Thông tin sách

Bài Học Gây Dựng Tín Đồ Mới - Tập 1

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Messages for Building Up New Believers, Vol. 1
ISBN: 0-7363-0976-4
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 8

Tiếng ViệtTải về
Untitled Document

CHƯƠNG TÁM

HỦY BỎ TẤT CẢ NHỮNG SỰ KHÁC BIỆT

Kinh Thánh: 1 Cô. 12:13; Ga. 3:27-28; Côl. 3:10-11

I. CÁC TÍN ĐỒ LÀ MỘT TRONG ĐẤNG CHRIST

Sau khi một tín đồ mới đã nhận được sự đặt tay, đã vào trong hội thánh, và đã ở dưới quyền làm đầu của Đấng Christ, thì người ấy phải nhận thấy sự hiệp một của các tín đồ trong Thân Thể Đấng Christ. Nói cách khác, người ấy phải nhận thấy sự hủy bỏ tất cả những sự khác biệt. Điều ấy có nghĩa là không được có sự khác biệt nào giữa vòng các tín đồ là những người đã trở nên một trong Đấng Christ.

1 Cô-rin-tô 12:13 chép rằng: “Vì tất cả chúng ta, hoặc người Do Thái, hoặc người Hi Lạp, hoặc người nô lệ, hoặc tự do đều đã được báp-têm trong một Linh vào trong một thân thể”. Chữ hoặc chỉ về việc cất đi những sự khác biệt. Trong Thân Thể Đấng Christ không có những sự khác biệt thuộc thế gian. Câu 13 nói tiếp rằng: “Và đều đã được cho uống cùng một Linh”. Tất cả chúng ta đều đã được báp-têm trong một Linh vào trong một Thân Thể và đều đã được cho uống cùng một Linh.

Ga-la-ti 3:27-28 nói: “Vì tất cả những ai đã chịu báp-têm vào trong Đấng Christ đều đã mặc lấy Đấng Christ. Không thể có người Do Thái hay người Hi Lạp, không thể có người nô lệ hay người tự chủ, không thể có nam hay nữ, vì tất cả anh em đều là một trong Christ Jesus”. Tại đây nói rằng trong Đấng Christ tất cả chúng ta đều là một. Chúng ta là những người đã mặc lấy Đấng Christ. Trong nguyên bản, chữ mặc lấy chỉ là một chữ. Chữ ấy gần với ý nghĩa của chữ “che phủ” hơn là ý nghĩa của chữ “mặc”. Tất cả chúng ta đều được báp-têm vào trong Đấng Christ và đều đã mặc lấy Đấng Christ. Không thể nào có người Do Thái hoặc người Hi Lạp, người nô lệ hay người tự do, nam hay nữ, vì trong Đấng Christ tất cả chúng ta đều đã trở nên một. Điều ấy có nghĩa là sự hiệp một của chúng ta trong Đấng Christ đã hủy bỏ tất cả những sự khác biệt trước kia của mình.

Cô-lô-se 3:10-11 nói: “Và đã mặc lấy con người mới là người đang được đổi mới để đạt đến sự hiểu biết trọn vẹn theo hình ảnh của Đấng đã dựng nên người ấy. Tại đây không thể còn người Hi Lạp, người Do Thái, người chịu cắt bì, người không chịu cắt bì, người dã man, người Sy-the, người nô lệ và người tự do, nhưng Đấng Christ là tất cả và trong tất cả”. Phân đoạn ấy cũng nói rằng giữa vòng các tín đồ không còn những sự khác biệt nữa. Ga-la-ti 3:28 nói: “Tại đây không thể còn”, và câu này cũng nói: “Tại đây không thể còn”. Tại đây không thể còn những sự khác biệt vì chúng ta đã mặc con người mới. Chúng ta đã nhận lấy và được hòa nhập vào con người mới là người đã được dựng nên theo hình ảnh của Đức Chúa Trời. Trong hình ảnh ấy không thể còn người Hi Lạp hoặc người Do Thái, người chịu cắt bì hoặc người không chịu cắt bì, người dã man hoặc người Sy-the, người nô lệ hay người tự do, vì Đấng Christ là tất cả và ở trong tất cả. Vì vậy, tất cả các tín đồ đều là một; họ đã trở nên một thực thể duy nhất.

Từ ba phân đoạn Kinh Thánh ấy, chúng ta nhận thấy rằng tất cả các tín đồ đều là một trong Đấng Christ, và tất cả những sự khác biệt của họ đều đã được hủy bỏ. Đó là nền tảng mà trên đó hội thánh được xây dựng. Nếu chúng ta đem tất cả những sự khác biệt thế tục của mình vào trong hội thánh và vào trong Chúa, thì chúng ta sẽ làm bại hoại hội thánh và phá hỏng các mối liên hệ giữa vòng các anh chị em.

Chúng ta phải nhận thấy rằng tất cả chúng ta đều đã được làm cho trở nên một trong Đấng Christ. Khi ở trong Chúa, những sự khác biệt trước kia của chúng ta không còn tồn tại giữa vòng chúng ta nữa. Trong con người mới và trong Thân Thể Đấng Christ không có những sự khác biệt. Trong các câu [Kinh Thánh] được nói đến ở trên có ít nhất năm sự khác biệt. Chúng ta thấy có năm cặp tương phản, nhưng thật ra có sáu sự khác biệt. Trước hết là có sự khác biệt giữa người Hi Lạp và người Do Thái. Rồi có sự khác biệt giữa người tự do và người nô lệ. Sau đó là có sự khác biệt giữa nam và nữ, giữa người dã man và người Sy-the, giữa người chịu cắt bì và người không chịu cắt bì. Theo sứ đồ Phao-lô, dầu có sự khác biệt nào giữa vòng loài người, tất cả chúng ta cũng đều đã được làm cho trở nên một trong Đấng Christ.

Trên thế giới này, đối với một người, điều quan trọng nhất là địa vị hay cấp bậc của người ấy. Nếu là một hạng người nào đó, thì tôi phải sống theo địa vị hay cấp bậc ấy của mình. Nếu chúng ta có phần nào là một Cơ Đốc nhân, thì những suy nghĩ ấy phải ra đi. Nếu đem cấp bậc và địa vị của bản thân mình vào trong con người mới, thì chúng ta sẽ làm cho con người mới trở nên cũ vì những sự khác biệt ấy thuộc về con người cũ. Vì vậy, khi đến hội thánh, chúng ta phải từ bỏ tất cả những điều ấy.

II. HỦY BỎ DÂN TỘC TÍNH

A. Không Có Sự Khác Biệt Giữa Người Do Thái Và Người Hi Lạp

Trên thế giới, sự khác biệt lớn nhất đặt nền tảng trên dân tộc tính. Người Do Thái và người Hi Lạp là hai chủng tộc rất khác biệt. Người Do Thái đầy tinh thần dân tộc. Họ là hậu duệ của Áp-ra-ham, và là tuyển dân của Đức Chúa Trời; họ là quốc gia duy nhất trên đất được Đức Chúa Trời thiết lập. Họ được biệt riêng khỏi các quốc gia khác và là một dân tộc đặc biệt dành cho Đức Chúa Trời. Nhưng thay vì tự hạ mình trước mặt Đức Chúa Trời và tôn cao Ngài, họ lại kiêu ngạo và khoe khoang chính mình với các chủng tộc khác. Sự kiêu ngạo ấy đưa tinh thần dân tộc của họ đến mức độ cực đoan. Họ khinh thường tất cả các dân tộc Ngoại bang. Dưới mắt họ, người Ngoại bang là thú vật, là lũ chó. Họ tuyệt nhiên không chấp nhận người Ngoại bang.

Đó là lý do tại sao khó đặt một người Ngoại bang bên cạnh một người Do Thái và yêu cầu họ cùng làm bạn Cơ Đốc với nhau. Một người Do Thái có thể tin nhận Chúa Jesus và xưng mình là Cơ Đốc nhân, nhưng khó mà thuyết phục người ấy rao giảng phúc âm cho người Ngoại bang. Sách Công vụ các Sứ đồ nói với chúng ta rằng trước hết phúc âm đã được rao giảng cho người Do Thái vào ngày lễ Ngũ tuần. Về sau, khi phúc âm truyền đến Sa-ma-ri, những người được cứu là người Do Thái. Để đem phúc âm đến với người Ngoại bang, Chúa đã phải dấy lên Phao-lô và truyền bảo ông rao giảng. Thậm chí vào thời ấy, công việc rao giảng cho người Ngoại bang không phải bắt đầu ngay lập tức tại An-ti-ốt. Trước hết, Phi-e-rơ đã phải khởi xướng tại Sê-sa-rê. Đối với Phi-e-rơ thì khá khó khăn vì ông là một sứ đồ cho người Do Thái mà phải đến với người Ngoại bang. Vì vậy, ông cần nhìn thấy khải tượng ba lần và phải nghe Chúa phán ba lần rằng: “Phi-e-rơ ơi, hãy dậy, làm thịt và ăn!” Nếu không có điều ấy thì Phi-e-rơ không bao giờ dám đến với người Ngoại bang. Đó là lần đầu tiên phúc âm được rao giảng cho người Ngoại bang, và cho thấy thể nào người Do Thái miễn cưỡng rao giảng cho người Ngoại bang.

Trong Công vụ các Sứ đồ chương 15, có một nan đề phát sinh liên quan đến vấn đề cắt bì và giữ theo luật pháp. Một số người ủng hộ việc tín đồ Ngoại bang cần được cắt bì và phải giữ theo luật pháp. Trên thực tế, họ nói rằng một người Ngoại bang mà muốn làm Cơ Đốc nhân thì trước hết phải làm người Do Thái. Hàng rào dân tộc ấy kiên cố biết bao! Người Ngoại bang phải đợi đến Công vụ các Sứ đồ chương 15 mới được miễn cắt bì và khỏi giữ theo luật pháp. Phi-e-rơ và những người khác bảo Phao-lô và Ba-na-ba hãy tự do đến với người Ngoại bang và bảo đảm rằng tất cả mọi người trong vòng họ đều vẫn ở trong cùng một sự tương giao.

Ga-la-ti chương 2 nói rằng Phi-e-rơ đã đến An-ti-ốt và ăn chung với người Ngoại bang. Nhưng khi có nhóm người kia từ Gia-cơ đến, thì ông rút lui và tách riêng ra, vì sợ những người chịu cắt bì. Phao-lô đã công khai khiển trách Phi-e-rơ vì đã không bước đi phù hợp với lẽ thật của phúc âm. Thập tự giá đã phá đổ bức tường ngăn cách rồi, và đúng ra là không còn người Do Thái cũng không còn người Ngoại bang.

Chúng ta có thể là một người Do Thái hay một người Ngoại bang. Nhưng nguyện Chúa ban phước cho chúng ta để nhận thấy rằng trong Đấng Christ tất cả chúng ta đều đã được làm cho trở nên một. Dân tộc tính của chúng ta đã được hủy bỏ và những sự khác biệt có tính dân tộc không còn tồn tại nữa. Dầu người nào có là tín đồ người Hoa, tín đồ người Anh, tín đồ người Ấn hay tín đồ người Nhật, người ấy đã trở nên một anh em hay chị em trong Đấng Christ. Chúng ta không thể lấy quốc gia mà phân chia con cái của Đức Chúa Trời. Chúng ta không thể có Cơ Đốc giáo Trung Hoa. Nếu đó là người Hoa thì không còn là Đấng Christ nữa. Hoặc là “Trung Hoa giáo” hoặc là “Cơ Đốc giáo”, chứ không có cái gọi là Cơ Đốc giáo Trung Hoa. Hai từ ngữ ấy tương phản với nhau. Tất cả chúng ta đều là anh chị em trong Chúa. Không thể có những sự khác biệt có tính dân tộc nào. Điểm này khá rõ ràng. Trong Thân Thể Đấng Christ, trong con người mới, chúng ta hoàn toàn là một; không có bất cứ sự khác biệt có tính dân tộc nào. Ngay cả tinh thần dân tộc mạnh mẽ như của người Do Thái cũng đã bị Chúa hủy bỏ.

B. Thập Tự Giá Phá Đổ Bức Tường Ngăn Cách

Ê-phê-sô nói với chúng ta về một bức tường giữa người Do Thái và người Ngoại bang. Hai dân ấy bị tách biệt. Nhưng thập tự giá đã phá đổ bức tường ngăn cách. Không còn sự khác biệt hay tách biệt nữa. Nếu gặp một người nào ở trong Đấng Christ, chúng ta không nên nói rằng người ấy là người Hoa mà là một người ở trong Đấng Christ. Chúng ta không nên nói đó là một người Anh, mà nên nói rằng người ấy ở trong Đấng Christ. Tất cả chúng ta đều đã trở nên một trong Đấng Christ.

Đừng bao giờ nghĩ đến việc có một hội thánh Trung Hoa và một chứng cớ Trung Hoa. Đó là một lỗi lầm lớn, và thậm chí không nên để ý niệm ấy thoáng qua tâm trí của chúng ta. Xin ghi nhớ rằng trong Đấng Christ, không có sự khác biệt giữa người Hi Lạp và người Do Thái. Không có điều đó. Nếu một anh em hay chị em nào đưa điều ấy vào giữa vòng chúng ta, thì có nghĩa là anh em hay chị em ấy đem đến một yếu tố xa lạ. Hậu quả [đem đến] sẽ là sự bại hoại ở bên trong. Chúng ta không có sự khác biệt nào giữa người Do Thái và người Hi Lạp. Trong Đấng Christ, tất cả chúng ta đều được liên kết với nhau. Chúng ta phải tiêu trừ mọi ý niệm dân tộc khỏi lòng mình. Ngay khi chúng ta đem điều ấy vào trong hội thánh thì hội thánh trở nên một tổ chức thuộc xác thịt chứ không còn là Thân Thể Đấng Christ nữa.

Một số người có tinh thần dân tộc quá mạnh đến nỗi họ không thể làm những Cơ Đốc nhân một cách đúng đắn. Mặc dầu chúng ta là người Hoa và ở dưới pháp quyền của đất nước mình, nhưng mối liên hệ ấy chấm dứt khi chúng ta ở trong Đấng Christ. Mỗi khi đến trước mặt Chúa, chúng ta không đến với tư cách là một người Hoa. Cái ý thức ấy cần phải giữ ở ngoài cửa. Chúng tôi hi vọng các tín đồ mới sẽ nhận thấy ngay từ đầu là chúng ta được liên kết với nhau trong sự sống của Đấng Christ. Tôi đã nhận được sự sống của Đấng Christ, và một anh em tại Anh Quốc hoặc tại Ấn Độ hay tại Nhật Bản cũng đã nhận được cùng một sự sống của Đấng Christ. Chúng ta được liên kết theo sự sống của Đấng Christ chứ không theo dân tộc tính của mình. Chúng ta phải có một khải tượng rất rõ ràng về điểm ấy. Trong Thân Thể, trong Đấng Christ và trong con người mới, dân tộc tính không tồn tại. Sự khác biệt ấy đã hoàn toàn được hủy bỏ.

Sau thế chiến thứ nhất, một vài anh em từ Anh Quốc đã đến Đức Quốc dự một hội đồng. Trong kỳ hội đồng ấy, một anh em đứng lên và giới thiệu các anh em người Anh với những lời lẽ rằng: “Chiến tranh đã chấm dứt, và có một vài anh em người Anh đến đây thăm viếng chúng ta. Chúng ta nồng nhiệt đón mừng họ”. Sau lời giới thiệu ấy, một anh em người Anh đứng lên nói: “Chúng tôi không phải các anh em người Anh, mà là các anh em từ Anh Quốc”. Đó là một lời kỳ diệu. Không có các anh em người Anh, mà chỉ có các anh em từ Anh Quốc. Làm sao có thể có một anh em người Anh, một anh em người Mỹ, một chị em người Pháp, hay một chị em người Ý trong nhà Đức Chúa Trời được? Cảm tạ Đức Chúa Trời, trong Đấng Christ không có những sự khác biệt về dân tộc tính.

Thưa anh chị em, tất cả chúng ta đều có phần trong hội thánh. Chúng ta đã nhận được sự đặt tay rồi. Bây giờ, chúng ta phải nhận thấy rằng tất cả những sự khác biệt giữa người Hi Lạp và người Do Thái đã bị phá hủy. Không còn những sự khác biệt như vậy nữa trong Đấng Christ. Đó là một sự kiện vinh hiển, một lẽ thật thực sự vinh hiển. Trong hội thánh chỉ có Đấng Christ. Đấng Christ là tất cả và trong tất cả. Không có gì khác ngoại trừ Đấng Christ.

III. HỦY BỎ NHỮNG SỰ KHÁC BIỆT VỀ GIAI CẤP

Một mối liên hệ không khoan nhượng khác trong xã hội loài người là những khác biệt về giai cấp. Chúng ta không kinh nghiệm những sự khác biệt về dân tộc bao nhiêu trừ phi chúng ta gặp những người nước ngoài. Nhưng hằng ngày chúng ta gặp phải nan đề về những sự khác biệt liên quan đến giai cấp. Vị sứ đồ nói với chúng ta rằng không có sự phân biệt giai cấp giữa người tự do và người nô lệ. Trong Đấng Christ không có người tự do hay người nô lệ. Những sự khác biệt ấy không còn tồn tại nữa.

Có lẽ thế hệ của chúng ta chưa bao giờ kinh nghiệm sự phân chia giai cấp rõ rệt tồn tại giữa người tự do và người nô lệ. Tuy nhiên, Phao-lô đã viết các Thư của ông trong thời người La-mã cai trị, là lúc chế độ chiếm hữu nô lệ ở vào thời kỳ tột đỉnh của nó. Vào thời Đế Quốc La-mã, có một thị trường gia súc, một thị trường chiên bò và một thị trường người. Tình trạng ấy có thể ví sánh với thị trường vải, thị trường hàng hóa, thị trường chứng khoán và thị trường vàng tại Thượng Hải. Tại La Mã thời ấy có chợ buôn bán “người”. Người La-mã đã tham gia nhiều cuộc chiến và bắt được nhiều tù nhân. Họ đưa các tù nhân ấy ra chợ để bán. Nếu một người chủ cảm thấy con cái của một người nô lệ ăn quá nhiều, thì hắn có thể đem những đứa con ấy ra chợ để bán chúng. Việc làm ấy rất thông thường tại La Mã. Người ta mua bán người như mua bán hàng hóa. Trị giá được đo lường bởi số con một người sinh sản; những người nào sinh sản nhiều thì được bán với giá cao hơn. Vào thời ấy có sự khác biệt lớn giữa người tự do và người nô lệ.

Dầu rằng quan niệm về dân chủ phát xuất từ La Mã, và quyền công dân, quyền đi bầu, sự bầu cử bắt đầu từ La Mã, nhưng các quyền lợi ấy chỉ thuộc về những người tự do; những người nô lệ thì không có gì cả. Nếu giết chết một nô lệ, một người chỉ cần thương lượng với người chủ về trị giá của người nô lệ và đền bù một cách tương xứng. Người nô lệ không có quyền công dân, và không được xem là một con người. Giết chết một người nô lệ cũng như giết chết một con bò. Một người cùng lắm là trả tiền con bò, chứ không cần đền mạng sống. Con cái của người nô lệ tự động là những nô lệ, và thuộc về chủ của chúng. Suốt đời, chúng không có quyền tự do trừ phi người chủ chịu giải phóng chúng. Nếu bỏ trốn thì chúng sẽ bị đóng đinh.

Loại phân biệt giai cấp ấy khắc nghiệt hơn nhiều so với mối liên hệ ngày nay giữa chủ tớ, giữa chủ nhân và công nhân, giữa người quản lý và nhân viên cấp dưới. Những sự khác biệt ấy không còn tồn tại ở bất cứ nơi nào trên trái đất. Nhưng từ lâu trước khi thế giới hủy bỏ tập tục ấy, Lời Đức Chúa Trời đã hủy bỏ những sự khác biệt liên quan đến giai cấp rồi. Trong ba bức thư gởi cho người Cô-rin-tô, người Ga-la-ti và người Cô-lô-se, Phao-lô tuyên bố rằng không có sự khác biệt giữa người tự do và người nô lệ. Sự khác biệt ấy được hủy bỏ trong Đấng Christ.

Trong Tân Ước, sách Phi-lê-môn đề cập đến một người nô lệ của Phi-lê-môn tên là Ô-nê-sim. Phi-lê-môn là một anh em đồng công của Phao-lô. Khi Ô-nê-sim tin nhận Chúa, thì anh cũng trở nên một anh em. Khi họ ở nhà, Ô-nê-sim là nô lệ còn Phi-lê-môn là chủ. Nhưng nếu Phi-lê-môn đem Ô-nê-sim đến buổi nhóm hội thánh, mọi người sẽ gọi Ô-nê-sim là người anh em của Phi-lê-môn chứ không phải là nô lệ của ông. Trong hội thánh, mối liên hệ giữa chủ tớ kết thúc. Khi họ cùng quì xuống cầu nguyện, Ô-nê-sim là người anh em của Phi-lê-môn. Nhưng khi họ đứng dậy làm việc, Ô-nê-sim là nô lệ của Phi-lê-môn. Trong Chúa họ là một, trong con người mới họ là một, và trong Thân Thể họ là một. Xin lưu ý đến điểm sau đây: Trong Đấng Christ mối liên hệ chủ tớ không hiện hữu, trong con người mới mối liên hệ ấy không hiện hữu, và trong hội thánh mối liên hệ ấy cũng không hiện hữu. Trong Đấng Christ, tất cả các sự khác biệt liên quan đến giai cấp đều được hủy bỏ. Không còn ý thức về giai cấp hay đấu tranh giai cấp nữa.

Trước mặt Đức Chúa Trời, chúng ta phải nhận thấy rằng ngày nay chúng ta có thể làm một đầy tớ, một thuộc viên hay một nhân viên. Chúng ta cần phải chấp nhận chỗ đứng của mình trong sở làm và học tập thuận phục cấp trên hay ông chủ của mình. Tuy nhiên, khi đến trước mặt Đức Chúa Trời, chúng ta không được nhượng bộ một người nào đó chỉ vì người ấy là ông chủ của mình. Khi thảo luận về các vấn đề thuộc linh, chúng ta không nên xem người chủ hay cấp trên của mình là luôn luôn đúng và lý lẽ của ông là luôn luôn xác đáng. Không có điều đó. Mỗi khi chúng ta quì xuống cầu nguyện hay thảo luận về các vấn đề thuộc linh, thì địa vị của chúng ta được thay đổi, và giữa chúng ta không còn phân biệt giai cấp. Chúng ta không thể đưa vào trong hội thánh bấy cứ mối liên hệ nào có tính giai cấp, vì một mối liên hệ như vậy không hiện hữu trong hội thánh.

Sự kiện ấy đặc biệt quan trọng khi chúng ta đến các buổi nhóm hội thánh. Hãy nhớ lại thể nào Gia-cơ đã lên án tội ấy. Ông nói rằng khi một người giàu đến, người ấy được cho một chỗ ngồi tốt, và khi một người nghèo đến, người ấy được bảo là phải đứng hay ngồi nơi bệ chân. Gia-cơ đã kết án hành động ấy là tội. Mỗi khi đến buổi nhóm để tương giao với các con cái của Đức Chúa Trời, chúng ta phải được sáng tỏ rằng vị trí của chúng ta là ở trong Đấng Christ, trong con người mới và trong Thân Thể. Vị trí của chúng ta không đặt nền tảng trên bất cứ sự phân biệt giai cấp nào.

Chỉ các Cơ Đốc nhân mới có thể phá đổ tất cả những sự khác biệt liên quan đến giai cấp và chỉ họ mới có thể thực hiện việc ấy cách triệt để. Chỉ các Cơ Đốc nhân mới có thể cầm tay nhau và chào hỏi nhau với tư cách là anh em, vì chỉ có họ mới có tình yêu thương. Chỉ các Cơ Đốc nhân là những người ở trong Đấng Christ mới có thể loại đi tất cả những sự khác biệt liên quan đến giai cấp. Một người trẻ tuổi phải nhận thức rằng hễ anh là một tín đồ trong Đấng Christ, thì người chủ Cơ Đốc của anh là một anh em và nhân viên dưới quyền anh cũng là một anh em. Ông chủ Cơ Đốc của anh là anh em, và người nô lệ Cơ Đốc của anh cũng là anh em. Sự khác biệt giữa người tự do và người nô lệ hoàn toàn được hủy bỏ; sự khác biệt ấy không còn tồn tại nữa. Chúng ta chỉ có thể tương giao với các anh chị em của mình dựa trên phần nhỏ bé mà Chúa đã ban cho mình. Tất cả chúng ta đều là anh em và chị em. Nếu thực hiện điều đó, chúng ta sẽ được Chúa ban phước cách dồi dào, và hội thánh sẽ được dầy dẫy tình yêu thương của Chúa.

Có lần một số Cơ Đốc nhân tại Trùng Khánh muốn xây một nhà thờ cho các công chức của chính phủ. Họ đến hỏi ý kiến tôi. Tôi nói: “Các anh sẽ đặt tên cho nhà thờ ấy là gì? Tôi thiết tưởng các anh nên đặt tên cho nó là ‘Hội thánh của Các Công Chức’ ”. Nếu đó là hội thánh của các công chức, thì chắc chắn ấy không phải là điều ở trong Đấng Christ, vì không có điều nào như vậy trong Đấng Christ. Không có người tự do cũng không có người nô lệ trong Đấng Christ. Nếu một người tự do muốn được cứu, người ấy phải nhận được sự sống của Chúa. Nếu một người nô lệ muốn được cứu, người ấy cũng phải nhận được sự sống của Chúa. Không có gì khác giữa hai hạng người ấy. Chúng ta không thể cộng bất cứ điều gì vào Đấng Christ hay trừ bất cứ điều gì khỏi Đấng Christ. Con người không thể xây dựng một hội thánh cho các công chức, vì trong Đấng Christ không có điều đó. Mỗi anh chị em đều phải học tập làm một anh em hay một chị em.

IV. HỦY BỎ NHỮNG SỰ KHÁC BIỆT GIỮA NAM VÀ NỮ

Sự khác biệt thứ tư đã được hủy bỏ trong Đấng Christ là giới tính, tức sự khác biệt giữa nam và nữ. Trên thế giới này, nam giới giữ một vai trò, và nữ giới giữ một vai trò khác. Trong việc điều hành hội thánh, nam có vị trí của mình và nữ cũng có vị trí của mình. Trong gia đình, người chồng có vị trí của mình, và người vợ cũng có vị trí của mình. Tuy nhiên, trong Đấng Christ và trong con người mới, nam và nữ có cùng một vị trí; không có sự khác biệt giữa nam và nữ.

Trong Đấng Christ, người nam không chiếm một vị trí đặc biệt và đối với người nữ cũng vậy, vì Đấng Christ là tất cả và trong tất cả. Về phương diện này, một người nam không khác gì so với một người nữ. Xin ghi nhớ rằng trong các vấn đề thuộc linh không có sự khác biệt giữa nam và nữ.

Chúng tôi đã đề cập rằng trong một số lĩnh vực phục vụ, vị trí của các chị em khác với vị trí của các anh em. Nhưng đó chỉ liên quan đến vấn đề thẩm quyền. Ngày nay, trong Đấng Christ không có sự khác biệt giữa nam và nữ. Một anh em được cứu nhờ sự sống của Đấng Christ, tức sự sống của Con Đức Chúa Trời. Cũng vậy, một chị em được cứu nhờ sự sống của Đấng Christ, tức sự sống của Con Đức Chúa Trời. Mỗi trường hợp mà bản Kinh Thánh Trung Hoa dịch là “các con trai và con gái” thật ra trong nguyên ngữ chữ ấy là các con cái. Chữ ấy không phân biệt nam hay nữ (dầu cách dùng của chữ ấy là giống đực). Tôi được sinh ra làm con cái của Đức Chúa Trời và lớn lên trở thành con trai của Đức Chúa Trời. Con trai là nam giới. Tuy nhiên, lời mô tả ở đây thích hợp cho cả các anh em lẫn các chị em.

Trong toàn bộ Tân Ước, chỉ có 2 Cô-rin-tô 6:17-18 là nói về các con trai và con gái. “Cho nên, ‘các ngươi hãy ra khỏi giữa họ, ...rồi Ta sẽ đón nhận các ngươi’; ‘Ta sẽ làm Cha các ngươi, các ngươi sẽ làm con trai và con gái Ta’ ”. Sau khi chúng ta đã tin nhận Đức Chúa Trời, được giải cứu, và được biệt riêng khỏi thế gian với ảnh hưởng độc hại và bất khiết của nó, thì Đức Chúa Trời là Cha sẽ đón nhận chúng ta, và chúng ta sẽ làm các con trai và con gái của Ngài. Đó là vấn đề giữa Đức Chúa Trời và một cá nhân, chứ không phải vấn đề một người là gì ở trong Đấng Christ. Đó là lý do câu ấy nói các con trai và con gái. Khi một người chịu khổ vì Chúa, gánh chịu mất mát vì cớ Ngài, và trải qua sự gian khổ vì cớ Ngài, thì Đức Chúa Trời sẽ trở nên Cha của cá nhân ấy. Nếu anh em là nam, Đức Chúa Trời sẽ đón nhận anh em với tư cách là con trai. Nếu chị em là nữ, Đức Chúa Trời sẽ đón nhận chị em với tư cách là con gái. Đức Chúa Trời sẽ đón nhận anh chị em làm con trai và con gái của Ngài. Ngài là Chúa toàn túc. Ngài có mọi sự. Đó là vấn đề một người là gì trước mặt Đức Chúa Trời, chứ không liên quan gì đến việc anh em hay chị em ấy là gì trong Đấng Christ. Trong Đấng Christ, tất cả chúng ta đều là con cái của Đức Chúa Trời, và không còn sự khác biệt giữa nam và nữ. Sự khác biệt ấy hoàn toàn không tồn tại.

Một lần kia, tại Thượng Hải tôi hỏi một người thợ thủ công là một anh em trong Chúa rằng: “Anh ơi, các anh em tại địa phương của anh ra sao?” Anh đáp rằng: “Anh hỏi về các anh em nam hay các anh em nữ?” Câu trả lời ấy không thể nào hay hơn được. Đó là một trong những lời thật nhất từng được thốt ra. Các anh em nam là anh em, và các anh em nữ cũng là anh em; không có sự khác biệt trong Đấng Christ. Điều anh em ấy nói hoàn toàn xác đáng; anh đơn giản phát biểu lẽ thật Kinh Thánh. Khi đến với Chúa và chạm Ngài, chúng ta vượt lên trên tất cả những sự khác biệt liên quan đến nam và nữ. Chúng ta vượt qua phái tính. Trước [mặt] Chúa và trong Đấng Christ, không có sự phân biệt nam nữ.

V. HỦY BỎ NHỮNG SỰ KHÁC BIỆT LIÊN QUAN ĐẾN DÂN TỘC

Trong Kinh Thánh có một sự khác biệt khác giữa người Hi Lạp và người Do Thái. Người Do Thái là một chủng tộc rất mộ đạo, trong khi người Hi Lạp thì theo triết học và sự khôn ngoan. Theo lịch sử, khi nói về tôn giáo thì người ta nghĩ đến người Do Thái, và khi nói về triết học thì người ta nghĩ đến người Hi Lạp. Tất cả các ngành khoa học và triết học dưới hình thức cổ sơ đều phát xuất từ Hi Lạp. Ngày nay, tất cả các thuật ngữ khoa học đều có nguồn gốc trong tiếng Hi Lạp. Vậy nên, người Hi Lạp tượng trưng cho sự khôn ngoan. Nếu muốn nói về khoa học và triết học, người ta phải đến với người Hi Lạp. Nếu muốn nói về tôn giáo, người ta phải đến với người Do Thái. Đó là những sự khác biệt liên quan đến dân tộc.

Những người sống tại các nơi khác nhau trên thế giới thường có bản sắc dân tộc riêng của mình. Ví dụ, những người sinh trưởng ở miền nam vốn giàu tình cảm, trong khi những người sinh trưởng ở miền bắc thì dè dặt hơn. Nói chung người miền nam vốn dễ chịu, trong khi người miền bắc thường thì nghiêm khắc hơn. Những người sống tại các miền nhiệt đới thích nhảy múa và ca hát suốt ngày, trong khi những người miền bắc, đặc biệt là những người ở Bắc Âu, thậm chí nhảy cũng không thích. Thay vào đó, họ có vẻ như kín đáo và bảo thủ. Tuy nhiên, người miền nam có thể làm Cơ Đốc nhân, cũng như người miền bắc có thể làm Cơ Đốc nhân. Người Do Thái có thể làm Cơ Đốc nhân, và người Hi Lạp cũng có thể làm Cơ Đốc nhân. Người khôn ngoan có thể làm Cơ Đốc nhân, và người mộ đạo cũng có thể làm Cơ Đốc nhân.

Trong Đấng Christ không có sự khác biệt giữa người Do Thái và người Hi Lạp. Một số người thích lý luận; họ thích giải thích mọi sự. Những người khác thì thích nói về lương tâm. Phải chăng đó có nghĩa là những người ấy là hai loại Cơ Đốc nhân khác nhau? Theo xác thịt, hai loại người ấy hoàn toàn khác biệt. Loại này bước đi bằng lý trí. Còn loại kia thì bước đi cách bốc đồng bằng cảm xúc. Nhưng trong Đấng Christ không có sự khác biệt giữa người Hi Lạp và người Do Thái. Không những các sự khác biệt quốc gia không còn nữa, mà thậm chí những sự khác biệt liên quan đến chủng tộc cũng ra đi. Người dè dặt và người nồng nhiệt đều có thể làm Cơ Đốc nhân tốt. Những người bước đi theo lý trí có thể làm Cơ Đốc nhân, và những người bước đi theo cảm xúc cũng có thể làm Cơ Đốc nhân. Mọi loại người đều có thể làm Cơ Đốc nhân.

Vì mọi loại người đều có thể làm Cơ Đốc nhân, nên một người phải học tập buông bỏ bản sắc dân tộc khi người ấy bước vào hội thánh. Trong nếp sống hội thánh không có điều đó. Nhiều nan đề dấy lên trong hội thánh ngày nay vì nhiều người đem hương vị dân tộc vào trong hội thánh; họ cố gắng đem vào các đặc tính của mình. Khi những người ít nói nhóm lại, họ trở nên một nhóm ít nói. Khi những người nói nhiều nhóm lại, họ trở nên một nhóm nói nhiều. Khi những người dè dặt đến với nhau, họ trở nên một nhóm dè dặt. Khi những người giàu tình cảm đến với nhau, họ trở nên một nhóm giàu tình cảm. Theo cách ấy, nhiều sự khác biệt được tạo nên giữa vòng các con cái của Đức Chúa Trời.

Xin ghi nhớ rằng dân tộc tính không tồn tại trong hội thánh, trong Đấng Christ hay trong con người mới. Đừng kết án một người chỉ vì người ấy có tính khí khác với tính khí của anh em. Anh em phải nhận thức rằng có lẽ những người khác cũng không đánh giá cao anh em. Anh em có thể cảm thấy rằng mình luôn luôn nói năng một cách tình cảm và tự hỏi tại sao những người khác lại quá lãnh đạm như vậy. Nhưng những người khác có thể nghĩ là anh em nói quá nhiều; họ có thể cảm thấy không thể chịu đựng được bản tính của anh em.

Cho dầu anh em là một người nhanh nhảu hay trầm lặng, lãnh đạm hay nồng nhiệt, lý trí hay tình cảm, ngay khi trở nên một anh em và bước vào nếp sống hội thánh, thì anh em phải buông bỏ bản tính của mình. Những điều ấy không thuộc về hội thánh. Ngay khi anh em đưa những yếu tố thiên nhiên ấy vào hội thánh, chúng sẽ trở nên tiêu chuẩn để xét đoán và phân rẽ, và các anh em sẽ bị chia rẽ. Anh em sẽ trở nên tiêu chuẩn, và tất cả những người đạt đến tiêu chuẩn của anh em sẽ được xem là các Cơ Đốc nhân tốt, còn những người không đạt tới tiêu chuẩn của anh em thì bị coi là các Cơ Đốc nhân kém. Anh em sẽ trở nên tiêu chuẩn. Anh em sẽ đưa bản chất, phẩm cách và tính khí riêng của mình vào hội thánh. Toàn thể tình trạng hỗn loạn trong hội thánh đều phát xuất từ các tính khí khác nhau thuộc con người. Sự im lặng của anh em không nhất thiết là tốt, và tật nói nhiều của anh em cũng vậy. Tính dè dặt của anh em không nhất thiết là tốt, và tính nồng nhiệt của anh em cũng vậy. Tâm trí mạnh mẽ của anh em có thể không nhất thiết là tốt, và tình cảm mãnh liệt của anh em cũng vậy. Tất cả những điều ấy đều là những sự khác biệt ở ngoài Đấng Christ, và được tiêu biểu qua người Hi Lạp và người Do Thái. Không thể đem một bản tính nào trong các bản tính thiên nhiên ấy vào trong nếp sống hội thánh.

Ngay từ đầu, một tín đồ mới phải học tập từ bỏ bất cứ điều gì phát xuất từ con người cũ. Người ấy không nên nói rằng: “Tôi là như vậy đó”. Nhiều anh em nói như vậy mà không biết xấu hổ. Chúng ta phải nói với họ rằng chúng ta không muốn con người cũ của họ. Họ không được đem con người cũ của mình vào. Đó không phải là điều ở trong Đấng Christ, và chúng ta không thể tạo ra những sự khác biệt dựa trên đó. Những sự khác biệt ấy phải được hủy bỏ cách triệt để. Trong Đấng Christ, trong Thân Thể và trong con người mới, những sự khác biệt ấy đều hoàn toàn được vô hiệu hóa.

Không anh chị em nào được đem bản tính thiên nhiên của mình vào trong hội thánh. Ngay khi được cứu, anh em phải buông bỏ những điều ấy. Nếu anh em đến hội thánh và tiếp xúc với các anh chị em, rồi chỉ chấp nhận những người đồng ý với anh em và đạt đến tiêu chuẩn của anh em, và không chấp nhận người không đồng ý với anh em và chưa đạt đến tiêu chuẩn của anh em, thì anh em sẽ đem sự hỗn loạn và chia rẽ vào trong toàn thể hội thánh. Trải qua nhiều năm tháng, hội thánh đã chịu hư hại qua những sự khác biệt trong bản tính. Đừng bao giờ đem những sự khác biệt về mặt bản tính vào trong hội thánh. Một số người có bản tính nhanh nhẹn, và họ có thể nói rằng: “Tôi vốn nhanh nhẹn, và tôi không thích người nào chậm chạp. Đức Chúa Trời không ưa những người chậm chạp”. Có một số người vốn chậm chạp, và họ có thể nói rằng: “Tôi vốn chín chắn, và tôi không ưa người nào nhanh nhảu”. Nhưng tính nhanh nhẹn hay chậm chạp cũng đều không được ở trong hội thánh để chia rẽ con cái Đức Chúa Trời. Ngay khi đem vào những điều ấy thì anh em biến chính mình thành tiêu chuẩn. Người Hi Lạp muốn người Do Thái ăn năn, và người Do Thái muốn người Hi Lạp ăn năn. Nhưng Đức Chúa Trời muốn loại ra cả hai. Không có điều gì khác ngoại trừ Đấng Christ.

Nếu ngay từ đầu một tín đồ mới giữ gìn nguyên tắc này, thì hội thánh sẽ tránh được nhiều nỗi gian nan. Chúng ta đừng bao giờ phân biệt theo đặc tính của mình. Chúng ta phải từ bỏ những điều thuộc về con người cũ. Chúng ta cần phải bước đi theo bước chân các con cái khác của Đức Chúa Trời.

VI. HỦY BỎ NHỮNG SỰ KHÁC BIỆT LIÊN QUAN ĐẾN VĂN HÓA

Sách Cô-lô-se nói về hai loại người — người dã man và người Sy-the. Hai danh hiệu ấy tạo ra nan đề cho các học giả Kinh Thánh. Trong tiếng Anh, người dã man có nghĩa là một người hung bạo, một người không có văn hóa. Nhưng người Sy-the thì sao? Từ ngữ ấy ra từ chữ Hi Lạp Zema, trở thành Zecotha, rồi Zecothia, và cuối cùng là Zecothian.

Ông Wescott nói Zecothia là một địa danh. Trong văn chương Hi Lạp thời xa xưa, người Zecothia và người Ga-la-ti thường được cùng nêu lên chung với nhau. Vậy nên, người Zechothia từng là một dân tộc đáng trọng. Như tên của nhiều thành phố, ngay khi Zecothia được đề cập đến thì nó gợi lên một hình ảnh nào đó trong tâm trí. Ví dụ, khi Shansi được nói đến, thì người ta liền nghĩ đến những người liên hệ đến tiền bạc vì hầu hết những người xuất thân từ Shansi đều là thương gia. Khi nói đến Shao-Shing, người ta liền liên tưởng đến hàng ngũ quan lại dưới triều đình nhà Thanh. Địa danh thường gợi lên những hình ảnh liên hệ.

Nếu anh em tham khảo văn học Hi Lạp, anh em sẽ nhận thấy người Sy-the là một dân tộc đáng trọng, trong khi người dã man là một dân tộc đáng khinh. Đó là vấn đề văn hóa. Văn hóa tạo ra một sự khác biệt lớn trên thế giới. Nếu anh em đặt một người Anh quyền quí điển hình bên cạnh một người Châu Phi bản xứ, thì sự khác biệt về văn hóa sẽ trở nên rất rõ ràng. Tuy nhiên, Phao-lô nói với chúng ta rằng người dã man cũng như người Sy-the phải hủy bỏ tất cả những sự khác biệt.

Sự khác biệt văn hóa ấy đã gây trở ngại do nhiều người. Lần kia tôi gặp hai người Do Thái. Vì biết hai người khá rõ, nên tôi thẳng thắn hỏi họ rằng: “Tại sao có quá nhiều người trên thế giới ghét người Do Thái?” Một người nói rằng: “Văn hóa Do Thái của chúng tôi không phù hợp với tiêu chuẩn của những người khác”. Đó là lần đầu tiên tôi nghe một câu trả lời như vậy. Tôi đã không hiểu ý anh muốn nói gì. Anh tiếp tục giải thích rằng: “Hãy xem xét trường hợp của một người Mỹ gốc Do Thái. Thành thật mà nói thì nếu không phải là một người Mỹ gốc Do Thái, tôi cũng không ưa người Mỹ gốc Do Thái. Tôi sẽ khinh miệt văn hóa Do Thái. Nếu một người Mỹ lãnh được hai trăm đô-la mỗi tháng, người ấy sẽ dành ra một phần để mua thức ăn và trả tiền thuê [nhà]. Người ấy đánh bóng giày và thay áo hằng ngày. Hai tháng một lần người ấy mua một đôi giày mới, và giữ gìn nhà mình ngăn nắp và sạch sẽ. Nếu cuối tháng mà còn lại mười đô la trong túi thì người ấy cũng vui rồi. Nhưng người Do Thái thì khác. Một người Do Thái lãnh cùng một số tiền ấy nhưng chỉ chi tiêu mười đô la trong một tháng và để dành phần còn lại. Người ấy tính xem mình có thể tiết kiệm được bao nhiêu nếu không đánh bóng giày và mua giày mới. Người ấy có thể chịu mặc chiếc áo dơ để tiết kiệm xà phòng. Không như người Mỹ là người rất cầu kỳ trong việc ăn ngon mặc đẹp, người Do Thái thì không cầu kỳ trong cách ăn nếp ở. Tất cả những gì người ấy muốn là tiền tiết kiệm trong trương mục trong ngân hàng luôn luôn gia tăng. Người Do Thái chúng tôi khinh khi người Mỹ vì họ quá nghèo. Người Mỹ khinh khi chúng tôi vì họ nghĩ chúng tôi không quan tâm đến sự gọn gàng sạch sẽ và tiện nghi cuộc sống”. Anh nói tiếp: “Người Do Thái chúng tôi có tài làm giàu. Về mặt trí tuệ, chúng tôi tài giỏi, nhưng về mặt thời trang thì không được vậy. Chúng tôi không thể hòa thuận với những người khác. Đó là lý do không người nào ưa thích chúng tôi”. Ấy là lần đầu tiên tôi nghe một câu trả lời như vậy.

Một người có văn hóa khó mà nhìn thẳng vào mắt một người thiếu văn hóa. Đó không phải là vấn đề giai cấp, trí tuệ hay tình trạng tài chính, nhưng là vấn đề văn hóa. Theo cái nhìn của người Sy-the, không có gì liên quan đến người dã man là đúng đắn cả. Một người dã man vốn sai trật trong cách ăn mặc, ăn uống và sinh sống. Theo cái nhìn của người dã man thì người Sy-the theo chủ nghĩa khoái lạc thái quá. Người Sy-the quá cầu kỳ trong việc ăn ngon mặc đẹp. Hai người ấy có hai cái nhìn hoàn toàn khác biệt. Nếu cả hai đều đến hội thánh, thì mỗi người sẽ đem theo ý kiến riêng của mình và xem người khác là sai trật. Khi họ đến với nhau thì chắc chắn sẽ có một cuộc xung đột. Họ không bao giờ có thể hiệp một với nhau.

Người Trung Hoa ăn bằng đũa, trong khi người Ấn Độ thì ăn bằng tay. Đặt họ ngồi chung bàn một vài lần, thì trong thâm tâm cả hai đều sẽ cảm thấy khó chịu. Họ có thể không nói nhiều. Nhưng nếu để mặc họ với nhau trong hai ngày, họ sẽ không thể chịu đựng nổi nhau; mà sẽ bắt đầu cãi nhau. Một người cảm thấy là nên dùng đũa vì dùng tay bốc ăn thật khó coi, còn người kia cảm thấy rằng ăn bằng đũa chỉ là để trình diễn và khi nào ăn bằng tay thì một người mới thật sự thưởng thức bữa ăn của mình. Người này sẽ nói người kia sai trật và ngược lại. Đó là một sự khác biệt về văn hóa. Những sự khác biệt liên quan đến văn hóa ấy tạo ra một hàng rào thật sự. Nhưng ngay cả điều ấy cũng được hủy bỏ trong Đấng Christ. Những người ở trong Đấng Christ cần phải là những người dễ tính nhất. Họ có thể chịu được mọi loại khác biệt thuộc con người. Một người trong Đấng Christ không tạo ra một tiêu chuẩn rồi đòi hỏi mọi người khác đạt đến tiêu chuẩn của mình. Người ấy chỉ trọng những người đạt đến tiêu chuẩn của mình và khinh những người chưa đạt đến [tiêu chuẩn ấy]. Đó không phải là cách một người ở trong Đấng Christ nên cư xử. Loại cư xử như vậy không ở trong hội thánh, cũng không ở trong con người mới. Giả sử, có vài anh em giữa vòng chúng ta đến từ Ấn Độ hay Châu Phi. Văn hóa của họ khác với văn hóa của chúng ta. Nhưng chúng ta chỉ nên hỏi một câu hỏi: Họ có ở trong Chúa hay không? Họ cũng nên hỏi chúng ta cùng một câu hỏi: Chúng ta có ở trong Chúa hay không? Nếu chúng ta ở trong Đấng Christ, thì ngay lập tức, mọi nan đề đều sẽ được giải quyết. Khi chúng ta tiếp xúc với nhau trong Đấng Christ và yêu mến nhau trong Đấng Christ, thì điều gì cũng chịu đựng được. Chúng ta không được để bất cứ điều gì xen vào giữa con cái Đức Chúa Trời, để phân biệt các anh em và chị em trong Đấng Christ với nhau.

Chúng ta không thể tập họp các anh chị em sang trọng để hình thành một hội thánh. Chúng ta không thể tập họp những người bình dân để hình thành một hội thánh khác. Đó không phải là hội thánh. Những điều như vậy không ở trong hội thánh, mà ở ngoài hội thánh, ở ngoài Thân Thể, và ở ngoài con người mới. Chúng ta đừng bao giờ đem các nan đề ấy vào trong hội thánh. Tất cả các sự khác biệt liên quan đến văn hóa đều đã được hủy bỏ trong hội thánh.

Tuy nhiên, chúng ta phải học tập “sống như người La Mã giữa vòng người La Mã” và ở dưới luật pháp giữa vòng những người ở dưới luật pháp. Chúng ta sống trong [môi trường] văn hóa nào thì phải cư xử như những người ở trong nền văn hóa ấy. Nếu một vài anh em Châu Phi đến Trung Quốc, và họ có sự hiểu biết về Đức Chúa Trời, thì họ nên dùng đũa. Nếu chúng ta đến Châu Phi, có lẽ chúng ta phải ăn bốc bằng tay. Chúng ta không muốn xung đột với các anh chị em địa phương. Khi đến với họ, chúng ta phải học tập sống giữa vòng họ. Khi họ đến với chúng ta, họ phải học tập sống giữa vòng chúng ta. Khi đến Anh Quốc, chúng ta phải học tập cư xử như người Anh, và khi một người Anh đến Trung Quốc, người ấy cũng phải học tập cư xử như người Hoa. Nếu không làm như vậy thì chúng ta sẽ gây vấp phạm cho những người khác và sẽ không chiếm hữu được họ cho Đấng Christ. Nếu con cái của Đức Chúa Trời có một sự khởi đầu tốt trong vấn đề này, họ sẽ tránh được nhiều rắc rối về sau.

VII. HỦY BỎ DẤU VẾT MỘ ĐẠO TRONG XÁC THỊT

Sự khác biệt cuối cùng được đề cập trong Cô-lô-se là sự khác biệt giữa người chịu cắt bì và người không chịu cắt bì. Điều này nói về sự khác biệt liên quan đến biểu hiện mộ đạo bên ngoài. Chúng ta đều biết rằng người Do Thái chịu cắt bì để lại một dấu vết trên thân thể họ, cho thấy họ thuộc về Đức Chúa Trời, họ kính sợ Đức Chúa Trời, và họ từ chối xác thịt. Làm như vậy là họ đặt chính mình ở dưới giao ước của Đức Chúa Trời và trở nên một phần trong giao ước của Đức Chúa Trời.

Nhiều người (đặc biệt là người Do Thái) rất thích sự cắt bì. Họ nghĩ rằng chỉ những người chịu cắt bì mới ở dưới giao ước của Đức Chúa Trời, trong khi những người không chịu cắt bì thì không ở dưới giao ước của Ngài. Người Do Thái không thể kết hôn với một người chưa chịu cắt bì. Công vụ các Sứ đồ chương 15 nói rằng thậm chí các tín đồ đã tin nhận [Chúa] cũng bị buộc phải cắt bì. Người Do Thái để ý nhiều đến biểu hiện mộ đạo này trong xác thịt.

Ngày nay, chúng ta cũng có thể rơi vào cùng một cạm bẫy như những người Do Thái, ấy là để ý quá đáng đến những biểu hiện bên ngoài. Ví dụ, tôi được báp-têm bằng cách dìm mình trong khi một anh em nọ có thể được rảy [nước] thay vì dìm mình. Lời Đức Chúa Trời nói chúng ta cần phải được báp-têm bằng cách dìm mình. Đúng, một anh em cần phải được báp-têm bằng cách dìm mình. Tuy nhiên, nếu tôi tự cho là mình hơn anh em không được báp-têm bằng cách dìm mình, thì tôi đã biến sự báp-têm bằng cách dìm mình thành một biểu hiện mộ đạo. Trên thực tế, tôi tuyên bố rằng có một điều trong xác thịt tôi trổi hơn anh em của mình. Nếu tôi xem anh em mình là sai trật theo cái nhìn của Chúa, vì anh chưa trải qua một sự dìm mình bề ngoài, thì tôi đã biến báp-têm bằng cách dìm mình thành một nguyên nhân phân rẽ.

Trùm đầu mang một ý nghĩa thuộc linh đối với các chị em. Tuy nhiên, điều ấy có thể trở nên một biểu hiện trong xác thịt. Bẻ bánh có một ý nghĩa thuộc linh, nhưng cũng có thể trở nên một biểu hiện trong xác thịt. Đặt tay có một ý nghĩa thuộc linh, nhưng cũng có thể trở nên một biểu hiện trong xác thịt nữa. Những điều ấy thật sự mang nhiều ý nghĩa thuộc linh. Nhưng nếu những điều ấy được dùng để phân rẽ các con cái của Đức Chúa Trời, thì những điều ấy sẽ mất đi ý nghĩa thuộc linh và trở nên những biểu hiện trong xác thịt. Trên thực tế, những điều ấy sẽ trở nên một điều gì đó tương tự như sự cắt bì.

Xin đừng hiểu lầm tôi. Thay vào đó, xin cố gắng hiểu điều tôi nói. Đừng nghĩ rằng tôi không đồng ý đối với báp-têm bằng cách dìm mình, sự bẻ bánh, trùm đầu hay đặt tay. Tôi đang cố gắng chỉ cho anh em thấy rằng một khi anh em phân rẽ các con cái của Đức Chúa Trời bằng những điều ấy, anh em tạo ra những sự khác biệt theo xác thịt. Trong Đấng Christ không có người chịu cắt bì hay người không chịu cắt bì. Những biểu hiệu thuộc thể không được dùng để phân rẽ các con cái của Đức Chúa Trời. Trong Đấng Christ, chúng ta là một. Sự sống ở trong Đấng Christ là một. Một điều gì đó với thực tại thuộc linh mà cũng có biểu hiệu thuộc thể nữa thì tốt. Nhưng nếu một người có thực tại thuộc linh về một điều gì mà không quan tâm đến biểu hiệu thuộc thể của điều đó, thì chúng ta không nên cô lập người ấy vì điều đó. Tóm lại, con cái của Đức Chúa Trời không nên để những biểu hiệu thuộc thể gây tổn hại đến sự hiệp một mà họ có trong Đấng Christ.

Thực sự là một vài con cái của Đức Chúa Trời không có quan điểm chính xác về những điều nào đó. Nhưng hễ họ có thực tại thuộc linh, thì chúng ta nên thỏa mãn với sự hiệp một thuộc linh của mình và không nên cứ nhấn mạnh đến các biểu hiệu. Chẳng hạn, một chị em có thể rất thuận phục trước mặt Chúa và trước mặt các anh em; chị em ấy biết chỗ mình đứng trước mặt Chúa và trước mặt các anh em. Nhưng nếu chị em ấy chỉ thiếu một biểu hiệu ở trên đầu mình, thì chúng ta không nên khai trừ chị. Ngay khi phân rẽ các con cái của Đức Chúa Trời, chúng ta gây tổn hại đến sự hiệp một.

Phao-lô tuyên bố khá rõ ràng rằng sự cắt bì không phải để tẩy sạch những tì vết thuộc xác thịt mà để cất đi những hoạt động thuộc xác thịt. Theo cái nhìn của Đức Chúa Trời, điều có giá trị là thực tại bên trong chứ không phải là những điều bề ngoài. Nếu khải thị bên trong giống nhau, thì một người không nên gây chia rẽ dựa trên những sự khác biệt bề ngoài. Nếu một người không có thực tại bên trong cũng không có dấu hiệu bề ngoài, thì đó không phải là điều chúng ta quan tâm. Nếu một chị em không nhận lấy chỗ đứng thuận phục, hay nếu sự báp-têm của một anh em không phải là sự phân rẽ khỏi thế gian hay sự đồng chôn và đồng sống lại với Chúa, thì anh em hay chị em ấy quá xa rời lẽ thật. Trong những trường hợp như vậy, trách nhiệm không nằm nơi chúng ta. Nhưng nếu một người nhận thấy báp-têm là sự mình đồng chôn và đồng sống lại với Đấng Christ, nhưng mang một quan điểm có đôi chút khác biệt trong vấn đề biểu hiện bề ngoài, thì chúng ta không thể gây tổn hại đến sự hiệp một vì sự khác biệt nhỏ nhặt ấy. Anh em không thể tách mình khỏi những người khác chỉ vì anh em vâng phục Chúa đối với những biểu hiệu thuộc thể nào đó. Phân rẽ con cái của Đức Chúa Trời theo những điều ấy là sai trật.

Tất cả chúng ta đều là anh em và chị em. Trong Đấng Christ, chúng ta là một con người mới. Chúng ta cùng là các chi thể trong Thân Thể. Trong hội thánh, chúng ta đã hủy bỏ tất cả những sự khác biệt ở ngoài Đấng Christ. Mọi người đều đứng trên một lập trường mới. Mọi người đều ở trong một con người mới mà Chúa đã thiết lập, và ở trong một Thân Thể mà Chúa đã tạo dựng. Chúng ta phải nhận thấy rằng tất cả các con cái của Đức Chúa Trời đều là một. Chúng ta không thể nhìn bất cứ ai theo khuôn khổ đặc biệt nào đó trong tâm trí mình. Chúng ta phải triệt để xóa bỏ chủ nghĩa giáo phái và chủ nghĩa bè đảng khỏi lòng mình. Nếu làm như vậy, chúng ta đã tiến lên thêm một bước.