Thông tin sách

Bài Học Gây Dựng Tín Đồ Mới - Tập 1

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Messages for Building Up New Believers, Vol. 1
ISBN: 0-7363-0976-4
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 6

Tiếng ViệtTải về
Untitled Document

CHƯƠNG SÁU

GIA NHẬP HỘI THÁNH

Kinh Thánh: Êph. 2:19, 22; 1 Cô. 12:13, 27

Câu hỏi trước mắt mà mọi tín đồ vừa được hoán cải nêu lên liên quan đến việc gia nhập hội thánh. Chúng ta đã đề cập đến vấn đề phân rẽ khỏi thế gian. Tuy nhiên, điều ấy không có nghĩa là một người chỉ cần phân rẽ chính mình khỏi thế gian rồi có thể dừng lại tại đó. Về mặt tích cực, người ấy cũng cần gia nhập hội thánh. (Nhóm chữ gia nhập hội thánh vốn không thích hợp; tuy nhiên, chúng tôi sẽ tạm dùng nhóm chữ ấy).

I. NHU CẦU GIA NHẬP HỘI THÁNH

Hơn hai mươi năm trước, khi chứng cớ của chúng ta mới bắt đầu, cứ mười người được cứu thì có tới sáu đến tám người không hề có ý tưởng gì về việc gia nhập một hội thánh. Điều đó rất kỳ lạ! Họ nghĩ rằng làm Cơ Đốc nhân một mình cũng đủ rồi và không cần gia nhập một hội thánh. Anh em có thể nghĩ đó là một ý nghĩ rất kỳ lạ, nhưng theo kinh nghiệm của chúng ta, có khá nhiều người nghĩ như vậy. Họ muốn [được] Đấng Christ, nhưng họ không muốn [có] hội thánh. Họ muốn liên hệ với Đấng Christ, nhưng không muốn dính dấp gì đến hội thánh. Họ muốn làm những Cơ Đốc nhân đơn độc. Chúng ta có thể cầu nguyện một mình không? Có thể được. Vì thế, họ nói như vậy là đủ rồi! Chúng ta có thể đọc Kinh Thánh một mình không? Có thể được. Thế nên, họ nói như vậy là đủ rồi! Họ nghĩ rằng hễ một người có thể cầu nguyện và đọc Kinh Thánh một mình thì cũng đủ rồi. Họ nghĩ rằng liên kết với những người khác thật phiền phức và hễ một tín đồ tin nhận Chúa và tương giao với Ngài một mình thì cũng đủ rồi. Quan niệm ấy tồn tại ở Trung Quốc, và cũng tồn tại ở các quốc gia khác.

Tuy nhiên, chúng ta phải nhận thức rằng dù muốn hay không, chúng ta không có sự lựa chọn nào khác hơn là phải gia nhập hội thánh. Khi được cứu, một người cần phải nhận thức rằng cuộc sống Cơ Đốc của mình vừa có phương diện cá thể vừa có phương diện tập thể. Về mặt cá thể, người ấy đã nhận được sự sống của Chúa, và có thể tương giao với Chúa cùng cầu nguyện một mình. Người ấy có thể giam mình trong phòng và tin Chúa một mình. Tuy nhiên, nếu chỉ biết phương diện cá thể, thì chứng cớ của người ấy vẫn chưa trọn vẹn. Thật ra, người ấy sẽ không duy trì [chứng cớ ấy] được lâu dài và tăng trưởng rất ít. Tôi chưa bao giờ thấy một Cơ Đốc nhân ẩn dật tiến triển tốt đẹp; trong quá khứ tôi không thấy ai và hiện tại cũng chưa thấy người nào. Trong hai ngàn năm lịch sử hội thánh, nhiều người đã nghĩ rằng họ có thể làm tín đồ cách riêng tư. Họ nghĩ rằng họ có thể sống như những ẩn sĩ, giam mình trên một ngọn núi, và không quan tâm đến điều gì ngoại trừ tương giao với Chúa. Nhưng các bài học thuộc linh những người ấy kinh nghiệm được lại rất nông cạn; họ không thể chống cự lại cám dỗ. Khi hoàn cảnh thuận lợi, thì họ tiến triển tốt đẹp. Khi hoàn cảnh trở nên không thuận lợi, thì họ không thể kiên trì.

Chúng ta phải nhận thức là có một khía cạnh khác cho cuộc sống Cơ Đốc; đó là khía cạnh tập thể. Theo Kinh Thánh, nói về khía cạnh tập thể thì không ai có thể làm một Cơ Đốc nhân đơn độc. Trước hết, Lời Đức Chúa Trời cho chúng ta biết rằng khi một người được cứu thì người ấy trở nên một thành viên trong gia đình Đức Chúa Trời; người ấy trở nên một người con của Đức Chúa Trời. Đó là khải thị từ Kinh Thánh. Khi một người được sinh lại, người ấy được sinh vào gia đình Đức Chúa Trời, và trở nên một người con của Đức Chúa Trời cùng với nhiều con cái khác của Ngài.

Thứ hai, Kinh Thánh cho thấy rằng tất cả những người được cứu là nơi cư ngụ của Đức Chúa Trời, tức nhà của Đức Chúa Trời. Nhà này khác với người nhà hay gia đình mà chúng tôi vừa đề cập đến. Người nhà chỉ về gia đình, trong khi nhà chỉ về nơi cư ngụ.

Thứ ba, các Cơ Đốc nhân được gọi chung là Thân Thể Đấng Christ. Chúng ta là những chi thể của nhau, và chúng ta cùng nhau là Thân Thể Đấng Christ.

A. Cùng Làm Con Cái Của Đức Chúa Trời Với Nhiều Người Khác Trong Gia Đình Đức Chúa Trời

Sau khi tin nhận Chúa, một người không những nhận được sự sống cá thể mà còn nhận được sự sống liên hệ đến nhiều người khác. Với tư cách là những thành viên trong gia đình Đức Chúa Trời, nơi cư ngụ của Ngài và Thân Thể Đấng Christ, chúng ta chỉ là một phần của tổng thể. Chúng ta không thể nào tồn tại một mình. Nếu thử [sống một mình] thì chắc chắn chúng ta sẽ thiếu hụt sự đầy trọn và sự phong phú trong Đức Chúa Trời. Chúng ta có thể là một bộ phận hữu dụng, nhưng nếu không liên kết với những người khác, thì chúng ta cũng giống như một mảnh vải bị xén khỏi tấm vải nguyên hay một món phụ tùng thay thế của một guồng máy lớn, và chúng ta không thể bày tỏ ánh sáng của sự đầy trọn của hình thái cao nhất của sự sống. Sự đầy trọn của ánh sáng ấy chỉ hiện hữu trong hội thánh.

Một người không thể sống trong một gia đình gồm năm anh chị em mà không liên hệ đến họ. Nếu là đứa con duy nhất của cha mình, thì tôi không phải tiếp xúc với anh chị em nào trong gia đình, vì tôi không có ai cả. Nhưng nếu có năm anh chị em trong gia đình mình, thì tôi không còn là đứa con duy nhất của cha mình nữa; tôi là một trong năm người con. Làm sao tôi lại có thể không liên hệ gì đến các anh chị em khác và cứ làm đứa con độc nhất của cha mình? Làm sao tôi có thể giam mình trong phòng và nói với người khác rằng: “Đừng làm phiền tôi. Tôi không liên hệ gì với anh cả. Tôi ở đây để làm đứa con duy nhất của cha tôi”? Làm sao một người có thể cư xử như vậy?

Khi tin nhận Chúa, một người không trở nên con độc sinh của Đức Chúa Trời. Người ấy là một đứa con trong hàng triệu con cái của Đức Chúa Trời. Người ấy không thể tự giam mình [cách biệt lập] và làm đứa con độc nhất của Cha mình. Chính bản chất sự sống mà anh em đã nhận được không cho phép làm như vậy. Trong gia đình thuộc thể, anh em có thể là đứa con duy nhất và không có anh chị em nào. Nhưng từ ngày tin nhận Chúa, anh em bị ràng buộc trong mối tương giao với các anh chị em khác. Anh em không thể thoát khỏi điều ấy. Từ ngày đó, anh em được sinh vào một gia đình lớn nhất thế giới. Không gia đình nào lớn bằng gia đình ấy. Anh em có hàng triệu triệu anh chị em. Anh em không thể xem thường những người ấy chỉ vì có quá nhiều người như vậy. Vì anh em chỉ là một ở giữa vòng nhiều người, nên anh em cần biết đến họ; anh em cần tương giao và liên hệ với họ. Nếu anh em hoàn toàn không muốn gặp họ, thì tôi nghi ngờ không biết anh em có phải thật sự là một anh em hay không. Nếu được sinh bởi Đức Chúa Trời, thì anh em sẽ được thu hút đến với những người cũng đã được Đức Chúa Trời sinh ra. Nếu anh em có thể giam mình để tránh khỏi họ, thì tôi nghi ngờ không biết anh em có phải là con cái của Đức Chúa Trời hay không.

Quan niệm làm một Cơ Đốc nhân cá thể hoàn toàn không phải là một quan niệm Cơ Đốc. Quan niệm ấy không phải và không nên thuộc về một Cơ Đốc nhân. Trong gia đình riêng của mình, chúng ta phải làm anh em đối với tất cả các anh em của mình và làm chị em đối với tất cả các chị em của mình. Điều ấy càng đúng hơn nữa trong gia đình của Đức Chúa Trời biết bao! Mối liên hệ ấy tuôn ra từ sự sống của Đức Chúa Trời và đầy dẫy tình yêu thương. Người nào không yêu mến anh chị em của mình hay không muốn liên lạc với họ là một điều kỳ lạ! Chúng ta phải ghi nhớ rằng trong khi chúng ta nhận được sự sống của Đức Chúa Trời để làm con cái Ngài cách riêng tư, thì sự sống mà chúng ta nhận được cũng ở trong hàng ngàn con cái khác của Đức Chúa Trời. Tôi chỉ là một người giữa vòng nhiều anh em. Chính bản chất sự sống mà tôi sở hữu không cho phép tôi theo cá nhân chủ nghĩa. Thay vào đó, sự sống ấy mong muốn liên lạc với tất cả các anh chị em khác.

B. Cùng Với Các Anh Chị Em Khác Trở Nên Nơi Cư Ngụ Của Đức Chúa Trời

Kinh Thánh cũng cho thấy hội thánh là nơi cư ngụ của Đức Chúa Trời. Điều này được đề cập đến trong Ê-phê-sô chương 2. Sự thật này là một trong những khải thị lớn nhất trong toàn bộ Tân Ước. Chúng ta cần phải nhận thức rằng Đức Chúa Trời có một nơi cư ngụ trên đất. Ngài cần một nơi cư ngụ. Trong Kinh Thánh, chúng ta thấy ý niệm về một nơi cư ngụ từ đền tạm của Môi-se đến đền thờ của Sa-lô-môn, bao gồm việc xây lại và phục hồi đền thờ sau này. Trong thời đại hội thánh, Đức Chúa Trời đang làm cho con người trở nên đền thờ của Ngài. Đức Chúa Trời đã từng cư ngụ trong một kiến ốc lớn là đền thờ của Sa-lô-môn. Nhưng ngày nay, Đức Chúa Trời cư ngụ trong hội thánh; bây giờ hội thánh đã trở nên nơi cư ngụ của Đức Chúa Trời. Chúng ta là nhiều con cái của Đức Chúa Trời đã được Thánh Linh qui tụ lại để làm nơi cư ngụ của Đức Chúa Trời. Điều này được đề cập đến trong 1 Phi-e-rơ 2:5. Chúng ta là những viên đá sống được xây dựng lại thành ngôi nhà thuộc linh.

Làm thế nào ngôi nhà thuộc linh được xây dựng? Đền thờ của Sa-lô-môn được xây bằng những viên đá “chết”. Nhưng ngày nay, nơi cư ngụ của Đức Chúa Trời được xây bằng những viên đá “sống”. Phi-e-rơ có nghĩa là “một viên đá”, là một viên đá sống. Khi tất cả các viên đá sống qui tụ lại với nhau, chúng trở nên một ngôi nhà. Nếu chúng không qui tụ lại, thì một viên đá tự nó có thể trở nên một ngôi nhà không? Không! Nếu không viên đá nào ở trên viên đá nào, thì đó là một dấu hiệu hoang tàn; đó không phải là một dấu hiệu tốt đẹp. Không viên đá nào ở trên viên đá nào là kết quả của sự phán xét và hoang tàn. Hễ có một ngôi nhà thì chúng ta có viên đá này chồng lên viên đá khác. Cảm tạ Đức Chúa Trời, ngày nay chúng ta đã được cứu và tin nhận Chúa Jesus; chúng ta hiện là những viên đá. Nếu một viên đá để riêng ra một mình nó thì có ích lợi gì? Nhưng khi các viên đá được ráp lại với nhau, thì chúng trở nên một ngôi nhà. Các viên đá mà cô lập thì cũng vô dụng. Thật ra, chúng có thể trở nên những viên đá làm vấp chân thay vì những viên đá sống.

Ngày nay, chúng ta giống như những đồ phụ tùng của một chiếc xe. Khi tất cả các bộ phận được ráp lại với nhau, chúng ta có một chiếc xe có thể chạy được. Chúng ta không dám nói rằng nếu những viên đá sống mà cô lập thì sẽ bị chết. Nhưng chúng ta có thể nói rằng nếu một viên đá mà không kết hiệp với những viên đá khác để làm nơi cư ngụ của Đức Chúa Trời thì nó sẽ mất đi chức năng và sự phong phú thuộc linh của mình. Chúng ta là một viên đá sống phải được kết hiệp với các viên đá sống khác. Chỉ khi ấy chúng ta mới có thể chứa đựng Đức Chúa Trời và chỉ khi ấy Đức Chúa Trời mới cư ngụ giữa vòng chúng ta.

Một trăm năm trước, một người Anh tên Stooneg nói rằng: “Sau khi tôi được cứu, một điều kỳ diệu nhất đã xảy đến cho tôi. Ngày kia, tôi đi đến chỗ nhận thức mình là vật liệu xây dựng trong nơi cư ngụ của Đức Chúa Trời. Đó là một khám phá kỳ diệu nhất”. Lần đầu tiên đọc những hàng chữ ấy, tôi đã không nghĩ đến điều đó bao nhiêu. Làm vật liệu xây dựng trong nơi cư ngụ của Đức Chúa Trời có gì là kỳ diệu? Nhưng ngày nay, khi suy gẫm về điều ấy, tôi tán thưởng lời ông Stooneg. Khi nào anh em có cảm xúc ấy, anh em sẽ nhận thấy điều đó kỳ diệu biết bao.

Cảm tạ Đức Chúa Trời! Chúng ta thật sự là vật liệu xây dựng nơi cư ngụ thuộc linh của Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta là vật liệu xây dựng mà tách rời khỏi kiến ốc thì chúng ta sẽ vô dụng. Đồng thời, nơi cư ngụ của Đức Chúa Trời không thể tồn tại nếu thiếu chúng ta là những viên đá. Không có chúng ta là những viên đá thì trong nơi cư ngụ của Đức Chúa Trời sẽ có một lỗ hổng, và kẻ trộm sẽ [lẻn] vào trong kiến ốc ấy. Vì tôi là vật liệu xây dựng dành cho nơi cư ngụ của Đức Chúa Trời, nên Đức Chúa Trời không thể tiến lên nếu không có tôi.

Anh em ơi, chúng ta phải nhận thấy mình là vật liệu xây dựng mà Thánh Linh đang dùng để xây dựng nơi cư ngụ của Đức Chúa Trời. Nếu chỉ ở một mình thì anh em sẽ mất đi sự phong phú của Đức Chúa Trời. Anh em sẽ không thể nào “chứa đựng” Đức Chúa Trời. Anh em phải được liên kết với các anh chị em. Chỉ khi ấy anh em mới có thể “chứa đựng” Đức Chúa Trời. Một cái thùng gỗ dùng để đựng nước và gánh nước được ghép bằng những mảnh gỗ. Nếu anh em gỡ đi một mảnh gỗ khỏi cái thùng ấy, thì nó sẽ không còn giữ nước được nữa. Bản chất của những mảnh gỗ riêng rẽ không thay đổi, nhưng sự phong phú mà chúng chứa đựng thì đã thay đổi. Mỗi mảnh có thể được thấm một ít nước, nhưng sẽ không bao giờ giữ lại nhiều nước; nó sẽ mất đi tất cả sự phong phú. Chúng ta là nhà Đức Chúa Trời, và ngay khi trở nên cô lập thì chúng ta mất đi tất cả sự phong phú.

Anh chị em ơi, ngày nay anh chị em có thể không thấy rõ điều này. Nhưng dần dần anh chị em sẽ thấy rõ hơn. Ngay khi anh chị em tin nhận Chúa, tự phát bên trong chúng ta có một khuynh hướng [muốn] tiếp xúc với các con cái khác của Đức Chúa Trời. Bên trong anh chị em có một sự mong muốn tìm kiếm các vật liệu khác, các viên đá khác. Anh em phải chìu theo bản chất ấy. Đừng cô lập chính mình khỏi những người khác vì các quan niệm riêng của anh em.

C. Cùng Với Tất Cả Các Chi Thể Trở Nên Thân Thể Đấng Christ

Thứ ba, chúng ta được liên kết với nhau trong Thân Thể Đấng Christ để trở nên một Thân Thể. Chúng ta là Thân Thể Đấng Christ. Ê-phê-sô 4:4 nói rằng có một Thân Thể. 1 Cô-rin-tô 12:12 nói rằng có nhiều chi thể nhưng chỉ có một Thân Thể. Các câu ấy cho thấy một Cơ Đốc nhân không thể nào theo cá nhân chủ nghĩa. Là một thành viên trong gia đình Đức Chúa Trời, tôi có thể làm một người kỳ quặc. Tôi vẫn có thể không liên lạc với tất cả các anh chị em. Hễ giữa Cha tôi và tôi không có nan đề, thì tôi có thể giam mình lại để làm một người con đơn độc của Đức Chúa Trời. Là nơi cư ngụ của Đức Chúa Trời, tuy là một viên đá sống, nhưng nếu tôi không thích xây dựng với những viên đá khác thì tôi có thể được để riêng ra một mình. Trước khi Phi-e-rơ gia nhập hội thánh, ông đã là một viên đá sống, nhưng vẫn còn là một viên đá riêng rẽ. Anh em có thể nói rằng: “Nếu điều đó có nghĩa là trong kiến ốc có một lỗ hổng thì cũng mặc kệ. Cứ để lỗ hổng ở đó; tôi muốn làm một Cơ Đốc nhân cá thể”. [Anh em] có thể làm điều đó.

Tuy nhiên, có một điều gì đó còn hơn là gia đình và kiến ốc. Đức Chúa Trời nói chúng ta là một Thân Thể. Có lẽ, ngày nay anh em là một con mắt, một bàn tay hay một cái chân trong thân thể. Mắt chỉ hữu dụng khi nó ở trên đầu. Nếu để vào một chiếc bình thủy tinh thì con mắt ấy vô dụng. Chân chỉ hữu dụng khi nó được đặt trong thân thể. Nếu được treo trong một phòng cao thì nó cũng vô dụng. Xin ghi nhớ rằng thân thể và mỗi chi thể đều thi hành chức năng theo cách ấy. Không chi thể nào có thể tách khỏi các chi thể khác. Đó là một mối liên hệ vững bền. Một người có thể lý luận rằng mình có thể tách khỏi gia đình của Đức Chúa Trời và tách khỏi nơi cư ngụ của Đức Chúa Trời. Nhưng không người nào có thể nói rằng mình có thể tách khỏi Thân Thể Đấng Christ. Tai của anh em không thể tuyên bố là độc lập chỉ vì nó không vui với các chi thể khác. Cũng vậy, bàn tay anh em không thể tuyên bố là độc lập chỉ vì nó không vui với các chi thể khác. Chân anh em không thể đứng lên nói rằng: “Tôi muốn được để yên một mình”. Chúng ta không có sự lựa chọn nào khác ngoại trừ phải liên kết với nhau.

Sự sống mà chúng ta đã nhận được không cho phép chúng ta theo cá nhân chủ nghĩa. Chúa đã không ban cho chúng ta một sự sống độc lập. Chúng ta phải nhấn mạnh sự kiện là Chúa đã không ban cho chúng ta một sự sống độc lập trong chính nó. Sự sống mà chúng ta đã tiếp nhận thì được sự sống của những người khác duy trì. Nếu đã nhận được một sự sống độc lập thì chúng ta có thể sống một mình. Nhưng chúng ta đã nhận được một sự sống phụ thuộc. Chúng ta phải phụ thuộc vào các anh chị em của mình, và họ phải phụ thuộc vào chúng ta.

Xin ghi nhớ rằng một chi thể không bao giờ có thể đứng một mình. Một khi đứng một mình thì nó không thể tồn tại. Một khi biệt lập thì nó mất đi tất cả sự phong phú, tất cả sự sống. Nếu các thánh đồ và tôi thật sự là một Thân Thể, thì tôi không còn có thể làm một Cơ Đốc nhân riêng rẽ nữa. Đến nay, điểm này đúng ra phải vô cùng sáng tỏ. Sự sống mà tôi đã nhận được đòi hỏi tôi phải liên kết với những người khác.

D. Mọi Cơ Đốc nhân Trở Nên Một Bằng Cách Gắn Bó Chính Mình Với Các Cơ Đốc nhân Khác

Tôi hi vọng rằng khi trở thành một Cơ Đốc nhân thì anh em sẽ liên kết chính mình với các Cơ Đốc nhân khác. Đừng cứ mãi làm một người cô độc sau khi đã là một Cơ Đốc nhân được tám hay mười năm. Một khi trở thành Cơ Đốc nhân, chúng ta phải nhận thấy rằng sự sống mà chúng ta nhận được từ Đức Chúa Trời là một sự sống phụ thuộc. Đức Chúa Trời đã không ban cho chúng ta một sự sống độc lập. Chúng ta là những Cơ Đốc nhân được ràng buộc với nhiều Cơ Đốc nhân khác. Giữa vòng chúng ta, không ai bị tách rời cả. Tất cả các Cơ Đốc nhân đều được gắn bó với những Cơ Đốc nhân khác.

Anh em từng nghe về những văn phòng trực thuộc một công ty. Anh em đã nghe về những bộ liên kết chặt chẽ trong một nội các. Anh em cũng đã nghe về những con người gắn bó với một đơn vị lao động. Cũng vậy, mỗi Cơ Đốc nhân đều được gắn bó với các Cơ Đốc nhân khác. Mỗi người đều được gắn bó với nhau. Theo mắt của Đức Chúa Trời, không Cơ Đốc nhân nào đủ sức lực để tồn tại một mình. Tôi hi vọng rằng anh em sẽ được gắn bó với những người khác ngay từ đầu; tôi hi vọng rằng anh em sẽ là một Cơ Đốc nhân sống bằng cách gắn bó chính mình với nhiều Cơ Đốc nhân khác. Nhờ gắn bó như vậy mà anh em nhận được sự cung ứng, sự gây dựng, tình yêu thương và sự tương giao.

Đó là lý do một Cơ Đốc nhân phải gia nhập hội thánh. (Nhóm chữ gia nhập hội thánh không có trong Kinh Thánh. Tuy nhiên, chúng tôi mượn cách diễn đạt ấy để những người mới có thể hiểu được [vấn đề]). Chúng ta không thể làm những Cơ Đốc nhân riêng lẻ. Chúng ta chỉ có thể là những Cơ Đốc nhân cùng liên kết với tất cả con cái của Đức Chúa Trời. Chúng ta chỉ có thể làm những Cơ Đốc nhân được gắn bó với những Cơ Đốc nhân khác. Chúng ta cần phải liên hệ với những người khác. Chúng ta cần phải giống như nhánh của một cây leo — luôn luôn gắn bó với những người khác. Là Cơ Đốc nhân, chúng ta cần phải gắn bó chính mình với các Cơ Đốc nhân khác.

II. GIA NHẬP HỘI THÁNH NÀO

Chúng ta cần phải gia nhập hội thánh. Nhưng có quá nhiều hội thánh. Chúng ta nên gia nhập hội thánh nào? Phải, một số người đã nhờ anh em mà được nghe phúc âm; có thể họ đã được cứu qua anh em. Nhưng nhiều người cẩn trọng sẽ không tự động chấp nhận hội thánh của anh em chỉ vì anh em đã dẫn họ đến với Chúa. Họ sẽ xem xét và muốn biết mình nên gia nhập hội thánh nào trong vô số hội thánh [đang hiện hữu].

A. Những Sự Khác Biệt Giữa Nhiều Loại Hội thánh

Lịch sử hội thánh rất lâu đời, kéo dài gần hai ngàn năm. Các hội thánh khác nhau được dấy lên vào những thời điểm khác nhau. Điều ấy đem đến sự khác biệt dựa trên thời gian. Các hội thánh cũng đã được dấy lên tại những nơi khác nhau. Điều ấy đem đến sự khác biệt dựa trên địa lý. Các hội thánh cũng đã được dấy lên qua những đầy tớ khác nhau của Đức Chúa Trời. Điều ấy đem đến các sự khác biệt dựa trên những con người. Tại đây chúng ta thấy có ba sự khác biệt dựa trên thời điểm, nơi chốn và con người. Vẫn chưa hết. Vì có rất nhiều giáo lý trong Kinh Thánh, nên một số người đã lập ra các hội thánh nhấn mạnh vào một loại giáo lý nào đó, trong khi những người khác thì lập nên các hội thánh khác nhấn mạnh vào các giáo lý khác. Kết quả là những sự nhấn mạnh khác nhau về các giáo lý cũng tạo ra những hội thánh khác nhau. Khi một nhu cầu nào đó nảy sinh tại một nơi nào đó, thì có một số cá nhân nào đó dấy lên để nhấn mạnh đến những giáo điều nào đó. Kết quả là một hội thánh được sinh ra. Vì thế, điểm đã được nhấn mạnh trở nên nền tảng để hình thành hội thánh.

Nhiều hội thánh được hình thành do những nhân tố trên. Trên thế giới ngày nay, có bao nhiêu hội thánh khác nhau? Có hơn một ngàn năm trăm loại hội thánh, và đó chỉ là những hội thánh chính thống, những hội thánh được thiết lập cách hoàn chỉnh. Hơn nữa, con số ấy chỉ phản ánh số hệ thống giáo hội khác nhau, chứ chưa tính đến những giáo đoàn địa phương khác nhau trong mỗi hệ thống. Nếu chúng ta xem Anh Quốc giáo, Giáo hội Trưởng lão, Giáo hội Giám-lý và những nhóm khác đã được thiết lập cách hoàn chỉnh là những hội thánh, thì có khoảng một ngàn năm trăm hội thánh. Anh em ơi, khi tôi đặt chính mình vào hoàn cảnh của anh em, tôi có thể nhận thấy tại sao lựa chọn [hội thánh] trong một bản liệt kê một ngàn năm trăm hội thánh không phải là một công việc dễ dàng!

Với quá nhiều hội thánh và nhiều hỗn loạn như vậy, có con đường đúng đắn nào để chúng ta có thể chọn trước mặt Chúa không? Cảm tạ Đức Chúa Trời, có một con đường! Lời Đức Chúa Trời vẫn ở với chúng ta, và chúng ta có thể đọc lời và khám phá xem Đức Chúa Trời muốn nói gì. Cảm tạ Đức Chúa Trời, Kinh Thánh đã chỉ cho chúng ta thấy mình nên gia nhập hội thánh nào. Đức Chúa Trời đã không bỏ chúng ta trong sự tối tăm.

B. Các Lý Do Có Nhiều Hội thánh Khác Nhau

1. Những Nơi Chốn Khác Nhau

Chúng ta hãy nghiên cứu cách tường tận sự chia rẽ của hội thánh. Một số sự chia rẽ đã xảy ra vì cớ khu vực. Ví dụ, Anh Quốc giáo thật ra là Hội thánh của Anh Quốc. Anh Quốc giáo có nghĩa là giáo hội ra từ Anh Quốc; thật ra, đó là quốc giáo của Anh Quốc. Nhưng khi giáo hội ấy lan truyền từ Anh Quốc đến Hoa Kỳ, nó trở nên Giáo hội Giám-nhiệm hay Giáo hội Anh Quốc ở Mỹ. Khi giáo hội ấy lan truyền đến Trung Quốc, nó trở nên Giáo hội Anh Quốc tại Trung Quốc. Hơn nữa, khi Giáo hội Anh ở Mỹ lan truyền đến Trung Quốc, nó trở nên Giáo hội Anh ở Mỹ tại Trung Quốc. Giáo hội Anh trước hết lan truyền đến Mỹ rồi mới đến Trung Quốc. Kết quả sinh ra Giáo hội Anh Mỹ Hoa. Tình trạng như vậy rắc rối biết bao!

Xin xem xét ví dụ về Giáo hội Công giáo. Giáo hội Công giáo thật ra là Hội thánh tại La Mã. Chúng ta lại đang ở tại Thượng Hải. Một hội thánh La Mã có liên quan gì với chúng ta tại đây? Hội thánh tại La Mã mà thiết lập những hội thánh tại các nơi khác là sai trật. Đó là một tình trạng hỗn loạn về địa phương. Giáo hội Anh Quốc đang làm gì tại Mỹ? Giáo hội Mỹ-quốc đang làm gì tại Trung Quốc? Hội thánh La Mã đang làm gì tại Thượng Hải. Hội thánh Thượng Hải đang làm gì tại Phúc Châu? Mọi hội thánh được thành lập dựa trên nơi chốn thì sau cùng sẽ trở nên hỗn loạn.

2. Những Thời Điểm Khác Nhau

Điều ấy vẫn chưa phải là tất cả. Nhiều hội thánh bị chia rẽ theo yếu tố thời gian. Các hội thánh khác nhau đã được thiết lập vào những thời điểm khác nhau. Hãy xem xét những việc đã diễn ra tại Trung Quốc: lần đầu tiên người Nestorians thiết lập các hội thánh là dưới triều đại nhà Đường, khi họ truyền bá phúc âm tại Trung Quốc. Người Nestorians là các Cơ Đốc nhân đã đến Trung Quốc để rao giảng phúc âm dưới triều đại nhà Đường. Dưới triều đại nhà Minh, Giáo hội Công giáo La Mã từ Tây Phương cũng đến thiết lập các hội thánh. Các hội thánh được thiết lập dưới triều đại nhà Đường không thể kết hiệp với các hội thánh được thiết lập dưới triều đại nhà Minh, vì các hội thánh ấy được thiết lập vào các thời kỳ khác nhau. Khi Giáo hội Cải-chánh đến Trung Quốc dưới triều đại nhà Thanh, họ đã thiết lập thêm các hội thánh. Hiện tại, chúng ta có các hội thánh thuộc triều đại nhà Đường, các hội thánh thuộc triều đại nhà Minh và các hội thánh thuộc triều đại nhà Thanh. Sau khi nước Cộng Hòa Trung Hoa được thành lập thì Hội Anh Em đến. Bây giờ, ngoài người Nes tori ans, Giáo hội Công giáo La Mã và Giáo hội Tin-Lành, chúng ta còn có một nhóm lớn khác là Hội Anh Em. Hội Anh Em là một nhóm khác; họ đã thiết lập một hội thánh khác. Nhiều hội thánh trong các hội thánh ấy được hình thành vì khác thời kỳ. Tại đây, chúng ta nhận thấy hội thánh không chỉ bị chia rẽ theo địa lý. Thậm chí khi tất cả các Cơ Đốc nhân đều xuất thân từ cùng một nơi, sự kiện họ được thiết lập vào những thời kỳ khác nhau cũng có thể trở nên nhân tố chia rẽ.

3. Những Con Người Khác Nhau

Như vậy vẫn chưa hết. Trong suốt lịch sử hội thánh cũng có những sự chia rẽ dựa vào những con người khác nhau. Hội thánh được John Wesley thiết lập trở thành Hội thánh Wesley. Hội thánh được Martin Luther thiết lập trở thành Hội thánh Luther. Họ bị chia rẽ qua những người khác nhau. Có giáo phái Wesley và giáo phái Lutheran. Tất cả các giáo phái ấy đều chia rẽ dựa vào con người.

4. Nhấn Mạnh Đến Các Lẽ Thật Khác Nhau

Một số sự chia rẽ đặt nền tảng trên việc nhấn mạnh đến các lẽ thật khác nhau. Những người nhấn mạnh đến việc xưng công chính bởi đức tin được gọi là Hội thánh “Được Xưng Công Chính Bởi Đức Tin” (tức là Hội thánh Luther). Những người nhấn mạnh đến sự thánh khiết trở nên Hội thánh Thánh Khiết. Những người nhấn mạnh đến Thánh Linh được gọi là Hội thánh Ngũ tuần. Những người nhấn mạnh đến phép lạ của các sứ đồ được gọi là Hội thánh Đức Tin Của Các Sứ Đồ. Những người nhấn mạnh đến tính độc lập của các giáo đoàn địa phương thì gọi là Hội thánh Giáo-đoàn. Những người nhấn mạnh đến sự điều hành của các trưởng lão và tin nơi sự kế tục của uy quyền các sứ đồ qua các trưởng lão thì được gọi là Hội thánh Trưởng lão. Những người tin nơi sự kế tục của uy quyền các sứ đồ qua các giám mục thì được gọi là Hội thánh Giám-mục. Họ có một giám mục cho mỗi hội thánh. Những người nhấn mạnh đến việc dìm mình dưới nước thì trở nên Hội thánh Báp-tít. Những người xuất thân từ Bath thì được gọi là Giáo-đoàn Bath. Tại Quảng Đông có những giáo đoàn như vậy. Thậm chí giữa vòng những người tin sự xưng công chính bởi đức tin, những người xuất thân từ Đức được gọi là người thuộc Luther, trong khi những người xuất thân từ Hòa Lan thì được gọi là Hội thánh Cải-chánh Hòa Lan. Chúng ta có thể nhận thấy rằng mọi loại khác biệt đang tồn tại giữa vòng các hội thánh trên khắp thế giới. Mỗi hội thánh đều có lịch sử và giáo lý riêng của nó. Giữa tình trạng hỗn loạn như vậy, anh em nên chấp nhận con đường nào? Tại địa phương của anh em, khó mà tìm ra một hội thánh để gia nhập.

III. CÁC HỘI THÁNH CHỈ KHÁC NHAU VỀ MẶT ĐỊA PHƯƠNG

Có một lối thoát nào cho chúng ta không? Có! Đối với lẽ thật về hội thánh, Kinh Thánh [bày tỏ] rất đơn giản và sáng tỏ, không lộn xộn chút nào. Chúng ta có thể thấy điểm này trong một vài câu Kinh Thánh. Lời mở đầu trong nhiều Thư tín như phần đầu của Công-vụ Các Sứ Đồ và Khải Thị, cho chúng ta thấy những nhóm chữ như hội thánh tại La Mã, hội thánh tại Giê-ru-sa-lem, hội thánh tại Cô-rin-tô, hội thánh tại Phi-líp, hội thánh tại Ê-phê-sô, hội thánh tại Cô-lô-se v.v... Có nhiều hội thánh khác nhau. Trong Công-vụ có hội thánh tại An-ti-ốt, và trong Khải-thị có bảy hội thánh. Giữa vòng các hội thánh trong Kinh Thánh đương nhiên là có những sự khác biệt, nhưng chỉ có duy nhất một loại khác biệt. Sự khác biệt ấy là gì? Anh em có thể tự trả lời câu hỏi ấy vì rất hiển nhiên.

Một số giáo lý trong Kinh Thánh có hai mặt. Quyết định nên chấp nhận mặt nào không phải là điều dễ dàng. Nhưng nếu một lẽ thật chỉ có một mặt mà anh em còn lầm lẫn, thì như vậy có nghĩa là anh em rất dại dột và đui mù. Vài phân đoạn trong Kinh Thánh nói rằng sự xưng công chính là bởi đức tin, trong khi các phân đoạn khác thì nói rằng sự xưng công chính là bởi việc làm. Chúng ta có sách La Mã, và cũng có Thư của Gia-cơ. Nhầm lẫn về một giáo lý như vậy còn có thể châm chước được. Nhưng đối với [vấn đề] hội thánh thì chỉ có một con đường. Người nào không sáng tỏ về điều này thì không thể bào chữa được. Cô-rin-tô là một địa phương; Ê-phê-sô, Cô-lô-se, La Mã và Phi-líp cũng vậy. Tất cả các nơi ấy đều là những địa phương. Nói cách khác, hội thánh chỉ có thể phân chia theo địa phương chứ không theo cách nào khác. Đối với anh em, điểm này đã rõ ràng chưa? Cô-rin-tô, Ê-phê-sô và Cô-lô-se là các thành phố. Vì vậy, ranh giới của hội thánh là ranh giới của thành phố hay địa phương.

A. Bất Cứ Điều Gì Nhỏ Hơn Một Địa Phương Đều Không Phải Là Hội thánh

Dầu một hội thánh có lớn thế nào đi nữa, hội thánh ấy vẫn không thể vượt quá ranh giới địa phương của mình. Đồng thời, dầu một hội thánh có nhỏ thế nào đi nữa, hội thánh ấy vẫn không thể lấy bất cứ điều gì nhỏ hơn địa phương làm một đơn vị. Nếu một hội thánh nhỏ hơn một địa phương, thì đó không phải là một hội thánh. Nếu một hội thánh lớn hơn một địa phương, thì đó cũng không phải là một hội thánh. Điều gì nhỏ hơn một địa phương? Ví dụ, trong hội thánh tại Cô-rin-tô có người nói rằng: “Tôi thuộc về Sê-pha”. Những người khác thì nói: “Tôi thuộc về Phao-lô”, hay “tôi thuộc về A-bô-lô”, hay “tôi thuộc về Đấng Christ” (1 Cô. 1:12). Họ đã chia hội thánh tại Cô-rin-tô thành bốn phần. Đó là làm cho hội thánh trở nên quá nhỏ. Vì vậy, Phao-lô nói rằng họ gây chia rẽ và bè phái. Cô-rin-tô thứ nhất cho thấy rằng một hội thánh mà nhỏ hơn một địa phương là sai trật. Phao-lô có tốt không? Tốt! A-bô-lô có tốt không? Tốt! Phi-e-rơ có tốt không? Tốt! Nhưng phân chia hội thánh theo những người ấy cũng sai trật. Hội thánh được phân chia theo địa phương chứ không theo các sứ đồ. Phao-lô nói rằng phân chia hội thánh theo các vị sứ đồ là gây chia rẽ, là bè phái và thuộc xác thịt. Phân chia hội thánh như vậy là chấp nhận con đường giáo phái.

B. Ranh Giới Của Một Hội thánh Không Được Lớn Hơn Địa Phương

Một hội thánh mà lớn hơn ranh giới địa phương của hội thánh ấy thì cũng sai trật. Xin đọc quyển Kinh Thánh của anh em. Kinh Thánh nói về “các hội thánh thuộc Ga-la-ti” (1 Cô. 16:1), “các hội thánh thuộc A-si” (c. 19), và “các hội thánh thuộc Giu-đê” (Ga. 1:22). Tại Giu-đê có nhiều địa phương với nhiều hội thánh. Đó là lý do vì sao chúng ta nói đến các hội thánh ấy là các hội thánh thuộc Giu-đê. Chúng ta nhìn thấy điều này trong sách Công-vụ. Trong sách Ga-la-ti, chúng ta thấy có “các hội thánh thuộc Ga-la-ti”. Trong Khải-thị 1:4, chúng ta thấy “các hội thánh ở tại A-si”. Sau khi đọc các phân đoạn Kinh Thánh ấy, chúng ta đúng ra phải rất sáng tỏ về những gì Kinh Thánh nói liên quan đến vấn đề này. Không có hội thánh nào lớn hơn một địa phương. Ga-la-ti là một tỉnh trong Đế Quốc La Mã; đó không phải là một địa phương. Đấy là lý do Kinh Thánh không nói: “Hội thánh thuộc Ga-la-ti”, mà nói: “Các hội thánh thuộc Ga-la-ti”. Tại Ga-la-ti có một vài hội thánh. Đó là tại sao chữ các hội thánh ở thể số nhiều được dùng thay vì chữ hội thánh ở thể số ít. Vì vậy, một hội thánh mà lớn hơn địa phương của mình thì sai trật.

Kinh Thánh không nói: “Hội thánh tại A-si”, mà nói: “Bảy hội thánh ở tại A-si”! Ê-phê-sô, Si-miệc-nơ, Bẹt-găm, Thi-a-ti-rơ, Sạt-đe, Phi-la-đen-phi và Lao-đi-xê đều là các địa phương tại A-si. Bảy nơi ấy không trở nên một hội thánh liên hiệp. Các hội thánh ấy vẫn là bảy hội thánh tại A-si. Một hội thánh mà lớn hơn địa phương của mình là sai trật. Bảy hội thánh ấy đã không trở nên một hội thánh lớn. Theo cùng một nguyên tắc, chúng ta thấy “các hội thánh thuộc Giu-đê” vì vào thời ấy, Giu-đê là một tỉnh của La Mã. Giu-đê nguyên là một quốc gia, nhưng về sau trở nên một tỉnh. Trong tỉnh Giu-đê có nhiều địa phương nhiều hội thánh. Các hội thánh ấy không thể kết hiệp với nhau để trở thành một hội thánh.

Chúng ta phải nhận thấy rằng Đức Chúa Trời đã định là chỉ có “hội thánh tại Phúc Châu”; không thể nào có một “hội thánh X. tại Phúc Châu”. Có một hội thánh như vậy là làm cho hội thánh trở nên nhỏ hơn địa phương của nó. Cũng không người nào có thể liên hiệp tất cả các hội thánh tại tỉnh Phúc Kiến và biến các hội thánh ấy trở nên một hội thánh. Chúng ta chỉ có thể có “các hội thánh tại Phúc Kiến”, chứ không thể có “hội thánh tại Phúc Kiến”; có một hội thánh như vậy là làm cho hội thánh lớn hơn địa phương của nó.

C. Hội thánh Chỉ Mang Tên Của Địa Phương

Thưa các anh em, chúng ta phải sáng tỏ là hội thánh không thể đặt tên theo một người, một giáo lý, một hệ thống hay nơi hội thánh bắt nguồn. Hội thánh được nhận biết chỉ nhờ tên địa phương của hội thánh ấy, chứ không phải tên nơi hội thánh ấy bắt nguồn. Chỉ có thể có “hội thánh tại Phúc Châu”, chứ không thể nào có “hội thánh Thượng Hải tại Phúc Châu”. Anh em không thể có Hội thánh La Mã tại Thượng Hải. Hội thánh La Mã phải trở về La Mã. Nếu có một số tín đồ từ hội thánh tại La Mã đến Thượng Hải, thì họ phải là một phần của hội thánh tại Thượng Hải chứ không thể thiết lập Hội thánh La Mã tại Thượng Hải. Nơi chốn xuất phát không thể được đem đến Thượng Hải. Hội thánh Anh Quốc cần phải trở về Anh Quốc. Các tín đồ thuộc Hội thánh Anh Quốc đến Thượng Hải phải trở nên tín đồ trong hội thánh tại Thượng Hải. Họ không nên đem Hội thánh Anh Quốc đến Thượng Hải. Hội thánh chỉ có thể có tính địa phương. Trong Lời Ngài, Đức Chúa Trời đã định hội thánh chỉ được chia ra theo địa phương, chứ không được chia theo quốc gia. Không nên có Hội thánh Trung Quốc hay Hội thánh Anh Quốc nào. Chỉ có thể có hội thánh tại Luân-đôn và hội thánh tại Thượng Hải. Đó chỉ là các địa phương. Các hội thánh đều đặt nền tảng trên địa phương, chứ không dựa vào quốc gia. Trong Kinh Thánh không có cái gọi là “Hội thánh của Đấng Christ tại Trung Quốc”.

Không được có bất cứ sự khác biệt nào gây nên do chủng tộc, quốc gia hay giáo lý. Lời Đức Chúa Trời chỉ cho phép một loại khác biệt, đó là sự khác biệt theo địa phương. Anh em ở nơi nào thì anh em là thành viên của hội thánh tại địa phương ấy. Nếu muốn đổi hội thánh thì anh em phải đổi chỗ ở sang địa phương khác. Nếu tôi đang ở Phúc Châu, và không thể hòa thuận với một anh em kia, cách duy nhất để ra khỏi hội thánh tại Phúc Châu là tôi phải rời Phúc Châu. Đức Chúa Trời chỉ chấp nhận sự khác biệt về mặt địa phương. Ngài không thừa nhận sự khác biệt nào khác. Tôi hi vọng anh em sẽ nhận được sự thương xót của Đức Chúa Trời để nhận thấy chỉ có một hội thánh và hội thánh ấy là địa phương.

IV. CÁCH GIA NHẬP HỘI THÁNH

Cuối cùng, làm thế nào chúng ta có thể gia nhập hội thánh? Kinh Thánh không nói gì về việc gia nhập hội thánh. Chính sự kiện ấy làm cho nhóm chữ gia nhập hội thánh không còn giá trị. Tuy nhiên, chúng tôi buộc phải mượn những cách diễn đạt của con người. Không còn lời diễn đạt nào tốt hơn, nên chúng tôi vẫn dùng nhóm chữ gia nhập hội thánh.

A. Việc “Gia Nhập Hội thánh” Thì Không Cần Thiết, Không Thể Nào Xảy Ra

Chúng ta phải nhận thấy rằng Kinh Thánh không bao giờ nói về việc gia nhập hội thánh. Một người không thể nào gia nhập hội thánh. Việc ấy cũng giống như cái tai quyết định nối kết với thân thể để làm cái tai. Thậm chí một nhà phẫu thuật giỏi nhất cũng không thể làm điều ấy. Không ai có thể gia nhập hội thánh. Nếu anh em ở trong [hội thánh], thì anh em ở trong [hội thánh]; nếu anh em không ở trong [hội thánh], thì anh em không ở trong [hội thánh]. Làm một phần của hội thánh không có nghĩa là một người [phải] vượt qua một cuộc trắc nghiệm để đủ tư cách làm một thành viên của hội thánh. Nếu một người muốn “gia nhập” hội thánh, trước hết người ấy phải ở trong hội thánh.

Nếu nhờ sự thương xót của Đức Chúa Trời mà một người nhìn thấy điều gì đó về tội lỗi và huyết và nếu người ấy đã nhận được sự cứu rỗi, sự tha thứ và một sự sống mới, tức là đã được Đức Chúa Trời tái sinh qua sự phục sinh, thì Ngài đã đặt người ấy vào trong hội thánh rồi. Người ấy đã gia nhập [hội thánh] rồi và không cần phải gia nhập [hội thánh]. Một số người vẫn nghĩ rằng mình có thể gia nhập một hội thánh. Nhưng nếu có một hội thánh [để] người ta có thể gia nhập, thì hội thánh ấy chắc chắn không phải là một hội thánh chân chính. Một người có thể gia nhập một hội thánh như vậy, vì đó là một hội thánh giả. Nếu đó là một hội thánh chân chính, thì dầu có cố gắng, một người vẫn không thể gia nhập hội thánh ấy. Hễ anh em thuộc về Chúa và được sinh bởi Ngài, thì anh em đã ở trong hội thánh rồi; anh em không cần gia nhập.

Vì vậy, một người không cần gia nhập hội thánh, cũng không thể gia nhập hội thánh. Dầu có cố gắng, bạn vẫn không thể gia nhập hội thánh. Và nếu đã ở trong hội thánh rồi, thì dầu thế nào đi nữa anh em vẫn không cần gia nhập hội thánh. Những người đã ở trong [hội thánh] thì đã ở trong hội thánh rồi nên không cần gia nhập. Người nào muốn gia nhập thì chưa ở trong hội thánh, và không có cách nào gia nhập hội thánh. Rốt lại, hội thánh là như vậy. Hội thánh là một cơ cấu đặc biệt. Vấn đề là anh em đã được sinh bởi Đức Chúa Trời hay chưa. Nếu đã được sinh bởi Đức Chúa Trời, thì anh em đã ở trong [hội thánh] rồi. Nếu chưa được sinh bởi Đức Chúa Trời, thì dầu có cố gắng, anh em vẫn không thể vào [hội thánh]. Anh em không thể gia nhập một hội thánh bằng cách ký một văn kiện, ngồi để được thẩm tra, ghi xuống những quyết tâm của mình, hay bằng cách quyết định. Nếu được sinh bởi Đức Chúa Trời, thì anh em đã ở trong [hội thánh] rồi. Cảm tạ Đức Chúa Trời, tất cả chúng ta đều đã ở trong hội thánh; chúng ta không cần gia nhập hội thánh nữa.

B. Cần Tìm Kiếm Sự Tương Giao Trong Hội thánh

Nếu vấn đề là như vậy thì tại sao chúng tôi bảo anh em gia nhập hội thánh? Chúng tôi chỉ mượn một cách diễn đạt để [giúp] anh em có thể hiểu. Anh em là một thành viên của hội thánh rồi. Mặc dầu sự thật là anh em đã được Đức Chúa Trời cứu, nhưng anh em vẫn đang sống giữa vòng loài người. Một số người có thể không biết anh em. Các anh em có thể không nhận biết anh em. Đức tin là một điều gì đó xảy ra ở bên trong anh em; không ai khác biết điều đó. Đó là lý do anh em phải tìm kiếm sự tương giao. Anh em phải đến hội thánh và nói với những người khác rằng: “Tôi là một Cơ Đốc nhân; xin chấp nhận tôi với tư cách là Cơ Đốc nhân”.

Nếu cha tôi là người Hoa, tôi không phải gia nhập chủng tộc Trung Hoa; tôi đã là người Hoa rồi. Nếu tôi là một tín đồ, và hội thánh không biết tôi, thì tôi có thể đến hội thánh và nói rằng: “Anh em không biết tôi, nhưng tôi là một Cơ Đốc nhân. Xin tiếp nhận tôi vào sự tương giao của anh em. Xin chấp nhận tôi như một người trong anh em”. Khi các anh em nhận thấy anh em thật sự là một người trong họ, họ sẽ tương giao với anh em. Gia nhập hội thánh có nghĩa là như vậy.

Anh em đã là một người ở trong Đấng Christ rồi. Bây giờ, điều anh em cần làm là tìm kiếm sự tương giao giữa vòng con cái của Đức Chúa Trời. Anh em phải tìm sự tương giao của các chi thể, sự tương giao của Thân Thể, và học tập hầu việc Đức Chúa Trời cách đúng đắn trong hội thánh. Một khi mắt anh em mở ra thấy điều này, cảm tạ Chúa, anh em đã tiến lên một bước.