Thông tin sách

Bài Học Gây Dựng Tín Đồ Mới - Tập 1

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Messages for Building Up New Believers, Vol. 1
ISBN: 0-7363-0976-4
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 10

Tiếng ViệtTải về
Untitled Document

CHƯƠNG MƯỜI

CẦU NGUYỆN

Kinh Thánh: Gi. 16:24; Gia. 4:2-3; Lu. 11:9-10; Thi. 66:18; Mác. 11:24; Lu. 18:1-8

I. CẦU NGUYỆN LÀ QUYỀN CĂN BẢN CỦA CƠ ĐỐC NHÂN

Cơ Đốc nhân có một quyền căn bản trong khi sống trên đất ngày nay, đó là quyền được Chúa đáp lời cầu nguyện. Giây phút một người được tái sinh, Đức Chúa Trời ban cho người ấy quyền căn bản này để cầu xin Ngài và được Ngài nghe. Giăng chương 16 nói rằng Đức Chúa Trời trả lời khi chúng ta cầu xin trong danh Chúa để sự vui mừng của chúng ta được đầy trọn. Nếu cầu nguyện không dứt, chúng ta sẽ sống một đời sống Cơ Đốc đầy niềm vui trên đất ngày nay.

Nếu chúng ta cầu nguyện không dứt, nhưng Đức Chúa Trời liên tục không đáp lời cầu nguyện của chúng ta, hay nếu chúng ta đã làm Cơ Đốc nhân nhiều năm, mà Đức Chúa Trời hiếm khi hoặc không bao giờ nghe lời cầu nguyện của chúng ta, chắc hẳn phải có điều gì sai trật trầm trọng. Nếu đã là Cơ Đốc nhân từ ba đến năm năm mà không nhận được một sự đáp lời cầu nguyện nào, chúng ta là những Cơ Đốc nhân không hiệu quả, không chỉ là ít hiệu quả, mà là hoàn toàn không hiệu quả. Chúng ta là con cái Đức Chúa Trời, nhưng lời cầu nguyện của mình lại không bao giờ được đáp lời! Đừng bao giờ nên như vậy. Mỗi một Cơ Đốc nhân nên kinh nghiệm Đức Chúa Trời đáp lời cầu nguyện của mình. Tất cả các Cơ Đốc nhân nên thường xuyên kinh nghiệm được đáp lời cầu nguyện. Đó là kinh nghiệm cơ bản. Nếu Đức Chúa Trời không đáp lời cầu nguyện của chúng ta suốt một thời gian dài, tình trạng ấy có nghĩa là chắc chắn chúng ta có gì sai trật. Không cách nào tự lừa dối mình trong vấn đề được đáp lời cầu nguyện. Nếu lời cầu nguyện được trả lời là được trả lời. Nếu lời cầu nguyện không được trả lời là không được trả lời. Nếu lời cầu nguyện hiệu quả là hiệu quả. Nếu nó không hiệu quả là không hiệu quả.

Chúng tôi muốn hỏi mỗi Cơ Đốc nhân: Anh em có học tập cầu nguyện chưa? Đức Chúa Trời có trả lời cầu nguyện của anh em không? Lời cầu nguyện không được trả lời là sai lầm, vì lời cầu nguyện không chỉ là lời nói vào không khí. Mục đích cầu nguyện là để được đáp lời. Những lời cầu nguyện không được trả lời là những lời cầu nguyện hư không. Cơ Đốc nhân phải học tập sao cho được đáp lời cầu nguyện. Vì anh em tin Đức Chúa Trời, lời cầu nguyện của anh em cần được Đức Chúa Trời đáp lời. Lời cầu nguyện của anh em là vô ích nếu không được Đức Chúa Trời đáp lời. Anh em phải cầu nguyện cho đến khi lời cầu nguyện của mình được đáp lời. Cầu nguyện không chỉ để vun trồng [đời sống] thuộc linh, nhưng hơn nữa còn để nhận được sự đáp lời của Đức Chúa Trời.

Cầu nguyện không phải là một bài dễ học. Một người có thể là Cơ Đốc nhân ba mươi năm hay thậm chí năm mươi năm mà vẫn chưa học cầu nguyện cho đúng đắn. Một mặt, cầu nguyện không phải là một điều đơn giản. Mặt khác, cầu nguyện dễ dàng đến nỗi người ta có thể cầu nguyện ngay khi tin Chúa. Cầu nguyện có thể được kể là vấn đề sâu xa nhất cũng như là vấn đề đơn giản nhất; sâu sắc đến nỗi một vài người vẫn không thể cầu nguyện tốt dầu đã học tập cầu nguyện suốt đời. Nhiều con cái Đức Chúa Trời mãi cho đến khi chết vẫn cảm thấy mình không biết cách cầu nguyện. Tuy nhiên, cầu nguyện lại đơn giản đến nỗi ngay giây phút một người tin Chúa, người ấy có thể bắt đầu cầu nguyện và được đáp lời cầu nguyện. Nếu bắt đầu đời sống Cơ Đốc một cách tốt đẹp, anh em sẽ luôn luôn được đáp lời cầu nguyện. Nếu không có một khởi đầu tốt đẹp, anh em có thể không được đáp lời cầu nguyện suốt ba hay thậm chí năm năm. Nếu không có một nền tảng đúng đắn, sau này anh em sẽ phải nổ lực nhiều để điều chỉnh. Vì vậy, khi một người tin Chúa, người ấy phải học tập sao cho nhận được sự đáp lời cầu nguyện từ Đức Chúa Trời. Chúng tôi hi vọng tất cả các tín đồ sẽ chú ý đến vấn đề này.

II. NHỮNG ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐƯỢC ĐÁP LỜI CẦU NGUYỆN

Trong Kinh Thánh, chúng ta có thể thấy nhiều điều kiện để được đáp lời cầu nguyện, nhưng chỉ có một vài điều kiện có tính cách cơ bản. Chúng ta tin rằng nếu đáp ứng vài điều kiện này, lời cầu nguyện của mình sẽ được đáp lời. Những điều kiện này cũng được áp dụng tương tự cho những ai đã cầu nguyện nhiều năm. Đây là những điều kiện cơ bản, chúng ta nên lưu ý.

A. Cầu Xin

Tất cả những lời cầu nguyện cần phải là những lời khẩn nài chân thành trước mặt Đức Chúa Trời. Sau khi được cứu, một anh em kia cầu nguyện mỗi ngày. Vào ngày kia, một chị em hỏi anh: “Đức Chúa Trời có bao giờ nghe lời cầu nguyện của anh không?” Anh rất ngạc nhiên. Đối với anh, cầu nguyện chỉ là cầu nguyện, vì sao lại có người phải quấy rầy anh về vấn đề lời cầu nguyện có được đáp lời không? Từ đó về sau, mỗi khi cầu nguyện, anh xin Đức Chúa Trời đáp lời cầu nguyện của mình. Anh bắt đầu suy xét có bao nhiêu lời cầu nguyện của mình được đáp lời. Anh khám phá rằng lời cầu nguyện của anh thật là mơ hồ và thất thường. Đức Chúa Trời có đáp lời hay không cũng không thành vấn đề, và Ngài có làm ngơ cũng không sao. Chúng giống như lời cầu xin Đức Chúa Trời cho mặt trời mọc vào sáng hôm sau. Mặt trời vẫn mọc dầu anh có cầu nguyện hay không. Anh đã là Cơ Đốc nhân được một năm, nhưng không lời cầu nguyện nào của mình được đáp lời. Suốt thời gian ấy anh chỉ quì gối và lẩm bẩm. Anh không thể nêu cách chính xác mình cầu xin điều gì. Tình trạng này đi đến chỗ anh đã không xin điều gì cả.

Chúa phán: “Hãy gõ, [cửa] sẽ được mở cho các ngươi” (Mat. 7:7). Nếu anh em chỉ gõ vào một bức tường, Chúa sẽ không mở tường ra cho anh em. Nhưng nếu anh em thật sự đang gõ cửa, Chúa chắc chắn sẽ mở cửa cho anh em. Nếu anh em xin được vào, chắc chắn Chúa sẽ cho anh em vào. Chúa phán: “Hãy tìm, ngươi sẽ gặp” (c. 7). Giả sử ở đây có nhiều điều. Anh em muốn điều nào? Anh em phải xin ít nhất một điều. Anh em không thể nói sao cũng được. Đức Chúa Trời muốn biết cụ thể anh em muốn điều gì và cụ thể anh em đang xin điều gì. Chỉ khi ấy Ngài mới có thể ban cho anh em. Vì vậy, xin nghĩa là yêu cầu một điều cụ thể. Chúng ta phải xin. Đó là ý nghĩa của việc tìm và gõ. Giả sử hôm nay anh em muốn cha của mình cho một điều gì đó. Anh em phải xin điều mình muốn cách cụ thể. Nếu đến tiệm thuốc tây để mua thuốc, anh em phải nói chính xác mình cần thuốc gì. Nếu đi chợ mua rau, anh em phải nói mình muốn mua rau gì. Thật kỳ lạ khi người ta đến với Chúa mà không nói điều mình muốn. Đó là lý do vì sao Chúa phán chúng ta cần phải xin và xin cách cụ thể. Nan đề của chúng ta là chúng ta không xin. Sự ngăn trở nằm nơi chúng ta. Trong lời cầu nguyện của mình, chúng ta cần nói những gì mình cần và những gì mình muốn. Đừng cầu nguyện một lời cầu nguyện “bao-hàm-tất-cả” có tính cách lông bông, và chẳng quan tâm đến lời cầu nguyện ấy xem có được đáp lời hay không.

Tín đồ mới cần học tập cầu nguyện, cần phải cầu nguyện với một mục tiêu cụ thể trong tâm trí. “Anh em không có gì vì không cầu xin” (Gia. 4:2). Nhiều người trải qua thì giờ cầu nguyện mà không xin gì cả. Để hàng giờ hay hai ba giờ, thậm chí tám chín ngày trước mặt Chúa nhưng không xin gì cả là vô ích. Anh em cần học tập xin một điều gì đó, anh em cần phải gõ, thật sự gõ mạnh vào một cánh cửa. Một khi anh em đã nhận ra lối vào cách rõ ràng và đang tìm cách đi vào, hãy gõ mạnh vào cánh cửa. Khi tìm kiếm một điều cụ thể, anh em sẽ không thỏa lòng với những điều khác, anh em muốn chính điều cụ thể ấy. Đừng giống như những anh chị em đứng lên trong buổi nhóm cầu nguyện hai mươi phút hay nửa giờ mà không biết mình muốn gì. Thật kỳ lạ khi có nhiều người cầu nguyện dài mà không xin gì cả.

Anh em phải học tập cầu nguyện cách cụ thể. Anh em nên biết khi nào Đức Chúa Trời đáp lời cầu nguyện của mình và khi nào Ngài không đáp lời cầu nguyện của mình. Nếu Đức Chúa Trời trả lời cầu nguyện hay không đối với anh em không có gì khác cả, thì lúc gặp phải một tình trạng khó khăn trong tương lai anh em sẽ khó cầu nguyện với Ngài cách hiệu quả. Những lời cầu nguyện trống rỗng sẽ không hiệu quả khi gặp lúc có nhu cầu. Khi có nhu cầu cụ thể nhưng lời cầu nguyện lại trống rỗng, anh em không thể mong giải quyết được nan đề. Chỉ có những lời cầu nguyện cụ thể mới giải quyết được những nan đề cụ thể.

B. Không Cầu Xin Sai Trái

Chúng ta nên cầu xin, tuy nhiên, điều kiện thứ hai của sự cầu nguyện là chúng ta không nên cầu xin sai trái. “Anh em cầu xin mà không nhận lãnh vì cầu xin sai trái” (Gia. 4:3). Chúng ta nên xin Đức Chúa Trời theo nhu cầu của mình. Chúng ta đừng nên xin cách vô tâm, vô lý hay bừa bãi. Chúng ta đừng bao giờ cầu xin cách cẩu thả hay sai trái về những điều không cần thiết theo dục vọng hoặc xác thịt mình. Nếu làm như vậy, lời cầu nguyện của chúng ta trở nên vô ích. Dầu Đức Chúa Trời thường ban cho chúng ta “vượt quá mọi điều chúng ta cầu xin hoặc suy nghĩ” (Êph. 3:20), nhưng cầu xin sai trái lại là một điều khác.

Cầu xin sai trái nghĩa là cầu xin vượt quá khả năng hay nhu cầu thật sự của mình. Nếu có một nhu cầu, anh em có thể cầu xin Đức Chúa Trời. Nhưng anh em chỉ nên xin Đức Chúa Trời chăm sóc nhu cầu của mình. Xin quá điều mình cần là cầu xin cách sai trái. Nếu anh em có nhu cầu lớn lao, việc cầu xin Đức Chúa Trời thỏa đáp nhu cầu đó không có gì sai. Nhưng nếu anh em không có nhu cầu lớn lao, mà lại cầu xin điều đó, thì anh em đang cầu xin cách sai trái. Anh em chỉ có thể cầu xin theo khả năng và nhu cầu của mình. Anh em đừng bao giờ dại dột cầu xin điều này, điều kia. Cầu xin cách cẩu thả là cầu xin sai trái, người cầu xin như vậy sẽ không nhận được sự đáp lời nào của Đức Chúa Trời. Cầu xin sai trái trước mặt Đức Chúa Trời giống như một đứa bé bốn tuổi xin người cha của nó cho nó mặt trăng trên trời. Đức Chúa Trời không hài lòng với những sự cầu xin sai trái. Tất cả các Cơ Đốc nhân nên học tập giới hạn lời cầu nguyện của mình trong phạm vi đúng đắn. Đừng vội vàng mở miệng và cầu xin nhiều hơn điều mình thật sự cần.

C. Xử Lý Tội Lỗi

Một số người không cầu xin cách sai trái, nhưng Đức Chúa Trời không đáp lời cầu nguyện của họ, bởi vì có một hàng rào căn bản ngăn cách giữa họ và Đức Chúa Trời, đó là tội lỗi. “Nếu trong lòng tôi chăm chú về điều ác, Chúa sẽ không nghe tôi” (Thi. 66:18). Nếu lòng một người có những tội lỗi hiển nhiên mà mình nhận biết, nhưng không muốn buông bỏ hay từ bỏ chúng, Chúa sẽ không đáp lời cầu nguyện của người ấy. (Xin lưu ý những từ ngữ trong lòng tôi). Chúa không thể đáp lời cầu nguyện của người ấy khi có một sự ngăn trở lớn lao như vậy.

“Trong lòng tôi chăm chú về điều ác” nghĩa là gì? Điều này nghĩa là giữ một tội lỗi trong lòng mình, không muốn lìa bỏ nó. Người như vậy biết một điều gì đó là tội, nhưng vẫn tiếp tục ấp ủ nó. Đó không những là sự yếu đuối trong hành vi hay bề ngoài nhưng cũng là một sự ham muốn trong lòng. Điều này khác với con người được nói đến trong La Mã chương 7. Mặc dầu con người trong La Mã chương 7 đã thất bại, nhưng con người ấy ghét điều mình làm. Tuy nhiên, con người ở đây trong lòng chăm chú về điều ác. Điều này có nghĩa là người ấy giữ điều ác trong lòng, lưỡng lự và không muốn buông bỏ nó. Không những tội lưu lại trong hành vi nhưng còn ở trong lòng người ấy nữa. Chúa sẽ không nghe một người như vậy khi người ấy cầu nguyện. Hễ khi nào còn một tội, Đức Chúa Trời còn bị ngăn trở trong việc đáp lời cầu nguyện của chúng ta. Chúng ta không nên giữ bất cứ một tội nào mình ưa thích trong lòng. Chúng ta nên nhận biết mọi tội là tội và phải đặt chúng dưới huyết [Ngài]. Chúa có thể thông cảm sự yếu đuối của chúng ta, nhưng Chúa không cho phép lòng chúng ta hướng về điều ác. Lời cầu nguyện của chúng ta sẽ không thắng thế nếu chúng ta dẹp bỏ mọi tội bề ngoài nhưng trong lòng vẫn hướng về chúng, lưỡng lự và không muốn lìa bỏ chúng. Từ giây phút bắt đầu đời sống Cơ Đốc, chúng ta phải xin Chúa ban ân điển để giữ chúng ta khỏi vấp ngã và thánh hóa chúng ta trong hành vi. Đồng thời, chúng ta phải triệt để từ bỏ mọi tội trong lòng mình. Lòng chúng ta không nên giữ lại hoặc hướng về bất cứ tội gì. Lời cầu nguyện của chúng ta sẽ vô dụng nếu tội lỗi còn lưu lại trong lòng mình. Chúa sẽ không nghe một lời cầu nguyện như vậy.

Châm Ngôn 28:13 nói: “Ai giấu tội lỗi mình sẽ không được thịnh vượng, nhưng ai xưng ra và từ bỏ chúng sẽ được thương xót”. Anh em phải xưng tội mình. Anh em phải nói với Chúa: “Trong lòng con đã hướng về tội này. Con không thể từ bỏ nó. Con xin Ngài tha thứ cho con. Con muốn từ bỏ tội này. Xin giải cứu con khỏi tội này. Đừng để tội này lưu lại trong con. Con không ưa thích nó. Con muốn từ bỏ nó”. Nếu anh em xưng tội với Chúa như vậy, Ngài sẽ tha thứ, và anh em sẽ nhận được sự tha thứ. Khi ấy, lời cầu nguyện của anh em sẽ được [Chúa] nghe. Anh em đừng bao giờ lơi lỏng trong vấn đề này. Anh em sẽ không nhận được điều gì nếu không cầu xin. Anh em sẽ không nhận được gì cả nếu cầu xin sai trái. Thậm chí dù anh em không cầu xin sai trái, Chúa vẫn không nghe anh em nếu anh em giữ một tội mình ưa thích và lòng mình hướng về nó.

D. Tin

Về phương diện tích cực, điều kiện để được đáp lời cầu nguyện là đức tin. Đức tin là điều không thể thiếu. Không có đức tin, lời cầu nguyện không hiệu quả. Câu chuyện trong Mác chương 11 nhấn mạnh về nhu cầu đức tin trong sự cầu nguyện. Chúa Jesus phán: “Mọi điều các ngươi cầu xin, hãy tin rằng các ngươi đã nhận được rồi, thì các ngươi sẽ có những điều ấy” (c. 24). Chúng ta phải tin khi cầu nguyện. Nếu tin mình đã nhận được điều mình đang cầu xin, chúng ta sẽ có những điều ấy. Chúng tôi hi vọng rằng ngay khi một người tiếp nhận Chúa, thậm chí một tuần sau khi được hoán cải, người ấy sẽ biết đức tin là gì. Chúa phán: “Hãy tin rằng các ngươi đã nhận được rồi, thì các ngươi sẽ có những điều ấy”. Ngài không phán: “Hãy tin rằng các ngươi sẽ nhận được những điều ấy” nhưng nói: “Hãy tin rằng các ngươi đã nhận được rồi”. Chúng ta nên tin mình đã nhận lãnh điều mình cầu xin, thì chúng ta sẽ có những điều ấy. Việc tin mà Chúa nói đến ở đây được theo sau bằng vị ngữ các ngươi đã nhận được rồi. Đức tin là gì? Đức tin là tin rằng mình đã nhận lãnh điều mình cầu xin.

Cơ Đốc nhân thường lầm lẫn trong việc tách rời tin với vị ngữ của nó các ngươi đã nhận được rồi. Họ đặt tin trước nhóm chữ các ngươi sẽ có những điều ấy. Họ cầu nguyện với Chúa, nghĩ rằng phải có đức tin lớn để “tin... và các ngươi sẽ có những điều ấy”. Họ cầu nguyện với Chúa rằng núi phải bị dời đi và ném xuống biển, và họ tin rằng điều đó sẽ xảy ra như vậy. Họ nghĩ rằng loại đức tin này là đức tin lớn. Tuy nhiên, như vậy là dời chữ “tin” khỏi nhóm chữ các ngươi đã nhận được rồi và đặt nó trước nhóm chữ các ngươi sẽ có những điều ấy. Kinh Thánh nói chúng ta phải tin mình đã nhận được rồi chứ không nói mình sẽ nhận được. Hai điều này rõ ràng không giống nhau. Không những tín đồ mới cần học tập điều này, nhưng thậm chí những ai đã là tín đồ nhiều năm cũng cần học tập điều này.

Đức tin là gì? Đức tin là sự bảo đảm Đức Chúa Trời đã đáp lời cầu nguyện của chúng ta. Đây không phải là niềm xác tín rằng Đức Chúa Trời sẽ trả lời cầu nguyện của chúng ta. Đức tin là khi chúng ta quì gối xuống cầu nguyện và ngay giây phút ấy thưa rằng: “Cảm tạ Đức Chúa Trời! Ngài đã đáp lời cầu nguyện của tôi. Cảm tạ Đức Chúa Trời! Vấn đề đã được giải quyết”. Đó là tin mình đã nhận được rồi. Một người có thể quì gối cầu nguyện và đứng lên nói: “Tôi tin rằng Đức Chúa Trời chắc chắn sẽ nghe lời cầu nguyện của tôi”. Lời nói chắc chắn sẽ nghe là sai lầm. Cho dầu cố gắng hết lòng “tin” theo cách này đến đâu, người ấy sẽ không thấy kết quả gì cả. Giả sử anh em cầu nguyện cho một người bị bệnh và người ấy nói: “Tạ ơn Đức Chúa Trời! Tôi được chữa lành rồi!”. Có thể nhiệt độ của người ấy vẫn cao, các triệu chứng không thay đổi gì cả. Nhưng nan đề đã chấm dứt vì người ấy sáng tỏ trong lòng rằng mình đã được chữa lành. Tuy nhiên, nếu người ấy nói: “Tôi tin chắc chắn Chúa sẽ chữa lành bệnh tôi”, có lẽ người ấy cần cố gắng nhiều hơn để “tin”. Chúa Jesus phán: “Hãy tin rằng các ngươi đã nhận được rồi, thì các ngươi sẽ có những điều ấy”. Ngài không nói các ngươi sẽ nhận nếu các ngươi tin mình sẽ nhận. Nếu anh em đảo ngược, điều ấy sẽ không hiệu quả. Anh chị em ơi, anh chị em có thấy bí quyết này không? Đức tin thật nằm ở nhóm chữ “Xong rồi”. Đức tin thật cảm tạ Đức Chúa Trời vì đã đáp lời cầu nguyện của chúng ta.

Chúng ta cần nói thêm vài lời về đức tin. Hãy xem xét vấn đề chữa bệnh. Chúng ta có thể tìm được vài ví dụ vững chắc về đức tin trong Phúc âm theo Mác. Có ba câu trong Phúc âm theo Mác mang ý nghĩa đặc biệt cho sự cầu nguyện. Câu đầu tiên liên quan đến quyền năng của Chúa, câu thứ hai liên quan đến ý muốn Chúa, và câu thứ ba liên quan đến hành động của Chúa.

1. Quyền Năng Của Chúa — Đức Chúa Trời Có Khả Năng

Chúng ta hãy xem Mác 9:21-23: “Ngài hỏi cha nó rằng: Điều này xảy đến cho nó bao lâu rồi? Ông đáp: Từ khi còn thơ ấu. Bệnh này thường quăng nó vào lửa và vào nước để hủy diệt nó. Nhưng nếu Ngài có khả năng làm gì, xin thương xót chúng tôi và giúp đỡ chúng tôi. Jesus nói với ông: Ngươi nói nếu Ngài có khả năng. Mọi sự đều có thể được cho người nào tin”. Người cha nói với Chúa Jesus: “Nếu Ngài có khả năng làm gì... xin giúp đỡ chúng tôi”. Chúa Jesus lặp lại lời ông: “Nếu Ngài có khả năng”. Chúa nói: “Nếu Ngài có khả năng” là trích dẫn lại lời người cha nói: “Nếu Ngài có khả năng’ ”. Chúa Jesus đang lặp lại lời người cha nói. Ông nói: “Nếu Ngài có khả năng làm gì... xin giúp đỡ chúng tôi”. Chúa Jesus phán: “Nếu Ngài có khả năng. Mọi sự đều có thể được cho người nào tin”. Vấn đề không phải “nếu Ngài có khả năng”, nhưng vấn đề là ông ấy có thể tin hay không.

Khi người ta thấy mình gặp khó khăn, họ thường đầy dẫy sự nghi ngờ, họ không thể tin vào quyền năng của Đức Chúa Trời. Đó là điều đầu tiên chúng ta cần giải quyết. Dường như nhiều lúc quyền lực của chướng ngại vật lớn hơn quyền năng của Đức Chúa Trời. Chúa Jesus quở trách người cha vì nghi ngờ quyền năng của Đức Chúa Trời. Trong Kinh Thánh, chúng ta hiếm khi nào thấy Chúa ngắt lời ai như Ngài đã làm trong trường hợp này. Dường như Chúa giận khi ông nói: “Nếu Ngài có khả năng”. Chúa quở trách người cha khi ông nói: “Nếu Ngài có khả năng làm gì, xin thương xót chúng tôi và giúp đỡ chúng tôi”. Ý Chúa muốn nói là: “Sao ngươi lại có thể nói rằng: “Nếu Ngài có khả năng?” Nói như vậy nghĩa là gì? Mọi sự đều có thể được cho người nào tin. Vấn đề không phải là “Ta có khả năng hay không”, mà là ngươi có tin hay không. Sao ngươi dám hỏi nếu Ta có khả năng!” Khi con cái của Đức Chúa Trời cầu nguyện, họ nên học tập ngước mắt lên và nói: “Chúa ôi! Ngài có khả năng”.

Mác chương 2 ghi lại sự việc Chúa chữa lành một người bại. Chúa phán với người bại: “Con ơi, tội lỗi con đã được tha” (c. 5). Một số thầy thông giáo lý luận trong lòng: “Tại sao người này nói như vậy? Ông ta phạm thượng! Ai có thể tha tội ngoại trừ một Đấng, là Đức Chúa Trời?” (c. 7). Họ suy nghĩ trong lòng rằng chỉ có Đức Chúa Trời mới tha tội và Jesus không thể tha tội. Họ xem việc tha tội là một điều lớn lao. Nhưng Chúa phán với họ: “Vì sao các ngươi lý luận trong lòng về những điều này? Điều nào dễ hơn: nói với người bại: tội lỗi ngươi đã được tha, hay nói: hãy đứng lên, vác chiếu ngươi và đi?” (cc. 8-9). Chúa cho họ thấy rằng đối với loài người, vấn đề là một người có làm được điều đó hay không, nhưng đối với Đức Chúa Trời, vấn đề là điều nào dễ hơn. Đối với con người, không ai có thể tha tội hay bảo người bại đứng lên và đi. Tuy nhiên, Chúa cho họ thấy Ngài có thể tha tội cũng như làm cho người bại đứng lên và đi. Cả sự tha thứ lẫn việc làm cho người bại đứng lên và đi đều dễ dàng đối với Chúa. Chúa cho họ thấy “Đức Chúa Trời có khả năng”. Trong sự cầu nguyện của mình, chúng ta cần biết rằng “Đức Chúa Trời có khả năng” và không điều gì quá khó cho Ngài.

2. Ý Muốn Của Chúa — Đức Chúa Trời Muốn

Đúng là Đức Chúa Trời có khả năng làm mọi việc, nhưng làm thế nào tôi biết rằng Ngài muốn chữa lành tôi? Tôi không biết ý muốn của Ngài. Có lẽ Chúa không muốn chữa lành tôi. Vậy tôi nên làm gì? Chúng ta hãy xem một câu chuyện khác. Mác 1:41 nói: “Ngài động lòng thương xót, đưa tay ra, đụng đến người ấy và nói với người, Ta muốn, hãy được sạch!” Ở đây, vấn đề không phải là Đức Chúa Trời có khả năng làm một việc gì đó hay không. Trái lại, vấn đề là Đức Chúa Trời có muốn hay không. Dầu quyền năng Ngài lớn đến đâu, nhưng nếu Ngài không muốn chữa lành thì sao? Nếu Đức Chúa Trời không muốn chữa lành chúng ta, quyền năng lớn lao của Ngài sẽ không đem lại kết quả gì cho chúng ta. Vấn đề đầu tiên cần phải giải quyết là Đức Chúa Trời có khả năng hay không, nhưng vấn đề thứ hai cũng phải được giải quyết là Đức Chúa Trời có muốn hay không. Chúa phán với người cùi: “Ta muốn”. Cựu Ước cho chúng ta biết bệnh cùi là một chứng bệnh rất dơ bẩn (Lê. 13 — 14). Ai tiếp xúc với người cùi đều bị ô uế. Tuy nhiên, tình yêu của Chúa lớn đến nỗi Ngài phán: “Ta muốn”. Chúa Jesus đưa tay ra, chạm đến và làm sạch người cùi! Người cùi khẩn thiết nài xin Chúa và Ngài vui lòng làm sạch người ấy. Có thể nào Chúa không muốn chữa lành bệnh tật của chúng ta sao? Có thể nào Chúa không muốn đáp lời cầu nguyện của chúng ta sao? Tất cả chúng ta đều có thể nói: “Đức Chúa Trời có khả năng” và “Đức Chúa Trời muốn”.

3. Hành Động Của Chúa — Đức Chúa Trời Đã Làm Rồi

Đối với chúng ta biết Đức Chúa Trời có khả năng và Đức Chúa Trời muốn thì vẫn chưa đủ. Chúng ta cần biết một điều nữa: Đức Chúa Trời đã làm rồi. Chúng ta cần trở lại Mác 11:24 đã trưng dẫn trong phần trên: “Mọi điều các ngươi cầu xin, hãy tin rằng các ngươi đã nhận được rồi, thì các ngươi sẽ có những điều ấy”. Điều này cho chúng ta biết Đức Chúa Trời đã làm một điều gì đó xong rồi.

Đức tin là gì? Đức tin không chỉ là tin Đức Chúa Trời có khả năng và sẽ làm một điều gì đó, nhưng cũng tin rằng Ngài đã làm điều gì đó xong rồi. Đức Chúa Trời đã hoàn thành điều đó rồi. Nếu anh em tin rằng mình đã nhận được, anh em sẽ có điều đó. Nếu anh em tin và biết chắc Đức Chúa Trời có khả năng và sẽ làm một điều gì đó vì Ngài đã ban cho anh em một lời về điều đó, anh em nên cảm tạ Ngài và nói: “Đức Chúa Trời đã làm điều đó!”. Nhiều lời cầu nguyện của người ta không được trả lời vì họ chưa được sáng tỏ về điểm này, họ vẫn hi vọng rằng mình sẽ nhận được một điều gì đó. Tuy nhiên, hi vọng nghĩa là mong đợi một điều gì đó trong tương lai, trong khi tin nghĩa là kể một việc gì đó đã được thực hiện. Đức tin thật nói rằng: “Cảm tạ Đức Chúa Trời, Ngài đã chữa lành tôi! Cảm tạ Đức Chúa Trời, tôi đã nhận được điều đó! Cảm tạ Đức Chúa Trời, tôi đã được sạch! Cảm tạ Đức Chúa Trời, tôi đã bình phục!” Khi đức tin hoàn hảo, đức tin ấy không chỉ nói: “Đức Chúa Trời có khả năng” và “Đức Chúa Trời muốn”, nhưng cũng nói “Đức Chúa Trời đã làm rồi”.

Đức Chúa Trời đã lắng nghe lời cầu nguyện của chúng ta! Đức Chúa Trời đã hoàn thành mọi sự! Nếu tin rằng mình đã nhận được, chúng ta sẽ nhận được. Thông thường, đức tin của chúng ta là loại đức tin tin rằng chúng ta sẽ nhận được. Kết quả là chúng ta không bao giờ nhận được gì cả. Chúng ta cần có loại đức tin tin rằng mình đã nhận được rồi. Đức tin luôn luôn là vấn đề “đã làm xong rồi” hơn là “sẽ được làm”.

Xin xem một hình ảnh minh họa đơn giản. Một người vừa mới nghe Phúc âm. Nếu anh em hỏi người ấy: “Anh đã tin Chúa Jesus chưa?” có lẽ người ấy trả lời: “Tôi đã tin”. Tiếp theo có lẽ anh em hỏi: “Anh được cứu chưa?” Nếu người ấy nói: “Tôi sẽ được cứu”, anh em biết người ấy chưa được cứu. Giả sử anh em lại hỏi: “Anh có thật sự tin rằng mình được cứu rồi không?” Nếu người ấy nói: “Chắc chắn tôi sẽ được cứu”, anh em biết người ấy vẫn chưa được cứu. Có lẽ anh em muốn hỏi người ấy một lần nữa: “Anh có thật sự chắc chắn rằng mình sẽ được cứu không?” Nếu người ấy trả lời: “Tôi nghĩ tôi sẽ được”, thì lời người ấy nói nghe không có vẻ là một người được cứu. Nếu ai nói: “Tôi sẽ được cứu”, “Chắc chắn tôi sẽ được cứu”, hay “Tôi nghĩ chắc chắn tôi sẽ được cứu” thì không bảo đảm người ấy được cứu. Nếu người ấy nói: “Tôi được cứu rồi”, người đã nói đúng. Khi một người tin, người ấy được cứu. Bất cứ đức tin nào, nếu là đức tin, sẽ tin vào những gì đã được hoàn thành. Chẳng hạn, khi một người sở hữu đức tin lúc được cứu, người ấy lập tức nói: “Cảm tạ Đức Chúa Trời, tôi đã nhận được”. Chúng ta hãy nắm lấy ba điều này: Đức Chúa Trời có khả năng, Đức Chúa Trời muốn, và Đức Chúa Trời đã làm rồi.

Đức tin không phải là một sự luyện tập có tính cách tâm lý. Đức tin là tiếp nhận lời Đức Chúa Trời và tin với sự bảo đảm lớn lao rằng Đức Chúa Trời có khả năng, Đức Chúa Trời muốn và Đức Chúa Trời đã làm. Nếu anh em chưa tiếp nhận lời Ngài, đừng thực hiện một bước liều lĩnh thuộc linh là thử Ngài. Sự luyện tập có tính cách tâm lý không phải đức tin. Chúng ta hãy lấy bệnh tật làm ví dụ: Tất cả những ai được chữa lành nhờ đức tin thật đều không sợ sự kiểm nghiệm của y khoa (Mác 1:44). Kết quả sự kiểm nghiệm y khoa đối với những người đã kinh nghiệm sự chữa lành thần thượng chân chính sẽ chứng tỏ rằng đó là một sự chữa lành thật sự chứ không phải một điều thuộc tâm lý.

Khi các tín đồ mới học tập cầu nguyện, họ nên cầu nguyện làm hai giai đoạn. Trong giai đoạn đầu họ nên cầu nguyện cho đến khi nhận được lời hứa. Họ nên cầu nguyện cho đến khi nhận được lời Đức Chúa Trời. Tất cả các lời cầu nguyện đều bắt đầu bằng cách xin Đức Chúa Trời một điều gì đó. Những lời cầu nguyện như vậy có thể tiếp tục trong một thời gian, đôi khi kéo dài từ ba đến năm năm. Một người cần tiếp tục xin. Một số lời cầu nguyện được trả lời nhanh chóng, trong khi những lời cầu nguyện khác cứ tiếp tục [dâng lên] mà chưa được trả lời trải qua nhiều năm. Đó là giai đoạn một người cần tiếp tục cầu xin. Giai đoạn thứ hai bắt đầu từ khi một người nhận được lời hứa và kéo dài đến khi lời hứa trở thành sự thật. Giai đoạn này bắt đầu từ khi một người nhận được lời Đức Chúa Trời và kéo dài đến khi lời Ngài được hoàn thành. Giai đoạn này không phải để cầu nguyện, nhưng để ngợi khen. Trong giai đoạn đầu, người ấy cầu nguyện, nhưng trong giai đoạn thứ hai, người ấy ngợi khen. Trong giai đoạn đầu, người ấy cầu nguyện cho đến khi nhận được một lời hứa. Trong giai đoạn hai, người ấy ngợi khen Chúa liên tục cho đến khi lời đó được thành tựu. Đó là bí quyết cầu nguyện.

Một số người chỉ biết hai điểm về sự cầu nguyện: Trước hết, họ quì gối cầu nguyện cho điều mình không có, thứ hai, họ có điều đó; Đức Chúa Trời ban điều đó cho họ. Giả sử tôi xin Chúa cho một cái đồng hồ, và sau vài ngày, Chúa ban cho tôi một cái đồng hồ. Chỉ có hai sự việc: không có một điều gì đó, và có điều đó. Một số người không nhận biết có một sự kiện khác giữa hai điều này, đó là sự kiện đức tin. Giả sử tôi cầu nguyện xin một cái đồng hồ, và một ngày kia tôi nói: “Cảm tạ Đức Chúa Trời, Ngài đã nghe lời cầu nguyện của tôi”. Mặc dầu tay tôi vẫn trống rỗng, nhưng tôi được sáng tỏ ở bên trong rằng mình đã có chiếc đồng hồ. Thật vậy, sau vài ngày, chiếc đồng hồ đến. Chúng ta không thể chỉ lưu tâm đến hai sự kiện: không có và rồi có. Chúng ta phải lưu tâm đến sự kiện thứ ba, là sự kiện thêm vào giữa tình trạng không có với tình trạng có, trong đó Đức Chúa Trời ban cho chúng ta một lời hứa, sau đó chúng ta tin và vui mừng về điều đó. Có lẽ chúng ta phải chờ đợi ba ngày trước khi thật sự nhận được chiếc đồng hồ. Nhưng trong linh mình, chúng ta đã nhận được trước đó ba ngày rồi. Cơ Đốc nhân nên kinh nghiệm việc nhận được trong linh này. Nếu một người chưa bao giờ kinh nghiệm loại nhận lãnh trong linh này, người ấy chưa có đức tin.

Chúng tôi hi vọng các tín đồ mới sẽ biết đức tin là gì, chúng tôi hi vọng rằng họ sẽ học tập cầu nguyện. Có lẽ anh em đã cầu nguyện liên tục ba hay năm ngày, một tháng, hay thậm chí một năm, và tay mình vẫn trống rỗng. Nhưng sâu xa trong lòng mình, anh em có sự tin chắc nho nhỏ là vấn đề đó cuối cùng sẽ được thành tựu. Khi ấy, anh em nên bắt đầu ngợi khen Đức Chúa Trời. Anh em nên tiếp tục ngợi khen Ngài cho đến khi nhận được điều đó trong tay. Nói cách đơn giản, giai đoạn đầu là cầu nguyện từ không có gì cả đến khi có đức tin, và giai đoạn hai là ngợi khen từ lúc có đức tin đến khi thật sự nhận lãnh.

Vì sao chúng ta nên phân chia lời cầu nguyện của mình làm hai giai đoạn như vậy? Giả sử một người cầu nguyện từ chỗ không có gì cả đến chỗ có đức tin. Nếu tiếp tục cầu nguyện, người ấy có thể mất đức tin này. Một khi đã có được đức tin, người ấy nên bắt đầu ngợi khen. Nếu tiếp tục cầu nguyện, có thể người ấy dùng lời cầu nguyện xua tan đức tin và cuối cùng không nhận được gì cả. “Ngươi sẽ có điều đó” là thật sự có trong tay, còn “ngươi đã có điều đó” là có trong linh. Nếu đức tin đã có rồi, nhưng những vấn đề [cầu xin] chưa trở thành hiện thực, người ấy phải nhắc Đức Chúa Trời bằng lời ngợi khen, chứ không nên cố gắng nhắc nhở Ngài bằng lời cầu nguyện. Nếu Đức Chúa Trời đã nói Ngài sẽ ban cho chúng ta một điều gì đó, thì chúng ta cần phải nói gì khác? Nếu chúng ta có sự bảo đảm bên trong rằng “chúng ta đã nhận được điều đó”, thì còn cần cầu nguyện cho điều gì khác nữa không? Nhiều Cơ Đốc nhân có kinh nghiệm ngay khi lời cầu nguyện của họ đụng đến đức tin, họ không thể tiếp tục cầu nguyện được nữa. Họ chỉ có thể nói: “Chúa ôi! Con ngợi khen Ngài”. Họ phải giữ đức tin và ngợi khen. “Chúa ôi! Con ngợi khen Ngài. Ngài đã nghe lời cầu nguyện của con. Con ngợi khen Ngài vì Ngài đã đáp lời cầu nguyện của con cách đây một tháng”. Nếu làm như vậy, anh em sẽ nhận lãnh. Rất tiếc, một số người không hiểu biết như vậy. Đức Chúa Trời đã hứa với họ một điều gì đó, nhưng họ vẫn cầu nguyện. Cuối cùng, lời cầu nguyện của họ xua tan đức tin. Đó là một sự thiệt hại rất lớn.

Lời Chúa trong Mác 11:24 thật quá quí báu. Trong cả Tân Ước, chúng ta không thể tìm được một phân đoạn nào khác giải thích đức tin rõ ràng như câu này. “Mọi điều các ngươi cầu xin, hãy tin rằng các ngươi đã nhận được rồi, thì các ngươi sẽ có những điều ấy”. Nếu một người thấy điều này, người ấy sẽ biết cầu nguyện thật sự có nghĩa là gì, và cầu nguyện là công cụ mạnh mẽ nhất trong tay mình.

E. Kiên Trì Cầu Xin

Một điểm khác về sự cầu nguyện đòi hỏi chúng ta phải chú ý là chúng ta cần phải kiên trì cầu nguyện và đừng bao giờ ngưng cầu nguyện. Lu-ca 18:1 nói: “Họ phải luôn luôn cầu nguyện và đừng nản lòng”. Một số lời cầu nguyện đòi hỏi phải kiên trì. Một người phải cầu nguyện đến mức độ lời cầu nguyện của người ấy làm cho Chúa mệt mỏi và Ngài bắt buộc phải trả lời. Đó là một loại đức tin khác. Chúa phán: “Tuy nhiên, khi Con Loài Người đến, Ngài có tìm được đức tin trên đất không?” (c. 8). Đức tin này khác với đức tin đã nói đến trong phần trước, nhưng hai loại đức tin này không mâu thuẫn với nhau. Mác chương 11 nói rằng chúng ta phải cầu nguyện cho đến khi có đức tin. Lu-ca chương 18 nói rằng chúng ta phải cầu xin nhiều lần. Chúng ta phải có đức tin để cầu nguyện với Chúa cách kiên trì cho đến một ngày Ngài bắt buộc phải đáp lời cầu nguyện của chúng ta. Chúng ta không nên quan tâm có lời hứa hay không. Chúng ta chỉ cầu nguyện cho đến khi Đức Chúa Trời bắt buộc phải đáp lời.

Nhiều lời cầu nguyện mâu thuẫn với nhau. Một người có thể cầu nguyện một hay hai ngày. Nhưng sau ba tháng, người ấy hoàn toàn quên điều mình cầu nguyện. Một số người có thể cầu nguyện cho một điều chỉ một lần. Thậm chí họ không thể cầu nguyện lần thứ hai cho điều đó. Những người như vậy ít quan tâm đến việc mình có nhận được điều mình cầu xin hay không. Xin hãy đếm bao nhiêu lời cầu nguyện của anh em đã được dâng lên lần thứ hai, lần thứ ba, lần thứ năm, lần thứ mười. Nếu anh em quên những lời cầu nguyện của mình, làm thế nào anh em mong Đức Chúa Trời nhớ đến chúng? Nếu anh em không có lòng cầu nguyện, làm thế nào anh em mong Đức Chúa Trời có lòng lắng nghe? Nếu anh em quên lời cầu nguyện của mình, làm thế nào anh em mong Đức Chúa Trời nhớ đến lời cầu nguyện ấy? Thật ra, anh em không bao giờ ao ước những gì mình cầu xin. Một người chỉ cầu nguyện kiên trì khi người ấy thật sự có nhu cầu. Một người cầu nguyện kiên trì chỉ khi nào người ấy bị hoàn cảnh dồn nén và nhu cầu thôi thúc. Trong những trường hợp như vậy, có lẽ người ấy kiên trì nhiều thập niên và vẫn không bỏ cuộc trong sự cầu nguyện: “Chúa ôi! Nếu Ngài không đáp lời, con sẽ không ngừng cầu xin”.

Nếu muốn xin một điều gì, anh em nên quấy rầy Đức Chúa Trời về điều đó. Nếu thật sự muốn điều đó, anh em phải cầu xin kiên trì cho đến khi Đức Chúa Trời nghe anh em. Anh em phải cầu xin theo cách mà Đức Chúa Trời không thể làm gì khác hơn là đáp lời cầu nguyện của mình. Anh em phải cầu xin cho đến khi Đức Chúa Trời bị bắt buộc phải đáp lời mình.

III. THỰC HÀNH CẦU NGUYỆN

Mỗi Cơ Đốc nhân nên có sổ cầu nguyện, mỗi năm một quyển. Chúng ta nên ghi lại những lời cầu nguyện của mình giống như một người giữ sổ sách kế toán. Mỗi trang nên được chia làm bốn cột. Cột thứ nhất nên ghi ngày mình bắt đầu cầu nguyện cho một điều gì đó. Cột thứ hai nên ghi các vấn đề cầu nguyện. Cột thứ ba nên ghi ngày được đáp lời cầu nguyện và cột thứ tư nên ghi Đức Chúa Trời đã đáp lời cầu nguyện như thế nào. Bằng cách này, anh em sẽ khám phá mình đã cầu xin Đức Chúa Trời bao nhiêu điều trong một năm, bao nhiêu lời cầu nguyện được Ngài trả lời và những lời cầu nguyện nào vẫn chưa được đáp lời. Các tín đồ mới phải giữ một quyển sổ như vậy. Còn đối với những người đã tin Chúa nhiều năm, có một quyển sổ cầu nguyện như vậy cũng là điều tốt.

Lợi điểm của việc viết vào sổ cầu nguyện như vậy cho chúng ta thấy liệu Đức Chúa Trời có đang đáp lời cầu nguyện của chúng ta không. Khi Đức Chúa Trời ngưng trả lời, chắc hẳn phải có điều gì trục trặc. Các Cơ Đốc nhân nhiệt thành hầu việc Chúa là điều tốt, nhưng sự phục vụ ấy là vô ích nếu lời cầu nguyện của họ không được đáp lời. Nếu con đường dẫn một người đến với Đức Chúa Trời bị bế tắc, thì con đường dẫn người ấy đến với loài người cũng bị tắc nghẽn. Nếu không có quyền năng trước mặt Đức Chúa Trời, người ấy không có quyền năng trước mặt loài người. Trước hết chúng ta phải tìm kiếm sao cho mình trở nên một con người quyền năng trước mặt Đức Chúa Trời rồi chúng ta mới có thể hữu dụng trước mặt loài người.

Một anh em từng ghi tên một trăm bốn mươi người xuống và cầu nguyện cho họ được cứu. Một số người được ghi tên vào buổi sáng đã được cứu ngay vào buổi chiều hôm ấy. Sau mười tám tháng, chỉ có hai người trong danh sách ấy chưa được cứu. Đó là một gương mẫu tốt cho chúng ta. Nguyện Đức Chúa Trời có thêm những Cơ Đốc nhân ghi lại lời cầu nguyện của mình. Tôi hi vọng anh em sẽ thực hành điều này. Hãy viết xuống những điều anh em đang cầu nguyện, từng điều một, và những điều Đức Chúa Trời đã trả lời. Chúng ta nên theo đuổi bất cứ điều nào được ghi lại trong sổ nhưng chưa nhận được câu trả lời bằng cách kiên trì cầu nguyện. Anh em chỉ nên ngưng cầu nguyện nếu Đức Chúa Trời bày tỏ lời cầu nguyện ấy không phù hợp với ý muốn Ngài. Nếu Ngài không bày tỏ cho anh em như vậy, hãy kiên trì cầu nguyện cho đến khi anh em nhận được câu trả lời. Anh em không được cẩu thả trong bất cứ điều nào. Anh em cần được huấn luyện cách nghiêm túc trong vấn đề này ngay từ đầu. Anh em phải nghiêm túc như vậy trước mặt Đức Chúa Trời. Khi cầu nguyện, đừng ngưng lại cho đến khi nhận được câu trả lời.

Trong việc sử dụng sổ cầu nguyện, xin lưu ý rằng có vài vấn đề đòi hỏi phải được cầu nguyện hằng ngày trong khi những vấn đề khác chỉ đòi hỏi cầu nguyện mỗi tuần một lần. Thời khóa biểu tùy thuộc vào số vấn đề cầu nguyện anh em ghi trong sổ cầu nguyện của mình. Nếu có một ít điều để cầu nguyện, anh em có thể cầu nguyện hằng ngày cho mỗi điều ghi trong sổ. Nếu có nhiều điều, anh em có thể sắp xếp cầu nguyện cho một số điều vào các ngày thứ hai và những điều khác vào các ngày thứ ba. Y như người ta xếp thời khóa biểu để làm những công việc khác, chúng ta nên để ra một thì giờ nhất định mỗi ngày để cầu nguyện. Nếu lời cầu nguyện của chúng ta không cụ thể, chúng ta không cần sổ cầu nguyện. Nếu lời cầu nguyện của chúng ta cụ thể, chúng ta cần có sổ cầu nguyện. Chúng ta có thể đặt quyển sổ này ở ngay chỗ mình để quyển Kinh Thánh và thánh ca. Những quyển này phải được dùng đến hằng ngày. Sau một thời gian, hãy đếm bao nhiêu lời cầu nguyện được trả lời và bao nhiêu lời cầu nguyện vẫn chưa được trả lời. Cầu nguyện một cách cụ thể theo sổ cầu nguyện là một ơn phước.

Về lời cầu nguyện Chúa dạy chúng ta trong Ma-thi-ơ chương 6, lời cầu nguyện trong 1 Ti-mô-thê chương 2, và những lời cầu nguyện xin ánh sáng, sự sống, ân điển, và ân tứ cho hội-thánh, đó là những đề tài tổng quát để cầu nguyện. Chúng ta không nên sắp những điều này vào các mục bình thường để cầu nguyện. Chúng ta nên cầu nguyện cho những điều quan trọng này mỗi ngày.

Sự cầu nguyện nhắm đến hai mục đích, người cầu nguyện và người được cầu nguyện. Nhiều khi người được cầu nguyện không thay đổi nếu trước hết người cầu nguyện chưa được thay đổi. Nếu tình trạng của họ không thay đổi, chúng ta cần tìm kiếm Đức Chúa Trời về phía mình. Chúng ta nên thưa với Chúa: “Chúa ôi! Con cần phải thay đổi những điều gì? Những tội lỗi nào con chưa xử lý? Những tình cảm nào con cần từ bỏ? Con có thật sự học được bài học đức tin chưa? Có điều gì khác con cần phải học?” Nếu cần thay đổi về phía mình, chúng ta phải thay đổi trước. Chúng ta không thể mong những người đang được mình cầu nguyện phải thay đổi trong khi chúng ta không thay đổi gì cả.

Khi một người tin Chúa, người ấy cần phải học tập cầu nguyện khẩn thiết. Người ấy phải học nhuần nhuyễn bài học cầu nguyện trước khi có thể hiểu biết Đức Chúa Trời sâu xa hơn và chính mình được kết quả nhiều trong tương lai.