tố tích cực cho buổi nhóm thay vì gây trở ngại cho linh của buổi nhóm. Linh chúng ta cần phải làm cho linh người nói tuôn đổ ra thay vì cản trở linh ấy. Nếu mỗi anh chị em đều học tập bài học này, thì buổi nhóm của chúng ta sẽ càng ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn.

Đó là những kiểu mẫu trong Kinh Thánh về các loại buổi nhóm khác nhau. Chúng ta phải học tập cách hành xử tại mỗi một buổi nhóm trong năm buổi nhóm ấy. Chúng ta không nên khinh suất. Nguyện Đức Chúa Trời thương xót chúng ta!